1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu các chỉ tiêu hình thái, thể lực một số dân tộc thiểu số của học sinh tiểu học ở huyện bắc trà my tỉnh quảng nam

46 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 775,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chúng tôi chọn đề tài “ Nghiên cứu các chỉ tiêu hình thái, thể lực một số dân tộc thiểu số của học sinh tiểu học ở huyện Bắc Trà My Tỉnh Quảng Nam”.. 2 Mục tiêu đề tài - Tìm hiểu sự phá

Trang 1

ỌC NẴN

ỌC SƢ P M KHOA SINH

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Thu Lam

Chuyên ngành : Cử nhân Sinh Môi Trường

Người hướng dẫn : Đào Văn Minh

Đà Nẵng, tháng 5/ 2013

Trang 2

MỞ ẦU

1 Lí do chọn đề tài

Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.Vấn đề về sức khỏe và thể lực của con người là vấn đề được nhiều cơ quan ban ngành quan tâm, cùng với nhịp độ phát triển trong thời kì đổi mới của đất nước Chúng ta đã gặt hái được nhiều thành tựu về kinh tế, văn hóa, xã hội Trong những thành tựu ấy có vai trò và sự đóng góp to lớn của đồng bào các dân tộc thiểu số Và không phải ai khác, chính đồng bào đã và đang được thụ hưởng những thành quả do sự nghiệp đổi mới mang lại

Ta biết rằng, quá trình sinh trưởng và phát triển của trẻ em nói riêng, con người nói chung, chịu sự chi phối của hệ gen và sự tương tác giữa hệ gen với điều kiện môi trường Những năm gần đây, điều kiện sống của nhân dân được nâng cao và cải thiện đã tác động trực tiếp đến quá trình sinh trưởng, phát triển của trẻ em.Thực tế cho thấy, hiện nay trẻ em ở nhiều vùng lớn nhanh hơn, cao hơn, nặng hơn, cơ thể cân đối hơn… Các chỉ tiêu sinh học có rất nhiều sai khác so với “Hằng số sinh học người Việt Nam” (1975) Chính vì vậy, việc đánh giá, tìm hiểu các chỉ tiêu sinh học người Việt Nam là vấn đề đang được quan tâm

Vùng dân tộc và miền núi nước ta chiếm gần ¾ diện tích tự nhiên, bao gồm 19 tỉnh miền núi vùng cao, 23 tỉnh có miền núi và 10 tỉnh đồng bằng có đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống Các dân tộc ở nước ta có quy mô dân

số và trình độ phát triển kinh tế- xã hội không đều nhau Nhiều dân tộc đã đạt đến trình độ cao về phát triển kinh tế- xã hội, nhưng cũng còn một số dân tộc vẫn ở trình độ phát triển rất thấp Từ những điều kiện đó nó đã đã ảnh hưởng rất lớn đến thể lực cũng như sức khỏe con người ở đó

Việc điều tra cơ bản con người Việt Nam hiện đại nói chung và các dân tộc thiểu số nói riêng cũng như nguồn lực lao động trong hiện tại và trong tương lai là cơ sở để các nhà hoạch định chính sách phát triển kinh tế xã hội đúng đắn Điều tra thể lực, hình thái của từng độ tuổi trong cơ cấu dân số của

Trang 3

cộng đồng dân tộc Nếu ta nắm được các đặc điểm hình thái thể lực ở các độ tuổi và sức khỏe của nguồn tài nguyên nhân lực thì sẽ có cách nhìn nhận, đánh giá về lực lượng lao động xã hội trong tương lai Với sự hiểu biết đó giúp các cơ quan, các cấp chính quyền quản lý xã hội có trách nhiệm, đề ra các chính sách xã hội phù hợp nhằm nâng cao sức khỏe cho mỗi người đặc biệt là thể lực cho trẻ em của các dân tộc miền núi

Nhằm nâng cao hơn nữa công tác đào tạo con người mới phát triển toàn diện đáp ứng ngày càng cao nguồn nhân lực cho xã hội, đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trong hiện tại, trong tương lai đồng thời nhằm đánh giá lại hình thái , thể lực của con người Việt Nam trong thời kì đổi mới, trên

cơ sở tìm ra các biện pháp nâng cao thể lực cho con người Việt Nam đặc biệt

là các đồng bào dân tộc thiểu số trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại

hóa đất nước Chúng tôi chọn đề tài “ Nghiên cứu các chỉ tiêu hình thái, thể lực một số dân tộc thiểu số của học sinh tiểu học ở huyện Bắc Trà My Tỉnh Quảng Nam”

Nhằm góp phần nhỏ vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

và huyện Bắc Trà My

2 Mục tiêu đề tài

- Tìm hiểu sự phát triển của các chỉ số hình thái của học sinh ở độ tuổi (7-11 tuổi) ở một số trường tại huyện Bắc Trà My tỉnh Quảng Nam Gồm các chỉ số: Chiều cao đứng, cân nặng, chiều cao ngồi, vòng ngực, chiều dài chân, chiều dài tay, vòng đùi, vòng tay, chiều dài đùi, chiều dài cánh tay, chiều dài cẳng tay, chiều dài cẳng chân

- Tìm hiểu sự phát triển các chỉ số thể lực ở độ tuổi học sinh tiểu học

- Đề xuất một số biện pháp nâng cao thể lực cho học sinh tiểu học của một số dân tộc

Trang 4

C ƢƠN : TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Hoàn cảnh địa lý- xã hội của Huyện Bắc Trà My - Tỉnh quảng Nam 1.1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên của huyện Bắc Trà My

Huyện Bắc Trà My là một huyện thuộc tỉnh Quảng Nam; Đông giáp huyện Núi Thành, Tây giáp huyện Phước Sơn; Nam giáp huyện Nam Trà My; Bắc giáp các huyện Tiên Phước, Hiệp Đức

Núi cao nhất của huyện là Hòn Bà (1.347m) thuộc xã Trà Giang Huyện Bắc Trà My nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa rõ rệt Mùa khô từ tháng 2-8, và mùa mưa kéo dài từ tháng 9 đến tháng 1 của năm sau

