ào mùa vụ xuất hiện nhiều cá Dìa ngư dân từ khắp nơi kéo đến dùng đủ mọi phương tiện để cào x c….sự khai thác quá mức này khiến nguồn lợi cá Dìa vùng cửa sông Thu Bồn đang nằm trong tình
Trang 1KHOA SINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Nghiên cứu nguồn lợi của cá Dìa (Siganidae) vùng cửa
sông Thu Bồn- ội An- Quảng Nam
Trang 2LỜ CAM OAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
à N ng, ngày 25 tháng 05 năm 2013
Sinh viên
Th Thanh Th y
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện Khóa Luận Tốt Nghiệp và những gì đạt được hôm nay, phần lớn là công lao giảng dạy và hướng dẫn của các thầy giáo, cô giáo,…cũng như các hỗ trợ, chia sẻ của mọi người ở nhiều phương diện
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Th.S Nguyễn Th Tường i đã quan tâm, gi p đỡ, góp phần đ nh hướng bài luận, cũng như hỗ trợ về tinh thần để em có thể thực hiện tốt Khóa Luận Tốt Nghiệp này
Xin chân thành cảm ơn các bạn cùng nhóm đã gi p đỡ
em trong thời gian thực hiện khóa luận này
à em xin chân thành cảm ơn các thầy cô, các anh ch cán bộ trong khoa Sinh-Môi trường, trường ại học Sư Phạm- H à N ng cũng như các thầy cô trong trường đã giảng dạy, gi p đỡ ch ng em trong 4 năm học qua
Cuối cùng em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến gia đình và người thân, bạn bè đã luôn động viên gi p đỡ em trong suốt thời gian học tập và hoàn thành khóa luận này!
Đà Nẵng, ngày 22 tháng 05 năm 2013
Sinh viên
Th Thanh Th y
Trang 5Số hiệu
3.1 Cơ cấu ghe tàu khai thác cá Dìa vùng cửa sông Thu
Bồn
3.2 ặc điểm các loại ngành nghề đánh bắt cá Dìa vùng
cửa sông Thu Bồn
3.3 Cơ cấu ngành nghề khai thác cá Dìa vùng cửa sông Thu
Bồn
3.4 Mùa vụ, sản lượng và doanh thu từ nguồn lợi cá Dìa đối
với từng loại nghề vùng cửa sông Thu Bồn
3.5 Nguyên nhân làm suy giảm sản lượng cá Dìa vùng cửa
sông Thu Bồn
3.6 Cấu tr c các nhóm kích thước cá Dìa vùng cửa sông
Thu Bồn từ tháng 1-4
Trang 6hình vẽ Tên hình vẽ Trang 1.1 Dao động triều đặc trưng tại khu vực cửa sông Thu Bồn 6 3.1 Cơ cấu ghe tàu khai thác cá Dìa vùng cửa sông Thu Bồn 24 3.2 Cơ cấu ngành nghề khai thác cá Dìa vùng cửa sông Thu
Bồn
28
3.3 Sản lượng và doanh thu từ nguồn lợi cá Dìa của các loại
nghề khai thác cá Dìa vùng cửa sông Thu Bồn
30
3.4 Cá Dìa Công ( Siganus guttatus) 35 3.5 Sự phân bố cá Dìa vùng cửa sông Thu bồn 36
Trang 7MỞ ẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
ùng cửa sông Thu Bồn có các hệ sinh thái đất ngập nước như rừng ngập mặn, dừa nước và cỏ biển có vai trò rất quan trọng đối với môi trường
và nguồn lợi sinh vật Dừa nước và thảm cỏ biển không chỉ có vai trò điều hòa khí hậu, tạo cảnh quan, làm sạch môi trường mà còn là nơi cư tr thuận lợi của nhiều loài sinh vật có giá tr kinh tế như cá và các loài giáp xác…[29]
ặc biệt cá Dìa là 1 loài có giá tr kinh tế, trong những năm qua đã mang đến thu nhập cho người dân ở đây khá cao góp phần cải thiện đời sống của họ[30]
Rừng ngập mặn, dừa nước, thảm cỏ biển là nơi nuôi dưỡng cá Dìa, tuy nhiên hiện nay tại vùng cửa sông Thu Bồn diện tích rừng dừa nước đã b thu hẹp đến 40% nếu so với thực tế những năm 1990 ây là hậu quả của quá trình phát triển nuôi tôm ào ạt, thiên tai lũ lụt, xói lở bờ sông và quá trình đô
th hóa, các hoạt động kinh tế - xã hội khác… Dừa nước, các thảm cỏ biển b suy giảm nghiêm trọng, với hơn 50% diện tích phân bố Khi thủy triều xuống thấp, người dân bắt trùn biển đã đào xới cỏ biển, sử dụng các nghề khai thác
có tính hủy diệt cao như nhủi, trủ, cào te là nguyên nhân gây chết cỏ Khi nơi sống b tàn phá sẽ làm suy giảm trữ lượng cá đáng kể[29] ào mùa vụ xuất hiện nhiều cá Dìa ngư dân từ khắp nơi kéo đến dùng đủ mọi phương tiện để cào x c….sự khai thác quá mức này khiến nguồn lợi cá Dìa vùng cửa sông Thu Bồn đang nằm trong tình trạng suy giảm về số lượng [29] Sự tàn phá sinh cảnh, sự khai thác quá mức, tình trạng ô nhiễm môi trường, đã và đang gây ảnh hưởng xấu đến nguồn lợi cá Dìa, mà cụ thể là trong những năm gần đây cá Dìa có nguy cơ b đe dọa và số lượng ngày càng khan hiếm Nguyên nhân sâu xa vẫn là do trình độ hiểu biết của ngư dân về các kiến thức liên quan đến bảo vệ và khai thác hợp lý nguồn lợi cá Dìa còn hạn chế, và cơ chế quản lý khai thác nguồn lợi này từ các cơ quan chức năng chưa thật sự hiệu quả
Trang 8Trước hiện trạng trên, ch ng tôi thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu nguồn
lợi của cá Dìa (Siganidae) vùng cửa sông Thu Bồn- Hội An- Quảng Nam”
nhằm làm cơ sở đề xuất giải pháp quản lý, bảo vệ và khai thác hợp lý nguồn lợi cá Dìa vùng cửa sông Thu Bồn- Hội An- Quảng Nam
2 Mục tiêu đề tài
