1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Lỗi dùng từ và đặt câu trong các bài tập làm văn của học sinh THCS ở hà tĩnh

84 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tế cho thấy trong nhiều năm gần đây, ngành giáo dục nước nhà quan tâm, chú ý rất nhiều đến việc trau dồi tiếng mẹ đẻ cho học sinh, sinh viên thế nhưng hiện tượng mắc lỗi trong cách

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LỖI DÙNG TỪ VÀ ĐẶT CÂU TRONG CÁC BÀI TẬP LÀM

VĂN CỦA HỌC SINH THCS Ở HÀ TĨNH

Trang 2

Thực tế cho thấy trong nhiều năm gần đây, ngành giáo dục nước nhà quan tâm, chú ý rất nhiều đến việc trau dồi tiếng mẹ đẻ cho học sinh, sinh viên thế nhưng hiện tượng mắc lỗi trong cách dùng từ, đặt câu trong các bài tập làm văn của các em vẫn rất phổ biến không chỉ ở riêng Hà Tĩnh mà trên địa bàn cả nước

Trước thực trạng đó cùng với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học ở Hà Tĩnh nói riêng, cả nước nói chung và nhằm phát huy truyền thống tốt đẹp của quê hương, đất nước, chúng tôi thực sự cảm thấy bức xúc và muốn góp một phần bé nhỏ của mình nhằm giúp các em học sinh nắm vững tiếng mẹ đẻ một cách khoa học, theo chuẩn ngôn ngữ Chỉ có như vậy thì sự trong sáng của Tiếng Việt mới thực sự được giữ gìn, và nền giáo dục nước nhà mới thực sự phát triển Đó cũng chính là lí

do khiến chúng tôi chọn đề tài Lỗi dùng từ và đặt câu trong các bài tập làm văn của học sinh THCS ở Hà Tĩnh để làm đề tài khóa luận tốt nghiệp cho mình

2 Lịch sử vấn đề

Lỗi dùng từ và đặt câu là một trong những vấn đề hết sức quan trọng và đáng

quan tâm đối với việc dạy học phân môn Tập làm văn nói riêng và bộ môn Ngữ văn

nói chung Từ trước đến nay đã có rất nhiều các công trình lớn nhỏ khác nhau nghiên cứu về vấn đề này Sau đây chúng tôi xin nêu ra một vài công trình tiêu biểu

Đầu tiên cần phải kể đến là cuốn Giảng dạy từ ngữ ở trường Phổ thông của

các tác giả Phan Thiều – Nguyễn Quốc Túy - Nguyễn Thanh Tùng Trong phần 3 của cuốn sách này các tác giả đã đề cập đến việc giảng dạy từ ngữ trong Tập làm

Trang 3

văn trong đó họ đã nói đến vị trí của phân môn Tập làm văn trong sự phát triển ngôn ngữ của học sinh, về cách dạy từ ngữ trong phân môn Tập làm văn mà cụ thể

là trong văn miêu tả và trong văn kể chuyện

Tiếp đến là công trình nghiên cứu của Nguyễn Đức Dân – Trần Thị Ngọc

Lang với cuốn Câu sai và câu mơ hồ Với cuốn sách này các tác giả đã giúp người

đọc hiểu rõ khái luận về câu sai và câu mơ hồ Theo các tác giả “Câu sai là những câu dùng chệch so với những câu chuẩn mực đã quy ước Sự quy ước này có thể được chế định hóa như các quy định về chính tả, nhưng cũng có thể chỉ là sự ngầm quy ước của xã hội” [ 6, tr.9] và khi phân loại các kiểu câu sai thì các tác giả phân thành các kiểu như: Sai chính tả, sai cách dùng từ, những câu sai ngữ pháp, những câu sai lôgic, những câu sai về quy chiếu, những câu sai phong cách và những loại câu sai khác… Còn câu mơ hồ theo Nguyễn Đức Dân và Trần Thị Ngọc Lang thì đó

là “ một câu trong khi có một biểu hiện duy nhất ở cấp độ này lại có ít nhất hai cách biểu hiện ở một cấp độ khác” [6, tr.90]

Hoàng Xuân Tâm - Bùi Tất Tươm với cuốn Dạy học tiếng Việt Trung học cơ

sở Trong cuốn sách này, ở phần Ngữ pháp Tiếng Việt, các tác giả đã đưa vào phụ

lục 2 với tiết dạy: CHỮA LỖI VỀ QUAN HỆ TỪ (SGK Ngữ văn 7 tập một) Trong phần II TIẾN TRÌNH DẠY HỌC của tiết dạy này có nói “Thông qua việc phân tích lỗi về quan hệ từ ở mỗi câu để giúp học sinh biết cách sửa các lỗi đó” [13, tr.74] Cụ thể là các lỗi: lỗi thiếu quan hệ từ, lỗi dùng quan hệ từ không thích hợp về nghĩa, lỗi dùng thừa quan hệ từ, lỗi dùng quan hệ từ mà không có tác dụng liên kết

Bùi Minh Toán với cuốn Tiếng Việt thực hành Trong cuốn sách này Bùi

Minh Toán đã giành hai chương để nói về việc đặt câu và dùng từ trong văn bản Trong đó các tác giả đã đề cập đến rất nhiều lỗi câu (lỗi về cấu tạo ngữ pháp của câu, lỗi về quan hệ ngữ nghĩa trong câu, lỗi về thiếu thông tin…) và các lỗi về từ trong văn bản (lỗi về âm thanh và hình thức cấu tạo, lỗi về nghĩa của từ, lỗi về kết hợp từ …) Từ việc chỉ ra các lỗi về từ trong văn bản các tác giả đã đi tới một số vấn đề cần lưu ý về quá trình phát hiện và sửa các lỗi về dùng từ trong văn bản

Cuốn Tiếng Việt thực hành do Nguyễn Minh Thuyết chủ biên (2009) là một

cuốn sách đề cập rất nhiều đến các lỗi thông thường về câu và về cách dùng từ trong

Trang 4

văn bản Cụ thể về câu, tác giả đề cập đến các lỗi như: lỗi về cấu tạo câu, lỗi về dấu câu, lỗi về liên kết câu và các cách chữa các lỗi này Về cách dùng từ thì gồm các lỗi: lặp từ, dùng từ không đúng nghĩa, dùng từ không hợp phong cách và cách chữa

Trên đây là một số công trình nghiên cứu chung về lỗi dùng từ, đặt câu Điều này chứng tỏ đây là vấn đề hiện nay rất được dư luận quan tâm Tuy nhiên đây mới chỉ là sự phát hiện thực tế nhỏ lẻ, chung chung và chưa có một công trình nghiên cứu nào theo hướng tiếp cận trên cứ liệu đặt câu, dùng từ của học sinh Hà Tĩnh

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Các lỗi thường gặp trong cách dùng từ và đặt câu trong các bài tập làm văn của học sinh THCS ở Hà Tĩnh

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Khảo sát các bài tập làm văn của học sinh một số trường THCS ở ba khu vực đồng bằng, miền núi và thành phố thuộc địa bàn tỉnh Hà Tĩnh

4 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp chủ yếu sau:

- Phương pháp khảo sát

- Phương pháp thống kê, phân loại

- Phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu

- Phương pháp tổng hợp, nhận xét và đánh giá

5 Cấu trúc của luận văn

Luận văn ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo thì phần nội dung gồm ba chương:

Chương 1: Tổng quát về từ, câu và lỗi dùng từ, đặt câu

Chương 2: Các lỗi dùng từ và đặt câu thường gặp trong các bài tập làm văn

của học sinh THCS ở Hà Tĩnh hiện nay

Chương 3: Nguyên nhân và giải pháp nhằm hạn chế lỗi dùng từ và đặt câu

trong các bài tập làm văn của học sinh THCS ở Hà Tĩnh hiện nay

Trang 5

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TỔNG QUÁT VỀ TỪ, CÂU VÀ LỖI DÙNG TỪ, ĐẶT CÂU

1.1 Cơ sở khoa học của vấn đề

1.1.1 Lí thuyết về từ và lỗi dùng từ

1.1.1.1 Lí thuyết về từ vựng học ngữ nghĩa và từ pháp học

a Từ vựng học ngữ nghĩa

* Từ và cấu tạo từ

Từ trước đến nay có rất nhiều định nghĩa về từ Theo quan niệm của tác giả

Đỗ Hữu Châu thì “Từ tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định bất biến mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với những kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu”

Cấu tạo từ tiếng Việt xét ở hai vấn đề: yếu tố cấu tạo từ và phương thức cấu tạo từ

Có thể nói rằng, trong tiếng Việt, các yếu tố cấu tạo từ là những hình thức ngữ âm có nghĩa nhỏ nhất – tức là những yếu tố không thể phân chia thành những yếu tố nhỏ hơn nữa mà cũng có nghĩa – được dùng để cấu tạo ra các từ theo các phương thức cấu tạo từ của tiếng Việt Chúng ta gọi các yếu tố có đặc điểm và có chức năng như trên bằng thuật ngữ có tính quốc tế: hình vị

Phương thức cấu tạo từ là cách thức mà ngôn ngữ tác động vào hình vị để cho ta các từ Để cấu tạo nên từ, tiếng Việt sử dụng ba phương thức chủ yếu sau: từ hóa hình vị, ghép hình vị và láy hình vị

Có mấy điểm sau đây cần chú ý về hình vị tiếng Việt: hình vị phải tự thân mang nghĩa đi vào các hình thức cấu tạo từ mà sản sinh ra từ Từ một hình vị đi vào các phương thức khác nhau hoặc một hình vị mang nhiều nghĩa có thể tạo ra nhiều

từ khác nhau Vì vậy, trong sử dụng tiếng Việt, cần phải nắm vững nghĩa của hình

vị cấu tạo nên từ, có như vậy mới sử dụng một cách đúng nghĩa Một khi xác định giới hạn cấu tạo của một từ đồng thời sẽ xác định luôn nghĩa của từ và phạm vi sử dụng từ để từ đó dẫn tới việc lĩnh hội nội dung Bởi vậy, “hình vị, từ, cụm từ, câu…

về mặt ngữ âm đều là những âm tiết hoặc những tổ hợp âm tiết, cho nên việc nhận

Trang 6

thức một âm tiết hoặc một tổ hợp âm tiết nào đó có phải là từ hay không có ý nghĩa cực kì quan trọng đối với việc sử dụng từ và lĩnh hội ý nghĩa của câu nói

Có nhiều loại đơn vị khác nhau về chức năng trong ngôn ngữ Âm vị là những đơn vị ngữ âm nhỏ nhất, tự thân không có nghĩa nhưng có giá trị khu biệt nghĩa khi tham gia tạo vỏ âm thanh cho các đơn vị có nghĩa Hình vị là đơn vị được tạo ra từ kết hợp các âm vị, tự thân có nghĩa, là đơn vị tạo từ nhưng không được dùng trực tiếp để giao tiếp, tức không trực tiếp được dùng để kết hợp với nhau tạo thành câu

Từ hóa hình vị, ghép hình vị, láy hình vị tạo ra từ, mà chức năng của chúng

là kết hợp với nhau thành câu

Với các từ như: nhà, chiếu, đường, mặt trời, bên, sáng… chúng ta tạo ra một đơn vị lớn hơn từ như: “Nhà bên đường”

Các đơn vị mới này không sẵn có, không cố định và không bắt buộc Chúng được tạo ra trong một hoạt động giao tiếp nào đó Giao tiếp kết thúc thì nó lại bị

“tháo rời” ra thành các từ trong bộ não Đợi đến những lần giao tiếp khác, từ lại kết hợp với nhau cho vô số những đơn vị mới

Các đơn vị được cấu tạo bởi các từ, xuất hiện trong giao tiếp gồm cụm từ, câu, văn bản Từ có những đặc điểm:

- Có hình thức ngữ âm và ý nghĩa

- Có tính sẵn có, cố định, bắt buộc

- Là những đơn vị thực tại hiển nhiên của ngôn ngữ

Nó là đơn vị lớn nhất của hệ thống ngôn ngữ Trong hệ thống ngôn ngữ, không có đơn vị nào cũng có hình thức ngữ âm và ý nghĩa cụ thể mà lại lớn hơn từ

- Nhưng nó lại đơn vị nhỏ nhất ở trong câu, là đơn vị trực tiếp nhỏ nhất để tạo câu

Bất kì đơn vị nào, lớn nhất trong hệ thống của một ngôn ngữ và nhỏ nhất để tạo câu thì đều là từ

Trong ngôn ngữ, bên cạnh từ, còn có những tập hợp từ mang tính sẵn có, cố định, bắt buộc và nhỏ nhất để tạo câu như: mắt lá răm, một nắng hai sương…đó là các ngữ cố định Ngữ cố định là những đơn vị từ vựng tương đương với từ

Trang 7

Tập hợp các từ và ngữ cố định được gọi là từ vựng của ngôn ngữ Hay nói cách khác “Từ vựng là đơn vị có nghĩa có sẵn trong ngôn ngữ, phân biệt với cụm từ hay nghĩa tự do” [10, tr.13]

* Nghĩa của từ và hoạt động

Sự hình thành và phát triển nghĩa của từ chỉ xảy ra trong hoạt động Thông qua hoạt động lao động, hoạt động nhận thức và cải tạo hiện thực khách quan, con người ngày càng nhận thức ra các sự vật, hiện tượng và đặc trưng của chúng Kết quả nhận thức này được biểu hiện trong tên gọi (nghĩa biểu vật) và quan niệm về chúng (nghĩa biểu niệm) Về mặt nhận thức ý nghĩa của từ cũng vậy, để hiểu nghĩa của từ, con người cũng cần thông qua hoạt động và trong quá trình đó mới tiếp xúc, hiểu biết bản chất của hiện thực, nắm vững các khái niệm và tên gọi của chúng – từ ngữ Không có hoạt động, hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thức, con người không thể nào chiếm lĩnh được khái niệm và theo đó cũng không bao giờ có một vốn từ cần thiết và khả năng sử dụng chúng Hoạt động giao tiếp là hoạt động đặc trưng của con người, có quan hệ trực tiếp đến sự hình thành và phát triển năng lực ngôn ngữ nói chung, năng lực từ ngữ nói riêng Con người học từ, trước hết là học trong thực tiễn giao tiếp Chính văn cảnh, hoàn cảnh đó, từ mới xuất hiện sẽ là động

cơ thúc đẩy người nghe, người đọc dần dần đoán nhận ra nội dung ngữ nghĩa; qua

đó mà “chiếm lĩnh” từ ngữ mới vào vốn liếng riêng của mình

* Sự tích lũy và sử dụng từ ngữ

Vốn từ vựng của con người ngày càng phong phú, đa dạng và tích cực nhờ

sự tích lũy liên tục không ngừng Vốn từ vựng đó trong con người không phải là một tập hợp hỗn độn, cô lập lẫn nhau mà là một hệ thống chặt chẽ cũng tương tự như hệ thống từ vựng trong ngôn ngữ vậy Trong đầu óc của con người, từ được sắp xếp theo các lớp hạng trên cơ sở những mối liên hệ đồng nhất và đối lập giữa chúng với nhau Các nhà tâm lí – ngôn ngữ học đã tiến hành nhiều thí nghiệm khác nhau

và đều dẫn đến kết luận trên

Như vậy là sự phân tích từ góc độ tâm lí về mặt tiếp cận, tích lũy từ ngữ rất thống nhất với sự phân tích bản thân hệ thống từ vựng của ngôn ngữ Từ ngữ trong đầu óc của mỗi con người là một bản sao, một biểu hiện của hệ thống từ vựng ngôn

Trang 8

ngữ Tất nhiên “bản sao” này trong mỗi con người có khác nhau và không thể hoàn toàn đầy đủ như hệ thống từ vựng ngôn ngữ

Sự tích lũy và sử dụng ngôn ngữ diễn ra trên hai trục: trục liên tưởng và trục kết hợp Trên cơ sở đó vốn từ ngữ được hình thành và được “tích cực hóa” Như nhà ngôn ngữ M West đã nói “ngôn ngữ cũng như quần vợt, đó không phải là tri thức mà là thói quen, là phản ứng tức thời vô thức tiếp nhận được thông qua thực hành” Từ đó có thể thấy rằng việc rèn luyện từ ngữ luôn phải được gắn liền với hoạt động tích lũy vốn từ Song song với đó là “khai thác” vốn từ, sử dụng để giao tiếp đạt hiệu quả

Có dạy từ ngữ tốt thì học sinh mới có thể vận dụng hiệu quả trong giao tiếp

và xâm nhập vào địa hạt của văn chương – nghệ thuật ngôn từ Việc dạy học từ ngữ giúp các em hiểu sâu thêm về tiếng Việt biết tự hào về ngôn ngữ của dân tộc mình

Từ đó, góp phần giáo dục tình yêu quê hương đất nước, tạo điều kiện phát triển năng lực sử dụng tiếng Việt, có ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt cũng như đưa tiếng Việt phát triển lên một tầm cao mới

b Từ pháp học

Từ pháp học tiếng Việt chỉ quan tâm đến từ loại Việc nhận biết từ loại tiếng Việt bên ngoài văn cảnh là không cần thiết và không khả thi Chúng ta cần dạy cho học sinh cách nắm vững từ loại trong thực hành giao tiếp

Cho đến nay, chủ yếu có hai phương pháp phổ biến để phân định từ loại: phân chia từ vựng của một ngôn ngữ thành hai lớp khái quát là thực từ và hư từ; hoặc phân chia từ vựng thành nhiều lớp cụ thể hơn với các đặc trưng xác định hơn Đây là các cách phân chia của ngữ pháp truyền thống châu Âu Lịch sử nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt có hai xu hướng: một xu hướng cho rằng từ vựng tiếng Việt không được định loại vì chúng không có một dấu hiệu hình thức nào cả, nói cách khác là không tồn tại từ loại trong tiếng Việt Tuy nhiên số đông các nhà nghiên cứu tiếng Việt vẫn cho rằng tiếng Việt vẫn có từ loại và tồn tại những dấu hiệu khách quan để định loại Và việc phân loại cũng theo hai cách: phân biệt thực từ và hư từ; phân biệt thành những lớp ngữ pháp cụ thể Hiện nay trong tiếng Việt có thể phối hợp hai cách phân loại này

Trang 9

Có thể dựa vào ba đặc điểm sau để biết từ trong văn cảnh cụ thể đó thuộc từ loại nào Đó là ý nghĩa khái quát của từ, khả năng kết hợp của nó với các từ khác (từ chứng) và khả năng đảm nhiệm chức vụ ngữ pháp của nó trong ngữ, trong câu

1 Ý nghĩa khái quát: có tác dụng tập hợp các từ có cùng kiểu ý nghĩa khái

quát thành các lớp (và lớp con); ví dụ như ý nghĩa về sự vật, về hành động, về trạng thái, về tính chất, về quan hệ, đến lượt ý nghĩa khái quát về sự vật lại được chia nhỏ thành ý nghĩa khái quát về vật thể (ví dụ các từ nhà, cửa, cây ), về chất thể (ví

dụ nước, khí, muối ), v.v

2 Khả năng kết hợp của nó với các từ khác, được hiểu ở ba mức độ như sau:

Khả năng kết hợp của từ đang xét với một hay một số hư từ Từ đó nói được bản tính từ loại của từ đang xét Những hư từ trong trường hợp này được gọi là các chứng tố Và với chứng tố, thường chỉ xác định được ba lớp từ chính trong tiếng Việt là: lớp danh từ, lớp động từ và lớp tính từ Ví dụ: những từ có thể đứng trước các chỉ định từ “này”, “nọ” thì thuộc lớp danh từ; những từ có thể đứng sau “đang”,

“vẫn’ thì thuộc lớp động từ; những từ đứng sau “rất” thường thuộc lớp tính từ

Khả năng kết hợp của từ đang xét được đặt trên cơ sở cách cấu tạo của cụm

từ chính phụ Với cách này, có thể xác định thêm lớp các phó từ của động từ (có nét gần gũi với các phụ từ và một số trạng từ ngôn ngữ châu Âu)

Khả năng kết hợp từ với từ, không chỉ tính đến các yếu tố không nằm trong cụm từ, thông qua các tiêu chuẩn sau: khả năng làm đầu tố trong cụm từ chính phụ; khả năng làm yếu tố mở rộng trong cụm từ chính phụ; không tham gia vào cụm từ chính phụ, chỉ xuất hiện ở bậc câu nhưng có thể có quan hệ với cụm từ chính phụ trong các trường hợp cụ thể

3 Khả năng đảm nhiệm chức vụ ngữ pháp của nó trong ngữ, trong câu: Khả

năng giữ chức vụ ngữ pháp trong một câu thường được dùng như một tiêu chuẩn hỗ trợ cho việc phân định từ loại

Động từ

Ý nghĩa khái quát: động từ là những từ biểu thị ý nghĩa quá trình, trạng thái

Trang 10

Khả năng kết hợp: động từ làm trung tâm trong cụm động từ Các từ chứng

tiêu biểu của động từ là: hãy, đừng chớ, đã, đang, sẽ, đều, vẫn, cũng…(đứng trước);

xong, rồi, nữa…(đứng sau)

Chức vụ cú pháp: chức năng cú pháp chính của động từ là làm vị ngữ trong câu

Phân loại và miêu tả:

* Nhóm động từ tác động đến đối tượng (động từ ngoại động): loại động từ này đòi hỏi phải có thành tố phụ (bổ ngữ) đi sau Ví dụ: làm, cắt, chặt, quăng, trồng,

vẽ, để…(làm cá, chặt cây, vẽ tranh…)

* Nhóm động từ trao nhận: thường cần hai bổ ngữ trả lời câu hỏi ai? cái gì?