1.1.2 Vài nét về đặc điểm kinh tế - xã hội của huyện Bắc Trà My

Nguồn gốc tên gọi Trà My có từ bao giờ, không ai còn nhớ rõ, nhưng có nhiều cách giải thích về tên gọi Trà My Riêng cách giải thích: Trà My là tên gọi của một con suối có tên DakTamin được chọn đặt tên cho vùng đất nay thuộc thị trấn Trà My và dần dần được đọc trại thành Trà My, được nhiều người chấp nhận hơn

Vào thời kỳ các Vua Hùng, Trà My thuộc vùng đất Việt Thường thị Đến thời kỳ nhà Tần đô hộ nước ta, Trà My thuộc Tượng quận (214 đến 205 trước công nguyên), đời nhà Hán thuộc Tượng Lâm ( từ năm 206 đến năm

192 sau công nguyên) và từ năm 192 đến cuối thế kỷ XIV thuộc vương quốc Chămpa

Vào thời nhà Hồ (1400-1407) Hồ Quý Ly đã thành lập 4 châu gồm: Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa Vùng đất Trà My thuộc châu Thăng

Vào năm 1471, vua Lê Thánh Tông lập Đạo thừa tuyên Quảng Nam, gồm 3 phủ: Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hoài Nhơn, trong đó, phủ Thăng Hoa gồm phần đất Quảng Nam ngày nay Vào năm 1510, vua Lê Tương Dực đã đổi Đạo Thừa tuyên Quảng Nam thành trấn Quảng Nam và đến năm 1602,

Trang 5

chúa Nguyễn lại đổi trấn Quảng Nam thành Quảng Nam dinh Năm 1605, chúa Nguyễn thăng huyện Điện Bàn của phủ Triệu Phong ( Thuận Hoá) thành phủ và cho nhập vào Quảng Nam dinh Quảng Nam dinh lúc bấy giờ gồm có 4 phủ: Điện Bàn, Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hoài Nhơn Vùng đất Trà

My thuộc phủ Thăng Hoa

Vào năm Gia Long thứ hai (1803), Quảng Nam dinh chỉ gồm hai phủ Điện Bàn và Thăng Hoa Đến năm 1806, Quảng Nam dinh được đổi thành trực lệ Quảng Nam dinh, thuộc Kinh sư Năm 1827, trực lệ Quảng Nam dinh được đổi thành tỉnh Quảng Nam Vùng đất Trà My ngày nay, cho đến Cách mạng tháng Tám năm 1945, thuộc phủ Tam Kỳ và huyện Tiên Phước

Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, từng bước tiến hành việc thành lập chính quyền và phân địa giới hành chính ở Trà My Ngày 19.3.1947, thành lập châu Trà My, gồm cả vùng đất Trà My và Phước Sơn ngày nay Tháng 10.1948, châu Trà My được tách ra thành hai huyện là huyện Trà My và huyện Phước Sơn

Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng vào đầu năm 1960 chủ trương hợp nhất các huyện miền núi Thực hiện chủ trương đó, tháng 3.1961, hai huyện Trà My và Phước Sơn được hợp thành huyện Trà Sơn

Tháng 3.1963, trước yêu cầu ngày càng cao của công tác chỉ đạo miền núi, Tỉnh uỷ Quảng Nam chủ trương giải thể huyện Trà Sơn, để thành lập các khu Huyện Trà My bao gồm khu II và khu III Về sau bỏ tên gọi khu và gọi

là huyện Khu II là huyện Bắc Trà My (phần đất phía Bắc sông Tranh); khu III là huyện Nam Trà My ( phần đất phía Nam sông Tranh)

Về phía địch, sau khi hiệp định Giơnevơ được ký kết - ngày 20.7.1954, chính quyền Sài gòn đã điều chỉnh lại địa giới hành chính ở Trà My Chúng đổi huyện Trà My thành quận Trà My Ngày 02.3.1959, chúng lại đổi tên quận Trà My thành quận Hậu Đức Tháng 11.1964, trước sức tấn công của quân và dân ta ngày càng mạnh mẽ, địch buộc phải rút khỏi Trà My, bọn ngụyquyền Hậu Đức phải đóng chi khu quân sự lưu vong ở Phước Lâm ( nay thuộc xã Tiên Hiệp, huyện Tiên Phước)

Trang 6

Tháng 6.1975, sau ngày đất nước thống nhất, huyện Nam Trà My và huyện Bắc Trà My được hợp nhất lại thành huyện Trà My

Huyện Bắc Trà My có 13 đơn vị hành chính, gồm thị trấn Trà My và các xã: Trà Đông, Trà Dương, Trà Kót, Trà Nú, Trà Giang, Trà Sơn, Trà Tân, Trà Đốc, Trà Bui, Trà Giác, Trà Giáp, Trà Ka

Dân số: 39.605 người (năm 2010)

Ở Bắc Trà My có nhiều dân tộc anh em chung sống: Kinh, Kadong, Kor, Mường…

Khu di tích cách mạng Nước Oa

Đây là khu căn cứ của cơ quan Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu V trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1960 – 1973)

Nằm ở địa phận xã Trà Tân, cách thị trấn Trà My 7 km về phía Tây

Được công nhận Di tích Lịch sử Văn hóa Quốc gia ngày 04 tháng 8 năm

1992, theo Quyết định số 983/VH-QG của Bộ Văn hóa – Thông tin

Tại nơi đây, Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu V đã cùng nhau vạch ra đường lối chiến lược cụ thể cho cách mạng và phong trào đấu tranh chống Mỹ cứu nước

Cũng tại nơi đây đã từng diễn ra các hội nghị, đại hội quan trọng, là địa điểm tập huấn cho các cán bộ trung đoàn, sư đoàn, cán bộ các tỉnh trong toàn Khu

về học tập các nghị quyết của Đảng trong chiến tranh, góp phần cùng cách mạng miền Nam Việt Nam giành thắng lợi trong việc ký kết Hiệp định Paris năm 1973

