1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất trường đại học sư phạm – đại học đà nẵng

99 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHOA TÂM LÝ – ÁO DỤC KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất trường ại học Sư phạm – ại học à Nẵng Sinh viên thực hiện : Nguyễn

Trang 1

KHOA TÂM LÝ – ÁO DỤC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất trường ại học Sư phạm – ại học à Nẵng

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Minh ải

Chuyên ngành: Tâm lý iáo dục Người hướng dẫn : Tô Thị Quyên

Đà Nẵng, tháng 5/ 2013

Trang 2

LỜ CAM OAN

Tôi xin cam đoan rằng đây chính là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện Những số liệu trong khóa luận tốt nghiệp này là trung thực Các đoạn trích được trích dẫn rõ ràng, đúng quyền tác giả Các kết quả nghiên cứu trong khóa luận này chưa từng được công bố

Trang 3

Nẵng, Thầy cô giáo trong khoa Tâm lý – giáo dục đã tận tình chỉ bảo giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt 4 năm học tập tại trường cũng như trong quá trình nghiên cứu

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc nhất đến cô giáo ThS Tô Thị

Quyên cô đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện khóa luận

tốt nghiệp

Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của Ban giám hiệu nhà trường, các thầy cô giáo, đặc biệt là các thầy cô giáo trong Khoa Tâm lý – giáo dục, giáo viên chủ nhiệm và tập thể sinh viên các lớp 12CTL, 12CTXH, 12SDL, 12SVL, 12ST và 12SPT cùng toàn thể các bạn sinh viên trường Đại học sư phạm – Đại học Đà Nẵng

đã nhiệt tình giúp đỡ, cộng tác để tôi có thể hoàn thành khó luận tốt nghiệp này Cảm ơn các bạn trong lớp và các anh chị khóa trước đã chia sẽ tài liệu và giúp

đỡ tôi rất trong quá trình thực hiện đề tài này

Báo cáo tốt nghiệp không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được

sự chia sẻ, góp ý kiến của quý thầy cô cùng các bạn để bài đề tài được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, ngày 22 tháng 5 năm 2013

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Minh Hải

Trang 4

MỞ ẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 ối tượng và khách thể nghiên cứu 2

4 iả thuyết khoa học 2

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 3

7 óng góp mới của đề tài 3

NỘ DUN 4

C ƯƠN : CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA Ề T 4

1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 4

1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài 4

1.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam 5

2 Cơ sở lí luận 8

2.1 oạt động học tập của sinh viên sư phạm 8

2.1.1 Sinh viên sư phạm 8

2.1.1.1 Thuật ngữ sinh viên 8

2.1.1.2 Sinh viên sư phạm 8

2.1.1.3 ặc điểm tâm lý lứa tuổi sinh viên 9

2.1.1.4 Một số khái quát về sinh viên năm thứ nhất 12

2.1.2 oạt động học tập của SV 12

2.1.2.1 Khái niệm hoạt động học tập 12

2.1.2.2 ặc điểm hoạt động học tập 14

2.1.3 oạt động học tập của sinh viên sư phạm 15

2.1.3.1 Khái niệm hoạt động học tập của sinh viên 15

2.1.3.2 ặc điểm hoạt động học tập của sinh viên 15

2.1.3.3 oạt động học tập của sinh viên sư phạm 16

Trang 5

2.2.2 Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên sư phạm 19

2.3 Biểu hiện của khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập 21

2.3.1 Nhận thức 21

2.3.2 Thái độ 22

2.3.2 Hành vi 23

2.4 Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên ại học sư phạm – N năm thứ nhất 24