Ví dụ: cho, biếu, tặng, bán, nhận, vay, mua…(tặng bạn món quà…)

* Nhóm động từ gây khiến: loại này cũng cần hai bổ ngữ Ví dụ: cấm, báo, bắt buộc, kêu gọi, đề nghị, xin, ép …(nhờ bạn chép bài, bắt bò kéo xe…)

* Nhóm động từ chuyển động (bổ ngữ của nó thường là những từ chỉ địa điểm) Ví dụ: ra, vào, lên, xuống, đi, chạy, bò, lăn, kéo…

* Nhóm động từ tồn tại hoặc tiêu biến Ví dụ: còn, có, biến, mất, hết, vỡ… Loại động từ này thường tham gia cấu tạo nên câu đơn đặc biệt có trạng ngữ chỉ nơi chốn (trong nước biển có muối…)

* Nhóm động từ chỉ quan hệ so sánh, đối chiếu Ví dụ: giống, khác, như, tựa,

in, hệt…

* Nhóm động từ chỉ quan hệ diễn biến theo thời gian Ví dụ: bắt đầu, tiếp tục, kết thúc, ngừng, thôi, hết…

Loại động từ này thường đi kèm với một động từ khác

* Nhóm động từ chỉ quan hệ diễn biến trong không gian Ví dụ: gần, xa, ở…

* Nhóm động từ biến hóa Ví dụ: làm, trở thành, hóa, hóa ra…

* Nhóm động từ tình thái:

- Tình thái về sự cần thiết: cần, nên, phải, cần phải…

- Tình thái về khả năng: có thể, không thể, chưa thể…

- Tình thái về ý chí: định, toan, nỡ, dám…

- Tình thái về mong muốn: mong, muốn, ước, tơ tưởng…

Trang 11

- Tình thái về sự tiếp thụ, chịu đựng: bị, mắc, phải, được…

- Tình thái về đánh giá: cho, xem, thấy…

* Nhóm động từ trạng thái, tâm lý: (kết hợp được với “rất, quá…”) Ví dụ: yêu, ghét, sợ, thích, mê…

* Nhóm động từ cảm nghĩ, nói năng: (kết hợp được với “ rất, quá…”) Ví dụ: biết, hiểu, nghĩ, nghe, thấy, tin…

* Nhóm động từ không tác động đến đối tượng (nội động từ) Loại động từ này không cần có bổ ngữ trực tiếp Ví dụ: ở, ngồi, đứng, nằm, ngủ, thức, cười, cằn nhằn…

* Nhóm động từ tổng hợp: Ví dụ: đi đứng, ngủ ngáy, ra vào, trò chuyện…

Danh từ:

Ý nghĩa khái quát: danh từ là những từ mang ý nghĩa chỉ thực thể (Hiểu theo

nghĩa rộng: ý nghĩa thực thể là ý nghĩa chỉ sự vật và những gì được “sự vật hóa”)

Khả năng kết hợp: Danh từ có khả năng làm thành tố chính trong cụm danh

từ; có khả năng kết hợp với các đại từ chỉ định: này, kia, ấy, nọ…; có khả năng kết hợp trực tiếp hay gián tiếp với số từ

Chức năng cú pháp: Chức năng cú pháp chính của nó là làm chủ ngữ trong

câu

Phân loại và miêu tả:

* Danh từ riêng: Danh từ riêng là tên riêng của từng người, từng sự vật cụ

thể…Khả năng kết hợp của danh từ riêng so với danh từ chung có nhiều hạn chế Danh từ riêng ít được dùng kèm với số từ Trên chữ viết, danh từ riêng phân biệt với danh từ chung ở chỗ mỗi chữ cái đầu âm tiết thường viết hoa Danh từ riêng bao gồm: danh từ riêng chỉ tên người, danh từ riêng chỉ sự vật

* Danh từ chung: là từ chỉ tên chung của một chủng loại sự vật, có tính khái

quát, trừu tượng, không có mối liên hệ đơn nhất giữa tên gọi và vật cụ thể được gọi tên Danh từ chung gồm: danh từ tổng hợp và danh từ không tổng hợp (danh từ chỉ chất liệu, danh từ chỉ đơn vị, nhóm danh từ chỉ khoảng thời gian, không gian, nhóm danh từ chỉ khái niệm về sự vật, sự việc, khái niệm trừu tượng, nhóm danh từ chỉ người, nhóm danh từ chỉ đồ vật, động vật, thực vật)

Trang 12

Tính từ:

Ý nghĩa khái quát: là lớp từ chỉ ý nghĩa đặc trưng (đặc trưng của thực thể hay

đặc trưng của quá trình)

Khả năng kết hợp: tính từ thường làm thành tố trung tâm trong cụm tính từ

Từ chứng cho tính từ là các phó từ như: rất, hơi, quá, lắm…

Chức năng cú pháp: tính từ thường làm vị ngữ trong câu

Phân loại và miêu tả:

* Tính từ chỉ phẩm chất: tốt, đẹp, xấu, khéo, vụng…

* Tính từ chỉ đặc trưng về lượng: nhiều, ít, rậm, thưa, ngắn, dài, cao, thấp…

* Tính từ chỉ đặc trưng về cường độ: mạnh, yếu, nóng, lạnh, mát…

* Tính từ chỉ đặc trưng về hình thể: vuông, tròn, thẳng, gãy, cong, méo, gầy, béo…

* Tính từ chỉ đặc trưng về màu sắc: xanh, đỏ, vàng, nâu, đậm, nhạt…

* Tính từ chỉ đặc trưng về âm thanh: ồn, im, vắng, lặng, ồn ào…

* Tính từ chỉ đặc trưng về mùi vị: thơm, thối, đắng, cay, ngọt, nhạt…

* Tính từ chỉ đặc trưng tuyệt đối: riêng, chung, công tư…

Đại từ:

Ý nghĩa khái quát: đại từ là lớp từ dùng để thay thế và chỉ trỏ Nó mang nội

dung phản ánh vốn có của các thực từ được chúng thay thế

Khả năng kết hợp: đại từ có khả năng kết hợp rất hạn chế

Chức năng cú pháp: đại từ nói chung có thể đảm nhận được các chức năng

cú pháp của thực từ được thay thế

Phân loại và miêu tả:

Đại từ có thể chia thành hai lớp con là: đại từ xưng hô và đại từ chỉ định

* Đại từ xưng hô là từ dùng để thay thế và biểu thị các đối tượng tham gia quá trình giao tiếp Những đại từ xưng hô trong tiếng Việt có thể chia thành hai lớp: lớp đại từ xưng hô đích thực (tôi, tao, tớ, mày, nó, hắn, chúng tôi…) và lớp đại từ xưng hô lâm thời (nguyên là những từ thuộc các lớp từ loại khác nhau như: danh từ

Trang 13

chỉ quan hệ thân thuộc, chỉ chức vụ, nghề nghiệp…Chẳng hạn: ông, bà, cha, mẹ, anh, chị, em…)

* Đại từ chỉ định: là từ dùng để thay thế và chỉ trỏ các đối tượng được phản ánh trong mối liên hệ “định vị” trong thực tại Đại từ chỉ định có thể chia làm hai nhóm: đại từ xác chỉ và đại từ phiếm chỉ (đại từ nghi vấn)

Chức năng cú pháp: số từ có thể đảm nhiệm một số chức năng cú pháp như

chủ ngữ, vị ngữ nhưng rất hạn chế Ví dụ: ba với ba là sáu

Phân loại:

Số từ có thể chia thành hai lớp con:

* Số từ xác định: gồm những từ chỉ ý nghĩa số lượng chính xác như: một, hai, ba, hai phần ba

Số từ xác định khi đặt trước danh từ thì biểu thị ý nghĩa về số lượng, khi đặt sau danh từ thì biểu thị ý nghĩa về thứ tự Ví dụ: phòng 15 = 15 phòng

* Số từ không xác định: biểu thị số không chính xác với ý nghĩa phỏng định hay phiếm định Loại này có số lượng không nhiều lắm Ví dụ: vài ba, dăm ba, một vài…

Trợ từ:

Ý nghĩa khái quát: là từ loại biểu thị ý nghĩa tình thái nhằm thể hiện thái độ

của người nói đối với hiện thực khách quan và với đối tượng tham dự trực tiếp

Khả năng kết hợp: trợ từ không có khả năng làm trung tâm trong cụm từ Nó

có thể đứng trước từ mà nó bổ sung ý nghĩa tình thái

Trang 14

Chức năng cú pháp: Không có khả năng làm thành phần câu Trợ từ có thể

đứng ở cuối câu (đôi khi ở đầu câu) để bổ sung ý nghĩa cho cả câu

Ý nghĩa khái quát: thán từ là từ loại dùng để biểu thị cảm xúc (ngạc nhiên,

đau đớn, vui mừng…) của người nói hoặc dùng làm lời gọi, đáp…

Khả năng kết hợp: thán từ không có mối liên hệ hình thức với từ đứng trước

hoặc sau chúng

Chức năng cú pháp: thán từ có thể dùng độc lập như một câu đơn đặc biệt,

có thể dùng kết hợp với các từ khác làm hô ngữ

Phân loại:

* Thán từ biểu hiện cảm xúc: ồ, ôi, chao ôi, ô kìa, ơ này, trời ơi…Loại thán

từ này thường đi kèm với dấu than Ví dụ: Ôi! Làng Rô nhỏ của tôi

* Thán từ gọi đáp: a, hỡi, ơi, này, dạ…Ví dụ: Hỡi cô tát nước bên đường

Kết từ:

Ý nghĩa khái quát: kết từ là từ loại biểu thị ý nghĩa về quan hệ giữa các khái

niệm và đối tượng được phản ánh Nó là dấu hiệu biểu thị các quan hệ cú pháp giữa các thực từ

Khả năng kết hợp: không làm thành tố trung tâm trong cụm từ Kết từ được

dùng để nối kết các từ, các kết hợp từ, các câu, các đoạn văn với nhau

Chức năng cú pháp: Không làm thành phần chính trong câu

Phân loại:

Kết từ được chia thành hai lớp là:

Trang 15

* Kết từ chính phụ: chỉ ý nghĩa quan hệ chính phụ, chúng dùng để nối kết thành tố phụ vào thành tố chính Kết từ chính phụ thường có xu hướng gắn với thành tố phụ Ví dụ: của, cho, bằng, do, vì, bởi, tại, để, mà…

* Kết từ đẳng lập: chỉ ý nghĩa quan hệ đẳng lập Kết từ đẳng lập không gắn

bó với bất cứ thành tố nào trong một kết hợp có quan hệ đẳng lập Chẳng hạn: và, với, cùng, hay, hoặc…

Phó từ:

Ý nghĩa khái quát: là những từ biểu thị ý nghĩa về quan hệ giữa quá trình và

đặc trưng với thực tại, biểu thị ý nghĩa về cách thức nhận thức và phản ánh các quá trình và đặc trưng trong hiện thực

Khả năng kết hợp: thường dùng kèm với động từ, tính từ (được xem là từ

chứng để phân loại động từ, tính từ)

Chức năng cú pháp: làm thành tố phụ trong cụm động từ, cụm tính từ khi

các cụm từ tham gia cấu tạo thành phần câu

* Nhóm phó từ sai khiến: hãy, đừng, chớ…

* Nhóm phó từ chỉ kết quả: mất, được, ra, đi…(nhóm phó từ này có nguồn gốc từ động từ)

* Nhóm phó từ chỉ tần số: thường, ít, hiếm, luôn…

* Nhóm phó từ tác động: cho

* Nhóm phó từ tình thái: vụt, thốt, chợt, bổng…

Trang 16

Cụm từ

Cụm từ hiểu theo nghĩa rộng (cụm từ nói chung) là những kiến trúc gồm hai

từ trở lên kết hợp tự do với nhau theo những quan hệ ngữ pháp hiển hiện nhất định

và không chứa kết từ ở đầu

Cụm từ gồm có các cụm chủ yếu sau:

* Cụm danh từ: là tổ hợp tự do không có kết từ đứng đầu, có quan hệ chính

phụ giữa thành tố chính và thành tố phụ và thành tố chính là danh từ Ví dụ: ba thúng gạo nếp, ba con trâu đực, tất cả những con mèo ấy…

* Cụm động từ: là tổ hợp tự do không có kết từ đứng đầu, có quan hệ chính

phụ giữa thành tố chính với thành tố phụ và thành tố chính là động từ Ví dụ: đùa nghịch ở sau nhà, mượn của bạn quyển sách…

* Cụm tính từ: là tổ hợp từ tự do không có kết từ đứng đầu, có quan hệ chính

phụ giữa thành tố chính và thành tố phụ và thành tố chính là tính từ Ví dụ: vẫn còn đang trẻ như một thanh niên, rất giỏi nghề thêu…

1.1.1.2 Những lỗi về nghĩa từ vựng thường gặp trong cách diễn đạt của học sinh

Nội dung ý nghĩa là một trong những bình diện của từ Nó là cái được biểu đạt của mỗi từ Do đó muốn đạt được hiệu quả giao tiếp, khi nói cũng như khi viết, phải dùng từ cho đúng ý nghĩa của từ

Một trong những lỗi từ vựng thường gặp trong cách diễn đạt của học sinh đó

là lỗi về nghĩa từ vựng Một trong những lỗi về nghĩa từ vựng thường gặp trong cách diễn đạt của các em là:

Từ được dùng phải biểu hiện được chính xác nội dung cần thể hiện, nghĩa là

ý nghĩa của từ phải phù hợp với nội dung cần thể hiện Thế nhưng, trong cách diễn đạt của học sinh hiện nay vẫn có một số trường hợp không đạt được sự phù hợp này Ví dụ:

Hoạt động y tế cơ sở là một hoạt động thầm kín

“Thầm kín” là trạng thái yên lặng và kín đáo, không để lộ điều bí mật Với nghĩa này, nó không phù hợp với nội dung định thể hiện trong câu trên, bởi vì hoạt

Trang 17

động y tế cơ sở có phần lặng lẽ, không ồn ào, sôi động nhưng không có gì phải giữ kín Chính xác hơn, trong câu trên cần dùng từ “ thầm lặng”

Nghĩa của từ bao gồm cả thành phần nghĩa sự vật, cả thành phần nghĩa biểu thái (biểu hiện thái độ, tình cảm, cảm xúc của con người) Chẳng hạn: các từ biếu, tặng, dâng, hiến, thí, bố thí, cho…đều có nghĩa sự vật là “chuyển các vật thuộc sở hữu của mình để người khác dùng mà không cần trả lại hoặc đổi bằng vật khác”, nhưng mỗi từ lại có sắc thái biểu cảm khác nhau Vì vậy, một yêu cầu đặt ra khi dùng từ là dùng từ vừa đúng về nghĩa sự vật, vừa đúng về nghĩa biểu thái, biểu cảm Thế nhưng thực tế cho thấy có những trường hợp sử dụng từ không đúng về nghĩa

để cho sự việc tiếp tục diễn biến theo chiều xấu)

Cũng có một số trường hợp sử dụng từ không đúng nghĩa biểu thái Ví dụ:

“Người chiến sĩ ấy ngoan cường, dũng cảm như con cà cuống chết đến đít vẫn còn cay”

- Nghĩa của từ bao gồm cả nghĩa đen và nghĩa bóng (nghĩa gốc và nghĩa chuyển đổi, nghĩa phái sinh) Mỗi từ, ngoài nghĩa đen, nghĩa gốc còn có thể có nhiều nghĩa chuyển đổi, nghĩa phái sinh, tạo nên hiện tượng nhiều nghĩa Các nghĩa này phát triển từ nghĩa gốc và có quan hệ với nhau trên cơ sở duy trì một nét nghĩa giống nhau nào đó Chúng tạo thành một hệ thống nghĩa của từ Vì thế, khi muốn dùng một từ theo cách chuyển đổi ý nghĩa, cần phải dựa vào nghĩa đen, nghĩa gốc của từ, giữ được mối liên hệ với nghĩa gốc Trong một số trường hợp, do người viết dùng từ theo cách chuyển đổi ý nghĩa nhưng lại không dựa vào nghĩa đen, nghĩa

Trang 18

gốc của từ không giữ được mối liên hệ với nghĩa gốc nên việc dùng từ đã bị mắc lỗi Ví dụ:

“Tôi cảm thấy sau bộ ngực nở căng ấy một cái gì mạnh mẽ đang quẫy lộn bừng bừng”

Riêng yếu tố cấu tạo Hán Việt thường dễ bị hiểu sai nghĩa hơn cả Ví dụ:

“Đơn thương độc mã” (miêu tả một người đơn độc cầm thương cưỡi ngựa vào chỗ nguy hiểm) thì lại bị đổi thành “đơn phương độc mã”; “độc nhất vô nhị” (nghĩa là chỉ có một cái duy nhất không có cái thứ hai) thì bị đổi thành “độc nhất vô vị” …

Không hiểu rõ yếu tố Hán Việt mà lạm dụng nó để tạo từ cũng gây ra những lỗi từ vựng Ví dụ: tạo ra từ “hành chém” (“Huấn Cao đang ở trong tù chờ ngày hành chém”) trong lúc Tiếng Việt đã có những từ “xử chém”, “hành quyết”, “xử

trảm”

1.1.2 Lí thuyết về câu và lỗi đặt câu

1.1.2.1 Lí thuyết về cú pháp học tiếng Việt

a Cú pháp học là gì?

Cú pháp học nghiên cứu những quy tắc kết hợp từ, nhóm từ thành các kết cấu biểu đạt nghĩa trong các câu ở ngôn ngữ tự nhiên Có hai hệ thống cú pháp chính là VO (động từ - tân ngữ) và OV (tân ngữ - động từ) Trong các hệ thống này lại có các tiểu hệ thống liên quan đến vị trí của chủ ngữ Tiếng Việt thuộc loại SVO Thuật ngữ “cú pháp” còn được sử dụng trong lôgic học và các ngành ngôn ngữ nhân tạo như ngôn ngữ máy tính

b Các quan niệm về câu tiếng Việt

Từ trước đến nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về câu Tiếng Việt như quan niệm của Diệp Quang Ban, Cao Xuân Hạo, Hoàng Trọng Phiến … Trong các quan điểm đó, theo chúng tôi thì quan điểm của Giáo sư Hoàng Trọng Phiến là phù hợp nhất Bởi cách định nghĩa và phân loại của Giáo sư đáp ứng được các tiêu chí

về cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng

Tác giả Hoàng Trọng Phiến quan niệm về câu tiếng Việt như sau: “Câu là đơn vị của ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và có ngữ điệu kết thúc, mang một tư tưởng tương đối trọn vẹn có kèm thái độ của người nói

Trang 19

hoặc chỉ biểu thị thái độ của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm với tư cách là đơn vị thông báo nhỏ nhất” (Mai ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến, “ Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt” – Nxb Giáo dục, 2005)

Phân loại

Phân loại theo mục đích nói:

- Câu tường thuật

Phân loại theo cấu tạo: Câu đơn, câu ghép

c Cấu trúc câu tiếng Việt

Cấu trúc câu Tiếng Việt - nòng cốt câu về mặt cấu trúc hạt nhân của câu thường là một kết cấu chủ - vị, là trung tâm thông báo của câu Phân loại câu theo cấu trúc ngữ pháp gồm có các kiểu câu: câu đơn, câu phức, câu ghép, câu ghép chuỗi Ở bất kì loại câu gì thì câu cũng phải có thành phần nòng cốt câu là bộ khung ngữ pháp của câu đảm bảo cho câu độc lập về nội dung và hoàn chỉnh về cấu trúc Cấu tạo ngữ pháp của nòng cốt câu phải đảm bảo đủ hai thành phần chủ ngữ và vị ngữ Thiếu một trong hai thành phần ấy câu sẽ trở thành câu cụt câu què (trừ câu tỉnh lược và câu đặc biệt) Ngoài thành phần chính là nòng cốt câu, cấu trúc câu Tiếng Việt còn có các thành phần phụ (trạng ngữ, đề ngữ) và thành phần biệt lập (thành phần tình thái, thành phần cảm thán, thành phần gọi đáp, thành phần phụ chú

và thành phần chuyển tiếp) bổ sung ý nghĩa cho câu

Các thành phần cấu tạo nên câu phải nhất quán với nhau về ngữ nghĩa đảm bảo nội dung thông báo của câu

d Dấu câu

Trang 20

Dấu câu là một trong những phương tiện ngữ pháp (thay cho ngữ điệu khi nói) Nó có tác dụng rõ trên mặt chữ viết một cấu tạo ngữ pháp bằng cách chỉ ranh giới giữa các câu, giữa các thành phần trong câu đơn, giữa các vế của câu ghép, giữa các yếu tố của ngữ và của liên hợp Tri thức về dấu câu giúp học sinh xác lập giới hạn câu và kiến tạo cấu trúc của câu trong văn bản của mình Ngoài ra, nó còn thể hiện ngữ liệu lên câu văn, câu thơ Cho nên, có trường hợp nó không phải chỉ là một phương tiện ngữ pháp mà còn là phương tiện để biểu thị những sắc thái tế nhị

về nghĩa của câu, về tư tưởng, về cả tình cảm, thái độ của người viết

Dấu câu dùng thích hợp thì bài viết được người đọc hiểu rõ hơn, nhanh hơn Không dùng dấu câu có thể gây ra hiểu lầm Có trường hợp vì dùng sai dấu câu mà thành ra sai ngữ pháp, sai nghĩa Chính vì vậy, quy tắc về dấu câu cần được vận dụng một cách nghiêm túc

Tiếng Việt có mười loại dấu câu có nhiệm vụ đánh dấu các bộ phận của câu, đánh dấu giới hạn câu hoặc xác định loại câu theo mục đích nói Các loại dấu câu

đó là: Dấu chấm (.), dấu chấm hỏi (?), dấu chấm than (!), dấu lửng (…), dấu phẩy (,), dấu chấm phẩy (;), dấu hai chấm (:), dấu ngang (-), dấu ngoặc đơn (( )) và dấu ngoặc kép (“”) Dấu chấm dùng để kết thúc câu trần thuật (câu kể) Dấu phẩy được dùng để chỉ ranh giới bộ phận nòng cốt với thành phần ngoài nòng cốt (thành phần than gọi, chuyển tiếp, chú thích, tình huống, khởi ý) của câu đơn và câu ghép Ngoài

ra nó còn được dùng để chỉ ranh giới giữa các yếu tố trong liên hợp, nhất là liên hợp qua lại Nó cũng được dùng để chỉ ranh giới giữa các vế trong câu ghép (song song hay qua lại) Trong một số trường hợp nó có thể dùng để chỉ ranh giới giữa phần đề

và phần thuyết trong những trường hợp sau: khi phần đề làm thành một đoạn khá dài, khi lược bớt động từ “là” trong câu luận, khi phần thuyết được đặt trước phần

đề Dấu phẩy còn dùng vì lẽ nhịp điệu trong câu, nhất là khi nhịp điệu có tác dụng biểu cảm Dấu chấm phẩy thường dùng để chỉ ranh giới giữa các vế trong câu ghép song song, nhất là khi giữa các vế có sự đối xứng về nghĩa, về cả hình thức Dấu chấm phẩy cũng có thể dùng để chỉ ranh giới giữa các yếu tố trong một liên hợp song song bao gồm những ngữ

Trang 21

Dấu chấm hỏi dùng trong câu nghi vấn, ngoài ra còn được bỏ trong ngoặc đơn trong một số trường hợp để biểu thị các ý nghĩa sắc thái khác nhau (nghi ngờ, hoài nghi, mỉa mai…) Dấu chấm than được đặt cuối câu cảm thán, câu cầu khiến, khuyên răn, mệnh lệnh Dấu chấm than được đặt cuối câu khi người viết không muốn nói hết ý mình hoặc đặt cuối đoạn liệt kê khi người viết không muốn liệt kê hết các sự vật, hiện tượng…trong một chủ đề, đặt sau từ, ngữ biểu thị khi lời nói đứt quãng, đặt sau từ tượng thanh để biểu thị sự kéo dài âm thanh, đặt sau từ ngữ biểu thị sự châm biếm hài hước Trong một số trường hợp nó được đặt trong dấu ngoặc đơn (!) để biểu thị thái độ mỉa mai, hay dùng kết hợp với dấu hỏi rồi đặt trong dấu ngoặc đơn (!?) để biểu thị thái độ vừa mỉa mai, vừa hoài nghi

Dấu hai chấm dùng để liệt kê thành phần vị ngữ của câu đơn có động từ “là” hoặc trong thành phần vị ngữ có sự liệt kê ở sau các từ: “sau đây”, “như sau”,

“để”…hoặc đánh dấu phần giải thích, thuyết minh cho phần trước đó hoặc đánh dấu lời dẫn trực tiếp Dấu gạch ngang chỉ ranh giới của thành phần chú thích hoặc được đặt trước những lời đối thoại, thành phần liệt kê hoặc dùng trong trường hợp phiên

