1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết lịch sử huyền trân công chúa của hoàng quốc hải

66 18 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 912,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài Lịch sử vẻ vang của đất nước trong mỗi thời kỳ đã được tái hiện thật sinh động qua các cây bút viết tiểu thuyết Lịch sử, tiêu biểu như Lan Khai với Ai lên phố cát, Đỉn

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thanh Trường Tôi xin chịu trách nhiệm về nội dung khoa học của công trình này

Đà Nẵng, tháng 05 năm 2013

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Ngọc

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến thầy giáo TS Nguyễn Thanh Trường - người đã nhiệt tình, chu đáo hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này Tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng đã chỉ bảo giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè và người thân đã ủng hộ, giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này

Mặc dù có nhiều cố gắng, song do trình độ còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự đóng góp chân thành của thầy

cô, bạn bè để đề tài được hoàn thiện hơn

Đà Nẵng, tháng 05 năm 2013

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Ngọc

Trang 4

MU ̣C LỤC

MỞ ĐẦU 2

1 Lý do chọn đề tài 2

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Bố cục khóa luận 5

NỘI DUNG 7

Chương 1 Khái quát về nghệ thuật trần thuật và tiểu thuyết lịch sử của Hoàng Quốc Hải 7

1.1 Trần thuật và các phương diện của trần thuật trong tiểu thuyết 7

1.1.1 Khái niệm trần thuật 7

1.1.2 Các phương diện của trần thuật 8

1.2 Tiểu thuyết lịch sử - Thể loại tạo dựng tên tuổi của Hoàng Quốc Hải 11 1.2.1 Tiểu thuyết lịch sử - Thế mạnh trong sáng tác của Hoàng Quốc Hải 11

1.2.2 Huyền Trân Công chúa - Đỉnh cao của tiểu thuyết lịch sử Hoàng Quốc Hải 15

Chương 2 Huyền Trân công chúa của Hoàng Quốc Hải - Nhìn từ kĩ thuật tổ chức văn bản 20

2.1 Sự đan xen luân chuyển giữa các điểm nhìn 20

2.1.1 Trần thuật từ ngôi thứ ba 20

2.1.2 Sự di chuyển điểm nhìn giữa các nhân vật 25

2.1.3 Sự di chuyển điểm nhìn giữa người kể chuyện 28

2.2 Kết cấu văn bản 30

2.2.1 Kết cấu - theo trình tự tuyến tính thời gian 31

2.2.2 Kết cấu - truyện lồng truyện 34

Trang 5

Chương 3 Huyền Trân công chúa của Hoàng Quốc Hải

- Nhìn từ một sốphương thức trần thuật 38

3.1 Ngôn ngữ trần thuật 38

3.1.1 Ngôn ngữ đối thoại - Lời nửa trực tiếp 38

3.1.2 Ngôn ngữ độc thoại - Lời trực tiếp tự do 43

3.1.3 Ngôn ngữ phân tích giàu chất triết luận 47

3.1.4 Ngôn ngữ đời thường, suồng sã 49

3.1.5 Lớp từ ngữ chính trị, xã hội 51

3.2 Giọng điệu trần thuật 53

3.2.1 Giọng triết lý, biện minh 53

3.2.2 Giọng trang trọng, Ca ngợi 55

3.2.3 Giọng ngậm ngùi, xót xa 57

KẾT LUẬN 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Lịch sử vẻ vang của đất nước trong mỗi thời kỳ đã được tái hiện thật sinh

động qua các cây bút viết tiểu thuyết Lịch sử, tiêu biểu như Lan Khai với Ai lên phố cát, Đỉnh non thần; Phan Trần Chúc với Hồi chuông Thiên Mụ, Cần Vương, Giọt máu sau cùng; Nguyễn Triệu Luật với Hòm đựng người, Bà chúa Chè; Nguyễn Quang Thân với Hội thề; Nguyễn Xuân Khánh với Hồ Quý Ly… và đặc

biệt là sự đóng góp của Hoàng Quốc Hải - một nhà văn gặt hái được khá nhiều thành công về mảng đề tài này

Bằ ng tài năng cũng như tấm lòng nhiê ̣t huyết của mình cô ̣ng với bề dày li ̣ch

sử vố n có, Hoàng Quốc Hải đã đem đến với độc giả hai bô ̣ tiểu thuyết li ̣ch sử đồ sô ̣

Ba ̃o táp triều Trần và Tám triều vua Lý Với hơn 4000 trang tiểu thuyết nhà văn đã

tái hiê ̣n khá đầy đủ và sinh đô ̣ng về triều đa ̣i Lý, Trần Trong đó, tác giả đã khắc họa đậm nét bản sắc văn hóa Đại Việt, tái hiện lại những chiến công chói lọi, vẻ vang của cha ông ta trong sự nghiệp đấu tranh và bảo vệ độc lập của dân tộc Tác phẩm đã được trao tặng giải thưởng Bùi Xuân Phái - vì tình yêu Hà Nội năm 2008 Với những thành công đó, bộ tiểu thuyết không chỉ đặc sắc về mặt nội dung mà còn là những đóng góp lớn về mặt nghệ thuật Tiêu biểu là nghệ thuật trần thuật

trong tiểu thuyết lịch sử Huyền Trân công chúa

Nghiên cứu Nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết lịch sử Huyền Trân Công chúa của Hoàng Quốc Hải cũng chính là đi tìm hiểu giá trị tác phẩm và phong cách

nghệ thuật của người nghệ sĩ Từ đó, giúp chúng tôi thấy được những đóng góp của Hoàng Quốc Hải trong nền văn học Việt Nam đương đại

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Từ khi bộ tiểu thuyết lịch sử Bão táp triều Trần trong đó có Huyền Trân công chúa đến với bạn đọc, đã nhận được nhiều ý kiến khác nhau Tuy nhiên,

Trang 7

chúng tôi chỉ giới thiệu các công trình, bài viết tiêu biểu có liên quan đến phạm vi nghiên cứu của đề tài

Nhà văn Phùng Văn Khai trong bài viết Nhà văn Hoàng Quốc Hải trái tim đập thăng trầm với các nhân vật lịch sử, đã đề cập đến sở trường của Hoàng Quốc

Hải: “Làm trái tim của bao nhân vật lịch sử đập trở lại, đập trung thực, đập dào dạt miên viễn và vĩnh cửu xôn xao cùng trái tim của những con người đang sống trong trần gian hôm nay cũng chính là nhịp đập của trái tim ông nữa” [6, tr.32]

Bài viết Suy ngẫm về bộ tiểu thuyết lịch sử Bão táp Triều Trần, tác giả

Hoàng Công Khanh lại đề cao bút pháp của Hoàng Quốc Hải: “Với bút pháp điềm đạm, tình lý rạch ròi như mũi khoan khoét sâu vào tính cách nhân vật vào nội hàm

sự kiện có dự báo, anh đem đến cho người đọc cả sự chân thực lẫn chất lý lịch sử” [6, tr.9]

Cũng bài viết trên Nhà văn Hoàng Công Khanh đã dựa vào những tiêu chí

để thẩm định giá trị của bộ tiểu thuyết Bão táp triều Trần của Nhà văn Hoàng

Quốc Hải: “Hoàng Quốc Hải đã sử dụng bút pháp truyền thống, nhưng đã lược bỏ nhiều từ ngữ, thành ngữ Hán cổ lỗ đối với lớp độc giả trẻ hôm nay Anh lựa chọn những cụm từ phổ cập dễ hiểu đôi khi còn giải nghĩa một cách kín đáo, nhẹ nhàng Cấu trúc của câu văn sáng sủa, lôi cuốn như vó ngựa đi nước kiệu, dễ thấm vào người đọc Đây là tiêu chí đầu tiên Để xây dựng tính cách nhân vật thật sâu, giải thích sự việc rõ, anh dùng rất nhiều tâm lý, lịch sử đáng tin cậy, những phong tục tập quán, giọng điệu, ngôn ngữ phù hợp với thời đại lịch sử, không sa vào chỗ cổ

lỗ, cũng không hiện đại hóa một cách kệch cỡm Đó là tiêu chí chính xác” [6, tr.10]

Trong bài Bộ tiểu thuyết lịch sử của nhà văn Hoàng Quốc Hải và quan niệm

về nhân vật anh hùng, tác giả Hoài Anh đã đánh giá cao về nghệ thuật viết tiểu

thuyết lịch sử của Hoàng Quốc Hải: “Chúng ta nhận thấy Hoàng Quốc Hải đã nghĩ đến việc nối kết tác phẩm của anh lại với nhau để tạo nên một lịch sử hoàn chỉnh; ở

Trang 8

đó mỗi chương mục… là một cuốn tiểu thuyết và mỗi cuốn tiểu thuyết là mỗi thời

kỳ trong lịch sử nhà Trần Anh cũng đã thổi sự say mê vào tâm hồn các nhân vật

nữ như Chiêu Hoàng, Huyền Trân, An Tư…” [6, tr.63]