2.4.1 Khó khăn tâm lý biểu hiện ở mặt nhận thức 24

2.4.2 Khó khăn tâm lý biểu hiện ở mặt thái độ 25

2.4.3 Khó khăn tâm lý biểu hiện ở mặt hành vi 26

2.5 Nguyên nhân của khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập 29

Kết luận chương 1 31

C ƯƠN : TỔ C ỨC V P ƯƠN P ÁP N ÊN CỨU 32

2.1 Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu 32

2.2 Nhiệm vụ và nội dung nghiên cứu 33

2.3 Cách thức tổ chức các phương pháp nghiên cứu 34

2.4 Tiến trình nghiên cứu 37

Kết luận chương 2 38

C ƯƠN : KẾT QUẢ N ÊN CỨU 39

3.1 Thực trạng khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của SV năm thứ nhất trường ại học sư phạm – ại học à Nẵng 39

3.1.1 ánh giá của SV năm thứ nhất về khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của họ 39

3.1.2 Thực trạng khó khăn tâm lý biểu hiện ở mặt nhận thức và thái độ trong hoạt động học tập của SV năm thứ nhất trường SP – N 45

3.1.2.1 Những biểu hiện của khó khăn tâm lý thông qua mặt nhận thức và thái độ của SV năm thứ nhất trường SP - N (xét theo khối học) 48

3.1.2.2 Những biểu hiện của khó khăn tâm lý thông qua mặt nhận thức và thái độ của sinh SV thứ nhất trường SP N (xét theo giới tính ) 50

Trang 6

3.2 Thực trạng hiệu quả hoạt động học tập do ảnh hưởng của các khó khăn

tâm lý ở SV năm thứ nhất trường SP - N 59

3.2.1 So sánh ảnh hưởng của các khó khăn tâm lý với hiệu quả hoạt động học tập ở sinh SV thứ nhất trường SP N giữa các khối học 61

3.2.2 So sánh ảnh hưởng của các khó khăn tâm lý với hiệu quả hoạt động học tập ở SV năm thứ nhất trường SP N theo giới tính 63

3.3 Thực trạng nguyên nhân gây ra khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của SV năm thứ nhất trường SP - N 64

3.3.1 Tổng quan thực trạng nguyên nhân gây ra khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của SV năm thứ nhất trường SP - N 64

3.3.1.1 Nguyên nhân khách quan 66

3.3.1.2 Nguyên nhân chủ quan 68

3.4 Thực trạng biện pháp khắc phục khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của SV năm thứ nhất trường SP - N 70

3.5 Một vài chân dung SV năm thứ nhất trường ại học sư phạm – ại học à Nẵng gặp nhiều khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập 73

3.5.1 Chân dung thứ nhất 73

3.5.2 Chân dung thứ hai 75

Kết luận chương 3 77

KẾT LUẬN V K ẾN N Ị 78

I Kết luận 78

II Kiến nghị 79

2.1 Về phía nhà trường, khoa 79

2.2 Về phía giảng viên 80

2.3 Về phía sinh viên 80

T L ỆU T AM K ẢO 82

P Ụ LỤC 86

Trang 7

SP – N Đại học sư phạm - Đại học Đà Nẵng

Trang 8

STT Tên bảng Trang

3.1 Tự đánh giá của SV ĐHSP ĐHĐN năm thứ nhất về KKTL trong

học tập (xét theo khối học)

39

3.2 Mức độ KKTL trong hoạt động học tập của sinh viên năm thứ

3.3 Tự đánh giá của SV ĐHSP Đà Nẵng năm thứ nhất về KKTL

trong học tập(xét theo giới tính) 42 3.4 Mức độ KKTL trong hoạt động học tập của sinh viên năm thứ

3.5 Thực trạng KKTL biểu hiện ở mặt nhận thức trong hoạt động

học tập của sinh viên năm thứ nhất trường ĐHSP Đà Nẵng 45 3.6 Thực trạng KKTL biểu hiện ở mặt thái độ trong hoạt động học

tập của sinh viên năm thứ nhất trường ĐHSP Đà Nẵng 46 3.7 Thực trạng KKTL của sinh viên năm thứ nhất xét theo khối học 48 3.8 Thực trạng KKTL của sinh viên năm thứ nhất xét theo giới tính 50 3.9 Thực trạng khó khăn tâm lý trong kỹ năng học tập của sinh viên