Nghiên cứu nguồn lợi cá Dìa vùng cửa sông Thu Bồn- Hội An- Quảng Nam nhằm làm cơ sở đề xuất giải pháp quản lí, bảo vệ và khai thác hợp lý nguồn lợi cá Dìa vùng cửa sông Thu Bồn- Hội An- Quảng Nam
3 Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu nguồn lợi cá Dìa nhằm gi p cho cơ quan quản lý có một nguồn cơ sở để quản lý, bảo vệ nguồn lợi cá vùng cửa Sông Thu Bồn, đồng thời bổ sung nguồn tư liệu khoa học cho những nghiên cứu mới về nguồn lợi
cá sau này
Trang 9C ƢƠN 1 TỔN QUAN T L ỆU 1.1 TỔN QUAN VỀ TÌN ÌN N ÊN CỨU N UỒN LỢ CÁ
1.1.1 Tình hình nghiên cứu nguồn lợi cá trên thế giới
a Tình hình nghiên cứu nguồn lợi cá trên thế giới
Trên thế giới, lĩnh vực nghiên cứu nguồn lợi cá cũng được các nhà khoa học của các nước quan tâm và đã có một số công trình nổi bật[10] Theo E.Baran thì Cửa sông là nơi đem lại nhiều nguồn lợi cho người dân đ a phương, đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế cho các quốc gia trên thế giới, là trung tâm kinh tế của cư dân ven biển, tạo môi trường sống cho 75% các loài cá thương mại của Hoa Kì Tổng sản lượng đánh bắt cá
ở các cửa sông đóng góp 4,3 tỉ đô/ năm cho nền kinh tế Hoa Kì ( ANEP, 199)
ây cũng là nơi đem lại giá tr lớn cho ngành giải trí và du l ch ở Hoa Kì, tạo
ra 8-12 tỉ đô mỗi năm Nhiều loài cá dành phần lớn cuộc sống của ch ng trong đại dương, nhưng quay trở lại vùng cửa sông để đẻ trứng[19] Ở Tây phi, cá cửa sông là một nguồn cung cấp quan trọng cho người dân đ a phương Ở miền Nam Senegal- Sierra, sản lượng đánh bắt ở các cửa sông có thể lên tới 150000 tấn/ năm, trung bình 100 tấn/ năm/ km bờ biển Ở ông Nam Á, khai thác ở cửa sông ước tính đóng góp khoảng 1,4 triệu tấn hoặc 21% tổng số hải sản đánh bắt năm 1990 (Chong và Sasekumar 1994)[19]
Theo Yvonne Nakalo và cộng sự thì sản lượng đánh bắt hàng năm của
cá đánh bắt được vùng cửa sông ở Nam Phi ước đạt trên 24.800 tấn Số lượng người dân có khoảng 73.000 người và thu nhập hàng năm của tổng số người dân này là khoảng R430.000.000 (1997) Nhưng hiện nay, nếu vùng cửa sông này không được quản lí thì có thể sẽ không duy trì được lợi ích của nó trong tương lai Nguyên nhân là cơ quan chức năng không quản lí các nghề cá và thiếu biện pháp phát triển bền vững[27]
Trong những năm 1970, một nghiên cứu của FAO biên soạn bởi Gulland ước tính tiềm năng cá khai thác được của đại dương là gần 100 triệu
Trang 10tấn Tuy nhiên thực tế khả năng khai thác sẽ không đạt mức tối ưu chỉ đạt xấp
xỉ 80 triệu[21] Năm 1971, trong một cuốn sách của FAO tập hợp các nghiên cứu về nguồn lợi cá đại dương do J.A Gulland biên soạn và chỉnh sửa đã thống kê các nghiên cứu về nguồn lợi cá Cuốn sách này bao gồm các nghiên cứu thống kê nguồn lợi cá phong ph , thành phần các loài là nguồn lợi và phân bố của ch ng Các nghiên cứu là tài liệu cung cấp thông tin, cơ sở khoa học cho các nghiên cứu sau này[25]
Nghiên cứu của Edi Muljadi Amin, Duto Nugroho (1985) đã thực hiện các cuộc điều tra nguồn lợi cá ở phía đông biển Banda và tây bắc biển Arafura diện tích xấp xỉ 360000 km 2 trong khoảng thời gian từ 8/1984 đến 5- 1985 Nghiên cứu đã đánh giá về sự phân bố và sự phong phú của các loài cá biển trong khu vực, mật độ trung bình của các loài cá biển ở phía trên 100m dao động từ 5.38 (tấn/ngày) và 8,82 (tấn/đêm) mỗi hải lý trong tháng 8 và giữa 1.41 (tấn/ngày) và 2.46 (tấn/đêm) trong tháng 2 Tổng sinh khối cá, dựa trên ghi âm của ánh sáng ban ngày ở phía trên 100m đối với khu vực được khảo sát, có 570 000 tấn trong tháng 8 và 150 000 cho tháng 2[20]
Geronimo T Silvestre, Len R Garces (1990) trong đề tài nghiên cứu của mình đã cung cấp thông tin về hiện trạng khai thác nguồn lợi cá ven biển
ở Brunei Darussalam Nghiên cứu tiến hành khảo sát kéo cá trong vùng nước ven biển (độ sâu 10-100 m) của Brunei Darussalam từ 7/1989 đến 6/1990 Kết quả đề tài cho thấy 25 loài cá đã được khai thác hợp lý trong giai đoạn
1989 – 1990, cung cấp thông tin cơ bản như là tài liệu tham khảo liên quan đến đánh giá hiện trạng thủy sản hiện tại, công tác quản lý tại Brunei Darussalam và những nghiên cứu khác[24]
James N Sanchirico và James E Wilen (2002) trong nghiên cứu
“Nguồn lợi hải sản toàn cầu: Tình trạng và triển vọng” cho biết tình trạng hiện tại và triển vọng của nghề cá thế giới từ quan điểm của các ngành kinh tế
Jim Spotila (2005), trong nghiên cứu của mình cho biết một số quần thể
Trang 11các lớn như cá mập, cá ngừ đã giảm đến 87% so với những năm 1950
Năm 1994, trong nghiên cứu về “Các nguồn lợi thủy sản biển của Sri
Lanka” G.H.P De Bruin; B.C Russell và A Bogusch đã cung cấp nhiều