Trong Lời bạt về bộ tiểu thuyết lịch sử “Bão táp triều Trần”, Phong Sương

đã nhận định: “Cuốn Huyền Trân công chúa là một khúc tình ca mượn vào câu

chuyện làm dâu Chăm pa của công chúa Huyền Trân mà đưa ra những lý giải thấu đáo, cặn kẽ và cả sự thăng hoa, giao lưu và hội nhập giữa hai nền văn hóa Việt - Chăm Ở tập sách này các vấn đề về tập tục, lễ, nhạc, hội họa, điêu khắc… được nhà văn thể hiện rất tài hoa chứng tỏ một phông văn hóa đi, văn hóa đọc, văn hóa ứng xử đã đạt đến độ chín của ngòi bút có thể gọi là tài năng” [6, tr.81]

Trong bài Phỏng vấn với nhà thơ - nhà biên tập Nguyễn Thị Hồng, Bà cũng

đã khẳng định: “Phong cách viết của Hoàng Quốc Hải đúng là như tiểu thuyết lịch

sử Hoàng Công Khanh nhận xét là đạt ba tiêu chuẩn là trong sáng, chính xác, chọn lọc” [6, tr.46]

Từ những công trình đã nói trên, chúng tôi thấy, có nhiều ý kiến đánh giá,

nhận xét khác nhau của các nhà nghiên cứu về bộ tiểu thuyết lịch sử Bão táp triều Trần và Huyền Trân công chúa Tuy nhiên, các công trình mới dừng lại ở việc

đánh giá, nhận xét một cách sơ bộ, khái quát, chưa có công trình nào trực tiếp khai

thác về “Nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết lịch sử Huyền Trân công chúa” Vì

vậy, với việc chọn đề tài này, chúng tôi cố gắng đi sâu, để khảo sát một số dạng thức và kỷ thuật xử lí Nghệ thuật trần thuật trong tác phẩm với mong muốn sẽ khám phá được các tầng nghĩa trong bề sâu của văn bản nghệ thuật

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghệ thuật trần thuật và những biểu hiện của nghệ thuật trần thuật trong tiểu

thuyết lịch sử Huyền Trân Công chúa của Hoàng Quốc Hải

Trang 9

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Tiểu thuyết lịch sử Huyền Trân công chúa của nhà văn Hoàng Quốc Hải

(Nhà xuất bản Phụ nữ, Hà Nội, 2006)

4 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp chủ yếu mà chúng tôi sử dụng trong đề tài:

- Phương pháp lịch sử: Nghiên cứu bối cảnh xã hội văn hóa mà trong tác phẩm

đã đề cập cùng các tài liệu lịch sử đáng tin cậy Từ đó, đối chiếu để tìm ra được những điều xảy ra trong quá khứ mà nhà văn tái tạo nên trong tác phẩm

- Phương pháp loại hình, phương pháp thống kê được chúng tôi vận dụng tổng hợp khái quát các phương diện của nghệ thuật trần thuật và biểu hiện của các

phương diện đó trong tiểu thuyết lịch sử Huyền Trân công chúa

- Phương pháp so sánh, đối chiếu để thấy được phong cách riêng của nhà văn Hoàng Quốc Hải với các cây bút khác, đồng thời trong quá trình nghiên cứu có

tiến hành so sánh đối chiếu Huyền Trân công chúa với một số tác phẩm khác ở

từng vấn đề có liên quan để thấy được những nét tương đồng và dị biệt

- Phương pháp phân tích, tổng hợp được vận dụng nhằm lý giải, chứng minh

sự đa dạng của các loại hình nhân vật Qua đó, khái quát đặc điểm của nghệ thuật trần thuật

Trang 10

phương thức trần thuật

Trang 11

NỘI DUNG Chương 1 Khái quát về nghệ thuật trần thuật và tiểu thuyết lịch sử

của Hoàng Quốc Hải 1.1 Trần thuật và các phương diện của trần thuật trong tiểu thuyết

1.1.1 Khái niệm trần thuật

Theo Từ điển thuật ngữ văn học trần thuật là: “phương diện cơ bản của

phương thức tự sự, là việc giới thiệu khái quát, thuyết minh, miêu tả đối với nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh, sự vật theo cách nhìn của người trần thuật nhất định Thành phần của trần thuật không chỉ là lời thuật, chức năng của nó không chỉ là việc kể Nó bao hàm cả việc miêu tả đối tượng, phân tích hoàn cảnh, thuật lại tiểu

sử nhân vật, lời bình luận, lời trữ tình ngoại đề, lời ghi chú của tác giả Trần thuật gắn liền với toàn bộ công việc, bố cục, kết cấu tác phẩm Trần thuật là phương diện cấu trúc của tác phẩm tự sự thể hiện mối quan hệ chủ thể - khách thể trong loại hình nghệ thuật này” [10, tr.364 - 365]

Trong 150 thuật ngữ văn học trần thuật được hiểu là: “thành phần của lời tác

giả, của người trần thuật hoặc của người kể chuyện, tức là toàn bộ văn bản của tác phẩm tự sự ngoài trừ các lời nói trực tiếp của các nhân vật ”, “nó (trần thuật) bao gồm việc kể, việc tả các hành động và các biến cố thời gian; mô tả chân dung; hoàn cảnh hành động Tả ngoại cảnh, nội thất bàn luận; lời nói bán trực tiếp của nhân vật Do vậy, trần thuật là phương thức chủ yếu của các tác phẩm tự sự” [2, tr.338]

Sách Lý luận văn học tập 1 (Phương Lựu - chủ biên), đưa ra quan niệm về trần thuật như sau: “Thành phần trần thuật trước hết ứng với thành phần của cốt

truyện nhưng còn bao gồm các thành phần có tính chất tĩnh tại như đoạn giới thiệu lai lịch của nhân vật, miêu tả chân dung, môi trường, tái hiện tâm trạng, các đoạn độc thoại có tính chất kịch, những lời bình phẩm của tác giả bám sát theo hành động của nhân vật” [12, tr.308] Có thể thấy, quan niệm trần thuật trong giới

Trang 12

nghiên cứu là thống nhất về cơ bản Điều đó nói rằng, trần thuật là một thuật ngữ tương đối xác định, ổn định về mặt nội dung và tính chất từ góc độ khái niệm Đặc điểm này cho thấy: Trần thuật có nội hàm rất rộng Nó gắn với toàn bộ công việc kết cấu, bố cục tác phẩm Trần thuật có kết cấu của nó, kết cấu của trần thuật là sự liên kết chặt chẽ, hệ thống các yếu tố làm nên tác phẩm như sự lựa chọn đề tài, tổ chức cốt truyện, xây dựng nhân vật và trong đó bao hàm cả nghệ thuật trần thuật

Như vậy, nghệ thuật trần thuật là một phương diện, một thủ pháp nghệ thuật cốt yếu trong tác phẩm văn xuôi tự sự Nhờ nghệ thuật trần thuật mà người ta có thể phân biệt được tài năng giữa những nghệ sĩ văn học Nghệ thuật trần thuật biểu hiện trong cách lựa chọn ngôi trần thuật hay cách tổ chức ngôn ngữ, giọng điệu trần thuật có hiệu quả tạo nên phong cách riêng của mỗi nhà văn

1.1.2 Các phương diện của trần thuật

Điểm nhìn trần thuật

Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì:“Điểm nhìn trần thuật chính là vị trí mà

từ đó người trần thuật nhìn ra và miêu tả sự vật trong tác phẩm Là điểm rơi của cái

nhìn vào khách thể” [10, tr 87]

Theo Dẫn luận thi pháp học (Trần Đình Sử chủ biên) thì: “Điểm nhìn văn

bản là phương thức phát ngôn, trình bày, miêu tả phù hợp với cách nhìn cảm thụ thế giới của tác giả Điểm nhìn mang tính ẩn dụ, bao gồm mọi nhận thức, đánh giá, quan sát cảm thụ của chủ thể đối với thế giới Nó là vị trí dùng để quan sát cảm nhận, đánh giá bao gồm cả khoảng cách giữa chủ thể và khách thể cả phương diện vật lý, tâm lý, văn hóa” [15, tr.149] Theo đó, điểm nhìn trần thuật là một yếu tố vô cùng quan trọng trong sáng tạo văn học, nó quy định và chi phối các thành tố khác như: nhịp điệu trần thuật, thời gian trần thuật, đối tượng trần thuật, giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật Sẽ không có trần thuật nếu không có điểm nhìn, bởi nó thể hiện sự quan tâm và đặc điểm của chủ thể trong việc tạo ra cái nhìn nghệ thuật

Trong Paris 11 tháng 8, tác giả đã xây dựng nhiều điểm nhìn khác nhau, có

Trang 13

điểm nhìn bên trong và điểm nhìn bên ngoài Ngoài ra còn có sự di chuyển từ nhân

vật này sang nhân vật khác Paris 11 tháng 8, mang điểm nhìn khách quan, đa

dạng đi sâu vào hiện thực xã hội và con người, ít đi vào đời tư của nhân vật

Như vậy, điểm nhìn trần thuật biểu hiện qua các phương tiện nghệ thuật, ngôi kể, cách xưng gọi sự vật, cách dùng từ ngữ, kiểu câu Tiểu thuyết ngày càng phát triển, vấn đề điểm nhìn cũng ngày càng phức tạp hơn Điểm nhìn được biểu hiện qua ba phương thức: chủ quan, khách quan và liên chủ quan Là cây bút tài năng, không chỉ đảm bảo về tính hợp lí về điểm nhìn mà cần phải biết vận dụng linh hoạt các điểm nhìn trần thuật, góp phần tạo nên tính sinh động và hấp dẫn đặc biệt cho tác phẩm văn học