Tiềm năng du lịch: Sự ưu đãi của thiên nhiên còn tạo ra cho Bắc Trà My nhiều thắng cảnh hấp dẫn, say đắm lòng người như núi Hòn Bà sừng sững chìm trong mây trắng mỗi lúc bình minh; thác Năm Tầng nước tung trắng xóa như rót vào lòng người, khu di tích Nước Oa với vườn cam Chu Huy Mân, Bên cạnh đó, sự hoang sơ, hiểm trở của địa hình đồi núi và tấm lòng kiên trung của đồng bào các dân tộc ở Trà My cũng đã được ghi vào sử sách Nông nghiệp: Dù có phần thuận lợi hơn so với Nam Trà My, nhưng Bắc Trà

My cũng gặp không ít khó khăn Ngành sản xuất chính là nông nghiệp

Trang 7

Nhưng gần 2/3 xã trong huyện thuộc vùng khó khăn, đất đai cằn cỗi, sản xuất phụ thuộc vào thiên nhiên, kỹ thuật canh tác còn nhiều hạn chế

Ở thị trấn Trà My, xã Trà Đông, Trà Giang, Trà Dương, Trà Tân tình hình có sáng sủa hơn, nhưng năng suất lúa vẫn chỉ ở mức 29 – 31 tạ/ha

Trong thời gian gần đây, do cây quế mất giá, bà con ở Bắc Trà My chuyển sang đầu tư trồng keo nguyên liệu Đầu năm 2005 đến nay, nông dân trong huyện đã tích cực tham gia nhận khoán trồng rừng theo dự án WB3, phấn đấu đến năm 2010 trồng mới 4.800 ha keo

1.2 Các chỉ số hình thái thể lực

Hình thái thể lực của con người là một trong các thông số cơ bản phản ánh

sự phát triển sinh học của cơ thể Liên quan chặt chẽ đến tình trạng sức khỏe và khả năng lao động của con người

Có rất nhiều chỉ số được dùng để nghiên cứu đánh giá hình thái, thể lực trong

đó các chỉ số: chiều cao đứng, chiều cao ngồi, trọng lượng cơ thể, vòng ngực, chiều dài chi và các đoạn chi, vòng chi…là các thông số được dùng phổ biến trong các nghiên cứu nhằm đánh giá thể lực con người

Trong các chỉ số trên chiều cao đứng là một trong những kích thước được dùng phổ biến nhất trong hầu hết các cuộc điều tra cơ bản về hình thái học, nhân chủng học và y học Chiều cao đứng phản ánh quá trình phát triển theo chiều dài của xương, biểu hiện tầm vóc của con người Nó thường thay đổi theo chủng tộc, giới tính, và cũng chịu một phần ảnh hưởng của môi trường, hoàn cảnh sống, xã hội [12], [15]

Chiều cao đứng còn là một trong những đặc điểm rất quan trọng trong ứng dụng nhân trắc học và nghiên cứu thiết kế ecgonomi [12]

Chiều cao đứng có mối tương quan thuận với một số kích thước khác của cơ thể nên người ta thường đo kết hợp để thành lập các chỉ số đánh giá mức độ phát triển thể lực hoặc đánh giá sự cân đối của cơ thể [6]

Chiều cao ngồi cũng là một kích thước được dùng phổ biến sau chiều cao đứng Nó có ý nghĩa đối với việc tính toán thiết kế chỗ làm việc trong tư thế ngồi Chiều cao ngồi còn được dùng để thay thế cho bề dài phần thân trên khi

Trang 8

cần so sánh với bề dài phần thân dưới Tỷ lệ giữa hai phần thân trên và dưới phản ánh quy luật phát triển tỷ lệ của cơ thể trong các quần thể người [18] Chiều dài chi trên và chi dưới có sự phát triển tương ứng với chiều cao đứng [18]

Độ dài chi và các phần chi thể hiện sự phát triển hệ xương chi và sự phát triển của cơ thể Hệ số tương quan giữa chiều cao đứng với chiều cao ngồi và chiều dài chi đánh giá sự phát triển cân đối giữa các phần của cơ thể và mối liên quan giữa chúng [6]

Vòng ngực là chỉ tiêu quan trọng trong đánh giá hình thái thể lực cũng như chức năng hô hấp Sự chênh lệch giữa vòng ngực hít vào hết sức và vòng ngực thở ra hết sức thể hiện độ giãn nở của ngực, khi độ giãn nở lớn chứng tỏ chức năng hô hấp tốt [18], [6]

Các vòng chi (vòng tay phải hoặc tay trái khi co và vòng đùi) phản ánh sự phát triển của ba yếu tố: Xương, tổ chức mỡ dưới da, đặc biệt là các tổ chức cơ của cơ thể Đo các vòng cơ ở chi cho phép chúng ta đánh giá tình trạng tập luyện

và dinh dưỡng của cơ thể [6]

Trọng lượng của cơ thể tuy không nói lên tầm vóc, nhưng vì nó phát triển liên quan đến nhiều kích thước khác, cho nên thường được khảo sát đồng thời nhằm đánh giá thể lực chung [18]

Trọng lượng của một người nói lên mức độ và tỷ lệ giữa sự hấp thụ và tiêu hao Một người được dinh dưỡng tốt thì tăng cân, do đó cân nặng nói lên phần nào trình độ thể lực [18]

Trọng lượng của cơ thể không phụ thuộc vào yếu tố di truyền mà phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng, thông qua chỉ số này ta có thể biết được mức độ và tỉ lệ giữa sự hấp thu và tiêu hao năng lượng của một người [6]

Từ các chỉ số hình thái: chiều cao, vòng ngực, vòng tay phải hoặc trái khi co, vòng đùi, trọng lượng cơ thể là cơ sở để xác định chỉ số thể lực: Pignet, BMI Các chỉ số này có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá sự phát triển của con người

Trang 9

Chỉ số Pignet là chỉ số thể lực phản ánh mối liên hệ giữa kích thước dọc (chiều cao đứng) và các kích thước ngang (cân nặng và vòng ngực trung bình) của cơ thể