thông tin về nguồn lợi cá xương, cá mập ở vùng biển Sri Lanka[23] Một nghiên cứu của James E Wilen cùng với cộng sự về: “Nguồn lợi hải sản toàn cầu: Tình trạng và triển vọng” đăng trên tạp chí thủy sản Global Environmental Issues năm 2002 Nghiên cứu này cho biết tình trạng hiện tại
và triển vọng của nghề cá thế giới từ quan điểm của các ngành kinh tế Năm 2005, nghiên cứu đăng trên tạp chí Ecology của tiến sĩ Jim Spotila cho biết một số quần thể cá lớn như cá mập, cá ngừ đã giảm đến 87% so với những năm 1950
Dự án MAR-ECO năm 2004 khảo sát tại 36 trạm trên dọc theo phía bắc
ại Tây Dương, đánh giá về cấu trúc loài và phân bố theo chiều thẳng đứng của cá sử dụng thiết b dò âm thanh, lưới kéo Dự án đã cung cấp thông tin về
sự phân bố và phong phú của cá nổi và cá tầng đáy từ các độ sâu khác nhau 0 – 200m, 200 – 750m, 750 – 1500m, 1500 – 2300m, >2300m gần đáy lưới kéo
Nam Á và các nước ông Nam Á đã thực hiện các cuộc điều tra lưới kéo đáy để đo lường tiềm năng thủy sản của vùng biển của họ trong suốt thế
kỷ 20 Sử dụng hệ thống quản lý dữ liệu cho các dữ liệu khảo sát lưới kéo khoa học và bao gồm tóm tắt dữ liệu và công cụ trực quan nhằn phân tích để ước tính sinh khối Từ các cuộc điều tra kéo cá tại 10 quốc gia thực hiện từ năm 1926 và năm 1995 đây là cơ sở dữ liệu trong khu vực quan trọng đối với quản lý nghề cá ven biển bổ sung cho thống kê ngư nghiệp quốc gia Kết quả cho thấy một sự suy giảm nghiêm trọng nguồn tài nguyên sinh khối với mức trung bình 22% của mức trước khi khai thác, với trường hợp như thấp
<4% Những kết quả này rõ ràng cho thấy tác động mạnh mẽ của cá trên sinh khối tài nguyên ven biển và đa dạng
Trang 12Trong báo cáo của FAO trong năm 2010, Trung Quốc là nước dẫn đầu
về sản lượng thủy sản, tiếp theo là các nước Peru, Indonesia, United States of America, Japan, India, Chile, Russian Federation, Philippines, Myanmar[22]
Năm 2010 một nghiên cứu của Robert Gillett được tiến hành với sự tài trợ của FAO đã công bố công trình nghiên cứu về nguồn lợi thủy sản biển của quần đảoThái Bình Dương Trong công trình này đã cập nhật và mở rộng một đánh giá trước đó của FAO về nguồn lợi thủy sản của quần đảo Thái Bình Dương (Gillett, 2005a) Nghiên cứu này đã cung cấp những thông tin quan trọng về tình trạng của những nguồn lợi, thống kê nghề cá và khả năng quản
lý thủy sản trên 14 quốc gia độc lập và 8 vùng lãnh thổ ở phía tây và trung
tâm Thái Bình Dương[26]
à hiện nay việc nghiên cứu về nguồn lợi, phân bố, đặc điểm sinh học, trữ lượng của các loài cá, thủy sản đang được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm nhiều hơn và một số công trình nghiên cứu để bổ sung về thành phần loài nguồn lợi và phân bố cá ở một số nơi trên thế giới vẫn đang được tiến hành thông qua các phương tiện thông tin do một số tổ chức có uy tín cung cấp[31]
b Tình hình nghiên cứu nguồn lời cá Dìa trên thế giới
Nghiên cứu về nguồn lợi Cá Dìa trên thế giới cũng như ở iệt Nam có rất ít, Cá Dìa chỉ được nhắc tới trong các nghiên cứu về rạn san hô hoặc rừng ngập mặn Những nghiên cứu này thường là về thành phần loài hay những đặc điểm sinh học của cá Dìa Chỉ một số ít công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh học hay phân bố tự nhiên, cụ thể như sau:
Nghiên cứu Bryan, Patrick G (1975) đã tiến hành phân tích dạ dày và đưa ra những kết luận về thành phần thức ăn của loài cá Dìa tại đảo Guam Trong nghiên cứu này, đã thử nghiệm trên 62 loài tảo và đưa ra một thứ tự ưu tiên
của các loài tảo đó là (1) Enteromorphacompressa, (2) Murrqyellapericlados, (3)
Chondriarepens, (4) Boodleacomposita, (5) Cladophoropsismembranacea, (6)
Trang 13Acanthophoraspicifera, and (7) Centrocerasclavulatum[18]
Cá Dìa bông (Siganus guttatus) phân bố rộng ở ông Ấn ộ Dương và
Tây Thái Bình Dương: Quần đảo Andaman, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Indonesia (bao gồm cả Irian Jaya), iệt Nam, Ryukyu, miền Nam và miền ông Trung Quốc, ài Loan, biển Nam Trung Quốc, Philippines, và Palau
Cá Dìa (Siganus canaliculatus) phân bố ở Tây Thái Bình Dương: nh Ba
Tư, nh Oman, Pakistan, Ấn ộ, Sri Lanka, Miến iện, Thái Lan, Singapore, Malaysia, Indonesia,Papua New Guinea, Philippines, Campuchia, iệt Nam, phía Nam Trung Quốc, ài Loan và Tây Úc Cũng được biết đến
từ quần đảo Ryukyu, Palau và Yap ở Micronesia và Melanesia[18]
Trong nghiên cứu của T Lichatowich và cộng sự (1983) đã nêu một số đặc điểm sinh học, sinh sản cũng như đời sống và phân bố của cá Dìa trong điều kiện ở đảo Fiji[27]
HANZAWA và cộng sự (2007), đưa ra một cách để phân chia các chi
Trong nghiên cứu này, ông sử dụng phương pháp so sánh AND để phân loại chúng[28]
1.1.2 Tình hình nghiên cứu nguồn lợi cá ở Việt Nam