Kết cấu trần thuật

Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì: “Kết cấu là phương tiện cơ bản và tất

yếu của khái quát nghệ thuật Kết cấu đảm nhiệm chức năng rất đa dạng, bộc lộ tốt chủ đề và tư tưởng của tác phẩm: triễn khai, trình bày hấp dẫn cốt truyện; cấu trúc hợp lí hệ thống tính cách; tổ chức điểm nhìn trần thuật của các tác giả: tạo ra tính toàn vẹn của tác phẩm như là một hiện tượng thẩm mỹ” [10, tr.157] Như vậy, thành công của một tác phẩm phụ thuộc nhiều vào kết cấu Có thể ví, kết cấu chính

là cái khung, cái sườn làm nên tác phẩm văn học Bất cứ tác phẩm văn học nào cũng có một kiểu kết cấu nhất định tùy thuộc vào đặc trưng thể loại V́ vậy, kết cấu không bao giờ tách rời nội dung cuộc sống và tư tưởng trong tác phẩm

Trong tác phẩm Nỗi Buồn chiến tranh với lối kết cấu theo dòng ý thức của

nhân vật Kiên Kiên đã kể lại câu chuyện theo dòng ý thức của mình Về việc đi tìm hài cốt của đồng đội Trong hành trình ấy, nhân vật Kiên đã tìm về với ký ức

và kể lại nhiều câu chuyện trong quá khứ Bởi vậy, trong tác phẩm còn xuất hiện thêm kết cấu phân mảnh

Sự phát triển không ngừng của tiểu thuyết đặt ra cho tiểu thuyết sự tìm tòi, cách tân trong việc tạo dựng tác phẩm văn học Để từ đó, tác phẩm văn học trở nên

Trang 14

phong phú, đa dạng hơn và đặt ra cho tác giả những yêu cầu trong quá trình sáng tạo để phù hợp với xu thế phát triển của văn học

Ngôn ngữ trần thuật

Trong tác phẩm văn học, ngôn từ là phương tiện để cụ thể hóa, vật chất hóa

sự biểu hiện chủ thể và tư tưởng tác phẩm, tính cách nhân vật và cốt truyện Như vậy, ngôn ngữ là chất liệu đầu tiên để nhà văn tạo nên tác phẩm văn học Từ chất liệu ngôn ngữ, hiện thực đời sống qua lăng kính chủ quan của từng nhà văn sẽ tạo nên vô số những dạng thức ngôn ngữ khác nhau Ngôn ngữ trong tác phẩm thể hiện qua lời văn trần thuật, ngôn ngữ đối thoại và những dòng độc thoại nội tâm của nhân vật

Trở lại với Nỗi buồn chiến tranh, đọc tác phẩm ta thấy, ngôn ngữ được sử

dụng rất đa dạng: ngôn ngữ đối thoại, độc thoại, ngôn ngữ triết lí và cả những ngôn ngữ bình luận được Bảo Ninh sử dụng một cách thành thạo, chúng hòa quyện, đan xen nhau tạo nên sự thành công cho tác phẩm

Ngôn ngữ trần thuật có vai trò quan trọng trong việc xây dựng hình tượng tác phẩm, thể hiện tư tưởng nội dung của tác phẩm Bởi vậy trong sáng tạo nghệ thuật, mỗi nhà văn luôn quan tâm lựa chọn ngôn ngữ trần thuật để tạo lập một phong cách ngôn ngữ riêng cho tác phẩm của mình

Văn học ngày càng phát triển, đòi hỏi nhà văn ngày càng đổi mới hệ tư tưởng sao cho phù hợp Đổi mới hệ tư tưởng đồng hành với việc đổi mới ngôn ngữ

Giọng điệu trần thuật

Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Giọng điệu là thái độ tình cảm, lập trường

tư tưởng, đạo đức của nhà văn đối với hiện tượng được miêu tả thể hiện trong lời văn quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc diện tình cảm, cách cảm thụ xa, gần, thân, sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm” [10, tr.112]

Trong tác phẩm tự sự, giọng điệu trần thuật có vị trí quan trọng Thiếu một giọng điệu nhất định, nhà văn chưa thể viết ra được tác phẩm mặc dù đã có đủ tài

Trang 15

liệu và sắp xếp xong hệ thống nhân vật Giọng điệu tạo nên phong cách nhà văn và

âm hưởng cho tác phẩm Giọng điệu tạo thành âm hưởng chung bao trùm lên toàn

bộ tác phẩm Nó quyết định nhiều khâu, nhiều yếu tố trong việc xây dựng tác phẩm, chi phối phương thức, cách thức xây dựng nhân vật Giọng điệu cũng là phương tiện để người kể chuyện đi sâu phản ánh bức tranh hiện thực đời sống của con người Ngoài ra, giọng điệu còn mang đậm cá tính sáng tạo của tác giả

Paris 11 tháng 8 là câu chuyện viết về thân phận của những con người tha

hương nên giọng điệu chính vì thế cũng mang âm hưởng lạnh lùng, khách quan, ngoài âm hưởng chủ đạo ấy trong tác phẩm còn có chất hài hước làm giảm sự lạnh lùng trong tác phẩm Do đó, giọng điệu các nhân vật đa thanh, phức điệu

Mỗi nhà văn luôn nói bằng giọng điêụ của riêng mình Vì vậy, việc tìm được giọng điệu phù hợp sẽ giúp cho nhà văn kể chuyện hấp dẫn hơn, thể hiện sâu sắc hơn tư tưởng của tác phẩm Nếu không có giọng điệu, tác phẩm chỉ là sự ghi chép đơn thuần, dàn trải của nhà văn về cuộc sống

Tóm lại, nghệ thuật trần thuật là một vấn đề thuộc thi pháp thể loại tiểu thuyết Tìm hiểu các phương diện về nghệ thuật trần thuật giúp người đọc tiếp nhận được với những giá trị văn chương đích thực Tìm tòi, đổi mới cách trần thuật cũng là hướng đi của văn xuôi đương đại nhằm đẩy cách sáng tạo, cách hiểu, cách tiếp nhận về gần hơn với đặc trưng thẩm mỹ của văn học

1.2 Tiểu thuyết lịch sử - Thể loại tạo dựng tên tuổi của Hoàng Quốc Hải

1.2.1 Tiểu thuyết lịch sử - Thế mạnh trong sáng tác của Hoàng Quốc Hải

Hoàng Quốc Hải là một nhà văn lớn Ông là tác giả của nhiều tiểu thuyết

được độc giả quan tâm như: Chiến lũy đá, Sau mùa lá rụng, Chờ đến ngày mai, Đêm qua làng, hay những tác phẩm nghiên cứu về văn hóa phong tục Việt Nam,

phê bình tiểu luận, tạp văn Nhưng có lẽ, thể loại tạo dựng nên tên tuổi của Hoàng Quốc Hải chính là tiểu thuyết lịch sử Minh chứng là, sau khi bộ tiểu thuyết lịch sử

đồ sộ Bão táp triều Trần ra đời, tác phẩm cũng như tác giả đã được nhiều giới

Trang 16

nghiên cứu và bạn đọc quan tâm Lặng lẽ và cần cù lao động sáng tạo, năm 1993,

bộ tiểu thuyết lịch sử gồm 4 tập: Bão táp cung đình, Huyền Trân công chúa, Thăng Long nổi giận và Vương triều sụp đổ được xuất bản lần đầu tiên Mỗi một tập của

bộ tiểu thuyết viết về những nhân vật có vị thế của đời nhà Trần, có ảnh hưởng lớn

đến lịch sử dân tộc Đầu tiên là Bão táp cung đình, tác giả tái hiện lại thời kỳ đầu

tiên của nhà Trần, thời kỳ chuyển giao ngai vàng từ nhà Lý sang nhà Trần, sự kiện lịch sử này gắn liền với vai trò quan trọng của thái sư Trần Thủ Độ Trong khi

Thăng Long nổi giận viết về cuộc xâm lược của quân Nguyên - Mông lần thứ hai

đối với nước ta Đây là giai đoạn gay cấn nhất trong toàn bộ lịch sử của nhà Trần

và cũng là trong lịch sử Đại Việt Huyền Trân công chúa ca ngợi sự kiên định

trong đường lối hòa bình của thượng hoàng Trần Nhân Tôn, đồng thời ca ngợi Huyền Trân công chúa như một nữ anh hùng dám hy sinh vì nước, gác tình riêng

để hoàn thành việc chung Sự kiện trong cuốn Huyền Trân công chúa gắn với giai

đoạn lịch sử: kể từ sau khi Trần Nhân Tôn nhường ngôi cho con, rồi vào hẳn Yên

Tử coi sóc trực tiếp dòng Thiền Trúc Lâm do ông sáng lập và kết thúc ở cái chết

của vương quốc Champa: Chế Mân (1300 – 1307) Cuối cùng, Vương triều sụp đổ

viết về giai đoạn suy thoái triền miên suốt 60 năm cuối của nhà Trần (1340 – 1400) Trong tác phẩm này, Hoàng Quốc Hải chỉ ra cái xấu, cái ác, cái ngu muội, mưu mô đen tối của vua và quan lại nhà Trần Từ đó, nhà văn đưa ra những bài học lịch sử mà hậu thế không được phép lãng quên