khăn tâm lý của sinh viên năm thứ nhất trường ĐHSP ĐN 60 3.13 Thực trạng hiệu quả hoạt động học tập do ảnh hưởng của khó

khăn tâm lý của sinh viên năm thứ nhất trường ĐHSP ĐN 61 3.14 Thực trạng hiệu quả hoạt động học tập do ảnh hưởng của khó

khăn tâm lý của sinh viên năm thứ nhất trường ĐHSP ĐN 63 3.15 Tổng quan thực trạng nguyên nhân gây ra khó khăn tâm lý trong

hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất trường ĐHSP ĐN 64 3.16 Các nguyên nhân khách quan gây nên khó khăn tâm lý trong học

tập của sinh viên năm thứ nhất trường ĐHSP ĐN 67 3.17 Các nguyên nhân chủ quan gây nên khó khăn tâm lý ở sinh viên

năm thứ nhất trường ĐHSP Đà Nẵng 68 3.18 Tổng quan thực trạng các biện pháp khắc phục khó khăn tâm lý

trong hoạt động học tập của sinh viên 70 3.19 Thực trạng giờ tự học trong ngày của sinh viên năm thứ nhất

3.20 Kết quả học tập HKI năm học 2012-2013 của SV N.T.L.T 74

Trang 9

3.1 Biểu đồ thể hiện tự đánh giá của SV ĐHSP - ĐHĐN năm thứ

nhất về KKTL trong học tập (xét theo khối học) 39 3.2 Mức độ KKTL trong hoạt động học tập của sinh viên năm thứ

3.6 Thực trạng hiệu quả hoạt động học tập do ảnh hưởng của khó

khăn tâm lý của sinh viên năm thứ nhất trường ĐHSP – ĐHĐN 60 3.7

So sánh hiệu quả hoạt động học tập do ảnh hưởng của khó khăn

tâm lý của sinh viên năm thứ nhất trường ĐHSP ĐHĐN (xét theo

khối học)

62

3.8

So sánh hiệu quả hoạt động học tập do ảnh hưởng của khó khăn

tâm lý của sinh viên năm thứ nhất trường ĐHSP ĐHĐN (xét theo

giới tính)

64

3.9

Tổng quan thực trạng nguyên nhân gây ra khó khăn tâm lý trong

hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất trường ĐHSP –

ĐHĐN

65

3.10 Tổng quan thực trạng các biện pháp khắc phục khó khăn tâm lý

trong hoạt động học tập của sinh viên 71

Trang 10

MỞ ẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong cuộc sống, con người muốn tồn tại và phát triển phải tham gia vào các hoạt động, bằng hoạt động và thông qua hoạt động nhân cách con người được hình thành và phát triển Tùy vào mục đích, nhiệm vụ, vị trí và hoàn cảnh khác nhau mà mỗi cá nhân, trong hoạt động của mình sẽ gặp phải những khó khăn nhất định đòi hỏi cá nhân phải nỗ lực vượt qua để hoạt động được diễn ra cũng như đạt được mục đích của mình Do đó, việc tìm hiểu những khó khăn và có biện pháp giảm bớt nó là hết sức cần thiết

Đối với con người, học tập là một trong những hình thức hoạt động chính, không thể thiếu, nhằm tiếp thu, lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội lịch sử của xã hội loài người đã được tích lũy qua nhiều thế hệ

Đối với sinh viên ở trường đại học, học tập là một dạng hoạt động cơ bản mà

thông qua nó người SV “nắm vững kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành về

nghề, có khả năng phát hiện và giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành đào tạo”[4], để trở thành chuyên gia trong lĩnh vực được đào tạo, có khả

năng lao động nghề, nuôi sống bản thân, phục vụ xã hội trong tương lai Do đó, hoạt động học tập cần sự quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi cũng như giảm bớt khó khăn nảy sinh trong học tập của SV