a Tình hình nghiên cứu nguồn lợi cá ở Việt Nam
Mở đầu cho nhiều công trình nghiên cứu nổi tiếng đó là tiến sĩ Gilbert Tirant với công trình nghiên cứu về cá ở khu vực sông Hương vào năm 1883 (Tirant,1929)[12].Qua nghiên cứu ông đã mô tả được 70 loài cá nước lợ thu được từ khu hệ sông Hương và ông đã tìm ra được 8 loài mới trong số này
à hai năm sau đó ông tiếp tục công bố một công trình nghiên cứu khác của mình Lần này công trình nghiên cứu của ông tập trung ở phía Nam iệt Nam
và Campuchia (Tirant,1929)[13] Trong nghiên cứu của mình ông đã nghiên cứu và tìm ra được đặc điểm sinh học và nghề cá của 221 loài thuộc bộ cá Nhám, cá uối, cá Chép, cá Trích và một số loài khác
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam, sản lượng khai thác cá
Trang 14biển ở v nh Bắc Bộ (chủ yếu ở nửa phía tây và bao gồm cả cá nổi, cá đáy) của các tỉnh từ Quảng Ninh tới Quảng Bình liên tục gia tăng hàng năm, từ 191,7 nghìn tấn năm 2005 đến 253,3 nghìn tấn năm 2010 và 268,2 nghìn tấn năm 2011[15].Với tỷ lệ trên 83% là cá nổi thì năm 2010-2011 sản lượng khai thác đối tượng này ở nửa tây v nh Bắc Bộ đang ở mức 210-223 nghìn tấn/năm
Theo Bùi ình Chung và cộng sự (1997), trữ lượng cá nổi ở vùng biển
N là 2.040 ngàn tấn trong đó ở v nh Bắc Bộ có 390 ngàn tấn, ở vùng biển miền Trung là 500 ngàn tấn, vùng ông Nam Bộ 524 ngàn tấn, vùng Tây Nam Bộ là 316 ngàn tấn và vùng giữa Biển ông là 310 ngàn tấn Năm 2000 tác giả đã tính trữ lượng cá đáy là 1.029 ngàn tấn ậy trữ lượng cá ở vùng biển N là 3.069 ngàn tấn
Theo Lê Trọng Phấn và cộng sự (2001), kết quả của đề tài 48.06.10 được thực hiện năm 1981 - 1985, cho thấy: Trữ lượng toàn vùng biển N là 2.949 ngàn tấn; con số này thấp hơn so với thực tế vì diện tích vùng biển Tây Nam Bộ dùng để tính chỉ chiếm 50% diện tích vùng biển của N và là vùng
có độ sâu dưới (cạn hơn) 50 mét nước trở vào bờ, nơi có ít cá nổi Tính theo các vùng nước có được kết quả như sau: nh Bắc Bộ trữ lượng cá là 840 ngàn tấn, trong đó cá đáy và gần đáy là 420 ngàn tấn và cá nổi là 420 ngàn tấn (diện tích để tính là 90 ngàn km2); vùng biển Trung Bộ, trữ lượng cá nổi là
284 ngàn tấn, cá đáy và gần đáy là 83 ngàn tấn; vùng biển ông Nam Bộ có trữ lượng là 1.430 ngàn tấn, trong đó cá nổi là 980 ngàn tấn và cá đáy và gần đáy là 480 ngàn tấn; vùng biển Tây Nam Bộ có trữ lượng 576 ngàn tấn (cho diện tích 50 ngàn km2 = 1/2 diện tích vùng biển iệt Nam, lại là vùng ít cá nổi và hiệu suất khai thác thấp và ước đoán trữ lượng vùng biển này phải là
800 ngàn tấn) trong đó cá nổi là 195 ngàn tấn và cá đáy và gần đáy 181 ngàn tấn
Trang 15Theo Phạm Thược (2000) tính trữ lượng cá đáy và gần đáy của toàn vùng biển N là 1.371 ngàn tấn trong đó: nh Bắc Bộ tính năm 1984 là 504 ngàn tấn (cho toàn v nh – 146.000 km2), tính năm 2000 là 116 ngàn tấn (tính cho diện tích của N là 77.000 km2); ùng biển miền Trung là 112 ngàn tấn (tính cho diện tích 78.000 km2); ùng biển ông Nam Bộ là 1.051 ngàn tấn (tính cho diện tích 222 ngàn km2); ùng biển Tây Nam Bộ là 92 ngàn tấn (tính cho diện tích 49.000 km2)
Trong những năm 1962- 1964 trạm nghiên cứu cá biển (nay là iện Nghiên Cứu Hải Sản) sử dụng tàu iệt ức 11 và iệt ức 12 (100 C ) điều tra tổng hợp cá đáy vùng gần bờ tây v nh Bắc Bộ từ độ sâu 40m vào bờ ến năm 1965- 1972 trạm nghiên cứu cá biển tiếp tục triển khai một số nội dung nghiên cứu cá nổi ở một số tỉnh trọng điểm như : Quảng Ninh, Thanh Hóa, Hà Tĩnh và Quảng Bình à tiếp theo năm 1973- 1976 iện nghiên cứu hải sản
tổ chức điều tra nguồn lợi cá nổi ven bờ phía tây v nh Bắc Bộ (các cán bộ khoa học được cử đi các tỉnh trọng điểm ven biển từ Quảng Ninh đến Quảng Bình thu thập số liệu về tình hình nguồn lợi và hiện trạng khai thác nguồn lợi cá)[12]
Cá nổi nhỏ, đặc biệt là những loài thuộc giống cá nục, cá trích, cá cơm,
cá chuồn… phân bố rộng khắp vùng biển ven bờ nước ta Chúng là đối tượng khai thác chính của ngư dân Ở v nh Bắc Bộ, cá nổi nhỏ chiếm trên 83% trữ lượng nguồn lợi hải sản của v nh [13] và là các đối tượng khai thác chính của nhiều loại nghề
ánh giá của Bùi ình Chung năm 1991 về nguồn lợi cá nổi đánh bắt bằng lưới kéo đôi ở các khu biển ven bờ tây v nh Bắc Bộ cho thấy, có khoảng 390 nghìn tấn trữ lượng và khả năng khai thác 156 nghìn tấn/năm (các giá tr tương ứng của cá đáy là 48,4 và 31,3)[2].Một đánh giá khác của Viện Nghiên cứu Hải Sản năm 2006: trữ lượng cá nổi 433,1 nghìn tấn, khả
năng khai thác 216,5 nghìn tấn/năm[9]
Trang 16Ở khu vực miền Trung vấn đề nghiên cứu nguồn lợi thuỷ sinh vật đã được các tác giả quan tâm thực hiện từ sau năm 1975 và chủ yếu các công trình nghiên cứu tập trung ở các đầm phá ven biển Từ năm 1976-1977 thì tại Phá Tam Giang có công trình nghiên cứu nổi bật như ũ Trung Tạng, ặng