Đến năm 2010, nhân dịp kỷ niệm đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội,

Bão táp trều Trần tiếp tục được tái bản Trong lần tái bản này, tác phẩm mang một diện mạo mới, bởi nó được bổ sung thêm hai tập: Đuổi quân Mông Thát và Huyết chiến Bạch Đằng Bộ tiểu thuyết lịch sử hoàn thành về triều Trần gồm sáu tập với

khoảng hơn ba nghìn trang sách Tổng cộng cả thời gian suy nghĩ, nghiên cứu và tìm tư liệu đến khi hoàn thành, nhà văn Hoàng Quốc Hải mất gần hai mươi năm

Đó quả là một chặng đường dài của sự lao động nghệ thuật công phu và nghiêm

Trang 17

túc với biết bao nổ lực, tâm huyết

Nhìn lại quá trình sáng tác đó, hẳn nhiều người phải tự hỏi điều gì đã dẫn dắt, lôi cuốn, tiếp “máu” cho tác giả cần mẫn thu gom tài liệu rồi vắt kiệt tâm lực trong gần hai chục năm đằng đẵng như vậy Còn gì khác nếu không phải là tâm huyết với lịch sử, là lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, thái độ tôn kinh tổ tiên, muốn thức tỉnh những người thờ ơ với lịch sử Có lẽ vì thế, mà người ta gọi ông là người “trong mơ cũng sống bằng quá vãng” [6, tr.18]

Tiểu thuyết lịch sử không phải là mảng đề tài mới, từ trước tới nay đã có rất nhiều người khai thác mảng đề tài này Hoàng Quốc Hải tuy là người đến sau nhưng với thế mạnh riêng, nhà văn đã tạo dựng tên tuổi và phong cách của mình và khá thành công ở thể loại này Bén duyên với tiểu thuyết lịch sử, nhà văn Hoàng

Quốc Hải tiếp tục “khởi công” Tám triều vua Lý Tập sách được viết trong vòng

mười bảy năm (1990 – 2007) và được xuất bản đúng dịp 1000 năm Thăng Long -

Hà Nội Vẫn bằng cách tiếp cận các nguồn tài liệu chính sử, đối chiếu với lịch sử các nước láng giềng như Tống Nguyên, Champa, cùng với sự am hiểu về văn hóa của thời đại Lý, Trần Từ đó, nhà văn đã tìm tòi, gạn lọc lịch sử để “giải mã” triều đại Lý từ khi khởi nghiệp đến khi kết thúc (1009 - 1225), trải dài 216 năm với hơn

3000 trang viết trong 4 cuốn sách: Thiền sư dựng nước, Con ngựa nhà Phật, Bình Bắc dẹp Nam, Con đường định mệnh Ở bộ sách này, nhà văn Hoàng Quốc Hải

không chỉ bám sát các sự thật lịch sử, phản ánh trung thực lịch sử mà ông còn tiếp cận lịch sử ở tầm cao hơn đó là lý giải lịch sử

Thể loại tiểu thuyết lịch sử như là một thế mạnh của Hoàng Quốc Hải, đã có nhiều đánh giá, nhận xét của nhiều nhà nghiên cứu Nhà văn Hoàng Tiến nhận xét:

“Viết tiểu thuyết lịch sử, ngoài việc phải thông thạo lịch sử, lại phải biết làm lịch

sử sống dậy như nó vốn có và mang ý nghĩa thời sự đối với đương đại Vì vậy mà

ít người dám viết Loại hình này khá mạnh ở Trung Quốc, Ấn Độ, Anh và Pháp Ở nước ta nó cần được khích lệ biết bao nhiêu Hoàng Quốc Hải nhiều năm dành

Trang 18

công sức chuyên canh loại hình này Và anh đã thành công Bộ tiểu thuyết lịch sử

đồ sộ 4 cuốn hơn 2000 trang viết về nhà Trần (Bão táp cung đình, Thăng Long nổi giận, Huyền Trân công chúa và Vương triều sụp đổ) đã làm tên tuổi ông nổi lên

trong số những người viết tiểu thuyết lịch sử vốn ít ỏi ở nước ta từ xưa đến nay Đọc tiểu thuyết lịch sử của Hoàng Quốc Hải, bạn đọc như được tham dự vào những sự kiện cách đây hàng thế kỷ của đất nước ta Chúng ta có thể cùng vui, cùng buồn, cùng tự hào và cùng đau khổ với những nhân vật lịch sử quen thuộc như Trần Cảnh, Trần Anh Tông, Trần Thủ Độ, Trần Nhật Duật hay công chúa Huyền Trân với một mối tình sầu xa xứ, niềm lo âu của vua Trân Nhân Tôn Với tài năng vốn có của mình, tác giả đã làm cho những nhân vật xa xưa của lịch sử một lần nữa sống lại với bạn đọc Nhà văn đã tái tạo lại lịch sử bằng những hình tượng nghệ thuật nên càng làm nó sinh động hơn” [6, tr.18]

Với những thành công trên, tiểu thuyết lịch sử của Hoàng Quốc Hải được nhiều bạn đọc quan tâm, là nguồn cứ liệu cho nhiều nhà phê bình, nghiên cứu Một trong những bạn đọc của Hoàng Quốc Hải, nhà văn Hoàng Tiến có nhận xét:

“Hoàng Quốc Hải với số lượng đầu sách in trong mấy năm gần đây đáng được coi

là nhà tiểu thuyết lịch sử đương kim sung sức nhất Anh ghi được dấu ấn của mình trong dòng chảy của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam”[6, tr.39]

Đọc tiểu thuyết lịch sử của Hoàng Quốc Hải, ta thấy, nhà văn đã nghiên cứu thành công về đời sống, lịch sử, xã hội, con người của một triều đại lớn trong lịch

sử dân tộc Nhà văn không chỉ luyện một chiếc đinh rồi ông treo bức tranh do mình

vẽ vào đó, mà ông đã dồn sức tái tạo bức tranh lịch sử như nó vốn có cho hậu duệ chiêm ngưỡng tầm vóc và chiến tích của các vị tướng tài trong triều Trần

Viết tiểu thuyết lịch sử bằng cái tâm trong sáng của mình, nhà văn Hoàng Quốc Hải đã “Thổi ngọn lửa rừng rực hào khí Đông A vào tâm hồn độc giả Việt Nam, lay động những cõi lòng chai cứng chỉ biết lo kiếm chác, bon chen trước nỗi thăng trầm xứ sở, nhắc nhở mọi người về một chân lý muôn đời: Kẻ sĩ là nguyên

Trang 19

khí đất nước” [6, tr.20]

Tiểu thuyết lịch sử của Hoàng Quốc Hải là những bộ tiểu thuyết lịch sử lớn dung chứa nhiều giá trị tích cực: những giáo huấn về nhân tình thế thái, về nhân cách, đạo làm người, lòng nhân nghĩa, vai trò của lịch sử đối với dân tộc Qua đó, làm sống dậy quá khứ oanh liệt của tổ tiên, tác giả muốn khơi dậy lòng quật cường của thời nay Từ việc nêu lên những tấm gương chính diện và phản diện, chỉ ra và phân tích những thành bại qua các triều đại, nhà văn đem lại bài học bổ ích cho những bạn đọc hôm nay

1.2.2 Huyền Trân Công chúa - Đỉnh cao của tiểu thuyết lịch sử Hoàng Quốc Hải

Là tác phẩm đầu tay của bộ tiểu thuyết lịch sử Bão táp triều Trần, Huyền Trân công chúa xứng đáng là đứa con đầu tiên mà người cha đã tận tụy chăm bẵm

Tác phẩm thành công với 315 trang được chia làm 28 chương, viết về công chúa Huyền Trân Huyền Trân - một nhân vật lịch sử, là chủ đề của nhiều tác phẩm trong văn học Việt Nam Trước đây, công chúa Huyền Trân đã xuất hiện trong nhiều tác phẩm, tuy nhiên Huyền Trân được xây dựng như một nạn nhân, bị hy

sinh cho mục đích chính trị ngoại giao Tiểu thuyết lịch sử Cánh buồm thoát tục

của Lan Khai đã hư cấu chuyện Huyền Trân phải hy sinh tình yêu với Trần Khắc Chung để vâng mệnh vua cha lấy Chế Mân, đến khi Chế Mân chết, Trần Khắc Chung làm sứ giả đi điếu tang đã tìm cách cứu Huyền Trân khỏi bị tuẫn táng trên giàn hỏa, rồi dong buồm chở Huyền Trân thoát tục tìm đến xứ Bồng lai của tình

yêu Nhưng đến với Huyền Trân công chúa của Hoàng Quốc Hải thì Huyền Trân

được xây dựng như một nhân vật kiên nghị, sáng suốt có ý thức xây dựng và cũng

cố tình hữu nghị giữa hai dân tộc Việt - Chiêm vì hòa bình lâu dài của khu vực, lại biết khuyên Chế Mân lo việc chấn hưng đất nước, mang lại hạnh phúc cho dân Khác với Chiêu Quân, chỉ là một cung nữ của vua Hán, thì Huyền Trân với địa vị

xã hội là công chúa nước Đại Việt khiến nàng đủ tư cách và điều kiện để làm việc

đó Việc xây dựng nhân vật Huyền Trân đã nâng cao chủ đề tư tưởng của tác

Trang 20

phẩm, mang tính thời sự và lâu dài Qua đó, bạn đọc hiểu hơn về con người và

phẩm chất của họ của một thời đại trong quá khứ Có thể nói, Huyền Trân công chúa là biểu hiện của đường lối kiên trì hòa bình của thượng hoàng Trân Nhân