1.3 Tình hình nghiên cứu về con người trên thế giới

Trên thế giới, việc nghiên cứu hình thái thể lực đã được tiến hành từ khi con người biết đo chiều cao của mình Nhưng cho đến đầu thế kỷ XX nó mới trở thành môn khoa học với đầy đủ ý nghĩa và tính chính xác Người đặt nền móng cho nhân trắc học hiện đại là nhà nhân trắc học người Đức Rudolf Martin Từ đó đến nay, trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về nhân trắc học như: Đức, Pháp Nga, [13]

Khoa học nghiên cứu về con người ra đời từ rất sớm, từ thời cổ đại khoa học nghiên cứu về con người đã được tiến hành nhằm phục vụ công tác chữa bệnh phát triển kinh tế văn hóa, thể thao của xã hội loài người Các nhà khoa học cổ đại như Hy Lạp có Hypocrat (400-377) trước công nguyên Ông đã nghiên cứu con người nhằm nâng cao sức khỏe vào công tác chữa bệnh là người đầu tiên đặt nền móng cho việc nghiên cứu con người toàn diện [4]

Aristôt (382-322) trước công nguyên, ông đã nghiên cứu về con người và các người bệnh để áp dụng vào các nguyên lý xác định và chẩn đoán lâm sàng qua hình thái bên ngoài

Hêrôphin ( 304), Er đitơrat (300- 250) trước công nguyên đã nghiên cứu thể thức cấu tạo của các cơ quan, hình thái thể lực con người tương đối toàn diện Đặc biệt là Galiên (130-201) sau công nguyên là một nhà giải phẩu lỗi lạc Ông cho rằng những tài liệu về hình thái giải phẩu của cơ quan là cơ sở để xây nên học thuyết chữa bệnh và phương pháp chữa bệnh cho con người

Ở La Mã cổ đại coi việc rèn luyện nâng cao sức khỏe thể lực là nghĩa vụ của mọi người dân, các nhà y học cổ đại đã tìm ra tỉ lệ vàng của cơ thể để đánh giá thể lực cho các lực sĩ và con người bình thường

Ở Trung Quốc và Ấn Độ thời cổ đại đã biết đưa các hiểu biết đặc điểm hình thái cấu tạo con người vào mục đích chữa bệnh nâng cao sức khỏe cho con người

Trang 10

Thế kỉ X Avixen đã nghiên cứu về hình thái cấu tạo con người nhằm phục vụ cho việc nâng cao thể lực và xã hội học Từ thế kỷ XV đến nay, các ngành khoa học nói chung và khoa học nghiên cứu về con người nói riêng càng được nghiên cứu sâu và toàn diện hơn, nhằm phục vụ mục đích nâng cao sức khỏe thể lực, phục vụ công tác chữa bệnh, dân sinh, thể dục thể thao UyLyam Hacvây là một nhà giải phẩu lỗi lạc đã có công trình nghiên cứu sâu sắc về con người Đặc biệt từ đầu thế kỉ XIX đến nay khoa học nói chung và khoa học nghiên cứu về con người đã và đang phát triển rất mạnh

Ở thế kỉ XX việc nghiên cứu hình thái thể lực ở mức sâu và rộng hơn và mang lại nhiều thành tựu rực rỡ hơn Các tác giả Varôn, Tônggô, Virôbiep, Paplốp, Piraốp, Phowluren, đã để lại nhiều công trình có giá trị lớn về nghiên cứu giải phẩu hình thái, làm cơ sở đánh giá thể lực của con người ở mọi độ tuổi nhằm không ngừng nâng cao sức khỏe cho nhân loại Trên cơ sở hiểu biết sâu sắc về con người, loài người đã đề ra nhiều chương trình, nhiều dự án

có tính toàn cầu nhằm ngày càng nâng cao hơn nữa sức khỏe, thể lực, tuổi thọ cho toàn nhân loại [12]

1.4 Tình hình nghiên cứu về con người tại Việt Nam

Hình thái thể lực con người Việt Nam được nghiên cứu lần đầu tiên vào năm 1875 do Mondiere thực hiện trên trẻ em [5]

Tố chất thể lực của thanh thiếu niên nước ta còn hạn chế Xã hội văn minh hơn, mức sống tốt hơn trước đây, nhưng do thiếu chế độ dinh dưỡng và chế

độ vận động hợp lý, có lẽ là nguyên nhân chính dẫn đến thực trạng này [14] Công trình „Hằng số sinh học người Việt Nam‟ năm 1975 do GS Nguyễn Tấn Di Trọng chủ biên Đây cũng là công trình đầu tiên nêu ra khá đầy đủ các thông số về thể lực của con người Việt Nam ở mọi lứa tuổi trong đó có lứa tuổi từ 7-11 tuổi Sau này cũng có một số công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh thể con người Việt Nam [12]

Năm 1975, Bộ Y tế xuất bản cuốn "Hằng số sinh học của người Việt Nam" cho thấy chiều cao trung bình ở nam là 160 cm và ở nữ là 150 cm

Trang 11

Năm 1985, Viện Dinh dưỡng điều tra trên phạm vi cả nước cho thấy kết quả chiều cao trung bình của nam là 159,8 cm và ở nữ là 150,5 cm

Như vậy có thể nói từ 1938 đến 1985 sau gần 50 năm, chiều cao trung bình của người Việt Nam trưởng thành hầu như không thay đổi Đó cũng là thời gian đầy khó khăn của lịch sử dân tộc

Từ năm 1990 đến nay, nhiều nghiên cứu diện rộng như "Khảo sát mức sống dân cư Việt Nam' của Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước - Tổng cục thống kê (1994), Tổng điều tra Dinh dưỡng 2000 của Viện Dinh dưỡng, các nghiên cứu của Viện Khoa học thể dục thể thao đều cùng có nhận xét rằng chiều cao của người Việt Nam cả nam và nữ đang tăng lên rõ rệt mặc dù mức độ có khác nhau Năm 2003, Bộ Y tế xuất bản cuốn "Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 - thế kỷ XX" cho biết kích thước trung bình ở nam trưởng hành (20- 24 tuổi) là 163,7 cm và ở nữ trưởng thành là 153 cm Như vậy so với số liệu trong hằng số sinh học của người Việt Nam (Bộ Y tế 1975) chiều cao trung bình ở nam đã tăng 3,7cm và ở nữ tăng 3cm Có thể nói chiều cao trung bình của người Việt Nam cả nam và nữ đang tăng lên rõ rệt