âm tiếng nước ngoài Dấu ngoặc đơn dùng để ngăn cách phần chú thích với từ ngữ trong thành phần chính của câu Dấu ngoặc kép dùng để chỉ ranh giới của một lời nói được thuật lại trực tiếp hoặc đánh dấu những từ ngữ được dùng với ý nghĩa đặc biệt khác với thông thường Dấu chấm lửng dùng ở cuối câu (hay giữa câu hay có khi ở đầu câu) để biểu thị rằng người viết đã không diễn đạt hết Nó còn được dùng

để biểu thị những lời nói bị đứt quãng vì xúc động hay vì lí do khác Trong một số trường hợp nó cũng được dùng để biểu thị một chỗ ngắt đoạn dài giọng với ý châm biếm, hài hước, để ghi lại một chỗ kéo dài của âm thanh khi đọc Hiện nay có cách dùng dấu lửng trong ngoặc đơn (…) để chỉ người trích dẫn có lược bớt câu văn trích dẫn

Việc đánh dấu câu tác động trực tiếp đến sự hình thành cấu trúc ngữ và cấu trúc câu Nếu dùng dấu câu không chuẩn xác hoặc dùng dấu câu không phù hợp sẽ làm cho nội dung câu mơ hồ và có thể dẫn tới sai ngữ pháp, sai ngữ nghĩa

1.1.2.2 Những lỗi cú pháp thường gặp trong cách diễn đạt của học sinh

Trang 22

Trong cách diễn đạt của học sinh có rất nhiều lỗi cú pháp Các lỗi cú pháp thường gặp trong cách diễn đạt của các em là: Lỗi kết hợp từ với bốn dạng chủ yếu: Kết hợp sai nghĩa ngữ pháp, kết hợp sai nghĩa từ vựng, kết hợp thiếu hụt từ, kết hợp lặp từ, thừa từ, không đúng quan hệ kết hợp của các từ Lỗi lôgic câu gồm lỗi lôgic hình thức và lỗi lôgic hàm ngôn Lỗi về cấu trúc câu gồm: câu chập cấu trúc cú pháp, câu sai cấu tạo ngữ pháp (thiếu thành phần nòng cốt của câu, không phân định

rõ các thành phần, sắp xếp sai trật tự các thành phần Lỗi về dấu câu gồm ba lỗi cơ bản là: lỗi về dấu tách các bộ phận của câu, lỗi về ngắt câu và lỗi dùng sai dấu trong câu

1.2 Cơ sở xã hội của vấn đề

1.2.1 Dư luận về thực trạng diễn đạt của học sinh THCS

Thực trạng diễn đạt của học sinh THCS là một trong những vấn đề đang

được dư luận hết sức quan tâm Việc học sinh THCS dùng từ sai, đặt câu sai hàng loạt trong bài làm của mình đang trở thành một vấn đề gây sự chú ý của dư luận xã hội Để hiểu rõ hơn về điều này sau đây chúng tôi xin đưa ra một vài ý kiến về thực trạng diễn đạt của học sinh THCS hiện nay

Nguyễn Thị Ánh Tuyết giáo viên dạy môn văn trường THCS Lam Hồng – Xuân Lam – Nghi Xuân – Hà Tĩnh cho biết: Trong bài làm của các em thì lỗi chính

tả là loại phổ biến nhất Các em viết sai thanh điệu, sai âm đầu, sai vần, sai âm cuối Ngoài ra hiện tượng các em dùng từ sai nghĩa cũng khá nhiều Còn về câu thì lỗi mà các em mắc nhiều nhất là lỗi không ngắt câu Có nhiều bài từ đầu đến cuối các em không hề sử dụng một dấu chấm ngắt câu nào Bên cạnh lỗi ngắt câu thì còn có lỗi đặt câu không đủ thành phần chính chủ ngữ, vị ngữ, lỗi sử dụng sai dấu câu chấm thành phẩy, phẩy thành chấm …

Nguyễn Thị Hà, sinh viên trường đại học sư phạm Đà Nẵng cũng cho biết: qua quá trình đi dạy kèm mình nhận thấy học sinh THCS viết văn rất kém Các em viết sai chính tả rất nhiều, câu văn diễn đạt lủng củng Tình trạng viết câu thiếu chủ ngữ, vị ngữ rất nhiều trong bài làm của các em Nhiều bài văn đề cho một đàng nhưng các em lại viết một nẻo Có một số bài mình đọc vào nhưng chẳng hiểu các

Trang 23

em đang viết gì Có một số bài viết của các em có ý nhưng đọc vào mình không biết ngắt chỗ nào vì trong bài không hề có một dấu ngắt câu

Như vậy có thể thấy rằng việc dùng từ, đặt câu sai trong cách diễn đạt không chỉ xảy ra ở học sinh THCS Hà Tĩnh mà nó phổ biến trên địa bàn cả nước Chính điều này đã tạo nên một luồng dư luận khá mạnh mẽ Đã đến lúc ngành giáo dục cũng như những người có trách nhiệm tâm huyết với Tiếng Việt nhập cuộc đi sâu tìm hiểu thực trạng này để hiểu rõ nguyên nhân và từ đó đưa ra giải pháp thiết thực

để khắc phục, cải thiện

1.2.2 Từ địa phương Hà Tĩnh và từ toàn dân

Đất nước Việt Nam được chia thành nhiều vùng miền khác nhau mà cụ thể là bao gồm ba vùng miền: miền Bắc, miền Trung và miền Nam Mỗi vùng miền trên lãnh thổ nước ta bên cạnh cái chung, cái thống nhất vẫn còn tồn tại rất nhiều những nét văn hóa khác nhau Nằm trên dải đất miền trung, do chịu ảnh hưởng của tính chất vùng miền trong văn hóa giao tiếp (nói và viết) nên người Hà Tĩnh phát âm theo thổ ngữ địa phương do đó có nhiều điểm khác biệt nhất định với chuẩn quốc ngữ Tiếng Việt Cụ thể:

Trong phát âm, phương ngữ Nghệ Tĩnh (PNNT) còn lưu giữ nhiều nét ngữ

âm rất cổ của tiếng Việt thế kỉ XV- XVII Một số thổ ngữ Hà Tĩnh như Đức An, Đức Lập (Đức Thọ), Cương Gián (Nghi Xuân) còn tồn tại thấp thoáng các âm đầu tiền thanh hầu hóa [?b, ?d] của tiếng Việt cổ Những dấu vết về tổ hợp phụ âm như [tl], cách cấu âm tắc, hữu thanh/ vô thanh ngạc hóa mạnh [dj], [bj], [cj] vốn có trong tiếng Việt thế kỉ XVII vẫn tồn tại trong nhiều thổ ngữ Hà Tĩnh Trong cách phát âm của PNNT, [dj] tương ứng với [z] (d), [bj] tương ứng với [v], [cj] tương ứng với [z] (gi) trong Tiếng Việt văn hóa (TVVH) Miêu tả một cách phát âm cụ thể, chẳng hạn, âm [z] (d) trong TVVH được người Nghệ Tĩnh phát âm [dj] Cách phát âm này lưu giữ dấu vết của tiếng Việt trung đại mà A.de Rhoder ghi lại trong Từ điển Việt -Bồ- La: dea (da), deải (dải), deạy (dạy), dẹam (dạm)… Các tác giả Nguyễn Tài Cẩn (1995), M.Ferlus (1985), Vương Lộc (1995) đều thừa nhận (de) là biến thể của (d)

và đã miêu tả như một âm tắc đầu lưỡi Trong những nghiên cứu gần đây, Nguyễn Văn Lợi (2005) cho đó là phụ âm tắc, hữu thanh thở, tác giả ghi bằng kí hiệu [dh],

Trang 24

còn Đoàn Văn Phúc (2005) lại khẳng định đây là cách phát âm tắc, đầu lưỡi tiền thanh hầu hóa, ghi bằng kí hiệu /d/ Thế nhưng, quan sát cách phát âm của người Nghệ Tĩnh (đặc biệt ở những người già) chúng ta nhận thấy có hiện tượng thanh môn mở, đầu lưỡi đưa lên lợi tiếp ngạc tạo cảm giác lưỡi căng do bị kéo lùi về phía sau, luồng hơi đi qua thanh môn làm dây thanh rung mạnh Đây là cách cấu âm của một phụ âm tắc, hữu thanh, ngạc hóa mạnh; vị trí cấu âm đầu lưỡi - lợi tiếp ngạc [dj]

Hệ thống vần PNNT cũng mang đặc trưng của vùng PNT Khác với PNB, PNNT có sự phân biệt các vần ɯw(ưu)/ iw(iu), ɯɤw(ươu)/ iew( iêu), tận dụng tối

đa các vần ɯn(ưn)/ ɯt(ưt), bảo lưu một lối tiếp hợp lỏng giữa đỉnh vần và kết vần như e:η(êêng)/ e:k(êêk), ɛ:η(eng)/ ɛ:k(ec), u:η(uung)/ u:k(uuc), o:η(ôông)/ o:k(ôôc), ɔ:η(oong)/ ɔ:k(ooc) và cả ɤ:η(ơng)/ ɤ:k(ơc), i:η(ing)/ i:k(ic)

Hệ thống thanh điệu Nghệ Tĩnh là yếu tố có vai trò hết sức quan trọng làm nên đặc trưng giọng Nghệ Tĩnh Đặc trưng nổi bật là phương ngữ Nghệ Tĩnh chỉ có

5 thanh, trong đó thanh ngã và thanh nặng tương ứng với thanh nặng Qua phân tích ngữ âm và xác lập hệ thanh Nghệ Tĩnh có thể thấy rằng hệ thanh điệu Nghệ Tĩnh mang màu sắc tiêu biểu cho vùng phương ngữ Trung (PNT) Các thanh điệu được thể hiện trong vùng âm vực hẹp nên không có dấu hiệu khu biệt rõ ràng Đường nét các thanh quá nghèo nàn và có xu hướng hỗn nhập các thanh như ngã với nặng, hỏi với nặng, sắc với hỏi và có sự nhầm lẫn giữa thanh ngã và thanh hỏi…Chính điều này thể hiện một tình trạng rối loạn trong hệ thống thanh điệu Phải chăng, lối cấu

âm của người Nghệ Tĩnh không tận dụng các khoang cộng hưởng vùng miệng như người miền Bắc (toàn thân lưỡi nghiêng về phía trước) làm hẹp phần thoát của khoang hầu (do toàn thân lưỡi dồn về phía sau) nên đã hạn chế sự thể hiện các đặc trưng điệu tính có ở các nét ngữ âm của hệ thống thanh điệu trở lên là những nét đặc trưng của sắc thái ngữ âm tạo nên sự khác biệt giữa PNNT với TVVH và các phương ngữ khác, khẳng định PNNT là trung tâm của vùng PNT, lưu giữ được nhiều dấu vết khá xa xưa của tiếng Việt, nhờ nó mà tính chất cổ của vùng PNT

Trang 25

được khẳng định Bởi vậy, PNNT có một vị trí nhất định trong phản ánh không gian của tiến trình phát triển theo thời gian của tiếng Việt, là một chứng tích trong việc nghiên cứu lịch sử ngữ âm tiếng Việt

Hà Tĩnh có một hệ thống từ địa phương rất đa dạng, phong phú mang đặc trưng riêng của văn hóa Hà Tĩnh Ngôn ngữ nào, kể cả những ngôn ngữ địa phương

có ít nhiều dị biệt so với ngôn ngữ chính thống được sử dụng trong một quốc gia cũng đều có cái văn hóa riêng của nó Ngôn ngữ địa phương Hà Tĩnh nói riêng và tiếng miền trung của các tỉnh khu 4 cũ (Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế) nói chung cũng vậy Thế nhưng người Hà Tĩnh khi mới ra bắc vào nam lập nghiệp hay học hành đều cảm thấy ngượng ngùng, xấu

hổ, mất tự tin và vô cùng lúng túng trong giao tiếp bởi cái tiếng Hà Tĩnh nghe khá buồn cười của mình làm cho người đối thoại không thể hiểu