Thực tế cho thấy, SV năm thứ nhất nói chung, SV năm thứ nhất trường đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng nói riêng, phần lớn là học sinh đang thực hiện bước chuyển tiếp từ môi trường học tập ở phổ thông sang môi trường học tập ở bậc đại học với nhiều khác biệt về khối lượng, nội dung tri thức, phương pháp giảng dạy, hình thức học tập,…vv Ngoài ra, hầu hết SV đại học xuất thân từ những vùng miền khác nhau, với môi trường hoàn cảnh sống, điều kiện kinh tế có nhiều khác biệt so với nhịp sống ở các thành phố lớn, là nơi tập trung của đa số các trường đại học Tất cả những sự khác biệt đó đã gây không ít khó khăn tâm lý khiến SV rất dễ chán nản, bỏ bê việc học tập hoặc không theo kịp, không đáp ứng được các yêu cầu học tập

Trang 11

Vì vậy, việc phát hiện khó khăn tâm lý cụ thể và tìm ra biện pháp khắc phục những khó khăn tâm lý này trong hoạt động học tập của SV năm thứ nhất là việc làm cần thiết, góp phần nâng cao hiệu quả học tập của họ

Trường Đại học sư phạm – Đại học Đà Nẵng là trường có số lượng lớn SV tuyển sinh đào tạo hàng năm, vấn đề chất lượng đào tạo luôn được quan tâm hàng đầu nên việc tìm hiểu những khó khăn tâm lý trong học tập của sinh viên và hỗ trợ

họ là điều hết sức cần thiết và cấp bách

Xuất phát từ những yêu cầu lý luận và thực tiển trên, chúng tôi đã lựa chọn

và nghiên cứu đề tài: “Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên

năm thứ nhất trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng”

2 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu một số khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của SV năm thứ nhất trường Đại học sư phạm – Đại học Đà Nẵng Từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm giúp đỡ SV vượt qua khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động học tập của SV và từng bước thích nghi với cuộc sống và môi trường mới

3 ối tƣợng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu : Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của SV năm thứ nhất trường Đại học sư phạm – Đại học Đà Nẵng

3.2 Khách thể nghiên cứu : Sinh viên năm nhất trường Đại học sư phạm – Đại học Đà Nẵng

3.3 Phạm vi nghiên cứu : Đề tài tập trung nghiên cứu trên 200 sinh viên năm nhất trường Đại học sư phạm – Đại học Đà Nẵng, thuộc hai khối tự nhiên và xã hội

Không gian nghiên cứu : Trường Đại học sư phạm – Đại học Đà Nẵng Thời gian nghiên cứu : 01.02.2013 – 02.05.2013

4 iả thuyết khoa học

Đa số sinh viên năm nhất trường Đại học sư phạm – Đại học Đà Nẵng đều gặp phải những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập do nhiều nguyên nhân khác nhau Nếu có những phương pháp tác động tích cực, phù hợp thì sẽ giúp

Trang 12

những sinh viên năm nhất trường Đại học sư phạm giảm bớt những khó khăn tâm lý

đó

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Xây dựng cơ sở lí luận của đề tài : Khó khăn tâm lý; hoạt động học tập; hoạt động học tập của sinh viên Sư phạm; khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên Sư phạm năm nhất

5.2 Khảo sát thực trạng khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học sư phạm – Đại học Đà Nẵng, cũng như xác định các nguyên nhân gây ra khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của họ

5.3 Đề xuất biện pháp tác động nhằm giảm bớt khó khăn tâm lý trong học tập của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học sư phạm – Đại học Đà Nẵng

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận : Tham khảo các công trình

nghiên cứu, sách, báo, tạp chí chuyên ngành về các vấn đề liên quan như: khó khăn tâm lý, hoạt động học tập của sinh viên…Từ đó hệ thống và khái quát hóa các khái niệm công cụ làm cơ sở lý luận cho đề tài

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

6.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

6.2.2 Phương pháp phỏng vấn, trò chuyện

6.2.3 Phương pháp quan sát

6.2.4 Phương pháp nghiên cứu điển hình

6.2.5 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học

7 óng góp mới của đề tài

Nghiên cứu khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng Đề tài chỉ ra mức độ khó khăn tâm lý cũng như nguyên nhân của nó.Từ đó đề xuất biện pháp tác động giúp sinh viên vượt qua khó khăn tâm lý, giúp các em học tập hiệu quả hơn