Tôn Điều này, phù hợp với tâm thức người Việt, chiến tranh là điều xưa nay - mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước vẫn luôn răn là điều cấm kỵ, hết sức tránh nó Tránh chẳng đặng đừng, dân tộc ta mới phải đứng lên cầm giáo.Biết bao xương máu đổ xuống mới thành chiến công, bao nhiêu những người dân vô tội phải chết trong chiến tranh Nhận thức được điều đó, ngòi bút của nhà văn cũng đi theo truyền thống của cha ông ta “tránh chiến tranh”, luôn tìm cách hòa hiếu, chịu bỏ mọi thua thiệt, nhẫn nhịn để giành lấy hòa bình, yên ấm

Từ những chi tiết lịch sử này tác giả đã hư cấu, tưởng tượng để viết nên cuốn tiểu thuyết trên ba trăm trang, miêu tả cụ thể về công chúa Huyền Trân, diễn biến tâm lý của nàng từ lúc nghe tin mình được gả sang Chiêm Thành rồi cả việc nàng học tiếng Chăm và các lễ nhạc của người Chăm Những chi tiết này thuyết phục người đọc vì nó được gắn với nhân vật Trần Nhật Duật - một con người uyên bác, thông thạo nhiều thứ tiếng và phong tục của các dân tộc Đến khi làm vợ Chế Mân, nàng biết khuyên chồng lo việc trị nước, an dân, giữ bổn tâm thiện đức làm gương cho thiên hạ Qua sự hư cấu của tác giả, Huyền Trân thực sự trở thành một nhân vật sống động, đầy sức thuyết phục với độc giả, chứ không còn là một cái tên

trong sử sách Chính vì vậy mà Huyền Trân công chúa ngay từ khi ra đời đã được

dư luận bạn đọc chú ý

Tuy nhiên, giá trị của Huyền Trân công chúa không chỉ dừng lại ở đó Tạo

dựng cuốn tiểu thuyết độc đáo từ cứ liệu của quá khứ, với khả năng hư cấu, tưởng

tượng đã được tác giả phát huy cao độ Ngôn ngữ của Huyền Trân công chúa là

thứ ngôn ngữ tổng hợp, pha trộn sử dụng vốn từ cổ xưa Không những thế, Hoàng

Quốc Hải còn tạo dựng thành công cuốn tiểu thuyết Huyền Trân công chúa từ

những kiến thức văn hóa của dân tộc Chăm Nhà văn đã mất khá nhiều thời gian để

Trang 21

tìm hiểu về văn hóa và phong tục của người Chăm: “có bận đi một lèo ngót một năm giời vào các tỉnh phía Nam, cơ quan phải gửi lương từ Bắc vào Nam cho ông tiện chi dùng Ấy là dạo ông la cà tìm hiểu phong tục người Chăm để viết cuốn tiểu

thuyết Huyền Trân công chúa” [6, tr.50] Rồi: “Hoàng Quốc Hải nghiên cứu rất kỹ

về những nơi cư trú của người Chăm nước ta (như ở thôn Bà Già ), tìm hiểu về công phu về lễ nhạc, phong tục của người Chăm, các cống vật, các đồ trang sức của phụ nữ, tình hình vùng đất làm vùng sính lễ, cảnh sắc dòng sông mà Huyền Trân đặt tên là sông Hương” [6, tr.15] Điều đó cho thấy, Hoàng Quốc Hải đã làm việc nghiêm túc, cần mẫn, miệt mài mới viết lên những trang văn về văn hóa Chăm Những điệu múa, hay những phong tục tập quán của dân tộc Chăm Tất cả

đã được nhà văn tạo nên bức tranh về một giai đoạn lịch sử của triều Trần, vừa hiện thực vừa sống động

Ngoài những thành công trên, Huyền Trân công chúa còn là những trang

lịch sử hào hùng của dân tộc như được sống lại Điều đó thể hiện trước hết là bức tranh đất nước Đại Việt thanh bình, ấm no đúng hơn là khái quát được bức tranh lịch sử trong một giai đoạn cụ thể - một thời kỳ của Đại Việt thời Trần Mặc dù, câu chuyện chỉ xoay quanh cuộc sống của một vài nhân vật Nhưng từ cuốn tiểu thuyết mà người ta có thể hình dung ra được đất nước Đại Việt ấm no, hạnh phúc bằng việc xuất hiện những vị tướng tài năng trong những chiến sách về hòa bình như Trần Nhân Tôn, Trần Nhật Duật, Trần Khắc Chung, Huyền Trân

Huyền Trân công chúa là một khúc tình ca mượn vào câu chuyện làm dâu

Champa của công chúa Huyền Trân mà đưa ra những lư giải thấu đáo, cặn kẽ và cả

sự thăng hoa, giao lưu và hội nhập của hai nền văn hóa Việt - Chăm Ở cuốn sách này các vấn đề về tập tục, lễ, nhạc, hội họa, điêu khắc được nhà văn thể hiện rất

tài hoa Thành công của Huyền Trân công chúa còn là sự thành công của Hoàng

Quốc Hải trong việc thiết kế cây cầu giữa quá khứ và hiện tại Qua câu chuyện làm dâu Champa của công chúa Huyền Trân, nhà văn cũng đưa ra những lý giải hợp lý,

Trang 22

thuyết phục về sự kiện lịch sử này Người đương thời và sử sách nhiều đời sau chê cười việc Nhà Trần gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm Thành, coi việc này giống như Nhà Hán đem Vương Quân gả cho Hung Nô Nhưng dưới ngòi bút phân tích rạch ròi của Hoàng Quốc Hải, sự kiện gả Huyền Trân về Chiêm được xem như một phương lược phát triển đất nước của Trần Nhân Tôn - một vị vua tài ba, anh minh Điều này không chỉ thể hiện truyền thống hòa hiếu của dân tộc mà còn là sự “thăng hoa, giao lưu, hội nhập của hai nền văn hóa Việt - Chăm” [6, tr.22]

Như vậy, Huyền Trân công chúa là một cuốn tiểu thuyết lịch sử đúng nghĩa

Nó đương đại đến mức người đọc có cảm giác sách được sáng tạo hoàn toàn và gần như không lệ thuộc vào lịch sử Tác phẩm là một đóng góp quan trọng trong

Bão táp triều Trần nói riêng và sáng tác của Hoàng Quốc Hải nói chung Nó quan

trọng ở chỗ khiến người đọc nhìn về chiến tranh khác đi, nhìn về thiện ác khác đi

Có hẳn sự so đo về tình cảm và lý trí, giữa lợi ích quốc gia và tình ý riêng tư Nó đẩy con người ta đi đến suy nghĩ tận cùng nhất, sát ván nhất và ở đấy sẽ bùng nổ ra những số phận, những tính cách, những tốt đẹp và cả những mưu mô ma quỷ Ở đây, nhà văn đã để cho đứa con tinh thần của mình thực hiện đúng chức năng như

nó vốn có là chức năng nhận thức Tác phẩm còn là mốc quan trọng đánh dấu thêm một thành công trong sáng tác của Hoàng Quốc Hải Là một tiểu thuyết lịch sử đầu tay nhưng đã góp phần làm tên tuổi của ông nổi hơn trong thi đàn văn học Việt

Nam Ấn tượng, sống động và lôi cuốn là những gì Huyền Trân công chúa mang

lại cho người đọc Là một tác phẩm lấy chất liệu từ lịch sử viết về những con người

có thực từ hàng trăm năm trước Hoàng Quốc Hải không chỉ để khơi gợi hay soi xét quá khứ mà nhằm mục đích để Hoàng Quốc Hải sử dụng một lăng kính chiêm nghiệm về cuộc đời, con người Và rồi từ cốt truyện, kết cấu, nhân vật, ngôn ngữ đều đọng lại sau mỗi câu chữ là một sự sáng tạo khôn cùng của nhà văn Người đọc như được sống, được hòa nhập vào không khí lịch sử, với nội tâm của nhân vật qua nhiều biến cố, qua nhiều trải nghiệm về cuộc đời Ở đây, trái tim của nhà văn

