1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Không – thời gian tâm tưởng trong ca dao người việt

68 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 709,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 2: Tâm trạng của nhân vật trữ tình thể hiện trong không gian và thời gian tâm tưởng.. Không gian tâm tưởng trong ca dao đã giúp nhân vật thể hiện được cái nhìn, quan niệm của mình

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHÔNG – THỜI GIAN TÂM TƯỞNG TRONG CA

DAO NGƯỜI VIỆT

Trang 2

MỞ ĐẦU

1.Lý do chọn đề tài

Thuở nhỏ trên cánh võng buổi trưa hè mát rượi, bên vành nôi ấu thơ, những câu hát như những cơn gió mùa thu mẹ ru con ngủ; năm canh dài thức đủ năm canh… đã nuôi tôi khôn lớn cùng dòng sữa ngọt ngào của

mẹ Những câu ca đã lớn lên cùng năm tháng như một miền riêng cổ tích tuổi thơ tôi Đó chính là những câu ca dao dạt dào tình yêu thương của người dân Việt Nam ta Với mỗi người dân Việt Nam, ca dao hiện diện từng ngày, từng giờ, trong cách nghĩ, cách sống, giúp ta định hình nhân cách và dạy ta cách ứng xử làm người Ca dao, đó là tiếng nói tâm tư, tình cảm, là những suy nghĩ sâu sắc, đúng đắn về cuộc đời, về con người và lẽ sống được ông cha ta đúc kết và truyền thụ lại cho con cháu ngàn đời sau

Ca dao đã nuôi dưỡng tâm hồn ta từ thuở ấu thơ, theo ta trong bước trưởng thành và sống cùng ta suốt cuộc đời

Ca dao là những tác phẩm ra đời cách đây rất lâu mà không bao giờ

cũ, vẫn để lại trong lòng người đọc những ấn tượng, ám ảnh, day dứt khôn nguôi Dù năm tháng đổi thay, những đền đài rồi sụp đổ, những tranh tượng tiêu tan thì các tác phẩm ca dao ấy vẫn cứ tồn tại, bền bỉ, như dòng sông chảy mãi tưới mát tâm hồn bao thế hệ người đọc hôm qua, hôm nay

và mai sau Không chỉ bồi đắp cho tâm hồn muôn triệu con người, những áng ca dao còn là mạch nguồn cho các tác phẩm thơ ca, văn chương của văn học viết Bởi thế, khi bàn về ca dao, có ý kiến cho rằng các nhà văn học được thơ trong ca dao Những câu ca dao giản dị cứ thế nhẹ nhàng đi vào tâm tưởng của mỗi người dân Việt Nam Ca dao là sản phẩm tinh thần của người dân Việt Nam, được người dân Việt Nam sáng tạo, đón nhận

Ca dao không chỉ là nét đẹp tâm hồn mà còn là nét đẹp văn hóa của người

Trang 3

dân Việt Nam Không gian và thời gian là hai yếu tố làm nền cho cảm xúc, cái tình, cái lí trong ca dao… Bởi thế, không gian và thời gian đóng một vai trò quan trọng trong ca dao Trong ca dao, có thời gian - không gian vật lí và thời gian - không gian tâm lí Thời gian - không gian tâm lí là yếu

tố thi pháp biểu thị tâm trạng của nhân vật trữ tình trong ca dao Trong không gian và thời gian ấy, nhân vật trữ tình nhớ mong, liên tưởng, tương

tư, suy nghĩ về mình, về người yêu, về cuộc sống, về duyên phận

Chính vì những lí do trên, tôi chọn đề tài: “Không - thời gian tâm

tưởng trong ca dao người Việt” làm đề tài nghiên cứu Đến với đề tài này,

tôi mong muốn mình có thể tìm hiểu sâu sắc về mảng đề tài ca dao người Việt, cấu trúc không gian và thời gian tâm tưởng trong ca dao

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Ca dao là nét đẹp văn hóa của con người Việt Nam, là một kho tàng những kinh nghiệm sống dân gian mà ông cha ta để lại Ca dao được người dân Việt Nam vận dụng một cách sâu sắc trong đời sống hàng ngày Ca dao còn là mạch thở của thơ, là nguồn sáng tạo vô tận, là ngôn từ của văn chương bình dân chứa đựng hết thảy tình người trong đó Ca dao đã in sâu vào tâm thức của mỗi người dân Việt Nam Và không gian và thời gian là hai yếu tố tạo nên cái nền để bộc lộ cảm xúc, suy tư, tình cảm trong các bài ca dao Chính vì thế đã có rất nhiều nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm, đi sâu nghiên

cứu mảng đề tài về ca dao, tục ngữ Việt Nam, tiêu biểu như:

Cấu trúc ca dao trữ tình người Việt của tiến sĩ Lê Đức Luận, Nhà xuất

bản Đại học Huế Qua cuốn sách này, tiến sĩ Lê Đức Luận đã nghiên cứu một cách sâu sắc về ngôn ngữ ca dao, trong đó có đề cập đến ý nghĩa biểu đạt của không – thời gian

Thi pháp ca dao của Nguyễn Xuân Kính, Nhà xuất bản Đại học Quốc

gia Hà Nội, xuất bản năm 2004 Trong cuốn sách này, tác giả đã nghiên cứu

Trang 4

về vấn đề Thi pháp ca dao Trong đó, tác giả đã có những nghiên cứu về không gian và thời gian nghệ thuật trong ca dao

Giáo trình Thi pháp Văn học dân gian của tiến sĩ Lê Đức Luận Trong

tập bài giảng này, Tiến sĩ Lê Đức Luận cũng đã nghiên cấu sâu sắc về ca dao

Đặc biệt lưu ý là mục Không gian và thời gian nghệ thuật trong ca dao

Thời gian trong ca dao của Trần Sĩ Huệ, Nhà xuất bản Thanh Niên

Trong cuốn sách này Nhà văn Trần Sĩ Huệ đã nghiên cứu thời gian trong ca dao, tức là nói đến định lượng thời gian trong ca dao Nhưng không chỉ có thế mà thông qua ca dao Trần Sĩ Huệ chủ yếu muốn nói đến “cõi người trong cõi thời gian” Đó cũng là “cõi trăm năm” trong cách nhìn hồn nhiên dân dã,

thời gian trong ca dao, bởi vậy bỗng trở nên đẹp lạ lùng: “Sông dài cá lội biệt

tăm/ Phải duyên chồng vợ trăm năm cũng chờ hay Trăm năm giữ dạ sắt cầm/ Tiên sa xuống đất mấy mươi lần mược tiên”

Trong cuốn 100 Bài làm văn hay lớp 10, Lê Xuân Soạn (biên soạn),

Nhà xuất bản Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, xuất bản năm 2006

cũng đã có rất nhiều bài viết về ca dao Việt Nam như: Ca dao, dân ca –

những viên ngọc cứ lấp lánh; Tâm hồn người Việt qua ca dao, dân ca

Bài viết “Thời gian và không gian nghệ thuật trong ca dao tình yêu đôi

lứa ở Phú Yên”, Lý Thơ Phúc đã có những nghiên cứu sâu sắc về không gian

và thời gian nghệ thuật trong ca dao tình yêu đôi lứa ở Phú Yên Từ đó có thể thấy, yếu tố không gian và thời gian có tầm ảnh hưởng rất lớn tới cái hồn của câu ca dao

Ngoài ra, còn có rất nhiều bài viết về ca dao Việt Nam như: Ca dao –

ngôn ngữ thơ dân gian; Thời gian và không gian nghệ thuật trong ca dao Nam Bộ về tình yêu đôi lứa;…

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 5

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là Không - thời gian tâm tưởng

trong ca dao người Việt

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài này là khảo sát cuốn “Ca dao Việt Nam

(Ca dao chọn lọc)” (Châu Nhiên Khanh biên soạn), Nhà xuất bản Trẻ, xuất

bản năm 2002

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được tôi sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó đặc biệt là:

- Phương pháp đối chiếu, so sánh

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp cấu trúc loại hình

5 Cấu trúc luận văn

Với đề tài: Không – thời gian tâm tưởng trong ca dao người Việt, tôi xin

được giới thiệu trước bố cục của khóa luận như sau:

- Phần mở đầu gồm 5 mục: Lí do chọn đề tài, lịch sử nghiên cứu vấn đề, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, bố cục của khóa luận

- Phần nội dung gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung

Chương 2: Tâm trạng của nhân vật trữ tình thể hiện trong không gian

và thời gian tâm tưởng

Chương 3: Đặc điểm nghệ thuật của bộ phận ca dao biểu thị không gian

và thời gian tâm tưởng

- Phần kết luận

- Phần tài liệu tham khảo

Trang 6

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1.Khái quát về thi pháp và thi pháp ca dao

1.1.1.Khái quát về thi pháp và thi pháp học

Thi pháp là khái niệm Hán – Việt Theo nghĩa nguyên thì thi là thơ, pháp là phương pháp, biện pháp, nghĩa là phương pháp nghệ thuật sáng tác thơ Thi pháp học là ngành khoa học nghiên cứu các phương pháp, biện pháp nghệ thuật thi ca Sau này, khi các thể loại văn xuôi ra đời và phát triển nhưng các nhà nghiên cứu vẫn dùng thuật ngữ thi pháp Viện sĩ V Vinogradop quan niệm: “Thi pháp là khoa học về hình thức, các dạng thức, các phương tiện, phương thức tổ chức tác phẩm sáng tác ngôn từ, về các kiểu cấu trúc và các thể loại tác phẩm văn học” Từ điển Bách khoa văn học giản yếu Nga định nghĩa: “Thi pháp học là khoa học về cấu tạo của tác phẩm văn học và hệ thống các phương tiện thẩm mĩ mà chúng sử dụng” [5, tr 2]

Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học các tác giả định nghĩa: “Thi

pháp học là khoa học nghiên cứu thi pháp, tức là hệ thống các phương thức, phương tiện, thủ pháp biểu hiện đời sống bằng hình tượng nghệ thuật trong sáng tác văn học Mục đích của thi pháp học là chia tách và hệ thống hóa các yếu tố của văn bản nghệ thuật tham gia vào sự tạo thành thế giới nghệ thuật,

ấn tượng thẩm mĩ và chiều sâu phản ánh của sáng tác nghệ thuật”

Xét các chỉnh thể văn học mang tính thi pháp , có thể nói tới thi pháp tác phẩm cụ thể, thi pháp tác giả (sáng tác một nhà văn), thi pháp một trào lưu, thi pháp văn học một thời đại, thời kì lịch sử, thi pháp văn học dân tộc

Xét các phương tiện, phương thức nghệ thuật đã được chia tách, có thể nói tới thi pháp của thể loại, thi pháp của phương pháp, thi pháp của phong cách, thi pháp kết cấu, thi pháp không gian, thời gian, thi pháp ngôn ngữ,…

Trang 7

Xét về cách tiếp cận, thi pháp học có ba phạm vi nghiên cứu: Thi pháp học đại cương (còn gọi là thi pháp học lí thuyết, thi pháp học hệ thống hóa hay thi pháp học vĩ mô tức là lí luận văn học), thi pháp học chuyên biệt (hay còn gọi là thi pháp học miêu tả vi mô) và thi pháp học lịch sử

Thi pháp học đại cương lại chia thành ba bộ phận, tương ứng với ba phương tiện của văn bản: ngữ âm, từ vựng, và hình tượng Mục đích của thi pháp học đại cương là xây dựng một hệ thống trọn vẹn các thủ pháp (tức là các yế tố tác động thẩm mĩ), bao quát cả ba phạm vi trên, từ các biện pháp ngữ âm cho tới các hình tượng, môtíp, cốt truyện,… Phương diện thi pháp hình tượng ít được nghiên cứu hơn cả, vì một thời gian dài người ta cho rằng thế giới nghệ thuật không khác gì so với thế giới thực tại, do đó, đến nay lĩnh vực này vẫn chưa có một sự hệ thống hóa được chấp nhận phổ biến về các phương tiện nghệ thuật

Thi pháp học chuyên biệt tiến hành việc miêu tả tất cả các phuong diện

nói trên của sáng tác văn học nhằm xây dựng “mô hình” – hệ thống cá biệt

của các thuộc tính thẩm mĩ của tác phẩm Vấn đề chính ở đây là kết cấu, tức

là các tương quan của tất cả các yếu tố nói trên trong chỉnh thể nghệ thuật

Các khái niệm cuối cùng mà sự phân tích các phương tiện nghệ thuật sẽ

dẫn đến là hình tượng thế giới (với đặc điểm cơ bản của nó là không gian

nghệ thuật, thời gian nghệ thuật), và hình tượng tác giả Tác động qua lại của

hai khái niệm này tạo nên điểm nhìn nghệ thuật có tác dụng quy định tất cả

mọi điều cơ bản của cấu trúc tác phẩm

Thi pháp học chuyên biệt có thể miêu tả tác phẩm văn học cá biệt, cũng

như cụm tác phẩm trong sáng tác của một nhà văn, của một thể loại, một trào lưu học một thời đại văn học

Thi pháp học lịch sử nghiên cứu sự tiến hóa của các biện pháp nghệ

thuật cũng như hệ thống các biện pháp ấy bằng phương pháp so sánh lịch sử

Trang 8

nhằm vạch ra đặc điểm chung của hệ thống văn học thuộc các nền văn hóa khác nhau, xác định cội nguồn của chúng cũng như quy luật chung của ý thức văn học nhân loại Vấn đề chính của thi pháp học lịch sử là sự phát sinh, phát triển của thể loại trong ý nghĩa rộng nhất của từ đó, là ranh giới phân chia phạm vi văn học và ngoài văn học với tất cả sự đổi thay lịch sử của chúng

Thi pháp học đại cương trùng với bộ phận lí luận văn học nghiên cứu

cấu trúc sáng tác văn học, thường dịch là thi học Nhiều nhà thi pháp học

phương Tây nhấn mạnh lí luận về bản chất văn học mới là nội dung chủ yếu của thi pháp học, xem việc nghiên cứu “tính văn học” bất biến của văn bản là đối tượng của thi pháp học Nhưng đó chỉ là một bộ phận của thi pháp học mà thôi và tính văn học không thể là bất biến trong lịch sử Thi pháp học chuyên biệt và thi pháp học lịch sử cung cấp bức tranh đa dạng và phát triển tiến hóa cảu các mô hình và phương tiện nghệ thuật

Thi pháp học giúp ta công cụ để thâm nhập vào cấu trúc tác phẩm, cốt cách tư duy của tác giả cũng như nắm bắt mã văn hóa nghệ thuật, từ đó nâng cao năng lực thụ cảm tác phẩm Thi pháp học cổ xưa (từ A-ri-xtốt) nặng về tính chất quy phạm, cẩm nang Thi pháp học hiện đại nặng về phát hiện, miêu

tả các ngôn ngữ nghệ thuật đang hình thành với sự vận động của văn học [4,tr 304,305]

Trong cuốn Thi pháp ca dao của Nguyễn Xuân Kính, tác giả cũng đã

sử dụng khái niệm thi pháp và thi pháp học theo cuốn Từ điển thuật ngữ văn

học (Lê Bá Hán – Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi đồng Chủ biên) Theo

Nguyễn Xuân Kính: Thi pháp học không những làm rõ bản chất nghệ thuật của văn chương, mà còn chỉ ra cái lí của hình thức nghệ thuật

Thi pháp là một tồn tại khách quan, là cái có trước; nó xuất hiện khi loài người bắt đầu biết sáng tạo nghệ thuật một cách tự giác Thi pháp học là khoa học nghiên cứu về thi pháp, là cái có sau.Thi pháp học và thi pháp thuộc