Trang 13

NỘ DUN

C ƯƠN : CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA Ề T

1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong lịch sử nghiên cứu tâm lý, vấn đề khó khăn tâm lý nói chung, khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập nói riêng đã được nhiều nhà nghiên cứu tâm lý xem xét dưới nhiều góc độ, nhiều khách thể khác nhau Sau đây là vài nét sơ lược một số công trình nghiên cứu về khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập trong và ngoài nước

1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

Đối với con người, học tập là phương thức để tiếp thu tri thức, kỹ năng nhằm mục đích nhận biết, tác động, cải tạo thế giới hiện thực, phũc vụ cho lợi ích của con người Lịch sử loài người đã chứng minh, chỉ thông qua con đường học tập, thì những di sản văn hoá vật chất, tinh thần từ thế hệ trước mới được lưu truyền cho thế

hệ sau và cũng nhờ đó mà những giá trị này mới còn tồn tại Tuy nhiên, học tập không phải là một hoạt động đơn giản Trong quá trình biến tri thức của nhân loại thành vốn kinh nghiệm riêng của cá nhân con người đã gặp không ít khó khăn, trong đó có nhưng khó khăn về mặt tâm lý

Khi bàn về khó khăn tâm lí trong học tập, tác giả A.V.Pêtrốpxki hướng đến đối tượng là khó khăn tâm lý của trẻ em khi đi vào lớp một Ông chia những khó khăn này ra làm ba loại :

Loại 1: Nhưng khó khăn có liên quan đến đặc điểm của chế độ học tập mới Loại 2: Khó khăn trong việc thiết lập mối quan hệ giao tiếp mới với thầy cô và bạn bè

Loại 3: Khó khăn trong việc thích nghi với hoạt động mới Lúc đầu trẻ được sự chuẩn bị của gia đình, nhà trường, xã hội nên có tâm lý vui thích và sẵn sàng đi học

Về sau trẻ giảm dần khát vọng và chán học

Bên cạnh đó, tác giả đề cập những nguyên nhân dẫn đến khó khăn và ảnh hưởng của chúng đến đời sống của trẻ đồng thời đề xuất biện pháp giải quyết khó khăn cho trẻ

Trang 14

Cũng đề cập đến vấn đề khó khăn tâm lý của trẻ em khi vào lớp một, nhà tâm

lý học Mauricè Debesse trong công trình nghiên cứu của mình đã gọi lớp một là

“trang sử mới của cuộc đời đứa trẻ” Đồng thời Mauricè Debesse cũng chỉ ra rằng, đứng trước ngưỡng cửa lớp một trẻ em gặp rất nhiều khó khăn tâm lý Chính những khó khăn này làm cản trơ tới sự thích ứng với hoạt động học tập của trẻ, làm trẻ sợ học, không muốn đến trường và kết quả học tập không cao

Bianka Zazzo, nhà tâm lý học và giáo dục học người Pháp, cùng với các cộng sự của mình thuộc trung tâm nghiên cứu trẻ em của Đại học Paris 10 đã tiến hành nghiên cứu về bước chuyển từ mẫu giáo lên cấp một của trẻ em Tác giả đã chỉ

ra rằng, khó khăn tâm lý lớn nhất mà trẻ gặp phải làm cản trở đến sự thích ứng với hoạt động học tập của trẻ là “sự thay đổi môi trường hoạt động một cách triệt để, gọi là chuyển dạng hoạt động chủ đạo Mẫu giáo lấy hoạt động vui chơi làm chủ đạo, vừa học vừa chơi, hoạt động đa dạng, tính tự do tùy hứng cá nhân nặng hơn tính chỉ đạo của giáo viên Bước vào lớp một, học tập là chủ đạo, học sinh phải học nghiêm chỉnh theo sự chỉ đạo của giáo viên, theo nguyên tắc lớp học”[27]