Đó là một sự thật đáng mừng [16]

Chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu trong nghiên cứu con người Việt Nam như: Giáo sư Tôn Thất Tùng về phương pháp mổ gan nổi tiếng, Nguyễn Đình Khoa, Trần Xuân Nhĩ đã có công trình nghiên cứu toàn diện về giải phẩu hình thái con người, Nguyễn Quang Quyền và nhiều nhà khoa học khác như Lê Quang Long đã có nhiều công trình nghiên cứu sâu sắc về giải phẩu hình thái , thể lực người Việt Nam, các công trình Lê Gia Khải (1969) nghiên cứu chiều cao, vòng ngực, cân nặng của công nhân Hà Nội một số đặc điểm hình thái và sinh lý của lứa tuổi học sinh 15-18 tuổi [10]

- Nguyễn Đình Khoa (1968) “ Đặc điểm hình thái người Mường”

- Nguyễn Đình Khoa, Nguyễn Quang Quyền, Nguyễn Duy và Lân Cường (1970) “ Phương pháp nghiên cứu nhân học ở Việt Nam”

- Nguyễn Ngọc Châu (1971) “ Bước đầu tìm hiểu sự phát triển tầm vóc và một số đoạn cơ thể học sinh cấp I và cấp II”

Trang 12

Từ ngày đất nước hoàn toàn giải phóng đến nay công trình nghiên cứu về hình thái thể lực sinh lý người Việt Nam càng được nghiên cứu sâu và rộng hơn

Dự án điều tra cơ bản , kết quả nghiên cứu một số chỉ tiêu học sinh người Việt Nam do tập thể các nhà khoa học trường ĐH Y khoa Hà Nội 1975; Lê Doãn Diên, Vũ Thị Thư “ Dinh dưỡng người” đã nghiên cứu các đặc điểm thể lực người Việt Nam 1976- 1985

Năm 1995 Nguyễn Yên và cộng sự đã nghiên cứu trẻ em người Mường từ 7-13 tuổi cho rằng các kích thước trẻ em luôn tăng theo độ tuổi

Năm 2001 Huỳnh Trọng Khải đã nghiên cứu thực trạng phát triển thể chất của học sinh nữ tiểu học tuổi 7-11 ở Thành Phố Hồ Chí Minh

Năm 2003 trường Đại học Y Hà Nội chủ trì dự án “ Điều tra cơ bản một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam bình thường ở thập kỉ 90 thế kỉ XX”

Năm 2006 Trần Đức Dũng , Vũ Chung Thủy, Nguyễn Hùng Cường thuộc trường Đại học thể dục thể thao I đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm phát triển

chưa có công trình nào công bố

Trang 13

C ƯƠN II Ố TƯỢN , ỊA ỂM, THỜI GIAN, NỘI DUNG VÀ

P ƯƠN P ÁP N ÊN CỨU

2.1 ối tượng nghiên cứu

Học sinh tiểu học của một số dân tộc thiểu số ở huyện Bắc Trà My tỉnh Quảng Nam ở độ tuổi từ 7- 11 tuổi ( không mắt các bệnh bẩm sinh, không bị

dị tật)

2.2 ịa điểm nghiên cứu

- Trường tiểu học Kim Đồng huyện Bắc Trà My

- Trường tiểu học Lê Văn Tám huyện Bắc Trà My

- Trường tiểu học Nguyễn Thị Minh Khai huyện Bắc Trà My

2.3 Thời gian nghiên cứu: Từ 10/2012- 06/2013

2.4 Nội dung

- Nghiên cứu các chỉ số hình thái: Chỉ số trọng lượng cơ thể, chiều cao đứng, vòng cánh tay, vòng ngực, vòng đùi, chiều cao ngồi, độ dài tay, độ dài chân,

độ dài cánh tay,độ dài đùi, độ dài cẳng tay, độ dài cẳng chân

- Nghiên cứu các chỉ số thể lực, chỉ số nhân trắc dinh dưỡng: Chỉ số Pignet, chỉ số BMI, chỉ số QVC

2.5 Phương pháp nghiên cứu

2.5.1 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu: Dựa vào phương pháp của

Nguyễn Quang Quyền: Chúng tôi chọn 531 học sinh của 3 trường tiểu học ở huyện Bắc Trà My

Trường tiểu học Kim Đồng 115 học sinh Gồm: 62 học sinh dân tộc Mường

và 53 học sinh dân tộc Kadong

Trường tiểu học Lê Văn Tám 197 học sinh Gồm: 84 học sinh dân tộc Mường

và 113 học sinh dân tộc Kadong

Trường tiểu học Nguyễn Thị Minh Khai 219 học sinh Gồm: 102 học sinh dân tộc Mường và 117 học sinh dân tộc Kadong

Trang 14

2.5.2 Phương pháp tính tuổi đối tượng nghiên cứu

Dựa vào phương pháp của Nguyễn Quang Quyền và Lê Doãn Diên ( đó là dựa vào giấy khai sinh để tính tuổi đối tượng)

- Tuổi qui ước: Nằm ở giới hạn trên và dưới tuổi chính xác Ví dụ: Tuổi 6 được tính từ 5 tuổi 6 tháng đến 6 tuổi 5 tháng 29 ngày

2.5.3 Phương pháp thu các chỉ số hình thái

- Chỉ số trọng lượng: Tính theo giá trị cân đồng hồ điện tử

Cân đặt ở vị trí ổn định, bằng phẳng lấy đến 1-2 số lẽ của cân

Đối tượng đứng trên bàn cân chỉ mặc quần áo nhẹ, không mang dày dép, đứng yên ở vị trí quy định trên mặt bàn cân Cân đặt ở vị trí ổn định, bằng phẳng, lấy một đến hai số lẻ của cân