Trang 9

vào số những thuật ngữ được sử dụng sớm nhất và có sức sống lâu dài nhất của khoa học nghiên cứu văn học [1, tr 19;20]

Như vậy, có thể hiểu một cách khái quát: thi pháp học là khoa học nghiên cứu thi pháp

1.1.2 Khái quát về thi pháp ca dao

1.1.2.1 Khái niệm ca dao

Ca dao, dân ca là những thuật ngữ Hán – Việt được giới nghiên cứu văn học dân gian và âm nhạc dân gian sử dụng để chỉ đối tượng là những bài

ca và hình thức ca hát truyền thống do nhân dân sáng tác, diễn xướng và lưu hành trong nhân dân từ bao đời nay Thuật ngữ ca dao, dân ca có khi được dùng song hành để chỉ sự gắn bó mật thiết giữa hai đối tượng ca dao và dân

ca Khi được tách riêng, ca dao dùng để chỉ bộ phận lời thơ dân gian (bộ phận

lồ lại có 2 phần: lời ca mang nội dung chính và phần lời vô nghĩa (tiếng láy, tiếng đưa hơi) và dân ca dùng để chỉ chỉnh thể một loại hình ca hát diễn xướng có nhạc điệu và lời ca trong các bài hát dân gian

Do quá trình sưu tầm, ghi chép thành văn bản của các nhà sưu tầm, nghiên cứu mà lời hát được tách ra khỏi làn điệu âm nhạc và loại bỏ luôn cả các yếu tố khác của dân ca, bộ phận lời thơ này lúc đầu được gọi là phong dao hoặc phương ngôn về sau được gọi là ca dao

Vậy ca dao là bộ phận chủ yếu và có vai trò quan trọng nhất của thơ dân gian, là loại thơ truyền thống có phong cách riêng, được hình thành và phát triển trên cơ sở thành phần nghệ thuật ngôn từ trong các loại dân ca ngắn

và đối tượng ngắn Hay nói một cách dễ hiểu hơn: Ca dao là phần lời được rút

ra từ các bài hát dân gian và một số bài thơ của một số tác giả sau khi đã loại

bỏ đi phần âm nhạc và phần lời ca vô nghĩa

Trang 10

Theo cuốn Cấu trúc ca dao trữ tình người Việt của Lê Đức Luận: Ca

dao là lời của các câu hát dân gian và những sáng tác ngâm vịnh được lưu truyền trong dân gian và gọi chung là lời ca dân gian [3, tr 26]

Thể lục bát: thể thơ này có 2 dạng: nguyên thể và biến thể Thể lục bát

có số âm tiết ở mỗi dòng không thay đổi, vị trí gieo vần cố định: âm tiết cuối của câu sau hiệp với âm sáu của câu tám, âm tiết thứ tám của câu bát hiệp với

âm tiết thứ sáu của câu lục tiếp theo Nhịp điệu phổ biến là 2/2/2, đôi khi thay đổi thành 3/3/3 hoặc 4/4 Thí dụ:

Bây giờ / mận mới / hỏi đào, Vườn hồng / đã có / ai vào / hay chưa?

Mận hỏi / thì đào / xin thưa, Vườn hồng / có lối / nhưng chưa / ai vào

Nhịp điệu câu thơ lục bát uyển chuyển, linh hoạt vô cùng Ngoài ra, với

sự không gò bó, không bị hạn chế về độ dài, ngắn của tác phẩm (số lượng cặp thơ tùy thuộc vào tác giả), thể lục bát rất có sở trường trong việc diễn đạt cảm xúc vốn rất phong phú, thể hiện nội dung hết sức đa dạng của hiện thực Lục bát biến thể, theo Mai Ngọc Chừ: “lục bát biến thể ở đây được quan niệm

là những câu ca dao có hình thức lục bát nhưng không khít khịt “trên sáu dưới tám” mà có sự co giãn nhất định về số lượng âm tiết (tiếng)”[6,tr 224] Lục bát biến thể có ba loại:

+ Dòng lục thay đổi dòng bát giữ nguyên Ví dụ:

Trang 11

Tưởng giếng sâu, nối sợi dây dài, Hay đâu giếng cạn, tiếc hoài sợi dây.(7/8 tiếng)

+ Dòng lục giữ nguyên, dòng bát thay đổi Ví dụ:

Lời nguyền trước cũng như sau,

Ta không ham vui bỏ bạn, bạn chớ tham giàu bỏ ta (6/12 tiếng)

+ Cả hai dòng đều thay đổi Ví dụ:

Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo, Ngũ lục sông cũng lội, thất bát đèo cũng qua.(7/10 tiếng)

Chức năng của hình thức lục bát biến thể trong việc thể hiện nội dung: chì chiết, đay nghiến, bộc lộ khó khăn và lòng quyết tâm vượt qua trở ngại, chấm biếm, trào phúng, tranh luận, đấu lí

Thể song thất lục bát: thể thơ này cũng có 2 dạng: nguyên thể và biến thể Song thất lục bát là thể có nguồn gốc từ dân ca nhưng không phổ biến bằng thể lục bát Thể này sau hai câu thất là hai câu lục bát (7+7+6+8 tiếng) Thể thơ này nói lên được sự đi về của cảm xúc như những đợt sóng lên cao xuống thấp rồi lại dàn ra đón lấy một đợt sóng khác Ví dụ:

Mây trên trời bủa giăng tứ phía, Nước ngoài biển sóng dợn tứ bề

Làm saohiệp nghĩa phu thê,

Để tôi cậy mối tìm đường sang chơi

+ Thể hỗn hợp hay còn gọi là thể thơ tự do Ví dụ:

Trang 12

Đường không đi sao biết, Chuông không đánh sao kêu, Nghe lời anh nói bao nhiêu, Khiến lòng thắc thẻo chín chiều xót đau

+Hai câu năm tiếng và một cặp lục bát Ví dụ:

Chiều chiều trước bến Văn Lâu

Ai ngồi ai câu

Ai sầu ai thảm

Ai nhớ ai trông Thuyền ai thấp thoáng bên sông Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non

Lời ca dao trên gồm một câu sáu, bốn câu bốn tiếng, và một cặp lục bát

b Nhân vật:

Nhân vật của ca dao là nhân vật trữ tình trong mối quan hệ với đối tượng trữ tình Nhân vật trữ tình trong ca dao thường có một số kiểu nhất định như sau:

+ Cô gái và chàng trai trong quan hệ bạn bè đôi lứa

+ Người vợ, người chồng, người mẹ, người con,… trong đời sống gia đình

+ Người con gái, con dâu, người vợ trong gia đình gia trưởng

+ Người lính và người vợ lính trong cảnh ngộ li biệt và xa cách

+ Người lao động nói chung (người làm ruộng, người làm thợ, người dân chài,… ) trong lao động, sinh hoạt và quan hệ với xóm làng, quê hương, đất nước

Thông qua những nhân vật trữ tình, xu hướng nhân dân muốn diễn tả những nét bản chất con người nông dân trong thời đại xưa Những nét bản

Trang 13

chất này thể hiện một cách tập trung ở cảm hứng trữ tình chủ đạo trong ca dao Dù là nam hay nữ, dù là vợ hay chồng, người làm ruộng hay người làm nghề sông nước… nhưng đều cảm nhận thân phận mình bé nhỏ bất hạnh với tâm trạng buồn khổ Họ cất lên thành bài ca than thở về những khổ đau và bất hạnh của kiếp người; nêu cảm nghĩ về những người mình thương mến, những nơi thân thuộc mà mình gắn bó Đấy là những bài ca ân tình, ân nghĩa, trong

đó tình yêu gia đình, tình bạn bè, tình yêu đôi lứa, tình yêu quê hương đất nước… Chính vì vậy, nói đến ca dao, dân ca người ta thường nhắc đến những câu hát than thân và những câu hát tình nghĩa của quần chúng nhân dân và những người lao động bị áp bức trong xã hội cũ

c Thời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật:

Thời gian nghệ thuật trong ca dao, dân ca trữ tình là thời gian hiện tại, thời gian diễn xướng Đó là thời gian sáng tác, giao tiếp diễn ngôn Thời gian hiện tại của ca dao bộc lộ qua những từ như: hôm nay, hôm qua Ví dụ:

Bây giờ em mới hỏi anh, Trầu vàng nhá với cau xanh thế nào?