Trang 23

vẫn luôn đập cùng nhịp đập thăng trầm cùng các nhân vật lịch sử

Trang 24

Chương 2 Huyền Trân công chúa của Hoàng Quốc Hải

- Nhìn từ kĩ thuật tổ chức văn bản 2.1 Sự đan xen luân chuyển giữa các điểm nhìn

Một đặc điểm quan trọng trong tác phẩm tự sự là tính “có chuyện” và “hành

vi kể chuyện” Và để thực hiện được hành vi kể chuyện này, đòi hỏi có sự xuất hiện của một chủ thể Chủ thể đó xuất hiện mang theo những điểm nhìn nhất định Chủ thể có thể bộc lộ vai trò của mình nghĩa là đứng trong câu chuyện để kể Cũng

có thể ẩn giấu, đứng ngoài câu chuyện, không tham gia vào các biến cố, sự kiện xảy ra Có khi, điểm nhìn của chủ thể ấy lại có sự đan xen, luân phiên nhau và điều

này được thể hiện trong tiểu thuyết lịch sử Huyền Trân công chúa Tác giả đã đã

có sự linh hoạt trong điểm nhìn, sự linh hoạt đó chính là việc luân phiên điểm nhìn cho nhau: khi thì trần thuật ở ngôi thứ ba, đứng ngoài câu chuyện để kể lại toàn bộ câu chuyện; khi lại có sự di chuyển điểm nhìn giữa các nhân vật, để cho nhân vật thay nhau kể chuyện, tạo nên tính khách quan trong việc đánh giá hay bình phẩm

về một nhân vật hay một sự kiện của tác phẩm; có khi đó là sự di chuyển điểm nhìn giữa chủ thể trần thuật với các nhân vật trần thuật trong truyện

2.1.1 Trần thuật từ ngôi thứ ba

Xuyên suốt toàn bộ tác phẩm Huyền Trân công chúa chúng ta thấy rằng,

ngôi kể chủ yếu là ngôi thứ ba hàm ẩn Chủ thể trần thuật đã kể lại những sự kiện trong một giai đoạn của triều Trần Trong vai trò là chủ thể trần thuật, Hoàng Quốc Hải như là người chứng kiến tất cả và kể lại cho chúng ta nghe toàn bộ câu chuyện bằng khả năng sáng tạo của mình trên những tư liệu đã có Trần thuật ở ngôi thứ ba nên nhà văn luôn có khoảng cách nhất định với nhân vật Vì vậy, cuộc đời và số phận của các nhân vật được bộc lộ mà không hề có sự đồng cảm hay thiên vị của nhà văn Điều này, khiến cho toàn bộ diễn biến của cuốn tiểu thuyết khách quan, chân thực hơn Mở đầu, tác giả giới thiệu về công chúa Huyền Trân qua hành động của Nhũ Mẫu: “Nhũ mẫu đang loay hoay, khíu lại đường chỉ tuột nơi mép chiếc

Trang 25

hài nhung, bỗng bà dừng mũi kim ngẩng nhìn ngọn bạch lạp Ngọn sáp chỉ còn một đoạn ngắn chưa đầy gang tay Bà liếc xéo về góc thư phòng thấy Huyền Trân đang mải mê đọc sách” [8, tr.13] Đoạn trích trên cho ta thấy, Huyền Trân là một người ham đọc sách, ham học hỏi Như vậy, chủ thể trần thuật luôn đứng đằng sau mọi biến cố để trần thuật lại cho chúng ta Tuy đứng ngoài câu chuyện nhưng dường như người kể chuyện nắm được toàn bộ câu chuyện, kể cả những đức tính, phẩm chất của nhân vật

Là người đứng ngoài câu chuyện, nhưng có lúc tác giả thêm vào một vài lời nhận xét, bình phẩm để hoàn thiện hơn bức tranh mà mình vẽ ra Huyền Trân là một cô công chúa sớm mất mẹ sống với mẹ kế, thế nhưng người gần gủi và chăm

lo từng giấc ngủ cho nàng lại là Nhũ Mẫu, đó là người chăm sóc và dành tình cảm cho nàng rất lớn: “Nhũ mẫu nuôi nấng, săn sóc nàng từ khi mới lọt lòng Về vị thế trong cung cấm bà chỉ là kẻ hầu hạ Song về tình thương, bà ngầm xem công chúa như con ruột bà Ấy là bà mạo muội nghĩ vậy Kể cũng đúng thôi, trong cuộc đời

ngoài công chúa ra bà còn ai để mà yêu, mà thương, mà hờn giận” [8, tr.102]

Cũng bằng hình thức trần thuật ở ngôi thứ ba, nhà văn Hoàng Quốc Hải đã phát hiện ra những phẩm chất tốt đẹp trong các nhân vật Thân cận với Huyền Trân ngoài Nhũ Mẫu còn có hai cô nữ tì ngoan ngoãn, họ đều là những người thân cận đáng tin tưởng nhưng mỗi người một tính nết, tác giả viết: “Nàng kéo ghế nhích lại hai nữ tì thân cận nhất Mỗi đứa một tính, một nết Thúy Quỳnh thùy mi, ít nói, siêng học Bích Huệ hoạt bát, lanh lợi, gặp việc xử trí rất nhanh Huệ có tật lời học

nhưng lại là một nữ tì thông minh nhất trong đám nữ tì của công chúa” [8, tr.105]

Vua Nhân tôn là nhân vật được tác giả ưu ái, giành nhiều trang viết Tất cả những

cử chỉ, phẩm chất, tính cách của vua Nhân Tôn đều được khắc họa rất rõ nét đặc biệt qua những độc thoại nội tâm, những đoạn đối thoại Khi Nhân tôn trò chuyện với Lão Dương - một người nô bộc thân cận trong triều đình: “Đức vua nói vừa bình dị vừa đức độ, vừa cao siêu nhưng Lão Dương hiểu được” [8, tr 75] Đó là

Trang 26

những lời mà tác giả ca ngợi về vua Nhân Tôn Việc sử dụng hình thức trần thuật

từ ngôi thứ ba giúp chủ thể trần thuật có được những đánh giá khái quát nhất từ những gì mình “chứng kiến”

Bằng những chi tiết lịch sử góp nhặt được cùng với tài năng, tâm huyết, Hoàng Quốc Hải như một người dẫn truyện tài tình Đọc tác phẩm, ta có cảm giác như đang chứng kiến toàn bộ sự việc xảy ra, các tình tiết, sự việc dần hiện lên một cách sinh động Tác giả trần thuật tỉ mỉ đến những chi tiết nhỏ nhất: “Bích Huệ cứ dẫn công chúa đi dạo khắp các hàng quán trong chợ Bất cứ một thứ gì cũng lạ lẫm, thích thú Có điều hơi lạ, là công chúa quen sống nơi cung cấm, đài các cái gì cũng sạch, đẹp, sang quý và tiếp xúc với thuần một loại người hào hoa, phong nhã Nay ở nơi chợ búa, sang hèn lẫn lộn, mọi thứ đều ô hợp, vậy mà nàng không hề tỏ

ra trái ý Không thấy tởm lợm với những người dân quê mùa, chất phác, rách rưới Nhiều người đến bán, mua chỉ có một manh khố che nơi hạ bộ Nhiều người đói

khát mù lòa kêu xin thảm thiết” [8, tr.46] Là người am hiểu tường tận lịch sử và

có tri thức sâu rộng, Hoàng Quốc Hải mới viết được những trang sách sống động như thế này Khi viết về cuộc gặp gỡ ngắn ngủi của Huyền Trân với bà Lão già ở Chợ, cảm động sau khi nghe câu chuyện của Bà Lão, Huyền Trân muốn giúp đỡ bà lão, tác giả viết: “Vừa nói Huyền Trân vừa nong hai tay vào cổ áo tháo chiếc vòng ngọc bích nạm vàng Đúng lúc đó bà lão chìa hai cánh tay cụt ra Công chúa bèn đặt chiếc vòng vào tay bà lão Bà vội rụt cánh tay lại như vừa chạm vào lửa Chiếc vòng rơi xuống đất, lăn quay rồi đổ ngã” [8, tr.47]

Bằng ngôi kể thứ ba, nhưng những câu chuyện được kể một cách chi tiết, cụ thể, tỉ mỉ như chính người tham gia vào câu chuyện Từ câu chuyện của Lão Dương với vua Nhân Tôn, câu chuyện đi dự lễ hội đua thuyền của Huyền Trân, câu chuyện của Huyền Trân và hai nô tì: Bích Huệ, Thúy Quỳnh đi hội chợ, câu chuyện của vua Nhân Tôn với viên ngự sử Đoàn Nhữ Hài, việc học tiếng Chăm của Huyền Trân Không bình luận, không đánh giá cũng chẳng chia sẽ đồng cảm,

Trang 27

người trần thuật ở ngôi thứ ba hoàn toàn dửng dưng với diễn biến sự việc đang diễn ra, thậm chí có khi còn nhường lại quyền suy nghĩ cho độc giả Đây chính là ngôi thứ ba hàm ẩn “biết tuốt” mọi vấn đề Bằng lối trần thuật này, tác giả đã tạo được cái nhìn khách quan nhưng lại dẫn dắt được câu chuyện theo dụng ý của mình

Đóng vai trò là người đứng ngoài câu chuyện nhưng nhiều khi Hoàng Quốc Hải vẫn bày tỏ thái độ của mình qua những lời nhận xét, lời bình làm tăng tính hấp dẫn cho câu chuyện Khi đánh giá về nhân vật, tác giả viết: “nhà vua dường như thấy đủ hình ảnh người nô bộc của mình thời trai trẻ: một đồ vật lừng danh, một võ

sĩ thượng thặng, một cung thủ có tài bách bộ xuyên dương” [8, tr.26] Hay trong

cuộc gặp gỡ giữa vua Nhân Tôn với Huyền Trân tại buổi đua thuyền: “vua Nhân Tôn xúng xính trong bộ áo cà sa hòa thượng với niềm sung sướng được gặp lại con gái, nhà vua rời bỏ chiếc ghế đang ngồi cũng dể dàng như khi ngài rời bỏ ngai vàng để xuất gia”[8, tr.19]