Th Sy về “Nguồn lợi thuỷ sản các đầm phá phía nam Sông Hương và những vấn đề khai thác hợp lý nguồn lợi đó”[8] Ở các vùng khác như ở đầm Th Nại (Bình nh ), Nha Phu (Khánh Hoà) việc nghiên cứu nguồn lợi cá được Nguyễn ình Mão tiến hành vào năm 1978,1979,1980[8]
iện nghiên cứu hải sản từ năm 1977- 1981 đã tiến hành 24 chuyến điều tra nghiên cứu tổng hợp môi trường, nguồn lợi cá biển ở v nh Bắc Bộ và vùng biển Thuân Hải- Minh Hải à năm 1978-1980 đã thực hiện đề tài
“ iều tra nguồn lợi cá tầng giữa và tầng trên ở vùng biển Thuận Hải - Minh Hải”[12]
iệt Nam hợp tác với Liên Xô năm 1979- 1987 đã tiến hành chương trình khảo sát nguồn lợi hải sản biển iệt Nam với tổng số 33 chuyến khảo sát trên các loại tàu có công suất máy từ 800- 3800 C được trang b các công
cụ khai thác và nhiều thiết b nghiên cứu hiện đại như: máy quay phim chụp ảnh dưới nước, máy phát xung điện và tàu lặn Giai đoạn này đáng ghi nhớ là
đã phát hiện được nguồn lợi cá mối vạch ( Saurida undosquamis) , cá nục (
Decapterus) đặc biệt là cá nục đỏ đuôi (Decapterus) và cá đỏ môi ( Erythrocles shlegeli) với tiềm năng lớn[12]
“ ánh giá nguồn lợi cá cơm (Stolephorus spp) ở vùng biển Tây Nam
Bộ và đề xuất giải pháp bảo vệ và khai thác hợp lý” năm 2005-2006, nguồn số liệu thu được là khá lớn bao trùm cả số liệu về thực trạng nguồn lợi và số liệu thể hiện áp lực khai thác lên nguồn lợi ở vùng biển nghiên cứu ây là những bằng chứng khoa học xác thực phục vụ cho quản lý nguồn lợi và nghề khai thác cá cơm biển Tây Nam Bộ[1]
Nguyễn ăng Ngãi cùng với cộng sự năm 2006 đã đánh giá nguồn lợi
Trang 17cá rạn san hô ở một số vùng dự kiến thiết lập khu bảo tồn và một số loài hải sản có giá tr kinh tế cao ở dốc thềm lục đ a iệt Nam, và đã đề xuất các giải pháp sử dụng bền vững nguồn lợi
Nhìn chung, trong nước ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu về nguồn lợi cá được các nhà khoa học tiến hành và công bố Cụ thể là gần đây
có tác giả ũ iệt Hà, Trần ăn Cường đã thực hiện đề tài “ Thành phần loài, phân bố và trữ lượng nguồn lợi cá nhám vùng biển iệt Nam” có nội dung điều tra nguồn lợi cá Nhám bằng tàu đánh lưới kéo đáy, bằng lưới rê và câu vàng ề tài “Nghiên cứu trữ lượng và khả năng khai thác cá nổi nhỏ (chủ yếu
là cá nục, cá trích, cá bạc má…) ở biển iệt Nam” thuộc chương trình KHCN trong điểm cấp Bộ, mã số KC.CB.01-14 do thạc sĩ Nguyễn iết Nghĩa làm chủ nhiệm với nội dung bao gồm các vấn đề chủ yếu sau: (i) Phương pháp thuỷ âm và ứng dụng trong nghiên cứu nguồn lợi cá nổi nhỏ; (ii) Kết quả đánh giá hiện trạng và khả năng khai thác nguồn lợi cá nổi nhỏ ở biển iệt Nam năm 2003-2005; (iii) Kết quả đánh giá hệ số phản hồi âm của một số loài cá nổi nhỏ; (iv) Hiện trạng một số nghề khai thác cá nổi nhỏ ở iệt Nam; (v) Hiện trạng phân bố trứng cá, cá bột một số loài cá nổi nhỏ ở biển iệt Nam; và (vi) Các yếu tố hải dương học và thuỷ sinh vật có liên
quan ở biển iệt Nam[9]
Nguồn lợi cá biển ở vùng bờ Quảng Ninh –Hải Phòng phong phú về giống loài nhưng số lượng cá thể không nhiều, chủ yếu là các loài mang tính chất sinh thái gần bờ, tập tính hợp đàn ít tập trung, tỷ lệ các loài chiếm ưu thế trong mỗi mẻ lưới chỉ đạt 10 - 20% Sự phân bố của cá biển mang tính chất mùa vụ rõ rệt Từ tháng 4 - 11 là vụ cá Nam, các đàn cá nổi di cư vào gần bờ sinh sản và hình thành các bãi cá chính quanh đảo Thanh Lân, Cô
Tô, Long Châu, Bạch Long Vĩ và Cửa Ba Lạt,… Trong vụ cá Bắc (tháng 11
- 4 năm sau) các đàn cá có xu hướng di chuyển ra xa bờ và tập trung với mật độ dày ở tầng nước sâu gần đáy thuận lợi cho các nghề lưới kéo, lưới
Trang 18vây[3] Theo đánh giá sơ bộ, trữ lượng cá biển của vùng bờ Quảng Ninh –Hải Phòng khoảng 200 ngàn tấn, chiếm 37% trữ lượng toàn v nh Bắc Bộ; khả năng khai thác 65 - 70 ngàn tấn/năm, trong đó cá nổi 45 - 50 ngàn tấn/năm và cá đáy khoảng 20 ngàn tấn/năm Các bãi cá chính như Bạch Long Vỹ, Cát Bà, Long Châu, đều có sản lượng cao, tương đối ổn
đ nh và điều kiện khai thác thuận lợi Ngoài ra, hàng năm còn có thể khai thác 40 - 50 ngàn tấn tại các vùng biển lân cận[3]
Ở à N ng thì có rất ít công trình nghiên cứu về nguồn lợi cá Công trình nghiên cứu được xem là nguồn dữ liệu đầu tiên về nguồn lợi cá của à
N ng là công trình năm 1997, trong chương trình biển quốc gia giai đoạn 1996- 2000 với để tài khoa học KHCN 06-07 một nhóm nghiên cứu thuộc Phân viện Hải Dương học Hải Phòng đã đến à N ng để khảo sát các hệ sinh thái và tài nguyên sinh vật biển Qua nghiên cứu đã xác đ nh được 15 loài thuộc 15 họ cá, hầu hết là các loài cá có giá tr kinh tế như cá Trác