Cau xanh nhá với trầu vàng, Tình anh sánh với duyên nàng đẹp đôi

Trang 14

biểu hiện phụ thuộc vào những cảm nghĩ, tâm tư, cảm xúc của nhân vật trữ tình Ví dụ:

Ngày đi em chửa có chồng, Ngày về em đã con bế, con bồng, con mang

“Ngày đi” không còn là thời gian vật lí mà thời gian đang diễn ra trong tâm trạng nhân vật, hoàn cảnh chủ quan Đó là tâm trạng của nhân vật trữ tình trước sự thay đổi của hoàn cảnh Thí dụ:

Tôi xa mình ông trời nắng tôi nói mưa, Canh ba tôi nói sáng, ông trời trưa tôi nói chiều

Không gian nghệ thuật: dòng sông, con thuyền, cái cầu, bờ ao, cây đa, mái đình là những không gian vật lí thường gặp trong ca dao Ví dụ:

Cô kia cắt cỏ bên sông,

Có muốn ăn nhãn thì lồng sang đây

Sang đây anh nắm cổ tay, Anh hỏi câu này có lấy anh không

Nhìn chung, trong kho tàng văn học dân gian của người Việt, không gian vật lí là những không gian bình dị của làng quê, có quy mô vừa phải Bên cạnh không gian vật lí, trong ca dao còn xuất hiện không gian xã hội Ở đây

có những mối quan hệ xã hội hết sức đa dạng giữa con người với con người

Trang 15

nhớ; “bến sông” là nơi ngóng trông chờ đợi, “giữa đường” là nơi gặp gỡ, làm quen

Bên cạnh những không gian vật lí, không gian xã hội có tên gọi, không gian trong ca dao còn là không gian phiếm chỉ Tính phiếm chỉ tạo nên sự đồng cảm của những con người mang tâm trạng chung Đó có thể là tâm trạng của một cô gái đang yêu, một chàng trai thất tình, một người con xa quê…tính chất này làm cho người đọc đồng cảm, có chung tâm trạng khi đọc những câu

ca dao ấy lên đều thấy mình trong đó

d Ngôn ngữ:

Ngôn ngữ ca dao mang đậm tính chất ngôn ngữ dân tộc Nhờ biết dựa vào ngôn ngữ dân tộc, khai thác sử dụng ngôn ngữ dân tộc mà ca dao dân gian Việt Nam rất giàu bản sắc không những thế mà ca dao còn tác động ngược trở lại ngôn ngữ dân tộc để củng cố và phát triển ngôn ngữ dân tộc Văn học dân gian vốn có tính dân tộc, tính tập thể, và tính truyền miệng nên vừa thống nhất, vừa đa dạng Vì vậy mà hai khuynh hướng dân tộc hóa và địa phương hóa luôn diễn ra song song và tác động lẫn nhau Ngôn ngữ ca dao cũng vậy, vừa đậm đà bản sắc dân tộc vừa mang sắc thái địa phương Chúng

ta nhận thấy dấu ấn văn hóa vùng miền nhờ vào ngôn ngữ địa phương Ca dao Bắc Bộ thì nhẹ nhàng tình tứ Ví dụ:

Người về em chẳng cho về,

Em nâng vạt áo, em đề câu thơ

Ca dao Nam Bộ thì bộc lộ một cách rõ ràng, bộc trực, dứt khoát Ví dụ:

Anh về em nắm vạt áo em la làng, Anh bỏ chữ thương chữ nhớ giữa đàng cho em…

Khi sáng tác ca dao, nhân dân lựa chọn và sử dụng ngôn ngữ theo yêu cầu của nghệ thuật thơ ca để bộc lộ tâm tình và những cảm xúc thẩm mĩ mà ngôn ngữ giao tiếp thông thường không thể nào diễn đạt được Ngôn ngữ ca

Trang 16

dao là một thứ ngôn ngữ giàu sắc thái biểu cảm, tính chất biểu tượng, ước lệ, tượng trưng, ẩn dụ… rất đậm nét

e Kết cấu ca dao:

Theo ông Nguyễn Xuân Kính, ca dao có loại kết cấu sau:

+ Kết cấu một vế đơn giản: Trong dạng này, nội dung của lời là một ý lớn do các phán đoán tạo thành:

Dốc bồ thương kẻ ăn đong Vắng chồng thương kẻ nằm không một mình

Ở đây, nghĩa của hai phán đoán, tuy một bên nói về vật chất, một bên nói về tinh thần nhưng cả hai ý đều có nét tương đồng nhằm diễn đạt một điều duy nhất: đó là sự đồng cảm với những người cùng cảnh ngộ, một cái nhìn thông cảm, sẻ chia

Một ví dụ khác:

Thanh Trì có bánh cuốn ngon

Có gò Ngũ Nhạc có con sông Hồng Thanh Trì cảnh đẹp người đông

Có cây sáo trúc bên đồng lúa xanh

Tất cả các phán đoán đều hướng vào chủ đề ca ngợi cảnh đẹp, đặc sản

và con người huyện Thanh Trì (Hà Nội) Có trường hợp trên hai dòng thơ là bốn phán đoán khẳng định các đặc sản của tỉnh Phú Thọ:

Bưởi Chí Đám, quít Đan Hà

Cà phê Phú Hộ, đồi trà Thái Ninh

Những lời được tổ chức theo dạng này ít nhất phải có một phán đoán (xét về mặt loogic), hai dòng thơ (xét về mặt văn tự thể hiện)

+ Kết cấu một vế có phần vần:

Dạng này có hai phần rõ rệt Phần đầu tác giả dân gian miêu tả ngoại cảnh (cỏ, cây, sông, núi, đất, trời…) Các nhà nghiên cứu thường gọi phần

Trang 17

này là phần gợi hứng Sau phần này là phần chính của lời Có trường hợp giữa hai phần này có mối quan hệ hồi tưởng:

Quả cau nho nhỏ Cái vỏ vân vân Nay anh học gần Mai anh học xa Lấy anh từ thuở mười ba Đến năm mười tám thiếp đà năm con

Ra đường người nghĩ còn son

Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng

Giữa chuyện “quả cau”, “học gần” “học xa”,… và chuyện “lấy chồng

từ thuở mười ba” không liên quan gì đến nhau Nó chỉ là yếu tố gợi hứng Phải có khung cảnh thiên nhiên để dẫn đến ước mơ, để tạo ra hành động Hiện tượng hai phần của bài ca dao chỉ có liên hệ phần vần, ý nghĩa không hợp nhau, không bổ sung cho nhau, không cùng hướng chủ đề, nội dung Có lẽ do đặc điểm ứng diễn, ứng đối nhanh nhạy trong quá trình sáng tác tạo nên hiện tượng này

+ Kết cấu hai vế tương hợp: Nội dung của những lời ca này thường có hai vế tương hợp với nhau Nó cùng xoáy vào một vấn đề chung Dạng kết cấu này thường xuất hiện trong hát đối đáp:

Bây giờ mận mới hỏi đào Vườn hồng đã có ai vào hay chưa Mận hỏi thì đòa xin thưa Vườn hồng có lối nhung chưa ai vào

Dạng kết cấu này gồn có một vế hỏi và một vế trả lời Cả hai vế đối đáp

là một lời đối đáp trọn vẹn của cả hai người trong cuộc hát Mỗi lời có thể tồn

Trang 18

tại độc lập Lúc đó, nó trở thành một loại riêng biệt, loại này thuộc dạng kết cấu mở

+ Kết cấu hai vế đối lập: Mỗi lời ca của kiểu kết cấu này ta luôn thấy có hai ý lớn trái ngược nhau, đối lập nhau:

Anh đến tìm hoa thì hoa đã nở Anh đến tìm đò thì đò đã sang sông Anh đến tìm em thì em đã lấy chồng Anh yêu em như rứa có mặn nồng chi mô?