Có thể nói rằng, phương ngữ Hà Tĩnh về mặt cấu trúc, phân chia nhánh ngành, lang lớp, khái niệm bao quát và khái niệm chi tiết v.v nhiều khi còn khoa học hơn

cả ngôn ngữ phổ thông mà ta đang sử dụng Xin lấy một ví dụ Nếu nói “khoai” theo tiếng phổ thông thì người ngoài Bắc chỉ hiểu là khoai lang hoặc khoai tây mà thôi Còn các loại củ ăn được thì kèm luôn tên gọi là “củ từ”, “củ mỡ”, “củ dong riềng”, “củ mài”, Còn tiếng Hà Tĩnh thì phân chia rõ ràng hơn Cây gì có rễ phình to thì cái rễ đó được gọi là “cổ” “Cổ” gì ăn được thì “cổ” đó được gọi là khoai Rồi mới đến tên riêng và thành ra “cổ khoai từ”, “cổ khoai vạc” (củ mỡ), “cổ khoai đao” (củ dong riềng), “cổ khoai mài” (củ mài) Như vậy là “cổ” trở thành khái niệm chung, hay nói cách khác thành một loại quán từ ngang hàng với “con”

“cái” làm cho ngôn ngữ phong phú hơn, chính xác hơn, rõ nghĩa hơn Cũng chính

vì thế nên người Hà Tĩnh ít ai gọi “cổ lạc” (củ lạc) mà thường gọi là “trấy lạc” (trái lạc, quả lạc) Tương tự là từ “ló” (lúa) để rồi có ló kê, ló ré (lúa tẻ), ló nếp, ló ngô (ngô) hay “bù” để rồi phân biệt bù ta (bầu), bù rợ (bí đỏ)

Ngoài ra phương ngữ Hà Tĩnh cũng có một hệ thống tên gọi các loại nông cụ, công cụ, các đồ dùng thường ngày… rất phong phú và ít vay mượn các từ Hán - Việt hơn so với ngôn ngữ phổ thông Các dụng cụ đan bằng tre nứa để đựng đồ vật

là một ví dụ Để chỉ đồ tre nứa đan thưa dùng để đựng các loại rau, củ, quả thì tiếng

Trang 26

phổ thông chỉ có vài danh từ là “giành”, “rổ”, trong khi phương ngữ Hà Tĩnh nói riêng và của đất Việt Thường nói chung có rất nhiều danh từ để chỉ chúng tùy thuộc vào hình dáng, kích cỡ, sức chứa, mắt đan thưa hay mau, kiểu đan lồng mốt, lồng đôi hay lồng ba v.v như “giành”, “ky”, “đúa”, “sảo”, “cạo” “rổ” v.v Còn để chỉ các dụng cụ đan bằng tre nứa có mặt phẳng lớn hơn nhiều so với chiều cao của thành để chứa đựng thì tiếng phổ thông chỉ có “nong, nia” chung chung, còn phương ngữ Hà Tĩnh lại phân ra cụ thể hơn như “vựa” (được đan ken dày, đường kính lớn trên dưới

1 mét, thành cao vài ba chục phân dùng để đặt ngay dưới cối xay lúa để nhận sản phẩm lúa đã xay nhưng chưa được sàng sảy hoặc dùng để chứa thóc lúa khi chưa được phơi khô, quạt sạch nên chưa được cất giữ vào bồ), “nôống” (gồm nôống nậy

là cái nong lớn, nôống con có kích thước nhỏ hơn, nôống gấm dùng để sảy lúa, gạo, nôống sưa là cái nong được đan thưa dùng để phơi khoai, sắn cắt lát cho chóng khô), “ránh” cũng là nong đan thưa nhưng mắt lỗ bé hơn so với nôống sưa nhưng chỉ để dùng phơi cau đã bửa làm cau khô v.v Từ cổ “vựa” chỉ một đồ đựng bằng tre đan nói trên về sau đã được sử dụng để chỉ những nơi chốn, những vùng và cả những khu vực rộng lớn với sản phẩm đặc trưng như “vựa lúa đồng bằng sông Cửu Long”, “vựa trái cây miệt vườn Tiền Giang” v.v

(Theo Tạp chí Văn hóa Nghê ̣ An 31/05/2013)

Để làm rõ hơn về sự phong phú và đa dạng của tiếng địa phương Hà Tĩnh sau đây chúng tôi xin đưa ra một vài từ địa phương Hà Tĩnh và những từ phổ thông tương ứng

Từ địa phương Hà Tĩnh Từ phổ thông

Trang 27

Mui Môi

Trang 28

CHƯƠNG 2: CÁC LỖI DÙNG TỪ VÀ ĐẶT CÂU THƯỜNG GẶP TRONG

CÁC BÀI TẬP LÀM VĂN CỦA HỌC SINH THCS

Ở HÀ TĨNH HIỆN NAY 2.1 Khảo sát lỗi dùng từ của học sinh THCS Hà Tĩnh

2.1.1 Miêu tả lỗi dùng từ của học sinh THCS Hà Tĩnh

2.1.1.1 Về chính tả

a Viết sai từ

* Về sai phụ âm đầu

Viết sai phụ âm đầu là một trong những lỗi mà học sinh THCS ở Hà Tĩnh mắc khá nhiều Khảo sát 600 bài kiểm tra môn Ngữ văn của học sinh 5 trường THCS ở Hà Tĩnh có tới 317 lỗi phụ âm đầu Trong đó, học sinh thành phố có 91 lỗi/

200 bài chiếm tỉ lệ 14,50% tổng số lỗi chính tả Học sinh đồng bằng có 108 lỗi chiếm tỉ lệ 10,64% tổng số lỗi chính tả Học sinh miền núi mắc 118 lỗi chiếm tỉ lệ 11,1% tổng số lỗi chính tả Phụ âm đầu thường bị lỗi là d, gi, g, gh, ngh, ng, tr, ch, t,

s, x Ví dụ:

(1) Sông ơi! Sông hãy luôn là người bạn chi kỉ của chúng tôi nhé

(Lê Văn Lịch, THCS Khánh Vĩnh)

(2) Thỉnh thoảng, cây bàng cũng xầm xì trò chuyện cùng bạn

(Đào Thị Kim Chi, THCS Nguyễn Du)

(3) Đi bắt những kẻ bắt cóc là rất khó vì nếu manh động nó sẽ diết con tim

thế thì không phá được vụ án còn mất cả một mạng người

(Nguyễn Văn Thông, THCS Trung Lương)

(4) Em là một ngừi học sinh nên em xẽ bảo vệ những điều đó, không chỉ riêng em mà còn có những học xinh khác trên nước Việt Nam xẽ bảo vệ những lời

bác Hồ đã dạy thiếu niên và thiếu nhi Việt Nam

(Hà Nhi Tiến, THCS Lam Hồng)

Dưới đây là một số từ mắc lỗi phụ âm đầu thường xuyên của học sinh THCS

Hà Tĩnh

Học sinh thành phố Học sinh đồng bằng Học sinh miền núi

Trang 29

Từ mắc lỗi Sửa lỗi Từ mắc lỗi Sửa lỗi Từ mắc lỗi Sửa lỗi

Đi xa Trở lại Chán ghét Khinh biệt Dòng nước Dưới đất Giả dối Dòng suối Đượm buồn Đẹp đẽ

Ngúng em Xầm xì Kinh bỉ Giang tay

Sa sơ

Xa sôi

Dỗ cha Chữ tình

Di chơi Dận dữ Rèm pha Dầm đìa

Rò cười Nghủ

Chúng em Thầm thì Khinh bỉ Dang tay

Sa cơ

Xa xôi Giỗ cha Trữ tình

Đi chơi Giận dữ Dèm pha Đầm đìa Trò cười Ngủ

Giân dan Quốn sách

Xa sôi Căm gét Giường như Suất phát Diết chết Giột nát Ghánh vác Kéo ko Tầng đưới Nge

Bạn mam Xiêng năng

Dân gian Cuốn sách

Xa xôi Căm ghét Dường như Xuất phát Giết chết Dột nát Gánh vác Kéo co Tầng dưới Nghe Bạn nam Siêng năng

Ví dụ:

(5) Bố là người rất tốt tính tính rất hiềm

(Kiều Đình Toàn, THCS Trung Lương)

Trang 30

(6) Ở dưới gốc cây bàn là các bạn nữ đang nhảy dây chiếc dây quật lên quật

xuống kêu tẹt tẹt

(Đinh Thế An, THCS Lam Hồng)

(7) Em và các bạn giờ ra chơi thường ra đó ngồi xúm lại trò chuyện chơi

xum quanh cây bàng

(Nguyễn Mạnh Cường, THCS Nguyễn Du)

Dưới đây là bảng thống kê một số từ mắc lỗi phụ âm cuối thường xuyên của

học sinh THCS Hà Tĩnh

Học sinh thành phố Học sinh đồng bằng Học sinh miền núi

Từ mắc lỗi Sửa lỗi Từ mắc lỗi Sửa lỗi Từ mắc lỗi Sửa lỗi

So sánh Làn da Trường giang Sau này

Đùng bọc Lãng mạng Than lam Căn ghét Khing bỉ Đần sen Sáng sớn Chát ghét Vườm cây Xen chữ Tham thở Lũng cũn Biếc bao Sai sưa

Đùm bọc Lãng mạn Tham lam Căm ghét Khinh bỉ Đầm sen Sáng sớm Chán ghét Vườn cây Xem chữ Than thở Lũng cũng Biết bao Say sưa

Bán chặt Cây bàn Nhận xép Nhình Ngai ngắn Làm lụn Chú chin Sín lễ Đếm trước Xoai chuyển Lun lay Xóc xa Sán sớm Đau đớm

Bám chặt Cây bàng Nhận xét Nhìn Ngay ngắn Làm lụng Chú chim Sính lễ Đến trước Xoay chuyển Lung lay Xót xa Sáng sớm Đau đớn

- Âm đệm, âm chính

Về âm đệm và âm chính Học sinh thành phố mắc 74 lỗi/ 200 bài chiếm tỉ lệ

11,78 % tổng số lỗi chính tả Học sinh đồng bằng mắc 144 lỗi/ 200 bài chiếm tỉ lệ

Trang 31

14,19 % tổng số lỗi chính tả Học sinh miền núi mắc 172 lỗi/ 200 bài chiếm tỉ lệ 16,18 % tổng số lỗi chính tả Ví dụ:

(8) Bài thơ nổi tiếng Bài quê hương của tế Hanh được ông trền đạt lại toàn

Bộ nỗi nhớ quê hương gia giết của ông

(Nguyễn Văn Đức, THCS Trung Lương)

(9) Cây bàng rất nặng nên bốn người khẻo mơi vác được và thân cây hai người mới ôm vừa

(Trịnh Thị Huyền Trang, THCS Nam Hà)

(10) Trên những cây bàng, cây phựng, … những giọt sương trắng xóa đọng lại trên những lá cây

(Nguyễn Thị Hương Giang, THCS Lam Hồng)

Dưới đây là bảng thống kê một số từ mắc lỗi âm đệm và âm chính thường xuyên của học sinh Hà Tĩnh

Học sinh thành phố Học sinh đồng bằng Học sinh miền núi

Từ mắc lỗi Sửa lỗi Từ mắc lỗi Sửa lỗi Từ mắc lỗi Sửa lỗi

Ăn quan Màu nâu

Bé xíu Mơn mởn Phía dưới Mùa đông Tạo thành

Tô điểm Buồn thiu

Gậm nhấm Quyên Khới Cam hờn Chớn Khỏe khoán

Bị nhất Khoáng đăng Đồm sen Biểu chiều Dùng lại Mật màu Con mưa Ngoi làng

Gặm nhấm Quên Khối Căm hờn Chốn Khỏe khoắn

Bị nhốt Khoáng đãng Đầm sen Buổi chiều Dừng lại Một màu Cơn mưa Ngôi làng

Riệu chè Chuện riêng Vùa qua Nhà của Bùa bãi Quyên ơn Lồi nói Ngừi Văng theo Phép thụt Thù sau Dang nước Lun lun Cây phựng