- Chỉ số chiều cao đứng: Sử dụng thước đo theo chiều thẳng đứng, vuông góc với mặt đất nằm ngang

Đối tượng đứng thẳng, bỏ dày dép; đồng thời 3 điểm sau nhô ra nhất như vai, mông, gót chân vào dụng cụ đo, đầu để thẳng sao cho đuôi mắt và điểm giữa

bờ trên lỗ tai ngoài nằm trên đường thẳng ngang vuông góc với trục cơ thể

+ Vòng ngực trung bình: Vị trí đo như trên khi trẻ hít vào thở ra bình thường

Có thể tính trung bình cộng giữa hít vào và thở ra

- Đo chiều cao ngồi: Đo chiều cao ngồi, ngồi trên ghế bình thường ở tư thế người được lấy mẫu ngồi lưng, cổ, đầu cùng nằm trên một đường thẳng, 2 tay

để tự nhiên, ngực ưỡn, mắt nhìn thẳng, chiều cao ngồi được tính từ đỉnh đầu đến mặt ghế ngồi

- Đo vòng cánh tay phải hoặc trái khi co: Người được tiến hành lấy mẫu nắm chặt tay được đo, ép sát lồng ngực, vị trí đo phần giữa của cơ cánh tay lớn

- Chỉ số dài tay: Tính từ mõm xương quạ đến cuối ngón tay giữa

Trang 15

- Chỉ số dài chân: Ta có thể lấy chỉ số này theo 2 mốc sau:

+ Đo từ gai chậu trước đến gót chân

+ Đo độ dài chân: Là khoảng cách từ mặt sàn đến mấu chuyển lớn ở tư thế đứng Tuy nhiên việc xác định mấu chuyển lớn tương đối khó nên trong thực

tế nghiên cứu thường dùng cách đo thứ nhất bao gồm cả độ cao xương chậu -Chỉ số dài cánh tay: Từ mõm xương quạ đến mõm khuỷu tay

- Chỉ số dài cẳng chân: Từ mút đầu gối đến mắt cá ngoài

- Chỉ số chiều dài đùi: Kể từ gai chậu trước trên đến mặt trước mút đầu gối

- Chỉ số dài cẳng tay: Từ mỏm khuỷu tay đến mắt cá tay ngoài

-Chỉ số vòng đùi: Đối tượng ở tư thế ngồi trên ghế, chân song song với mặt đất, đo giữa đùi phải

2.5 4 Phương pháp tính chỉ số thể lực

Dựa vào phương pháp tính chỉ số thể lực của Pignet và Nguyễn Quang Quyền

- Chỉ số pignet, theo công thức:

Pignet = chiều cao đứng (cm) _ [ cân nặng (kg) + vòng ngực trung bình (cm)]

- Chỉ số của Nguyễn Quang Quyền, theo công thức:

Q = chiều cao(cm) _ [vòng ngực hít vào hết sức (cm) + vòng đùi phải + vòng cánh tay phải(cm)]

Kết quả được đánh giá theo mức độ thể lực: Cực khỏe, rất khỏe, khỏe, trung bình, yếu, rất yếu

2.5.5 Phương pháp phân tích chỉ số nhân trắc dinh dưỡng

Chỉ số khối lượng cơ thể ( Body mass Index_BMI) Theo chỉ số tổ chức y

tế thế giới thường dùng:

Trang 16

Theo bảng đánh giá: Béo gầy dựa vào chỉ số BMI

Bảng 2: Bảng chỉ số BMI

Đánh giá

Giới tính

Quá gầy

Gầy Hơi gầy Bình

Trang 17

C ƢƠN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu trên 531 học sinh của trường tiểu học Kim Đồng, trường tiểu học Lê Văn Tám, trường tiểu học Nguyễn Thị Minh Khai thuộc huyện Bắc Trà My Sau khi nghiên cứu chúng tôi thu được kết quả

3.1 Các chỉ tiêu hình thái

3.1.1 ánh giá kết quả chỉ tiêu trọng lƣợng cơ thể

Trọng lượng là chỉ tiêu hình thái quan trọng khi nghiên cứu về sự phát triển của con người theo các độ tuổi Trọng lượng cơ thể liên quan tới mức độ

và tỉ lệ giữa hấp thu và tiêu hao Trẻ được nuôi dưỡng tốt sẽ tăng cân Do đó trọng lượng cơ thể phần nào nói lên tình trạng thể lực, dinh dưỡng và sự tăng trưởng của trẻ em Trong sinh lý học con người đây là chỉ số đánh giá sự phát triển thể lực của từng trẻ em theo độ tuổi Trong những độ tuổi nhất định đều

có chỉ số tiêu biểu để đánh giá tốc độ phát triển Đồng thời qua trọng lượng phản ánh sức khỏe, điều kiện dinh dưỡng, môi trường, chế độ làm việc Sự phát triển trọng lượng của trẻ em theo quy luật không đều theo từng giai đoạn Tùy ở mỗi giai đoạn mà trẻ em có thể phát triển nhanh chậm khác nhau.Qua nghiên cứu 3 trường tiểu học tại huyện Bắc Trà My chúng tôi được kết quả về phát triển trọng lượng của học sinh qua các năm như sau: Được thể hiện qua bảng 1 và đồ thị 1

Trang 18

Bảng 1: Bảng biểu diễn trọng lượng cơ thể (kg) của học sinh theo lứa tuổi

11 tuổi cho thấy sự tăng trưởng của nam và nữ là tương đối nhanh và ở nữ có

sự tăng trưởng nhanh hơn ở nam Đặc biệt từ 9-11 tuổi ở nữ tăng trưởng

Nữ HSSH Nam HSSH

Nữ ĐN Nam ĐN

Trang 19

tương đối nhanh hơn (trung bình 2,11 kg) Sự tăng trưởng về trọng lượng giữa nam và nữ có sự chênh lệch tương đối lớn Ở độ tuổi 11 nữ đạt trung bình 26,07 kg trong khi đó nam chỉ đạt trung bình 22,34 kg