-Hoa đến thì thì hoa phải nở

Đò đã đầy thì đò phải sang sông Đến duyên em thì em phải lấy chồng

Em yêu anh như rứa đó, có mặn nồng thì tùy anh

Mà chàng lại nỡ đan sàng tre non

+ Kết cấu nhiều vế đối lập: Loại kết cấu này gồm những bài ca dao dài Trong đó, nội dung của nó chứa đựng nhiều ý nối tiếp nhau Giữa các ý có sự nối kết làm cho bài ca dao trở nên chặt chẽ về nội dung:

Anh đi lấy vợ cách sông,

Em đi lấy chồng giữa ngõ người ta

-Có lấy thời lấy xa xa Chớ lấy trước ngõ anh ra anh buồn

-Buồn thời cất gánh đi buôn

Trang 19

Một vốn bốn lãi anh buồn làm chi -Buồn vì con gái nữ nhi

Mẹ cha thách cưới làm chi lỡ làng

f Một số biểu tượng, hình ảnh trong ca dao:

Thế giới biểu tượng trong ca dao khá phong phú và đa dạng, “Biểu tượng trong ca dao là một loại biểu tượng nghệ thuật, xây dựng bằng ngôn từ với những quy ước của cộng đồng” Có thể phân loại các biểu tượng hết sức phong phú đa dạng của hiện thực ấy như sau:

+Thế giới các hiện tượng tự nhiên, thiên nhiên:

- Các hiện tượng tự nhiên: trăng, sao, mây, gió…

- Thế giới thực vật: cỏ, cây, hoa, lá…

- Thế giới động vật: rồng, phượng, chim, muông…

+Thế giới các vật thể nhân tạo bao gồm:

- Các đồ dùng cá nhân: áo, khăn, gương lược…

- Các dụng cụ sinh hoạt gia đình: chăn, chiếu, giường…

- Các công cụ sản xuất: thuyền, lưới, đò…

-Các cộng cụ kiến trúc: đình, nhà, cầu…

Tóm lại, khi nói đến thi pháp chúng ta thường đề cập đến các vấn đề thuộc về kĩ thuật, kĩ xảo, thao tác và tài năng sáng tạo nghệ thuật Song để xác định một tác phẩm nghệ thuật đích thực, những lời ca dao đặc sắc, nếu chỉ có

kĩ thuật, tay nghề không chưa đủ mà điều kiện trước hết vẫn là sự chân thực của cảm xúc, là sự rung động sâu sắc, tha thiết của trái tim nguời nghệ sĩ

1.2 Không gian và thời gian tâm tưởng trong ca dao

1.2.1 Khái niệm tâm tưởng

Tâm tưởng là sự phản ánh sự vật hiện tượng của thế giới khách quan qua lăng kính chủ quan, não làm chức năng phản ánh đó Sự phản ánh này có

Trang 20

tính chất chủ thể và mang bản chất xã hội – lịch sử Tâm tưởng là những ý nghĩ, tâm trạng sâu lắng, riêng tư của con người

1.2.2 Không gian và thời gian tâm tưởng trong ca dao

1.2.2.1 Không gian tâm tưởng trong ca dao

Không gian tâm tưởng là không gian chủ quan của con người Đó là không gian tạo nên cái cảm xúc, tâm tư, tình cảm của nhân vật trữ tình trong

ca dao Dòng sông, con thuyền, làng xã, mái đình, cây đa, giếng nước, lũy tre, cánh đồng,… là những không gian vật lí thường gặp trong ca dao Việt Nam

Đó là không gian mà những con người bình dân Việt Nam xưa (đặc biệt là các chàng trai, cô gái) thường làm lụng, hò hẹn, tình tự, than thở Thực ra, không gian tâm tưởng cũng là dạng không gian vật lí nhưng mang dấu ấn tâm trạng của nhân vật trữ tình Ví dụ:

Đêm qua ra đứng bờ ao Trông cá, cá lặn, trông sao, sao mờ Buồn trông con nhện giăng tơ Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai?

Buồn trông chênh chếch sao Mai Sao ơi, sao hỡi, nhớ ai sao mờ?

Bên cạnh không gian vật lí, trong ca dao còn xuất hiện không gian xã hội:

- Đông Quan mở hội vui thay

Thi văn thi võ lại bày cờ tiên Sân đình nhạc múa đôi bên Dưới sông chèo hát lại dìm bóng trâu

Bắt dê, bắt vịt, leo cầu,…

(Đông Quan thuộc huyện Lí Nhân, Hà Nam)

- Ba cô đội gạo lên chùa

Trang 21

Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư

Sư về sư ốm tương tư

Ốm lăn ốm lóc cho sư trọc đầu

Ca dao không miêu tả không gian vật lí, không gian xã hội đơn thuần

mà sâu sắc hơn là gắn với tâm tưởng của nhân vật trữ tình trong mỗi câu ca dao Ví dụ:

- Mong người chả thấy người sang Ngày ngày ra đứng cổng làng ngóng trông

Con đường xa tít bên sông Bóng chiều đã xế mà không thấy người

- Đêm đêm tưởng dãi Ngân Hà Chuôi sao Tinh Đẩu đã ba năm tròn

Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn Tào Khê nước chảy vẫn còn trơ trơ

- Gần nhà mà chẳng sang chơi

Để em hái ngọn mồng tơi bắc cầu Bắc cầu em chẳng đi cầu

Để tốn công thợ, để sầu lòng em

Không gian tâm tưởng trong ca dao đã giúp nhân vật thể hiện được cái nhìn, quan niệm của mình về các mối quan hệ trong xã hội

1.2.2.2 Thời gian tâm tưởng trong ca dao

Thời gian tâm tưởng là thời gian chủ quan của con người Thời gian tạo nên cái tâm trạng, tâm tư của con người Cùng với không gian tâm tưởng, thời gian tâm tưởng đã tạo nên những nét đặc sắc trong ca dao người Việt Nếu trong văn học, thời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật có mối liên hệ chặt chẽ với nhau thì thời gian tâm tưởng và không gian tâm tưởng cũng không nằm ngoài mối quan hệ ấy Trong ca dao đã thể hiện rõ mối quan hệ

Trang 22

ấy Chẳng hạn trong những không gian đượm buồn thì thường đi liền với thời gian là ban đêm hay chiều chiều Ví dụ:

+ Đêm qua ra đứng bờ ao

Trông cá,cá lặn,trông sao, sao mờ Buồn trông con nhện giăng tơ Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai?

Buồn trông chênh chếch sao Mai Sao ơi, sao hỡi, nhớ ai sao mờ?

+ Đêm qua trời sáng trăng rằm Anh đi qua cửa em nằm không yên

Mê anh chẳng phải mê tiền Thấy anh lịch sự có duyên dịu dàng

Thấy anh em những mơ màng Tưởn rằng đây đấy phượng hoàng kết đôi

Thấy anh, chưa kịp ngỏ lời

Ai ngờ anh đã vội rời gót loan

Thiếp tôi mê mẩn canh tàn Chiêm bao như thấy anh chàng ngồi bên

Tỉnh ra lẳng lặng yên nhiên Tương tư bệnh nó phát liên miên cả ngày

Nghĩ rằng duyên nợ từ đây Xin chàng hãy lại chơi đây chút nào

Cho thiếp tỏ thiệt thấp cao!