Tóm lại, khó khăn tâm lý trong hoc tập là một hiện tượng tâm lý phức tạp nhưng được ít các nhà tâm lý học nước ngoài quan tâm nghiên cứu Mặc dù trong công trình nghiên cứu của mình, các tác giả đã có những đóng góp nhất định trong việc phát hiện và nêu ra một số khó khăn tâm lý, đồng thời chỉ ra nguyên nhân của những khó khăn tâm lý đó

Tuy nhiên đối tượng mà các công trình nghiên cứu này hướng tới chủ yếu là những khó khăn tâm lý của trẻ vào lớp một, đồng thời họ cũng chưa nêu được định nghĩa cũng như vạch ra bản chất của những khó khăn tâm lý đó

1.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam

Trong tác phẩm “Nỗi khổ của con em chúng ta”, bác sỹ Nguyễn Khắc Viện

đã nêu ra những khó khăn tâm lý mà học sinh lớp một gặp phải đó là:

- Trẻ phải giữ kỷ luật lớp học

- Trẻ phải học một chương trình nặng hơn so với tuổi mẫu giáo

- Trẻ ít được bố mẹ vỗ về âu yếm hơn trước và trẻ luôn chịu sự kiểm tra, đánh giá của bố mẹ…[32]

Trang 15

Nhà giáo dục Nguyễn Thị Nhất trong tác phẩm “ 6 tuổi vào lớp 1” đã phát hiện ra nhiều khó khăn tâm lý mà trẻ lớp một phải vượt qua Tác giả cho rằng

“trong quá trình lớn lên của trẻ em có những bước ngoặt chuyển tư giai đoạn này sang giai đoạn khác đòi hỏi trẻ em phải thay đổi phương thức sinh hoạt một cách triệt để.” Đồng thời tác giả cũng nêu ra một số khó khăn tâm lý cụ thể mà trẻ lớp một phải vượt qua :

- Trẻ phải rời bỏ cuộc sống thoải mái, đa dạng, vui nhộn, hoạt động tùy hứng ở mẫu giáo và khép mình với kỉ luật nghiêm khắc ở lớp học phổ thong

- Trẻ gặp khó khăn trong quan hệ với giáo viên

- Trẻ bị “vỡ mộng” khi vào học lớp một vì sự hân hoan hồi hộp chờ đón những điều hấp dẫn được thay bằng những điều khác xa với tưởng tượng của trẻ [23]

Năm 1995, tác giả Nguyễn Minh Hải trong bài “Những khó khăn tâm lý trong quá trình giải toán của học sinh tiểu học” đã đề cập đến các nguyên nhân khác nhau hạn chế năng lực giải toán của học sinh tiểu học.[11, tr.25]

Tác giả Nguyễn Thanh Sơn, trong bài viết “Những khó khăn của học sinh miền núi khi học tác phẩm văn học cổ điển Việt Nam” [26], đã phân tích những khó khăn của của học sinh miền núi khi học tác phẩm văn học cổ điển Việt Nam và chỉ

ra những khó khăn mà học sinh gặp phải là:

- Hoàn cảnh giao tiếp thông tin của học sinh miền núi bị hạn chế

- Vốn từ ngữ của học sinh miền núi còn thiếu và yếu

- Năng lực cảm thụ một câu thơ, một đoạn thơ yếu…

Theo tác giả, nguyên nhân của những khó khăn của học sinh miền núi khi học tác phẩm văn học cổ điển Việt Nam là do tầm văn hoá, vốn sống, vốn hiểu biết của các em còn hạn chế Vì vậy muốn nâng cao năng lực cảm thụ văn học của các

em phải mở rộng tầm hiểu biết cuộc sống, xã hội cho các em Những hoạt động ngoại khoá, du lịch, câu lạc bộ văn hoá là những hoạt động có tác dụng tốt đối với học sinh

Trong bài viết “Một số trở ngại tâm lý của trẻ em khi vào học lớp một” [8, tr.57 - 58], tác giả Vũ Ngọc Hà đã nêu ra một số trơ ngại tâm lư mà khi vào học lớp một trẻ em thường gặp phải Đó là:

Trang 16

- Khó khăn trong việc thắch nghi với môi trường mới

- Khó khăn trong các mối quan hệ

- Khó khăn khi phải đến trường

Tác giả Nguyễn Xuân Thức, trong bài viết ỘCác nguyên nhân dẫn đến khó khăn tâm lý của học sinh đi học lớp mộtỢ đã nêu ra các nguyên nhân cụ thể sau:

- Các nguyên nhân chủ quan:

+ Trẻ chưa hiểu rõ nội quy

+ Trẻ được chuẩn bị quá kĩ trước khi tới trường

+ Trẻ không được chuẩn bị tâm lý sẵn sàng đi học

+ Do tắnh cách của trẻ

+ Do trẻ chưa đủ tuổi đến trường

+ Do trẻ mắc một số bệnh bẩm sinh

- Các nguyên nhân khách quan:

+ Nhóm nguyên nhân thuộc về gia đình

+ Nhóm nguyên nhân thuộc về nhà trường

+ Nhóm nguyên nhân thuộc về xã hội

Tác giả cho rằng, các nguyên nhân chủ quan là những nguyên nhân gây ra khó khăn tâm lý nhiều hơn cho học sinh lớp một Ngoài ra tác giả cũng đưa ra một

số giải pháp sư phạm để tháo gỡ những khó khăn tâm lý cho trẻ[29, tr.32-35]

Những năm gần đây có một số luận văn thạc sỹ đã quan tâm nghiên cứu về khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học sinh Ờ sinh viên như:

- Năm 2001, luận văn thạc sỹ Ộ Tìm hiểu những khó khăn tâm lý trong quá trình giải bài tập hình học của học sinh lớp 11 trung học phổ thôngỢ của tác giả Nguyễn Thị Nhân Ai [2]

- Năm 2002, tác giả Nguyễn Thị Thu Huyền với đề tài ỘThực trạng khó khăn tâm lý trong quá trình giải bài tập thực hành các thao tác kỹ thuật của sinh viên trường CĐSP Kỹ Thuật VinhỢ [15]

Tóm lại, khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập là một hiện tượng tâm lý phức tạp nhưng vấn đề này vẫn còn ắt được quan tâm nghiên cứu Các công trình nghiên cứu về vấn đề này như đã nêu trên ắt nhiều đã xây dựng được cơ sở lý luận

Trang 17

và đưa ra những dữ kiện thực tiễn Tuy nhiên, khách thể nghiên cứu trong các công trình trên còn giới hạn, chủ yếu tập trung vào học sinh mà chưa chú ý đến sinh viên, đặc biệt là SV năm thứ nhất, những người vừa rời khỏi ghế nhà trường phổ thông để bước vào một môi trường học tập mới Ngoài ra, khi nghiên cứu về vấn đề khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập, các công trình trên chỉ tập trung nghiên cứu một cách chung chung, khái quát mà chưa đi sâu tìm hiểu khó khăn tâm lý biểu hiện một cách cụ thể trong hoạt động học tập

2 Cơ sở lí luận

2.1 oạt động học tập của sinh viên sƣ phạm

2.1.1 Sinh viên sư phạm

Thuật ngữ “ sinh viên “ có nguồn gốc từ tiếng la tinh “students”, có nghĩa là người làm việc, học tập nhiệt tình, người tìm kiếm và khai thác tri thức [27, tr.44] Sinh viên là người làm việc nhưng nói chung vẫn chưa là một lao động độc lập trong xã hội Họ chỉ là những người đang trong quá trình tích lũy phẩm chất, tri thức, kĩ năng…về nghề để đáp ứng yêu cầu của xã hội trong tương lai Để có thể thực hiện được điều này thì bản thân người sinh viên phải tự nỗ lực, khắc phục khó khăn học tập, rèn luyện dưới sự hướng dẫn của giảng viên