(Priacanthus macrocanthus), cá Chim trắng (Stromateus argenteus)[1]
Kết quả nghiên cứu của Sĩ Tuấn năm 2002 cho thấy cá giò (cá kình) xếp thứ 3 sau cá hố và cá liệt về sản lượng Cho đến nay cá giò cũng nằm trong nhóm nguồn lợi có sản lượng và doanh thu cao[17] Cá hố là đối tượng khai thác của cả nghề câu và nghề lưới (lưới rê, giã cào…), tuy nhiên cá hố câu có kích thước lớn cỡ 1-1,5m, còn trong một mẻ lưới giã cào thì cá hố có kích thước nhỏ 15-30cm chiếm số lượng lớn, rất ít thấy cá hố cỡ trên 40cm Lượng cá hố kích thước nhỏ cùng với cá liệt thường chiếm ưu thế trong trong
các chuyến khai thác ven bờ bằng lưới[17]
Các ngư dân cho biết, cá giò con cỡ 1-2cm xuất hiện rất nhiều quanh bán đảo Sơn Trà vào khoảng ngày 20 tháng 4 đến đầu tháng, thời gian này nhiều ghe tập trung đánh bắt cá giò con với sản lượng lớn: 200-800kg/ngày, sau đó đem bán với giá 7.000đ/1kg để làm thức ăn cho gia s c Hoạt động khai thác này r ràng đã làm suy giảm nguồn lợi cá giò vùng biển à
Trang 19N ng[17]
ào Th Phượng năm 2012 đã thống kê được 33 loài cá phân bố tại vùng ven bờ biển à N ng trong đó có 11 loài có giá tr kinh tế cao như Cá mối thường, cá ve, cá cơm thường, cá cơm săn, cá căng, cá đục biển, cá ngân, các nục sò, cá liệt, cá hố dài, cá giò à đánh giá hiện trạng khai thác nguồn lợi cá vùng ven bờ à N ng, theo ào Th Phượng thì đa số ngư dân đánh bắt
ở ven biển à Năng làm nghề giã cào, lờ, rập, rớ, lưới cá (lưới rùng), lưới rê, lặn, câu, mành đèn là chủ yếu Trong đó nghề lưới rê là có số hộ làm nhiều nhất (35hộ chiếm 36.46%) Xếp sau đó là các nghề câu chiếm 18.75% Xếp thứ 3 là các nhóm lờ và mành cùng chiếm 15.63% à tiếp theo nghề rớ (13.54%), nghề rập (12.5%) ở mức trung bình Cuối cùng là nhóm nghề chiếm tỷ lệ thấp nhất là giã cào (5.25%), lưới rùng (6.25%) và lặn (8.33%) [10]
Riêng ở vùng cửa sông cá khai thác ở cửa sông chủ yếu là các loài nhỏ, hầu hết trong số ch ng chưa đạt kích thước quy đ nh Cá thương phẩm quan trọng nhất là đại diện của Clueid, Engraulid, cá đối, vv, cơ cấu nhóm tuổi của
ch ng rất đơn giản, được bao gồm chỉ có bốn hoặc năm nhóm tuổi Hầu hết các loài ăn mảnh vụn ăn tạp và do đó tạo thành một chuỗi thức ăn ngắn ( ũ Trung ường, 1987)[16]
Tất cả các công trình nghiên cứu trên đã tạo nên một dữ liệu hữu ích để phục vụ các lĩnh vực khoa học khác, đặc biệt là lĩnh vực quản lý và khai thác thuỷ sản bền vững
b Tình hình nghiên cứu nguồn lợi cá Dìa ở Việt Nam
Ở iệt Nam nghiên cứu về nguồn lợi cá Dìa rất hạn chế, những thông tin cơ bản về loài này chưa được tập hợp thành các báo cáo chuyên đề mà mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu đặc điểm sinh sản, dinh dưỡng… của loài nằm trong các báo cáo tổng hợp của các đề tài, dự án Cụ thể như sau:
Theo Lê ăn Dân cùng cộng sự ( năm 2006) đã nghiên cứu về đặc
điểm sinh sản của cá Dìa, ông cho rằng Cá Dìa (Siganus guttatus) là một đối
Trang 20tượng nuôi có giá tr kinh tế ở đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế Mùa vụ sinh sản
tự nhiên của cá Dìa là từ tháng 8 đến tháng 3 năm sau Cá Dìa con kích thước 1,5-5 cm xuất hiện ở đầm phá Thừa Thiên Huế từ tháng 3 đến tháng 9, tập
trung vào các tháng 3, 4, 5 tại khu vực Tam Giang, ầm Sam và cửa Tư
Hiền[4]
Lê Th Bích Thủy cán bộ kỹ thuật Trung tâm khuyến ngư Thừa Thiên Huế (2007) đã thực hiên nghiên cứu mô hình nuôi cá Dìa giống sinh sản nhân tạo kết hợp với rong câu chỉ vàng và tôm s , qua việc nghiên cứu này đã kết luân rằng: Nuôi cá Dìa giống sinh sản nhân tạo kết hợp với rong câu chỉ vàng
và tôm s trong ao nuôi tôm b ô nhiễm hữu cơ là một mô hình mang ý nghĩa lớn về mặt kinh tế- xã hội, có tính thiết thực gi p cho người dân các vùng nuôi tôm s đang b ô nhiễm tạo ra hướng đi thích hợp nhằm phát triển kinh tế
và phục hồi vùng nuôi[14]
Khi nghiên cứu Kỹ thuật nuôi thủy sản xen ghép, Trần Hưng Hải năm
2007 đã cho thấy Cá Dìa (Siganus guttatus) là loài cá nhiệt đới, phân bố từ
đông Ấn ộ Dương đến tây Thái Bình Dương Nhiệt độ thích hợp cho phát triển của cá Dìa từ 24-280C ối tượng này là loài rộng muối, có thể sống ở vùng nước lợ, mặn có độ sâu đến 6m Cá bột sống quanh quẩn cửa sông, riêng
cá trưởng thành thường vào và ra khỏi cửa sông theo thủy triều Thức
ăn tự nhiên là tảo đáy, rong lá hẹ Loài cá này được cho là hoạt động vào ban đêm Kích cỡ lớn nhất bắt gặp đạt 42 cm[9]
ặc điểm, sự phân bố cá Dìa được nhắc đến trong đề tài “ Tìm hiểu nguồn tài nguyên sinh học RNM tại xã Cẩm Thanh- Thành phố Hội An- Quảng Nam” Cá Dìa có đặc điểm thân hơi tròn, dẹp bên, đầu bé, miệng ngang Gai cứng vây lưng, vây bụng và vây hậu môn cứng, sắc nhọn ây đuôi l m vào Trên thân có nhiều chấm màu hồng hoặc màu xám tro phân bố rất đều nhau Phần lưng có màu xám tro, phần bụng trắng bạc Nó phân bố phân bố trên các kênh rạch, cửa sông và triền sông Thu Bồn Cá Dìa sống tập