+Đêm nằm ở dưới bóng trăng Thương cha nhớ mẹ không bằng nhớ em

Thời gian thường được sử dụng trong ca dao là thời gian vào buổi chiều, buổi tối và ban đêm (chiều chiều, đêm đêm, đêm khuya, đêm qua, đêm

Trang 23

nằm, sáng ngày,…) Ngoài ra, còn có thời gian vào ban ngày như: ngày ngày, sáng ngày,…nhưng ít được sử dụng hơn Những khoảng thời gian đó đã tác động rất lớn tới tâm trạng của con người

Tiểu kết:

Chương một, tôi đã tìm hiểu khái quát về các phạm trù: khái quát về thi pháp, thi pháp ca dao, khái niệm tâm tưởng, không gian tâm tưởng, thời gian tâm tưởng trong ca dao người Việt Qua đó đã giúp tôi có một cái nhìn khái quát hơn để làm cơ sở phân tích nội dung ở phần chương 2 của bài nghiên cứu

Trang 24

CHƯƠNG 2 TÂM TRẠNG CỦA NHÂN VẬT TRỮ TÌNH THỂ HIỆN TRONG KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN TÂM TƯỞNG

2.1 Không gian tâm tưởng của nhân vật trữ tình

2.1.1 Tâm trạng của nhân vật trữ tình trong không gian gia đình của người Việt

Gia đình là cái nôi nuôi dưỡng con người Ai cũng vậy, dù đi đâu cũng trông ngóng về gia đình của mình Không gian gia đình đã làm nền cho biết bao cảm xúc trong những câu ca dao xưa của người Việt Những mối quan hệ trong gia đình như mối quan hệ với ông bà, cha mẹ, anh chị em luôn được người dân Việt Nam trân trọng, kính yêu Ca dao đúc kết kinh nghiệm và dạy cho con người ta cách ứng xử với mọi mối quan hệ trong gia đình Trong nhiều mối quan hệ trong gia đình, con người ta thường mang những suy nghĩ, tâm trạng, cảm xúc và cách cư xử khác nhau

Ca dao xưa đã rất tài tình khi diễn tả tâm trạng của nhân vật trữ tình trong không gian gia đình của người Việt Không gian gia đình có thể là không gian nhà mình và không gian nhà người Không gian nhà người là không gian gia đình người tình Đây là tâm trạng của anh chàng khi đến gia đình bạn gái, biết gia cảnh và nguyện giúp đỡ:

Hôm kia anh đến chơi nhà Thấy mẹ nằm võng, thấy cha nằm giường

Thấy em nằm đất anh thương Anh ra kẻ chợ đóng giường tám thang

Bốn góc thì anh thếp vàng Bốn chân thếp bạc, tám thang chạm rồng

Bây giờ anh phải bỏ giường không

Trang 25

Em đi lấy chồng phí cả công anh!

Chàng trai – nhân vật trữ tình trong bài ca dao trên như đang hồi tưởng lại quá khứ của ngày hôm kia Đó là thời gian mà chàng trai đến thăm nhà của người yêu Và trong không gian của ngôi nhà nhỏ ấy đã gắn với chàng trai biết bao kỉ niệm Chàng trai đã cố gắng chăm sóc người yêu nhưng kết quả nhận lại là người yêu bỏ đi lấy chồng Còn lại vẫn là không gian nhỏ ấy nhưng tất cả những gì hôm kia mà chàng trai cố gắng bây giờ lại trở thành vô nghĩa Để rồi chàng trai thốt lên rằng “phí cả công anh” Chính nhờ cái không gian gia đình ấy đã làm cho người đọc cảm nhận được tình cảm chân thành lúc trước và nỗi buồn, đau xót của chàng trai khi bị phụ bạc bây giờ

Nói đến gia đình người Việt khi xưa, dường như chúng ta nghĩ đến ngay hình ảnh ngôi nhà đơn sơ, thân thuộc nép mình sau lũy tre làng Và trong mỗi ngôi nhà nhỏ là cả một chân trời riêng, một cuộc sống riêng phong phú, đa dạng Mỗi gia đình có một nếp sống riêng, tạo nên nét đặc sắc trong văn hóa người Việt Và con cái mỗi gia đình cũng nhận được những cánh đối

xử khác nhau của cha mẹ Quan niệm trọng nam khinh nữ của cha ông ta khi xưa đã được người bình dân khéo léo đưa vào trong ca dao:

Bốn con ngồi bốn chân giường

Mẹ ơi mẹ hỡi mẹ thương con nào?

Mẹ thương con bé mẹ thay, Thương thì thương vậy chẳng tầy trưởng nam

Trưởng nam nào có gì đâu Một trăm cái giỗ đổ đầu trưởng nam

Trong không gian nhỏ của gia đình, mỗi người con nhận được những

sự quan tâm khác nhau của cha mẹ Ngày xưa, cha ông ta có quan niệm trọng nam khinh nữ, coi trọng người con trai trưởng và người con trai trưởng hầu

Trang 26

như phải gánh vác hết việc gia đình Vì thế bài ca dao trên dường như đã thể hiện được tâm tư của con cái đối với cha mẹ trong gia đình người Việt

Với mỗi con người, gia đình gắn liền với biết bao kỉ niệm Có những người con lớn lên phải chạy theo cuộc sống mưu sinh rồi rời bỏ gia đình, làng quê đi lập nghiệp ở phương xa thì mỗi khi nhớ về gia đình nhỏ thân yêu của mình lại càng cảm thấy da diết, bồi hồi nhớ nhung Gia đình, hai tiếng gọi thân thương, nơi mà những người thân yêu của chúng ta đang sống và luôn đợi chúng ta trở về Ở đó có ông bà, có cha có mẹ, có anh em, họ hàng Không gian gia đình đã được cha ông ta truyền tải vào ca dao với biết bao cung bậc cảm xúc khác nhau Và thông qua ca dao, ông cha ta cũng khuyên răn, dạy bảo con cháu cần phải sống tròn đạo hiếu với cha mẹ của mình:

- Mẹ già ở tấm lều tranh Sơm thăm tối viếng, mới đành dạ con

- Ngó lên nuột lạt mái nhà Bao nhiêu nuột lạt thương bà bấy nhiêu

Chính cái không gian gia đình nhỏ bé nhưng ấm cúng ấy, nhân vật trữ tình đã được trải lòng mình, được sống với những cung bậc cảm xúc, tâm tư của mình, được yêu thương và được nhận lấy sự yêu thương từ những người thân của mình

Nếu không gian trong nhà đã là cái nền cho nhân vật trữ tình trong ca dao thể hiện được tâm trạng của mình thì cụ thể hơn, một không gian nhỏ hơn

- không gian trong phòng đã cụ thể hóa được cái tâm trạng ấy

- Rượu nằm trong nhạo chờ nem Anh nằm phòng vắng chờ em một mình

- Đêm nằm lưng chẳng tới giường Trông cho mau sáng ra đường gặp em

Trang 27

Trong những bài ca dao trên, trong không gian nhỏ hẹp, ấm cúng của căn phòng vắng, chàng trai như đang trông ngóng, nhớ nhung một nửa của mình Cha ông ta đã rất tinh tế khi chọn một không gian nhỏ, hẹp nhưng ấm cúng và đầy dụng ý nghệ thuật ấy để diễn tả tâm trạng chờ đợi, nhớ nhung của chàng trai Cùng với thời gian đêm khuya đã làm cho tâm trạng nhân vật trữ tình thêm da diết, đợi chờ

Nếu ở những câu ca dao trên, nhân vật trữ tình đang chờ đợi, nhớ nhung trong tràn trề hy vọng thì ở bài ca dao dưới đây, nhân vật trữ tình lại chờ đợi trong vô vọng:

Năm canh thở vắn than dài Gieo mình xuống sạp, lại ngồi lên mui

Nhìn sông chỉ thấy sông dài Nhìn non non ngất, trông người mù tăm

Trong suốt năm canh thâu chỉ chờ chỉ đợi và chỉ biết thở vắn than dài Trong không gian nhỏ của gia đình thì mỗi người lại mang một tâm trạng khác nhau, một nỗi lòng khác nhau Và nhân vật trữ tình trong bài ca dao trên đang đau đáu với nỗi nhớ, xót xa với sự chờ đợi trong vô vọng Đêm khuya, căn phòng vắng hay con nhà nhỏ cũng chính là chất xúc tác cho những cảm xúc đó dâng cao trong nhân vật trữ tình