So với chỉ số sinh học của người Việt Nam (1975) Kết quả nghiên cứu mà chúng tôi thu được tại 3 trường thuộc huyên Bắc Trà My nhìn chung thấp hơn Trong độ từ 7-8 tuổi chỉ số trọng lượng chúng tôi nghiên cứu cao hơn nhưng đến năm 9-10 tuổi thì lại thấp hơn rất nhiều.Qua đây cho thấy sự tăng trưởng về trọng lượng của các em tại các trường mà chúng tôi nghiên cứu có sự phát triển rất thấp So với chỉ số sinh học của các em trong cùng độ tuổi ở TP Đà Nẵng (theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thùy Linh 2009) có sự chênh lệch rất lớn.Ở độ tuổi 11, trọng lượng trung bình mà chúng tôi thu được là 26,07 kg đối với nữ và 22,34 kg đối với nam trong khi đó trọng lượng trung bình của các em tại TP Đà Nẵng đạt tới 31,1 kg đối với nữ và 32,5 kg đối với nam

Theo chúng tôi, đó là do đời sống của người dân thuộc dân tộc thiểu số còn chưa được nâng cao mặt dù các cấp các ngành đã có nhiều chính sách ưu tiên cho các dân tộc thiểu số Vì vậy, các cấp các ngành cần quan tâm hơn nửa đối với các dân tộc miền núi, cần tạo điều kiện cho họ phát triển kinh tế- xã hội

để phát triển hơn nữa các điều kiện khác như y tế, giáo dục, dinh dưỡng, … Điều kiện kinh- tế xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển trọng lượng

cơ thể trẻ em

3.1.2 ánh giá kết quả chỉ tiêu chiều cao cơ thể (chiều cao đứng)

Chiều cao là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá sự phát triển thể chất của trẻ em Sự tăng kích thước theo chiều cao của con người không đồng đều từ khi sơ sinh đến khi trưởng thành nhưng liên tục Theo quy luật trong những năm đầu nhanh hơn sau đó tốc độ càng chậm Đây là chỉ tiêu giúp đánh giá thể lực của trẻ em trong quá trình nghiên cứu Sự tăng trưởng về chiều cao cơ thể đánh giá sự phát triển của hệ xương, hệ vận động, đặc biệt là sự phát triển của hệ xương Mỗi độ tuổi đều có chỉ số về chiều cao tương ứng giúp ta đánh giá mức độ phát triển thể lực bình thường hay không bình thường của cơ thể

Trang 20

Để có sự điều chỉnh trong chế độ dinh dưỡng, chăm sóc đáp ứng ngày càng cao của sự phát triển cơ thể học sinh

Quá trình nghiên cứu của chúng tôi với 531 học sinh, thu được kết quả chiều cao theo độ tuổi của trẻ em ở các trường tiểu học ở Huyện Bắc Trà My

mà chúng tôi nghiên cứu như sau: Được thể hiện qua bảng 2 và đồ thị 2

Bảng 2: Bảng biểu diễn chiều cao đứng ( đơn vị cm) của học sinh theo tuổi và giới tính

Trang 21

Đồ thị 2: Biểu diễn chiều cao đứng cơ thể ở tuổi 7-11

Qua bảng 2 và đồ thị 2 biểu diễn chiều cao đứng của học sinh từ 7-11 tuổi

ta thấy được trong cùng một độ tuổi nghiên cứu thì giữa nam và nữ có sự chênh lệch tương đối thấp.Giữa các năm có sự tăng trưởng không đồng đều Nhìn chung nữ cao hơn nam Đặc biệt từ độ tuổi 7-9 tuổi và 11 tuổi Trong độ tuổi từ 7-11 tuổi tăng bình quân từ 1,01-3,52 cm Kết quả nghiên cứu trên là phù hợp với quy luật phát triển thể lực theo giới tính ở trẻ em

So với chỉ số sinh học của người Việt Nam (1975) Kết quả nghiên cứu mà chúng tôi thu được tại 3 trường thuộc huyên Bắc Trà My trong độ tuổi từ 7-8 tuổi là cao hơn nhưng đến 9-11 tuổi thì lại thấp hơn Qua đây cho thấy tốc độ phát triển của các em học sinh mà chúng tôi nghiên cứu là rất thấp So với các

em tại TP Đà Nẵng trong cùng độ tuổi (nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thùy Linh 2009) thì kết quả mà chúng tôi thu được thấp hơn rất nhiều Theo chúng tôi, nguyên nhân là do vấn đề về dinh dưỡng, sức khỏe của các em dân tộc thiểu số chưa được đảm bảo và chưa được quan tâm đúng mức

3.1.3 ánh giá kết quả chỉ tiêu phát triển lồng ngực

Vòng ngực là một trong các chỉ tiêu để nghiên cứu sự phát triển chiều ngang của cơ thể Sự phát triển kích thước của lồng ngực là cơ sở cho phép ta

Nữ HSSH Nam HSSH

Nữ ĐN Nam ĐN

Trang 22

đánh giá thể lực của từng người, từng độ tuổi Nếu một người có vòng ngực lớn thì thể lực tốt Vòng ngực với chỉ số khác của cơ thể giúp ta đánh giá sự phát triển thể lực của từng người Qua nghiên cứu học sinh của 3 trường tiểu học Huyện Bắc Trà My chúng tôi thu được kết quả phát triển lồng ngực của học sinh trong 3 trường nghiên cứu được thể hiện qua bảng 3 và sơ đồ 3

Bảng 3: Biểu diễn sự tăng trưởng của lồng ngực của học sinh tuổi 7-11(cm) Vòng ngực trung bình (cm) của học sinh theo tuổi 7-11 và giới tính