Không chỉ kể lại những gì mình biết, chủ thể trần thuật còn thâm nhập vào thế giới nội tâm của nhân vật để mà kể chuyện Bằng cách đó, chúng ta thấy được

sự chuyển biến tinh tế cũng như sự phát triển tâm lý nhân vật Rõ nhất, đó là những biểu hiện tâm trạng của Huyền Trân khi biết được tin mình phải làm dâu Chiêm Thành Ban đầu, khi thấy phụ hoàng lúng túng như chưa tìm ra lời để nói thì Huyền Trân: “kinh ngạc, vội quỳ lạy vua cha” khi vua cha cho mấy tì nữ của mình

ra ngoài thì: “Huyền Trân biến sắc mặt”, “nàng thấy lo ngại” Khi nhà vua đã nói

ra việc kết duyên của nàng với Chế Mân: “Công chúa bặm môi, ứa lệ, nàng không

hề có mặc cảm gì oán thán vua cha, hoặc tiếc nuối cho thân phận mình, mà chỉ thấy xót thương cho vua cha” [8, tr.182] Và đặc biệt rõ nhất là biểu hiện qua vua Trần Nhân Tôn: “Người có cảm giác hụt hẩng như một phần cơ thể mình tan rã ra Mới hay tình cốt nhục sâu nặng, khiến nhà vua chợt cảm thấy mình có gì tàn nhẫn trong cuộc sắp đạt nhân duyên này” [8, tr.223-224] Đoạn trích trên là tình cảm cha

Trang 28

con trong giờ khắc chia ly Trong khoảnh khắc ấy, tác giả đã thể hiện một Nhân Tông mềm mại, giàu tình cảm chứ không cứng nhắc như trong các trang viết của

sử gia Tiếp theo là tâm trạng của Bích Huệ - một nàng hầu thân cận nhất của Huyền Trân gặp Bé Tẹo- em gái của mình trên đường đi đón Huyền Trân: “Vừa hoàn hồn, Bích Huệ vội dặn em đôi điều, nào không được nghịch ngợm, sờ mó đồ vật Không được tò mò đi lại tất cả những gì cấm kỵ Huệ đã nhắc nhở em kỹ lưỡng” [8, tr.87] Khi nghe em gái kể về gia cảnh ở quê: “Mai đây, khi em Tẹo về quê lấy gì cho nó đem về kính cha, biếu mẹ Nhũ mẫu là người quản lý khắt khe,

bà không cho phép cái gì thừa Áo quần năm vài bộ Khi được may bộ mới phải nhập bộ cũ vào kho để chẩn cấp cho người nghèo Bích Huệ cứ loay hoay không biết xử sự thế nào trong hoàn cảnh éo le này cho phải lẽ Mãi tới gà gáy sang canh, Huệ mới chợp mắt được” [8, tr.88] Khi được công chúa gia ân thì: “Tay nắm chặt nén vàng ,mắt nhìn nhũ mẫu mà Bích Huệ vẫn cứ tưởng mình nằm mơ, bay lên chín tầng trời được bà tiên cho của” [8, tr.90]

Cũng chính trần thuật ở ngôi thứ ba, mà sau mỗi lời phát ngôn của nhân vật

là những lời bình xét của người kể chuyện làm tăng tính hấp dẫn và khách quan cho câu chuyện “Ý chú Chiêu Văn thế nào? vua Nhân Tôn bỗng chốc quên mình đang điều hành công việc triều chính hay nhà vua muốn tỏ ý thân mật và kính trọng đối với vị chú ruột đứng đầu tướng văn, tướng võ trải ba triều Đến lượt quan đại an phủ sứ của kinh sư Trần Khắc Chung lên tiếng Ông có giọng nói trầm ấm Lại là người khéo nói, nên ai nghe ông nói chuyện một lần là mến mộ ngay Với hàng ngũ quan lại trong triều hiện nay được ông được nhiều người kính nể Người

ta nể không phải vì ông có tài lạ, chức cao Mà nể bởi sự hiện hữu về nhân cách của ông” [8, tr.78 - 79] Đọc đoạn văn trên, ta thấy nhân cách và phẩm chất của từng nhân vật được hiện lên đầy đủ qua lối trần thuật từ ngôi thứ ba

Như vậy, qua điểm nhìn của chủ thể trần thuật “giấu mặt”, bằng khả năng quan sát tinh tế, toàn bộ câu chuyện về một giai đoạn của triều Trần được hiện lên

Trang 29

một cách sinh động Cho dù vẫn sử dụng lối kể truyền thống nhưng Huyền Trân công chúa không đơn điệu Bên cạnh đó, nhà văn đã cố gắng xác lập một khoảng

cách khá xa với truyện kể, không can thiệp hay với tay quá dài vào các sự kiện Chính vì vậy, câu chuyện diễn ra tự nhiên theo sự chỉ dẫn của chủ thể trần thuật nên bạn đọc như bị lôi cuốn vào tác phẩm

2.1.2 Sự di chuyển điểm nhìn giữa các nhân vật

Kể chuyện theo ngôi thứ ba nhưng Hoàng Quốc Hải không hề làm cho câu chuyện của mình khô khan, đơn điệu mà vẫn lôi cuốn người đọc bởi sự luân phiên

di chuyển điểm nhìn giữa các nhân vật Cũng trần thuật từ thứ ba nhưng có lúc tác giả kể với vị thế “cái tôi bên ngoài” câu chuyện, khi đó công việc duy nhất là trần thuật, cái tôi ấy lạnh lùng hoàn toàn với những gì đang diễn ra Nhưng có lúc, tác giả đứng sau một nhân vật nào đó, nhìn mọi việc dưới góc nhìn của nhân vật Bằng cách đó, Hoàng Quốc Hải đã hòa nhập vào nhân vật để kể khiến cho ta có cảm giác khó phân biệt được đâu là lời tác giả, đâu là lời nhân vật Đó là những đoạn đối thoại, các đoạn có ngôn ngữ nửa trực tiếp

Huyền Trân - nhân vật chính của truyện được đánh giá và đối sánh dưới điểm nhìn của nhiều nhân vật Với hai nữ tì: “Ôi công nương đẹp quá, đẹp quá” [8, tr.110] Với Chế Mân: “sắc đẹp của nàng như một đóa hoa kiều diễm” [8, tr.266], còn trí tuệ: “Khắp vương quốc của ta, không tìm đâu được một người con gái trí tuệ như nàng” [8, tr.266] Với người dân Chiêm Thành: “nào là hoàng hậu có nước

da trắng như bông Miệng cười tươi như một đóa phù dung Tóc dài và mềm mại như một suối nước” [8, tr.269] Như vậy, vẻ đẹp và tài trí của Huyền Trân được soi ngắm dưới nhiều góc độ, ở nhiều điểm nhìn càng làm tăng vẽ đẹp rực rỡ và trí thông minh của nàng

Bằng hình thức trần thuật này, tác giả đã để cho nhân vật của mình kể chuyện, có lúc là bình luận và đánh giá sự việc nên giọng của nhân vật vì thế nổi

trội hơn Trong Huyền Trân công chúa, Hoàng Quốc Hải đã trao điểm nhìn cho

Trang 30

nhân vật, để nhân vật của mình thay nhau tự kể rất nhiều chuyện Chẳng hạn câu chuyện của Lão Dương câu chuyện quá khứ của hoàng cung được sống dậy một lần nữa Hay câu chuyện của nhân vật Lão Dương cứu tiên đế thoát nạn trong lúc giặc Thát đuổi: “Chính y, chính y trong lúc giặc Thát đuổi gấp, ta và phụ hoàng trên đường rút vào Châu Ái, thì Đặng Dương khuyên phụ hoàng ta nên bỏ đường thủy đi đường bộ Nhưng là ngược lại để về châu An Bang Chính lúc đó Thoát Hoan lớn tiếng đe dọa cha con ta: “Lên trời” thì y “cầm cẳng kéo xuống”, “xuống đất” thì y “nắm tóc lôi lên” Ta nghe kế của Đặng Dương nên bỏ mặc Thoát Hoan đuổi theo một cái bóng vô hình Ta quên sao được trong tình thế gấp gáp, thuyền còn cách quá xa bờ, y đã cõng phụ hoàng ta phi thân lên bờ” [8, tr.27]

Sử dụng thủ pháp trần thuật di chuyển điểm nhìn giữa các nhân vật, Hoàng Quốc Hải đã tạo nên một sự gắn kết giữa nhân vật và chủ thể trần thuật, xóa nhòa ranh giới thường thấy trong tiểu thuyết trước đây Khi trao lại điểm nhìn cho nhân vật, Hoàng Quốc Hải đã để cho nhân vật của mình thay nhau tự kể chuyện và bộc

lộ những cảm xúc của mình Chẳng hạn, câu chuyện đi cầu hòa của Đỗ Khắc Chung được Lão Dương kể lại cho Huyền Trân: “Bẩm công nương, ấy là vào khoảng năm Ất Dậu (1285) vua Nguyên sai thái tử là Thoát-hoan thống lĩnh năm chục vạn quân, lấy cớ là mượn đường đi đánh Chiêm thành để xâm lấn bờ cõi ta Rồi Ô-mã-nhi sai người đuổi theo bắt lấy, nhưng không kịp, quân ta ra cản, hai bên đánh nhau” [8, tr.94 - 99] Qua đó Lão Dương cũng bộc lộ thái độ của chính mình

về Đỗ Khắc Chung và các vị thần trong triều: “Nhưng lão trộm nghĩ con người ông

ta, có gì bộc bạch hết cả ra ngoài rồi đấy Lúc có giặc thì xả thân vì nước, lúc thái bình lo giúp rập vua chứ không đua đòi vét của dân, xây dinh lập phủ” [8, tr.100] Hay thái độ của Huyền Trân về Đỗ Khắc Chung: “ông ta không bon chen danh vọng, không tham lam của cải, không úy tử tham sinh Đích thực là một anh hùng chân chính” [8, tr.101] Qua những suy nghĩ của Lão Dương mọi phẩm chất của Trần Khắc Chung được khắc họa khá rõ nét là một vị quan chân chính Cũng bằng