Rượu chè Chuyện riêng Vừa qua Nhà cửa Bừa bãi Quên ơn Lời nói Người Vâng theo Phép thuật Thù sâu Dâng nước Luôn luôn Cây phượng

Trang 32

Hom ấy Hôm ấy Giả dói Giả dối Hang say Hăng say

b Về sai thanh điệu

Như trên đã trình bày, tiếng Việt có 6 thanh điệu nhưng phương ngữ Hà Tĩnh chỉ có 5 thanh, trong đó thanh ngã và thanh nặng tương ứng với thanh nặng trong hệ thống thanh điệu tiếng Việt Chính vì vậy viết sai thanh điệu là một loại lỗi gặp khá nhiều trong các bài tập làm văn của các em học sinh Tuy nhiên mức độ mắc lỗi có

sự khác biệt khá lớn giữa học sinh thành phố, đồng bằng và miền núi Học sinh miền núi mắc 321 lỗi /200 bài chiếm tỉ lệ 30,2% tổng số lỗi chính tả Học sinh đồng bằng mắc 281 lỗi/ 200 bài chiếm tỉ lệ 27,69% tổng số lỗi chính tả Còn học sinh thành phố mắc 116 lỗi/ 200 bài chiếm tỉ lệ 18,47% tổng số lỗi chính tả

Phần lớn học sinh THCS Hà Tĩnh viết sai thanh điệu là do các em không phân biệt được thanh ngã và thanh nặng Cũng có rất nhiều trường hợp các em không phân biệt được thanh hỏi và thanh ngã nên việc nhầm lẫn giữa hai thanh này trong bài làm là điều không thể tránh khỏi Ngoài ra một số em còn viết sai thanh sắc và thanh nặng Một số em còn viết từ không dấu Cụ thể:

(11) Thật vậy, bài thơ “Nhớ rừng” của thế lữ đã diễn tả được nội lòng chán ghét tù túng của những câu thơ đầu

(Nguyễn Đình Qúy, THCS Khánh Vĩnh)

(12) Em rất yêu cây bàng trường em Em hứa sẻ chăm sóc cây bàng để nó mãi mãi xanh tươi

(Nguyễn Thanh Bình, 6D THCS Nguyễn Du)

(13) Hùng Vương thứ 18 có một người con gái tên là Mĩ Nương

(Đinh Thanh Tuấn, THCS Lam Hồng)

c Về sai các quy tắc khác

Không chỉ có những lỗi chính tả như vừa phân tích ở trên Khảo sát các bài tập làm văn của các em, chúng tôi còn phát hiện ra các em còn mắc rất nhiều lỗi

Trang 33

chính tả khác Cụ thể là trong bài làm văn của mình, các em viết hoa chưa đúng quy định Hiện tượng viết số, viết tắt trong bài còn khá nhiều

có những chỗ không cần viết hoa các em lại viết hoa Ví dụ:

Không viết hoa danh từ riêng:

(14 )Trong đoạn thơ tác giả đã dùng phép so sánh và sử dụng từ láy ở gần cuối đoạn thơ, bài thơ này đã nói lên sức mạnh của người dân việt nam luôn mạnh

mẽ vượt qua mọi khó khăn

(Nguyễn Ngọc Đông, THCS Trung Lương) Không viết hoa sau dấu chấm:

(15) Chúng em thường hái những hạt sen về nấu chè khi ăn chè rất thơm mùi sen và rất tốt cho sức khỏe còn bông sen thì để khi pha rất thơm và ngon

(Nguyễn Hữu Minh, THCS Khánh Vĩnh) Đầu đoạn không viết hoa:

(16) ngày xưa ngày xưa có 2 người tài giỏi 1 người ở vùng núi cao còn 1 người ở biển nước sâu thẳm…

(Phạm Long Vũ, THCS Lam Hồng) Viết hoa sau dấu phẩy:

(17) Và sau đó, Thầy hiệu trưởng lên thông báo lịch của tuần mới này

(Nguyễn Thị Trà Giang, THCS Lam Hồng) Viết hoa những từ không cần viết hoa:

Trang 34

(18) Bầu trời trong xanh gió mát những đám mây trắng trôi trên bầu trời, mặt trời chiếu những tia nắng vàng Khắp sân trường

(Đinh Thế An, THCS Lam Hồng)

Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hiện tượng này là do các em không nắm vững quy tắc viết hoa, không nắm vững những quy định về những từ được viết hoa Chính vì lí do đó nên các em không xác định được chỗ nào cần phải viết hoa, chỗ nào không Cũng có một số trường hợp do các em cẩu thả không cẩn thận trong cách trình bày nên dẫn đến thói quen viết hoa tùy tiện trong bài

* Viết tắt

Trong văn bản được phép viết tắt nhưng yêu cầu phải có ghi chú trước đó Viết tắt là loại lỗi chính tả không nhiều trong cách diễn đạt của các em Học sinh thành phố mắc 53 lỗi/ 200 bài chiếm tỉ lệ 8,44 % tổng số lỗi chính tả Học sinh đồng bằng mắc 41 lỗi/ 200 bài chiếm tỉ lệ 4,04 % tổng số lỗi chính tả Học sinh miền núi mắc 64 lỗi/ 200 bài chiếm tỉ lệ 6,02 % tổng số lỗi chính tả Dạng viết tắt chủ yếu của học sinh THCS Hà Tĩnh là viết tắt bằng chữ cái đầu tiên Có một số trường hợp các em viết tắt theo kiểu viết chữ đầu và chữ cuối của từ Ví dụ như từ “không” các

em viết tắt là “kg” Sau đây là một số ví dụ cụ thể:

(19) Nếu đó là mẹ thì thì đó là một hạnh phúc lớn nhưng nếu đó kg phải là

mẹ thì đó là một trò cười cho lũ bạn của cậu và rồi cậu đuổi theo quả nhiên đó chính

là mẹ

(Nguyễn Ngọc Tùng, THCS Trung Lương)

(20) Cảnh tàn tạ của ông đồ cũng đầy đượm buồn thời pt ông đồ đc người thuê viết rất nhiều nhưng nay ông đồ ra phố để viết nhưng chẳng có ai thuê viết và

cứ như thế ông chán nản và bỏ nghề câu đối, cảnh tàn tạ của ông đồ đc thể hiện qua các câu thơ sau:

(Nguyễn Quang Phi, THCS Khánh Vĩnh)

(21) Còn lớp em đang chơi đá cầu được các bạn đá lên xuống như ko bao giờ

rơi

(Đinh Thế An, THCS Lam Hồng)

* Viết số trong bài

Trang 35

Loại lỗi này bắt gặp khá nhiều trong cách diễn đạt của học sinh thành phố với 129 lỗi/ 200 bài chiếm tỉ lệ 20,54% tổng số lỗi chính tả Học sinh miền núi mắc

89 lỗi/ 200 bài chiếm tỉ lệ 8,37% tổng số lỗi chính tả Học sinh đồng bằng mắc 117 lỗi/ 200 bài chiếm tỉ lệ 11,52% tổng số lỗi chính tả

Ví dụ:

(22) Hãy nghĩ rằng 1 lần giúp đỡ người khác là 1 lần hạnh phúc vui vẻ đừng bao giờ nghĩ trái với điều kiện

(Bùi Huy Hòa, THCS Khánh Vĩnh)

(23) Đã 7 năm được đi học và dự 7 lần lễ khai giảng

(Nguyễn Thị Hà Trang, THCS Nguyễn Du)

( 24) Chim hót líu lo chào buổi sáng, sương dày đặc 1 lúc rồi tan hẳn đi

( Nguyễn Tiến Đạt, THCS Lam Hồng)

d Về viết sai âm thanh và hình thức cấu tạo từ

Từ là một đơn vị có nhiều bình diện, trong đó không thể thiếu mặt âm thanh

và hình thức cấu tạo Âm thanh và hình thức cấu tạo là mặt vật chất, là cái biểu đạt của từ Trong chữ viết của ta (chữ quốc ngữ), thứ chữ theo nguyên tắc ghi âm, âm thanh và hình thức cấu tạo của từ được ghi lại bằng các chữ cái Cho nên khi viết văn bản cần ghi lại đúng âm thanh và hình thức cấu tạo của từ được sử dụng Nếu không sẽ không biểu hiện được chính xác và không làm cho người đọc văn bản lĩnh hội được chính xác nội dung, ý nghĩa Và như thế, sự giao tiếp sẽ không đạt được hiệu quả mong muốn

Khảo sát các bài tập làm văn của học sinh chúng tôi nhận thấy đây là loại lỗi gặp ít nhất trong các lỗi chính tả của học sinh Học sinh thành phố mắc 7 lỗi/ 200 bài chiếm tỉ lệ 1,11% tổng số lỗi chính tả Học sinh miền núi mắc 17 lỗi/ 200 bài chiếm tỉ lệ 1,60% tổng số lỗi chính tả Học sinh đồng bằng mắc 9 lỗi/ 200 bài chiếm

tỉ lệ 0,89 % tổng số lỗi chính tả Sau đây là một số ví dụ cụ thể:

(25) Thực tại đáng buồn khiến họ càng diết da nhớ thuở còn tự do vùng vẫy

(Vương Thị Tú Oanh, THCS Khánh Vĩnh)

(26) Chà đạp lên người phụ nữ chân mềm tay yếu

(Đào Việt Anh, THCS Nguyễn Du)

Trang 36

Trong ví dụ (25) từ “da diết” đã bị viết sai cấu tạo thành “diết da” Theo Từ điển tiếng Việt “da diết” có nghĩa là nồng đậm hay là thấm thía [19, tr.343]

Trong ví dụ (26) “Chân yếu tay mềm” đã bị viết sai thành “chân mềm tay yếu”

2.1.1.2 Về sử dụng nghĩa của từ

Khảo sát 600 bài tập làm văn của học sinh THCS Hà Tĩnh thì có tới 766 lỗi này Hầu như bài làm văn nào của các em cũng mắc lỗi dùng từ sai nghĩa Lỗi dùng

từ sai nghĩa bao gồm dùng sai nghĩa biểu niệm, nghĩa biểu vật, sai nghĩa biểu thái

và chuyển nghĩa không tương hợp Học sinh đồng bằng có 318 từ mắc lỗi/ 200 bài chiếm tỉ lệ 41,51% tổng số lỗi Học sinh miền núi có 257 từ mắc lỗi/ 200 bài chiếm

tỉ lệ 33,55% tổng số lỗi Còn học sinh thành phố có 191 từ mắc lỗi/ 200 bài chiếm tỉ

lệ 24,93% tổng số lỗi

a Về sử dụng nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm

Sử dụng sai nghĩa biểu vật, biểu niệm là hiện tượng mà từ được dùng với nội dung cần biểu đạt không tương thích nhau Học sinh đồng bằng mắc 132 lỗi này chiếm tỉ lệ 41,50% tổng số lỗi về sử dụng nghĩa của từ Học sinh miền núi mắc 96 lỗi chiếm tỉ lệ 37,35% tổng số lỗi sử dụng nghĩa của từ Học sinh thành phố mắc 69 lỗi chiếm tỉ lệ 36,13% tổng số lỗi sử dụng nghĩa của từ

(27) Từ bài thơ đó tác giả đã biểu hiện được tâm trạng uất hận chán gét tù túng, và nhớ tiếc cuộc sống tự do trong quá khứ của con hổ

(Vương Thị Tú Oanh, THCS Khánh Vĩnh)

(28) “Em xin lỗi cô ạ, em không biết cô là một liệt sĩ”