Trang 23

Đồ thị 3: Biểu diễn sự tăng trưởng lồng ngực của học sinh ở tuổi 7-11 Qua bảng 3 và đồ thị 3 biểu diễn sự tăng trưởng của lồng ngực học sinh từ 7-11 tuổi tại các trường nghiên cứu chúng tôi thấy có sự tăng trưởng không đồng đều Ở nam có sự tăng trưởng đều hơn nhưng lại chậm hơn nữ Tuy nhiên, qua nghiên cứu chúng tôi nhận thấy, vòng ngực trung bình ở các trường nghiên cứu là tương đương với các chỉ tiêu vòng ngực của người Việt Nam (1975) Mức độ phát triển lồng ngực của các học sinh dân tộc thiểu số miền núi là còn rất thấp so với các học sinh ở các vùng khác như TP Đà Nẵng Ví dụ: Ở Đà Nẵng,độ tuổi 7 tuổi, vòng ngực trung bình ở nữ là 57,1, nam trung bình là 57,4; ở 11 tuổi, nữ trung bình 65,4, nam trung bình 64,89 (theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thùy Linh 2009) Ở đây có sự chênh lệch khá cao Kết quả mà chúng tôi nghiên cứu được có sự khác biệt rất lớn giữa nam và nữ so với các chỉ số sinh học của người Việt Nam(1975) và kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thùy Linh 2009) Kết quả mà chúng tôi thu được thì đa số là nữ cao hơn nam Theo tôi, đó là do điều kiện kinh tế-xã hội của mỗi vùng khác nhau Qua đó, sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển các chỉ số thể lực của các em

Nữ HSSH Nam HSSH

Nữ ĐN Nam ĐN

Ngày đăng: 09/05/2021, 16:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Lê Doãn Diên (1996), Dinh dưỡng người, Nhà xuất bản giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dinh dưỡng người
Tác giả: Lê Doãn Diên
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
Năm: 1996
4. Trịnh Bỉnh Duy, Nguyễn Quang Quyền (1973), Một số hằng số sinh học người Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: (1973)," M
Tác giả: Trịnh Bỉnh Duy, Nguyễn Quang Quyền
Năm: 1973
5. Trịnh Hữu Hằng (2001), Sinh lý người và động vật, NXB KHKT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý người và động vật
Tác giả: Trịnh Hữu Hằng
Nhà XB: NXB KHKT
Năm: 2001
6. Nông Thị Hồng (1998), Vệ sinh và Y học thể dục thể thao, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: sinh và Y học thể dục thể thao
Tác giả: Nông Thị Hồng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
9. Tạ Thúy Lan (1997), Sinh lý học trẻ em, NXB giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý học trẻ em
Tác giả: Tạ Thúy Lan
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 1997
10. Nguyễn Thị Thùy Linh (2009), “ Bước đầu nghiên cứu một số chỉ tiêu hình thái, thể lực của học sinh tiểu học tại thành phố dà Nẵng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu nghiên cứu một số chỉ tiêu hình thái, thể lực của học sinh tiểu học tại thành phố dà Nẵng
Tác giả: Nguyễn Thị Thùy Linh
Năm: 2009
11. Đào Văn Minh (2008), Nghiên cứu một số chỉ tiêu hình thái thể lực của học sinh lớp 6,7,8,9 ( Lứa tuổi 12,13,14,15) tại thành phố Đà Nẵng, mã số: T2008- 03-39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số chỉ tiêu hình thái thể lực của học sinh lớp 6,7,8,9 ( Lứa tuổi 12,13,14,15) tại thành phố Đà Nẵng
Tác giả: Đào Văn Minh
Năm: 2008
12. Nguyễn Quang Quyền (1974), Nhân trắc học và ứng dụng nghiên cứu trên người Việt Nam, NXB Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: 1974), Nhân trắc học và ứng dụng nghiên cứu trên người Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Quang Quyền
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 1974
14. Trần Thị Thu Thư (2012), “Nghiên cứu một số chỉ số hình thái thể lực của học sinh đồng bào dân tộc Cơ Tu tại trường PTDTNT tỉnh Quảng Nam”.Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Sư phạm Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu một số chỉ số hình thái thể lực của học sinh đồng bào dân tộc Cơ Tu tại trường PTDTNT tỉnh Quảng Nam”
Tác giả: Trần Thị Thu Thư
Năm: 2012
15. Lê Nam Trà, Nguyễn Văn Tường, Vũ Thiệu An (1994), “Bàn về đặc điểm tăng trưởng người Việt Nam”, NXB Khoa học và kĩ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bàn về đặc điểm tăng trưởng người Việt Nam”
Tác giả: Lê Nam Trà, Nguyễn Văn Tường, Vũ Thiệu An
Nhà XB: NXB Khoa học và kĩ thuật
Năm: 1994
16. Nguyễn Tấn Trọng (1975), Hằng số sinh học người Việt Nam, NXB Y học (1975) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hằng số sinh học người Việt Nam, NXB Y học
Tác giả: Nguyễn Tấn Trọng
Nhà XB: NXB Y học "(1975)
Năm: 1975
17. Lê Thanh Vân (2002), Sinh lý học trẻ em, NXB ĐHQG Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý học trẻ em
Tác giả: Lê Thanh Vân
Nhà XB: NXB ĐHQG
Năm: 2002
18. Viện nghiên cứu bảo hộ lao động (1986), “Atlat nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động”, Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Atlat nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động”
Tác giả: Viện nghiên cứu bảo hộ lao động
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật
Năm: 1986
19. Phan Thị Ngọc Yến (2002), Đặc điểm giải phẩu sinh lý trẻ em, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm giải phẩu sinh lý trẻ em
Tác giả: Phan Thị Ngọc Yến
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2002
1. Nguyễn Ngọc Châu (2001), Nghiên cứu một số chỉ số thể lực, năng lực trí tuệ của học sinh trường THPT Vũ Quang, huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh Khác
2. Dương Nghiệp Chí (2003), Tạp chí Dân số & Phát triển/ website Tổng cục Dân số & KHHGĐ Khác
7. Hà Huy Khôi (2000), Tầm vóc của người Việt Nam đang được cải thiện Khác
8. Dinh Kỷ và Nguyễn Đình Khoa(1972) – Nghiên cứu một số kích thước hình thái thể lực của học sinh phổ thông từ 7-18 tuổi ở Thái Bình Khác
13. Hoàng Thu Soan (2011), Nghiên cứu một số chỉ số sinh học và trí tuệ của học sinh trung học sơ sở tỉnh Thái Nguyên Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w