Mỗi người mang một tâm trạng khác nhau Thông qua ca dao, ông cha

ta đã cho chúng ta nhìn thấy một cách khái quát về bức tranh tâm trạng đa màu sắc ấy của con người bình dân xưa Không chỉ là không gian trong nhà hay cụ thể hơn là không gian trong căn phòng nhở riêng tư của mỗi người thì không gian ở trước ngõ, trước cửa cũng giúp cho nhân vật trữ tình bộc lộ

được tâm trạng của mình một cách tinh tế, sâu sắc:

Đêm qua trời sáng trăng rằm

Anh đi qua cửa em nằm không yên

Trang 28

Mê anh chằng phải mê tiền Thấy anh lịch sự có duyên dịu dàng

Thấy anh em những mơ màng Tưởng rằng đây đấy phượng hoàng kết đôi

Thấy anh, chưa kịp ngõ lời

Ai ngờ anh đã vội rời gót loan

Thiếp tôi mê mẩn canh tàn Chiêm bao như thấy anh chàng ngồi bên

Tỉnh ra lẳng lặng yên nhiên Tương tư bệnh nó phát liên miên cả ngày

Nghĩ rằng duyên nợ từ đây Xin chàng hãy lại chơi đây chút nào

Cho thiếp tỏ thiệt thấp cao!

Có thể nói, con người ta tồn tại là nhờ có tình yêu Sống phải có yêu thương thì cuộc sống mới thú vị và đáng sống Tình yêu là đề tài muôn thuở

và nó cũng không nằm ngoài vòng vây của ca dao Tình yêu là mảng đề tài phong phú, hấp dẫn luôn lôi cuốn con người ta cảm nhận, khám phá Và trong thời xa xưa, dù chưa có chữ viết để diễn tả những cung bậc của tình yêu thì những cung bậc cảm xúc ấy cũng được ông cha ta khéo léo truyền miệng nhau bằng những lời ca dao giản dị, chân thành Cái bệnh tương tư của con người mỗi khi tình yêu đến mà con người ta chưa đủ dũng khí để thổ lộ Chính vì thế, trong bài ca dao trên, cô gái trong đêm khuya vắng, trong không gian trước ngõ nhà mình, nhìn thấy chàng trai và tương tư chàng trai từ ngay

giây phút ấy “Thấy anh lịch sự có duyên dịu dàng” đã làm cho trái tim cô gái

rung động để rồi sau đấy là cả một chuỗi ngày chờ đợi, yêu thương

Dù ở bất cứ một không gian nhỏ nào trong gia đình thì cũng để lại cho con người ta nhiều kỉ niệm, cảm xúc, tâm trạng Và ở mỗi không gian nhỏ ấy

Trang 29

thì mỗi người mang một tâm trạng khác nhau, cách thể hiện tâm trạng cũng khác nhau Nếu ở bài ca dao trên, mỗi khi nhìn ra cửa lại khiến cho cô gái nhớ

da diết chàng trai “có duyên”, “lịch sự” mà mìn đang tương tư thì ở bài ca dao dưới đây, cái ngõ trước nhà lại là nơi trai gái hò hẹn, tình tứ, thể hiện yêu thương:

Giả đò bắt ốc hái rau

Đi ngang qua ngõ thấy nhau kẻo buồn

Giả đò bắt ốc, giả đò hái rau để được nhìn thấy người mình yêu thương Tinh yêu xưa thật giản dị, chất phác mà cũng thật tình tứ, lãng mạn Nếu ngày nay, con người ta được tự do yêu thương thì ngược lại, trong xã hội phong kiến xưa kia con người ta phải sống với những lễ giáo phong kiến, phải sống khép mình, thể hiện tình yêu được xem là một điều cấm kị, và nhất là đối với người phụ nữ Nhưng tình yêu là nhu cầu của cuộc sống con người Chính vì thế, trong sâu thẳm đời sống nội tâm của mỗi con người thì người ta vẫn luôn yêu thương và thể hiện tình yêu thương ấy một cách khéo léo, tế nhị Những cung bậc cảm xúc trong tình yêu mà ông cha ta đã truyền tải vào ca dao đã cho chúng ta thấy một bức tranh tình yêu tràn đầy cảm xúc, đa dạng màu sắc

mà thật giản dị, thật chất phác, đúng với con người Việt Nam xưa “Đi ngang

qua ngõ thấy nhau kẻo buồn” đúng là tâm trạng thổn thức, khát khao của

những người đang yêu Người ta chỉ cần nhìn thấy nhau để đở nhớ, đở buồn,

đỡ tương tư Cái không gian ngõ nhà ấy thật ý nghĩa, đó là cả một khung trời

hò hẹn, một khung trời nhung nhớ, chờ đợ, thổn thức của các cặp tình nhân xưa:

Chiều chiều ra đứng ngõ sau Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều

Buổi chiều thường gắn liền với nỗi nhớ Cùng thời gian chiều chiều, không gian “ngõ sau” đã bộc lộ một cách sâu sắc tâm trạng của nhân vật trữ

Trang 30

tình Tại sao không đững ngõ trước mà phải là ngõ sau? Dường như không gian ngõ sau được xem là một không gian riêng tư, thầm kín để con người ta tìm về với nỗi nhớ Cái không gian ngõ sau tạo cơ hội cho nhân vật trữ tình

đứng một mình, yên tĩnh và nỗi nhớ đến nỗi “ruột đau chín chiều” là điều

đương nhiên của một con người xa quê hương, gia đình, cha mẹ

Không gian gia đình đã mang lại cho nhân vật trữ tình trong ca dao với biết bao tâm trạng Hình ảnh gia đình người Việt nhờ vậy mà đậm nét trong

ca dao xưa Nếu không gian trong nhà làm nền cho cảm xúc chung, cái cảm xúc đan xen của nhân vật trữ tình thì không gian trong phòng lại là cái không gian riêng tư, không gian mà con người ta có thể đối diện với tâm hồn mình một cách thoải mái nhất, dễ chịu nhất, con người ta là chính mình nhất Cũng

có thể, chính nhờ những không gian riêng tư ấy mà người bình dân xưa đã sáng tạo nên những bài ca dao độc đáo để lại cho con cháu ngàn đời sau Có thể thấy rằng, với mỗi không gian nhỏ trong gia đình đã để lại trong tâm hồn mỗi nhân vật trữ tình một dấu ấn riêng Không gian trong nhà, ngoài ngõ, trước cửa, bên khung cửi,… đều có thể là những không gian tâm trạng khi xuất hiện trong ca dao Trong không gian gia đình, con người ta có thể mang nhiều trạng thái cảm xúc khác nhau Bởi hằng ngày, họ phải đối diện với nhiều mối quan hệ khác nhau trong gia đình Thông qua ca dao Việt Nam xưa, ông cha ta đã phần nào thể hiện được trạng thái cảm xúc của con người trong không gian gia đình với nhiều mối quan hệ của họ Đồng thời, qua đó, ông cha ta cũng giáo dục, khuyên răn, dạy bảo con cháu cách cư xử đúng mực, vẹn tình vẹn nghĩa, đúng với đạo lí của con người Điều đó giúp con người ta sống hoàn thiện mình hơn, biết sống có tình nghĩa, hợp đạo lí làm người

2.1.2 Tâm trạng của nhân vật trữ tình trong không gian xã hội của người Việt

Trang 31

Con người sống và tồn tại với biết bao mối quan hệ xung quanh mình

Và con người ta phải làm sao để biến tất cả những mối quan hệ xung quanh mình trở thành đều là những mối quan hệ tốt đẹp Trong cuộc sống va chạm hằng ngày, con người ta phải đóng rất nhiều vai giống như diễn viên của cuộn phim giữa cuộc đời vậy Trong guồng quay của cuộc sống ấy đã đem lại cho con người ta nhiều tâm trạng, nhiều cảm xúc đan xen Trong không gian xã hội của người Việt, ông cha ta đã đúc kết những kinh nghiệm quý báu về đối nhân xử thế để truyền lại cho con cháu ngàn đời sau