(Quách Trọng Thái, THCS Nguyễn Du) Trong ví dụ (27) từ “biểu hiện” có nghĩa là bày tỏ ra ngoài [19, tr.110] Tức

là tự mình bày tỏ ra ngoài Trong trường hợp này sử dụng từ “biểu hiện” là không chính xác Cần phải thay từ này bằng từ “thể hiện” hoặc là từ “diễn tả” Ngoài ra câu trên còn mắc các lỗi: sai phụ âm đầu, lỗi dùng dấu tùy tiện tách sai các bộ phận của câu, lỗi không dùng dấu phẩy tách các bộ phận đồng chức và lỗi dùng sai quan

hệ từ dẫn đến câu không lôgic

Trang 37

Trong ví dụ (28) từ “liệt sĩ” có nghĩa là người có chí khí cao chịu hi sinh làm việc nghĩa [19, tr.855] Từ này thường được dùng để chỉ những người đã mất

Trong trường hợp này, người viết chỉ muốn nói cô giáo mình bị thương ở tay trong khi chiến đấu nên giờ viết chữ không đẹp Chính vì vậy, việc dùng từ “liệt sĩ” ở đây

là không đúng mà phải thay bằng từ “thương binh”

Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc sử dụng từ sai nghĩa biểu vật, biểu niệm

là do học sinh hiểu nghĩa của từ một cách mơ hồ, thiếu chính xác hoặc do nhầm lần giữa nghĩa của từ này với nghĩa của từ khác Sử dụng từ sai nghĩa biểu niệm thường xảy ra giữa các từ gần nghĩa hoặc từ có yếu tố cấu tạo chung Trong nhiều trường hợp, các em sử dụng từ Hán Việt nhưng do không hiểu nghĩa của từ nên cũng dẫn đến hiện tượng các em sử dụng từ Hán Việt sai nghĩa biểu vật, biểu niệm

Để sửa lỗi này cho học sinh trước hết cần phải căn cứ vào hoàn cảnh giao tiếp hẹp tức là văn cảnh trong câu để xác định nội dung ngữ nghĩa mà học sinh muốn diễn đạt Sau khi phát hiện được từ sai nghĩa, cần giúp học sinh phân tích được cái sai của nó sau đó mới tiến hành loại bỏ từ ra khỏi câu và thay thế bằng những đơn vị từ ngữ có nghĩa phù hợp nhất với nội dung diễn đạt của câu Có thể huy động trường từ vựng hoặc trường từ đồng nghĩa, gần nghĩa với từ đã dùng sai

để thuận lợi hơn cho việc chọn từ phù hợp Đơn vị từ ngữ thay thế cho từ đã dùng sai có thể là một từ hoặc một cụm từ Có thể sửa lại những ví dụ mắc lỗi đã dẫn ở trên như sau:

(27) Với bài thơ đó, tác giả đã thể hiện được tâm trạng uất hận, chán ghét cảnh tù túng và nhớ tiếc cuộc sống tự do trong quá khứ của con hổ

( 28) “Em xin lỗi cô ạ! Em không biết cô là một thương binh”

b Về sử dụng nghĩa biểu thái

Sử dụng từ sai nghĩa biểu thái là sử dụng những từ ngữ mà nghĩa sắc thái, nghĩa biểu cảm của nó không phù hợp với sắc thái nội dung mà câu muốn diễn đạt

Ở lỗi này, học sinh thành phố mắc 58 lỗi chiếm tỉ lệ 30,37% tổng số lỗi về sử dụng nghĩa của từ Học sinh miền núi mắc 39 lỗi chiếm tỉ lệ 15,17% tổng số lỗi về sử dụng nghĩa của từ Học sinh đồng bằng mắc 69 lỗi chiếm tỉ lệ 21,70% tổng số lỗi về

sử dụng nghĩa của từ

Trang 38

(29) Khi gặp lại mẹ thì bé Hồng ôm chặt lấy mẹ hai đôi mắt giận dữ ừng ực nước mắt

(Kiều Thị Hoài, THCS Trung Lương)

(30) Bạn thử nghĩ xem khi người hàng xóm của ta bị bệnh những nhà nghèo nên phải đi vay tiền để điều trị nếu ta không cho họ vay thì ta hãy nghĩ khi ta đến hoàn cảnh của họ thì ta cũng rất buồn vì họ không cho ta vay

(Bùi Huy Hòa, THCS Khánh Vĩnh)

(31) Sự lãng mạn, thiết tha, thường ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên nhân loại, một vẻ đẹp của quá khứ ngày xa xưa và bao giờ cũng đượm buồn, nhàm chán

(Nguyễn Lan Anh, THCS Khánh Vĩnh)

(32) Bé Hồng luôn phải nghe những lời nói của người cô cố ý nhồi nhét vào

tâm trí cậu những ý nghĩ xấu về mẹ

(Bùi Hà Ngân, THCS Nguyễn Du) Trong ví dụ (29) từ “giận dữ” nghĩa là giận đến nỗi hung dữ [19, tr.505] Từ

này thường được dùng để chỉ trạng thái, cảm xúc tiêu cực Nhưng ở đây, khi bé Hồng gặp lại mẹ, bé không hề thể hiện sự giận dữ Chính vì vậy, sử dụng từ “giận dữ” ở đây là không đúng với sắc thái biểu cảm Ngoài ra câu trên còn mắc lỗi chuyển nghĩa không tương hợp Chúng ta có thể nói nuốt ừng ực chứ không thể nói

là đôi mắt ừng ực nước mắt được

Trong ví dụ (30) cụm từ “bị bệnh những nhà nghèo” được sử dụng với thái

độ không mấy thiện cảm Ở đây học sinh muốn nói về căn bệnh hiểm nghèo chính

vì vậy việc sử dụng cụm từ “bệnh những nhà nghèo” ở đây vừa không đúng sắc thái biểu cảm lại vừa không đúng với nội dung cần biểu đạt

Trong ví dụ (31), từ “nhàm chán” gợi sắc thái tiêu cực Trong trường hợp này ý mà người viết muốn diễn đạt là nhận định: “Thơ lãng mạn thường ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên, vẻ đẹp của quá khứ ngày xa và bao giờ cũng đượm buồn” Nghĩa là thơ lãng mạn chỉ đượm buồn chứ không hề gợi sự nhàm chán Chính vì

vậy, người viết dùng từ “nhàm chán” ở đây là không đúng sắc thái

Trong ví dụ (32) “nhồi nhét” là một từ mang sắc thái tiêu cực Nó nhằm diễn

tả hành động nhồi vào, nhét vào cho đầy Mặc dù người cô có những hành động, lời

Trang 39

nói cố ý nhét vào đầu bé Hồng những cái xấu xa nhất về mẹ nhưng việc sử dụng từ

“nhồi nhét” trong trường hợp này là không cần thiết, không hợp sắc thái Trong

trường hợp này cần thay từ “nhồi nhét” bằng từ “gieo rắc”

Như vậy, có thể khẳng định rằng, việc sử dụng từ sai nghĩa biểu thái làm mất

đi sắc thái biểu cảm của câu và nhiều khi không thể hiện được thái độ, ý đồ ngầm ẩn của tác giả trong đó Nguyên nhân dẫn đến việc sử dụng từ sai nghĩa biểu thái trước hết là do các em không hiểu rõ nghĩa biểu thái của từ hoặc phạm vi ý nghĩa khác nhau của từ Tiếp đến là do kĩ năng chọn từ của học sinh chưa cao Đặc biệt là việc lựa chọn những từ gần nghĩa, đồng nghĩa Những từ này thường có hình thức âm thanh và cấu tạo khác nhau nhưng nội dung, ý nghĩa gần như nhau hoặc giống nhau

Sự khác nhau cơ bản giữa các từ này là nét nghĩa biểu thái khác nhau Tuy nhiên do vốn từ tích lũy của học sinh chưa nhiều và sự hiểu biết của các em cũng chưa sâu sắc, cặn kẽ chính vì thế giữa một loạt từ tương đối giống nhau việc các em chọn sai

từ là điều khó tránh khỏi

Với những ví dụ mắc lỗi trên có thể sửa lại như sau:

(29) Khi gặp lại mẹ thì bé Hồng ôm chặt lấy mẹ, hai đôi mắt tràn đầy nước mắt

(30) Bạn thử nghĩ xem, khi người hàng xóm của ta bị bệnh hiểm nghèo phải

đi vay tiền để điều trị nếu ta không cho họ vay thì khi ta đến hoàn cảnh của họ ta cũng rất buồn vì họ không cho ta vay

(31) Thơ lãng mạn thường ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên, vẻ đẹp của quá khứ ngày xa và bao giờ cũng đượm buồn

(32) Bé Hồng luôn phải nghe những lời nói của người cô cố ý gieo rắc vào

tâm trí bé những ý nghĩ xấu về mẹ

c Về chuyển nghĩa không tương hợp

Chuyển nghĩa không tương hợp là hiện tượng một nét nghĩa khác với bình thường từ được sử dụng nhưng lại không đúng với nội dung diễn đạt của câu Hiện tượng chuyển nghĩa từ không tương hợp gặp khá nhiều trong bài viết của học sinh

Nó chiếm tỉ lệ cao nhất trong lỗi dùng từ sai nghĩa của các em với 303 lỗi/ 600 bài Học sinh đồng bằng mắc 117 lỗi/ 200 bài chiếm tỉ lệ 36,80 % tổng số lỗi về sử dụng

Trang 40

nghĩa của từ Học sinh thành phố mắc 64 lỗi/ 200 bài chiếm tỉ lệ 33,50 % tổng số lỗi

về sử dụng nghĩa của từ Học sinh miền núi mắc 122 lỗi/ 200 bài chiếm tỉ lệ 47,48

% tổng số lỗi về sử dụng nghĩa của từ

Ví dụ:

(33) Khổ thơ cuối cùng nói lên sự khát khao được trở về với quá khứ son sắt ngày xưa, được thoát khỏi nơi tầm thường giả dối

(Nguyễn Thị Huyền Linh, THCS Khánh Vĩnh)

(34) Thân cây già giặn mặc áo đã mòn và sần sùi, nó không to như nhiều cây bàng khác mà nó thon thả

(Trần Thị Hoài An,THCS Nguyễn Du)

(35) Viết về những làn sương mùa thu, nhà thơ có cách viết thật là duyên dáng, độc đáo

(Dương Quyền Quốc, THCS Nam Hà)

(36) Đang nghỉ ngơi uống nước thì bổng nghe tiếng gà ai nhảy nhót vừa kêu tiếng “cục tác, cục tác”

(Hồ Quang Minh, THCS Nguyễn Du)

Trong ví dụ (33) theo từ điển Tiếng Việt “son sắt” có nghĩa là lòng trung

thành, là tấm lòng trung trinh (lòng son) bền vững như sắt, không thay đổi [19,

tr.1268] Nó thường được dùng để chỉ tấm lòng con người nhưng ở đây lại được dùng để nói về quá khứ là không phù hợp Trong trường hợp này cần thay từ “son

sắt” bằng từ “tươi đẹp” : “Quá khứ tươi đẹp”

Trong ví dụ (34) từ “thon thả” thường được dùng để chỉ dáng người Nó có

nghĩa là thon và có dáng vẻ xinh xắn (nói khái quát) [19, tr.1396] nhưng ở đây lại

dùng để chỉ thân cây là không phù hợp Trường hợp này cần thay từ “thon thả” thành “thon nhỏ”

Trong ví dụ (35) từ “duyên dáng” có nghĩa là có những nét đặc biệt có duyên [19, tr.397] Từ này cũng thường được sử dụng để chỉ con người Nói “cách

viết duyên dáng” là không đúng Trong trường hợp này ta cần sửa lại bằng cách thay từ “duyên dáng” bằng từ “thú vị” hoặc từ “hấp dẫn”

Ngày đăng: 09/05/2021, 16:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w