Trang 21trung kiếm ăn khu vực có rong biển và các thảm cỏ biển các dải đá ngầm thức
ăn của ch ng cũng là thực vật thủy sinh các mùn hữu cơ, đồng thời ch ng có thể ăn các loại thức ăn tổng hợp nên rất tốt cho việc cải thiện môi trường ao nuôi tôm[7]
1.2 ẶC ỂM TỰ N ÊN K U VỰC N ÊN CỨU
, độ ẩm không khí trung bình năm là 82%, lượng mưa trung bình năm 2.066 mm[6]
1.2.2 ặc điểm khí hậu
ùng cửa sông Thu bồn nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nóng ẩm mưa nhiều, nhiệt độ cao và ít biến động, tuy nhiên do nằm gần biển nên khí hậu tương đối mát mẽ Mỗi năm có 2 mùa r rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7, thỉnh thoảng có những đợt rét mùa đông nhưng không đậm và không kéo dài Vào mùa mưa thì thường mưa nhiều và khí hậu rất ẩm ướt, do nằm cạnh biển nên thường hay b ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới và bão vào các tháng cuối năm[6]
1.2.3 Nhiệt độ
Theo số liệu của đài khí tượng thủy văn Quảng Nam, khu vực nghiên cứu nằm trong vùng có nhiệt độ không khí trung bình trong năm 25,6oC; nhiệt độ cao tuyệt đối 40,9OC; nhiệt độ thấp tuyệt đối 18,0oC; biên độ nhiệt ngày đêm 9,3oC; tổng số giờ nắng trung bình trong năm là 2158 giờ; nhiệt độ cao nhất trung bình 29,8 0C; nhiệt độ thấp nhất trung bình 22,8°C[6]
Trang 221.2.4 Lƣợng mƣa
ùng cửa sông Thu Bồn có 2 mùa, mùa khô và mùa mưa r rệt Mùa khô kéo dài trong 8 tháng (từ tháng 2 đến tháng 9), mùa mưa từ tháng 10 đến tháng 1 năm sau Nơi đây có lượng mưa trung bình năm 2066mm, lượng mưa trung bình lớn nhất trong năm 3315mm, lương mưa trung bình nhỏ nhất trong năm là 2212 mm, lượng mưa ngày lớn nhất là 332mm, tổng số ngày mưa trung bình trong năm là 147 ngày, tháng có số ngày mưa trung bình nhiều nhất là tháng 10, tháng có lượng mưa lớn nhất là vào tháng 10- 11[6]
1.2.6 i
Trung bình từ tháng 10 năm 2011 đến cuối tháng 4 năm 2012 thường
có những đợt không khí lạnh từ phía Bắc tràn về và gây ra gió mùa ông Bắc Mỗi năm trung bình có từ 9 - 10 đợt Gió Tây Nam thường xuất hiện vào cuối tháng 3 đến cuối tháng 9 thường mang lại thời tiết khô nóng, th nh hành mạnh nhất của gió này là vào tháng 6,7, 8 Gió ông Nam xuất hiện vào các tháng
4, 5,6 [4] Hướng gió th nh hành mùa hè là hướng ông, hướng gió th nh hành mùa ông là hướng Bắc và Tây Bắc Có tốc độ gió trung bình là 3,3m/s, tốc độ gió mạnh nhất là 40m/s[6]
1.2.7 Bão
Bão ở Hội An thường xuất hiện vào các tháng 9, 10, 11 Các cơn bão thường kéo theo những trận mưa lớn gây ra lũ lụt cho toàn khu vực Theo thống kê nhiều năm thì số cơn bão đổ bộ vào à N ng, Hội An chiếm 24,4% tổng số các cơn bão đổ bộ vào đất liền từ vĩ tuyến 17 trở vào[6]
Trang 231.2.8 iều kiện thuỷ văn
Quá trình phát triển đường bờ khu vực cửa sông Thu Bồn ch u tác động tổng hợp của yếu tố sông biển Nằm trong vùng có chế độ mưa và dòng chảy mang tính cực hạn rất lớn với mùa mưa ngắn chỉ khoảng 4 tháng, nhưng lượng dòng chảy chiếm tới 80% tổng lượng dòng chảy năm Thêm vào đó đ a chất bề mặt vùng đồng bằng thuộc loại cát từ trung bình đến thô nên mùa lũ b mang theo dòng nước ra biển Trong khi 8 tháng mùa khô dòng chảy trong sông rất nhỏ, khi đó yếu tố biển mạnh hơn rất nhiều lần yếu tố sông Dòng bùn cát theo dòng chảy dọc bờ do sóng tạo ra bồi lấp cửa và diễn biến phức tạp, gây khó khăn không nhỏ cho vận tải khu vực cửa sông và thoát lũ đầu mùa[6]
a Chế độ sóng
Bờ biển vùng cửa sông Thu Bồn có hướng Tây Bắc- ông Nam, nên dễ nhận thấy khả năng ảnh hưởng của các hướng sóng và gió vào mùa đông thường cao hơn rất nhiều so với các hướng sóng gió mùa hè Các hướng sóng
và gió th nh hành ở đây vào mùa đông là Bắc, ông Bắc và ông ặc biệt sóng gió hướng Bắc và hướng ông là hai trong số ba hướng sóng gió th nh hành nhất trong khu vực Tia sóng gió hướng Bắc và ông tạo với đường bờ một góc khoảng 450, có tác động mạnh tới quá trình chuyển d ch bùn cát dọc bờ; tia sóng hướng ông Bắc đổ gần như trực diện vào bờ, có khả năng gây ra
áp lực phá huỷ cao khi đổ vỡ và là tác nhân động lực chính trong quá trình di chuyển bùn cát từ ngoài khơi vào bờ và ngược lại [6]
Các hướng sóng này có ảnh hưởng mạnh khi có bão hoạt động trong thời gian mùa hè và gió ông Bắc thổi mạnh liên tục theo từng đợt dài trong mùa đông Theo số liệu quan trắc khí tượng - hải văn tại bán đảo Sơn Trà (nằm cách Cửa ại 25 km về phía bắc), trong khu vực nghiên cứu sóng do gió hướng ông có tần suất xuất hiện chiếm tỷ lệ cao nhất (trên 30%)[6]