Không gian xã hội của người Việt mà nhân vật trữ tình trong ca dao xưa mang đầy tâm trạng đó có thể là làng xã, dòng sông, con thuyền, cái cầu,

bờ ao, cây đa, mái đình, ngôi chùa, cánh đồng, con đường, bờ kênh, … Ở đó,

là không gian mà những người bình dân xưa sinh sống, làm lụng, vui chơi,…

Ở đó cũng là những điểm hò hẹn, tình tự, than thở của những đôi lứa đang yêu:

Làng tôi có lũy tre xanh

Có sông Tô Lịch uốn quanh xóm làng

Bên bờ vải, nhãn, hai hàng

Dưới sông cá lội từng đàn tung tăng

Tình yêu quê hương đất nước, yêu xóm làng đã được người bình dân xưa thể hiện qua những bài ca dao giản dị, chân thành Ca ngợi vẻ đẹp đơn sơ, yên bình của quê hương cũng chính là một hình thức mà người dân Việt Nam xưa thể hiện tình yêu với nơi chôn rau cắt rốn của mình Cổng làng là không gia quen thuộc nhưng cũng rất thiêng liêng, nơi đó các lứa đôi chờ đón, hò hẹn:

Chiều chiều ra đứng cổng làng Nghe trống bãi tràng em chạy đón anh

Trang 32

Không gian làng quê đã quá quen thuộc trong ca dao Bởi cái cổng làng

là nơi người ta tụ họp, hẹn hò Ở cái cổng làng ngày xưa ấy, nhiều cô gái đã mạnh dạn thể hiện tình yêu của mình Khi nghe trống bãi tràng thì chạy ra đón người yêu Một cách thể hiện tình yêu khá mạnh mẽ và cũng thật dí dỏm

Nếu lấp ló sau lũy tre làng là những kỉ niệm thân thương của cả cuộc đời một con người thì những không gian như mái đình, cây đa, giếng nước,…

là những không gian cụ thể hóa những kỉ niệm đó:

-Cây đa rụng lá đầy đình Bao nhiêu lá rụng thương mình bấy nhiêu

-Qua đình, ngã nón trông đình Đình bao nhiêu ngói, thương mình bấy nhiêu

Không gian đình làng với cây đa cổ kính là nơi gợi bao niềm cảm xúc nhớ thương bởi đình thường là nơi tụ họp của mọi người Ở đó những chàng trai cô gái có dịp gặp gỡ rồi đem lòng nhớ thương Người ta so sánh lá đa rụng ở ngoài đình với nỗi thương mình Một sự so sánh độc đáo, đặc sắc Chính nhờ cách so sánh ấy đã giúp cho nhân vật trữ tình thể hiện được tâm trạng của mình một cách tinh tế, chân thành

Nói đến không gian xã hội của người Việt, khó có thể không nhắc tới không gian dòng sông, hình ảnh con đò Những hình ảnh quá đỗi thân quen với mỗi người dân Việt Nam xưa Và chính cái không gian quen thuộc ấy cũng đã đem tới cho nhân vật trữ tình những tâm trạng đan xen Và cha ông ta

đã tinh tế diễn tả những cung bậc cảm xúc ấy vào trong ca dao để tô đậm thêm nét đẹp văn hóa của người Việt:

Em thương anh nấp bụi nấp bờ Sớm trông đò ngược, tối chờ đò xuôi

Thuyền anh đậu bến lâu rồi Sao em chưa xuống mà ngồi thuyền anh?

Trang 33

Dường như không gian dòng sông, hình ảnh con thuyền là nơi mà

chàng trai chờ đợi người mình yêu Cả hai nhân vật trữ tình như “Tình trong

như đã mặt ngoài còn e” Người con gái đã yêu rồi đấy, đã ngóng trông rồi

đấy “ sớm trông đò ngược, tối chờ đò xuôi”thế nhưng lại e thẹn nép mình ở nơi đâu làm cho chàng trai phải chờ, phải đợi “Thuyền anh đậu bến lâu rồi/

Sao em chưa xuống mà ngồi thuyền anh”, một câu hỏi với bao mong chờ, nhớ

nhung

Cũng là không gian dòng sông, hình ảnh con đò nhưng chàng trai ở bài

ca dao dưới lại mang một cung bậc cảm xúc khác Không ngồi chờ đợi, mà

chàng trai lại khao khát “quan đắp đường liền” để đôi lứa dễ gặp nhau hơn vè

hẹn cơ hội gặp gỡ người mình yêu thương:

Ai về đường ấy mấy đò Mấy cầu, mấy ván, anh cho mượn tiền Ước gì quan đắp đường liền Kẻo ta đi lại tốn tiền đò ngang

Em về dọn quan bán hàng

Để anh là khách qua đàng trú chân

Dòng sông, con đò - hình ảnh quá đỗi thân thuộc với mỗi con người Việt Nam xưa đã là không gian để trai gái hẹn hò, yêu đương Chính không gian ấy đã giúp con người ta bộc lộ tình yêu chân thành, mộc mạc Ông cha ta

đã gửi gắm những cung bậc cảm xúc đầy màu sắc của nhân vật trữ tình vào trong kho tàng ca dao người Việt Với những ngôn từ hết sức giản dị đã giúp người bình dân xưa khéo léo lột tả được những cảm xúc của mình

Không gian sông nước, bến đò, cây cầu cũng là những không gian quen thuộc mà nơi đó thường chứng kiến bao cuộc gặp gỡ, trao duyên:

-Cây đa cũ, bến đò xưa

Bộ hành có nghĩa, nắng mưa cũng chờ

Trang 34

-Qua cầu, ngã nón trông cầu Cầu bao nhiêu nhịp, dạ sầu bấy nhiêu…

Những hình ảnh như: cầu, đình,… là những không gian gợi cho nhân vật trữ tình nhiều tâm trạng Ở đó có thể là những nơi gắn liền với nhiều kỉ niệm của họ để rồi khi đi qua cầu người ta lại bắt gặp cảm giác “sầu” hay khi qua đình lại là cảm giác “thương mình”

Chiều chiều là khoảng thời gian thường đem nỗi nhớ đến cho con người ta Chiều chiều là khoảng thời gian mọi vật trở về với tổ ấm, là thời gian mà con người ta gặp gỡ, đoàn tụ Không gian của bờ kênh cùng với thời gian chiều chiều đã vô tình mang cảm xúc, tâm trạng tới cho nhân vật trữ tình Cha ông ta đã khéo léo diễn tả tâm trạng ấy thông qua những ngôn ngữ bình dân nhưng hết sức mộc mạc, chân thành:

Chiều chiều én liệng bờ kênh Ếch kêu giếng lạnh, thắm tình đôi ta

Vốn dĩ buổi chiều đã tạo cho người ta cảm giác buồn Thế mà ở đây âm thanh tiếng “chiều” được lặp lại làm cho nỗi buồn như nhân đôi Cùng với đó

là không gian yên bình của làng quê, của bờ kênh đã giúp cho việc thể hiện tâm trạng ấy thêm tinh tế, độc đáo

Tâm trạng của nhân vật trữ tình trong không gian xã hội của người Việt được người bình dân xưa thể hiện một cách khéo léo, tài tình Tâm trạng ấy

có thể xuất hiện trong không gian của làng xã, mái đình, cây đa, bờ kênh,…

và cũng có thể là cánh đồng Cánh đồng được xem là một nơi khá thân thuộc, gần gũi với mỗi người dân Việt Nam xưa Cánh đồng là không gian mà con người ta đi lao động và ở nơi đõ cũng có thể là nơi hò hẹn, tỏ tình của những đôi trai gái:

Cô kia cắt cỏ một mình Cho anh cắt với chung tình làm đôi

Ngày đăng: 09/05/2021, 16:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w