Trang 31

hình thức trần thuật thông qua nhân vật, tính cách của vua Chế Mân hiện lên qua suy nghĩ của vua Nhân Tôn: “Chế Mân thực tâm cầu hòa, ông ta là một vị vua anh

minh” [8, tr.82] Không một lời bình xét nào của người trần thuật, bằng cách “ủy

thác” quyền trần thuật cho nhân vật, tính cách của các nhân vật trong tác phẩm được hiện lên qua những dòng độc thoại nội tâm hay qua những cuộc đối thoại, trò chuyện mà không cần tác giả phải lên tiếng

Đặc biệt qua những lời nói suy nghĩ của vua Nhân Tôn những cảnh lầm than của nhân dân, bức tranh xã hội lúc ấy được hiện lên một cách đầy đủ, chân thực:

“có thể nói, nổi bất hạnh do chiến tranh đem lại được chia phần một cách không đồng đều cho mỗi gia đình, mỗi thân phận trong cả nước Nó không chừa, không tránh một ai Ngay cả hoang gia và hoàng tộc cũng thế thôi, cũng phải chịu tang tóc và đắng cay muôn nỗi Trong lúc thế nước lâm nguy buộc ta phải thuận lòng đưa hoàng cô An Tư vào nộp cho tướng giặc Thoát-hoan để làm thư quốc nạn Rồi hoàng cô cũng thác trong đám loạn quân Quốc thúc Trần Ích Tắc thì đem cả nhà

về hàng giặc ” [8, tr.72] Cũng qua suy nghĩ của vua Nhân Tôn, những lời mời trong bức thư của Chế Mân được hiện lên khá rõ: “Tôi nghe nói đức vua đã xuất gia Vậy tôi phái vị hòa thượng trưởng lão Phật giáo của nước tôi sang kính thỉnh nhà vua qua thăm vương quốc bé nhỏ của chúng tôi Tôi cũng mong có dịp hầu tiếp đức vua về chuyện miền đất mà các tiên đế của chúng tôi đã cắt về cho Đại Việt Nhưng trải mấy đời nay lại xảy ra sự tranh chấp quyết liệt giữa hai nước chúng ta, khiến cho mối hòa hiếu bị tổn thương” [8, tr.75] Như vậy, sự di chuyển điểm nhìn giữa các nhân vật làm cho hiện thực trong tác phẩm hiện lên một cách sống động hơn

Nhờ trần thuật thông qua các nhân vật mà Hoàng Quốc Hải đã để cho nhân vật có thể tự do nói lên những cảm xúc của mình mà không phải chịu sự chi phối của tác giả Qua đó, tác giả tăng tính khách quan cho câu chuyện Trước khi sang Chiêm Thành vua Nhân Tôn đã nhắc lại cho Anh Tôn: “Thứ nhất là tới lễ tịch điền

Trang 32

ta chưa về, quan gia phải tiến hành như thường lệ Nhẽ ra ta tự tay cày cấy lấy lúa gạo để thờ cúng tổ tiên Ấy là tỏ lòng hiếu kính của ta với các bậc hiếu kính của ta với các bậc tiền bối Ấy cũng là việc để làm gương cho thiên hạ Một việc quan yếu nữa, quan gia phải đích thân lo liệu phải cấp thời mở lại khoa thi tiến sĩ, cứ bẩy năm một lần mà tiên đế đã định lệ từ năm Bính Ngọ” [4, tr.83] Đây là những luật

lệ của Đại Việt ta lúc bấy giờ Như vậy, tác giả đã khám phá ra những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc nhờ sự di chuyển điểm nhìn giữa các nhân vật trong tác phẩm

Bằng phương thức trần thuật linh hoạt từ điểm nhìn giữa các nhân vật Hoàng Quốc hải đã để cho nhân vật soi chiếu dưới nhiều góc độ, trong đó có điểm nhìn bên trong nội tâm nhân vật Không chỉ diễn biến sự việc được tường thuật một cách khách quan mà chúng ta còn thấy được tâm lý phức tạp của nhân vật

2.1.3 Sự di chuyển điểm nhìn giữa người kể chuyện

Một thành công nổi bật của Hoàng Quốc Hải trong tiểu thuyết lịch sử Huyền Trân công chúa là sự luân phiên, thay đổi điểm nhìn của chủ thể trần thuật Từ

chối điểm nhìn cố định, bất biến, duy nhất Có khi trần thuật ở ngôi thứ ba, khi lại

“ủy thác” quyền kể chuyện cho các nhân vật trong truyện Làm cho những tình tiết trong câu chuyện trở nên sinh động, gần gũi và tự nhiên mà lại khách quan hơn Cùng trong một chương nhưng có khi tác giả dùng ngôi thứ ba, có khi tác giả lại trao quyền trần thuật cho nhân vật, thậm chí trong một đoạn, đôi khi tác giả dùng ngôi thứ ba, khi thì trao lại cho nhân vật tự kể: “Huyền Trân nhớ mãi cuộc chia tay với vua cha trên đỉnh Tử Phong Nàng sẽ khắc cốt ghi tâm những điều vua cha căn dặn, và những tình cảm bao la như trời bể người dành cho Nay công việc đã gấp lắm Ngày lên đường đã gần kề Chẳng biết Chế Mân đã nhận được thông điệp chưa? Huyền Trân nhớ, trong tờ thông điệp, công chúa có thỉnh cầu đức tân lang một điều: “Thiếp sẽ đi bằng đường thủy tới điểm tận cùng của biên thùy Đại Việt

Trang 33

Xin bệ hạ đón thiếp Và cho thiếp được hưởng ân huệ sẽ đi đường bộ trên miền đất hai châu: Ô - Lý mà bệ hạ dùng làm sính lễ Sau đó đi bằng phương tiện gì về Chà Bàn là do bệ hạ định liệu” [8, tr.224] Đọc đoạn trích trên ta thấy, nhờ có sự luân phiên điểm nhìn mà những sự việc được trần thuật trong tác phẩm là trung thực và đáng tin cậy

Sự luân phiên sáng tạo từ các điểm nhìn được thể hiện rõ nhất là cách nhìn của từng nhân vật đối với bà Lão ăn xin Với Huyền Trân, nàng cảm thấy: “xúc động và cảm thông trước hoàn cảnh của bà lão” Với Viên quan ngự sử Đoàn Nhữ Hài, thương cảm với bà, nên đã trình bày hoàn cảnh của bà lão cho Nhân tôn nghe:

“Bản thân bà lão có công lừa giặc vào hang bẫy làm chết gần hết một cánh quân Nguyên Những người như thế, triều đình đã ban ân tứ Nhưng ân sủng của nhà vua đâu đến được người dân” [8, tr.138] Với tác giả: “Nội dung điệu múa Huyền Trân dựa vào sự thật về một bà lão mà nàng gặp nơi quán chợ, hồi về Thiên Trường Nàng diễn tả cực kỳ sinh động trong tất cả các vai địch và vai bà lão Nhất là khi

bà lão với hai tay cụt vung lên, dường như bà không cảm thấy đau đớn nữa và khi

bà ném ánh mắt vào ngọn lửa đang bùng cháy, thì người xem như cảm thấy ngọn lửa ánh lên từ mắt bà chú không phải từ chiếc quán tranh” [8, tr.270] Tác giả không trực tiếp miêu tả mà để cho bà lão hiện lên qua điệu múa của Huyền Trân

Trong Huyền Trân công chúa, ta nhận thấy, giữa các điểm nhìn trần thuật

luôn phối hợp và dịch chuyển nhịp nhàng với nhau, chẳng hạn khi vua Nhân tôn bắt gắp ánh mắt của con gái: “chợt Nhân Tôn bắt gặp khuôn mặt kỳ ảo của con gái, dường như ngài đọc được cả ý nghĩ của con Tự nhiên ngài thấy có gì nhoi nhói ở trong lòng, khi ngài nghĩ đến tương lai của Huyền Trân Ngài tự nhủ: con yêu quý của cha ơi Lẽ nào số phận của con lại không được như cha mong muốn Chao ôi, cái xứ sở kiêu hùng và đau đớn của ta Số phận mỗi con người đều gắn chặt với mỗi đất nước, ngay cả con ta cũng không tránh khỏi điều đó nữa sao” [8, tr.157] Hay suy nghĩ của nhà sư Du Già: “Hòa thượng Du Già giật mình kinh sợ về những

Ngày đăng: 09/05/2021, 16:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w