Khi tia sóng hướng ông chuyển vận từ ngoài khơi vào vùng ven bờ b
Trang 24kh c xạ do ma sát đáy và chuyển dần sang hướng sóng ông Bắc Mặt khác cửa sông Thu Bồn nằm khuất hướng sóng này sau đảo Cù Lao Chàm, nên mức độ tác động của sóng hướng ông b giảm đáng kể đối với ven bờ thuộc Cửa ại[6]
Hình 1.1 Dao động triều đặc trưng tại khu vực cửa sông Thu Bồn
Ngoài dao động mực nước do thuỷ triều, khu vực ven biển Cửa ại còn xuất hiện nước dâng do gió mùa ông Bắc, do bão và áp thấp nhiệt đới với tr
số lên tới khoảng 1.0 - 1.2m Dòng chảy ven bờ gồm dòng chảy do sóng, do chênh lệch mực nước triều và do sông đổ ra (dòng dư) vv Nhưng khi xét ảnh hưởng của ch ng tới sự vận chuyển bùn cát thì người ta thường chỉ xét đến dòng chảy do sóng Do tính thuận ngh ch, dòng chảy ven bờ vào thời kỳ gió mùa ông Bắc thường có hướng từ Bắc tới Nam, trong khi vào thời kỳ gió mùa Tây Nam, dòng chảy ven bờ lại có hướng từ Nam lên Bắc Diễn biến mỗi đoạn bờ phụ thuộc vào cán cân bùn cát giữa 2 mùa và sự thay đổi của cán
Trang 25cân bùn cát trong thời kỳ nhiều năm tạo nên sự tiến triển của đường bờ[6]
c Độ mặn
Vùng nước lợ là vùng nước cửa sông, ven biển và vùng rừng ngập mặn, đầm phá Nơi đây có sự pha trộn giữa nước biển và nước ngọt từ các dòng sông đổ ra Do được hình thành từ hai nguồn nước nên diện tích vùng nước lợ phụ thuộc vào mùa (mưa hoặc khô) và thủy triều Nồng độ muối vùng này luôn thay đổi[6]
1.3 ẶC ỂM S N T Á CÁ DÌA (SIGANIDAE)
Cá Dìa thuộc bộ cá vược Perciformes, họ Siganidae , giống Siganus
Trên thới giới có nhiều loại cá Dìa, riêng ở iệt Nam xuất hiện chủ yếu là cá
Dìa bông (Siganus guttatus)
1.3.1 Phân bố
Cá Dìa bông (Siganus guttatus) phân bố rộng ở ông Ấn ộ Dương và
Tây Thái Bình Dương: Quần đảo Andaman, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Indonesia (bao gồm cả Irian Jaya), iệt Nam, Ryukyu, miền Nam và miền ông Trung Quốc, ài Loan, biển Nam Trung Quốc, Philippines, và Palau
[5] Cá Dìa (Siganus canaliculatus) phân bố ở Tây Thái Bình Dương: nh
Ba Tư, nh Oman, Pakistan, Ấn ộ, Sri Lanka, Miến iện, Thái Lan, Singapore, Malaysia, Indonesia,Papua New Guinea, Philippines, Campuchia, iệt Nam, phía Nam Trung Quốc, ài Loan và Tây Úc Cũng được biết đến
từ quần đảo Ryukyu, Palau và Yap ở Micronesia và Melanesia[5]
Cá Dìa sống tập trung kiếm ăn khu vực có rong biển và các thảm cỏ biển các dải đá ngầm Thức ăn của ch ng cũng là thực vật thủy sinh các mùn hữu cơ, đồng thời ch ng có thể ăn các loại thức ăn thổng hợp nên rất tốt cho việc cải thiện môi trường ao nuôi tôm[7]
Trần Hưng Hải khi nghiên cứu Kỹ thuật nuôi thủy sản xen ghép đã cho
thấy Cá Dìa (Siganus guttatus) là loài cá nhiệt đới, phân bố từ đông Ấn ộ
Dương đến tây Thái Bình Dương Nhiệt độ thích hợp cho phát triển của cá
Trang 26Dìa từ 24-280C ối tượng này là loài rộng muối, có thể sống ở vùng nước lợ, mặn có độ sâu đến 6m Cá bột sống quanh quẩn cửa sông, riêng cá trưởng thành thường vào và ra khỏi cửa sông theo thủy triều Thức ăn tự nhiên
là tảo đáy, rong lá hẹ Loài cá này được cho là hoạt động vào ban đêm Kích cỡ lớn nhất bắt gặp đạt 42 cm[5]
1.3.2 Sinh thái
Nhiệt độ thích hợp cho phát triển của cá Dìa từ 24-280C ối tượng này
là loài rộng muối, có thể sống ở vùng nước lợ, mặn có độ sâu đến 6m Cá bột sống quanh quẩn cửa sông, riêng cá trưởng thành thường vào và ra khỏi cửa sông theo thủy triều Thức ăn tự nhiên là tảo đáy, rong Chất đáy là cát bùn hay rạng dá Cá ăn rong biển trên các tản dá nhu rong b n, và cỏ biển[5]
Cá Dìa (Siganus guttatus) là một đối tượng nuôi có giá tr kinh tế ở
đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế Mùa vụ sinh sản tự nhiên của cá Dìa là từ tháng 8 đến tháng 3 năm sau[4] Cá Dìa con kích thước 1,5-5 cm xuất hiện ở đầm phá Thừa Thiên Huế từ tháng 3 đến tháng 9, tập trung vào các tháng 3, 4,
5 tại khu vực Tam Giang, ầm Sam và cửa Tư Hiền
Cá Dìa (Siganus oramin) là đối tượng đầy tiềm năng cho phát triển
nuôi Loài này ch u được sự dao động lớn về độ mặn, trong môi trường tự nhiên ch ng có thể ch u được độ mặn 17-37 phần nghìn (%o), nếu được thuần hoá ch ng có thể sống ở độ mặn 5 phần nghìn (%o), (Pillay, 1990) Trong đầm phá Thừa Thiên Huế loài cá này xuất hiện với tần số cao nhất trong 4 loài thuộc họ cá Dìa Siganidae (Phân viện Hải dương học Hải Phòng, 2001)[5]
Có thể chia cá Dìa thành hai nhóm dựa vào các đặc điểm về tập tính, màu sắc và nơi sống Một nhóm bao gồm các loài sống thành cặp, có màu sáng là loại sống gắn bó với nơi có nhiều ánh sáng và liên quan chặt chẽ đến rạn san hô Những loài cá rạn san hô thường yếu, nhạy cảm với các thay đổi
về lý - hoá và thường biểu hiện tập tính hiếu chiến với các loài khác, điển