2.1.1.2 Sinh viên sư phạm

Sinh viên Sư phạm là những sinh viên đang theo học tại các trường Cao đẳng và Đại học Sư phạm Họ tiến hành hoạt động học tập, rèn luyện về chuyên môn nghiệp vụ nhằm mục đích trở thành người giáo viên trong tương lai

Ngoài đặc điểm chung của SV thì SV Sư phạm cần phải có những năng lực

và phẩm chất riêng đặc trưng đòi hỏi cần thiết phải có của nghề dạy học Cụ thể như:

- Xu hướng sư phạm: biểu hiện ở nhu cầu dạy học, mong muốn được làm giáo viên, ý thức đầy đủ ý nghĩa của nghề đối với bản thân và xã hội

- Hứng thú với nghề dạy học: biểu hiện ở sự yêu thích nghề dạy học và phát triển sự yêu thích này thành lòng yêu nghề sâu sắc

- Niềm tin về nghề dạy học: biểu hiện ở việc có lòng tin mạnh mẽ vào những

Trang 18

giá trị tốt đẹp của nghề dạy học, vào sức mạnh tác động đến nhân cách con người của nghề

- Thế giới quan khoa học: biểu hiện ở việc xây dựng được cho mình thế giới quan khoa học biện chứng về tự nhiên, xã hội và con người

- Lý tưởng nghề cao đẹp: đó là lý tưởng đào tạo thế hệ trẻ Biểu hiện ở niềm say mê học tập, rèn luyện chuyên môn, tác phong sư phạm, thể hiện tinh thần trách nhiệm, lối sống tích cực…vv

Nghề dạy học có đối tượng trực tiếp là con người đang cần sự tác động của quá trình giáo dục nhằm mục đích phát triển và hoàn thiện nhân cách

Nghề dạy học là nghề không cho phép có “phế phẩm” Do trách nhiệm cao

cả của nghề mà người giáo viên không chỉ cần có chuyên môn vững vàng mà còn cần những phẩm chất đạo đức, tình cảm sâu sắc Từ đó yêu cầu mỗi SV sư phạm trong những năm tháng ở trường đại hoc phải hình thành, phát triển tình cảm nghề nghiệp bên cạnh chuyên môn nghiệp vụ nhằm hoàn thiện nhân cách người giáo viên [1], [24]

2.1.1.3 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi sinh viên

Theo các nhà tâm lý học, SV, những người thuộc lứa tuổi từ 18 đến 25, đã đạt đến mức độ trưởng thành cơ bản của con người cả về thể chất lẫn tinh thần Chính sự hoàn thiện này cho phép SV có thể chọn lựa và thực hiện những gì có ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của họ một cách độc lập như chọn nghề sau khi kết thúc học tập ở trường phổ thông, xác định lý tưởng…vv B.G.Ananhev đã nhận định, SV có khả năng lập kế hoạch và thực hiện hoạt động một cách độc lập, có sự biến đổi mạnh mẽ về động cơ, về thang giá trị xã hội có liên quan đến nghề nghiệp, xác định con đường sống tích cực, nắm vững nghề nghiệp tương lai, bắt đầu thể nghiệm mình trong mọi lĩnh vực của cuộc sống [27, tr.61]

Đặc điểm tâm lý quan trọng nhất của lứa tuổi SV là sự tự ý thức phát triển manh mẽ Tự ý thức bao gồm: khả năng tự đánh giá, tự kiểm tra, tự nhận thức về bản thân SV có khả năng đánh giá, nhìn nhận một cách tương đối toàn diện về bản thân từ khả năng nhận thức, xác định tư tưởng, tình cảm, động cơ, hành vi cũng như

vị trí của bản thân trong nhóm, trong tập thể Chính nhờ sự tự ý thức đó SV mới có

Trang 19

thể tự điều chỉnh hành vi, cử chỉ, thái độ của mình Thành phần quan trọng nhất để tạo nên sự phát triển tự ý thức của SV là năng lực tự đánh giá, thể hiện thái độ đối với bản thân Tự đánh giá sẽ hình thành nên lòng tự trọng của cá nhân, bảo đảm cho tính tích cực của nhân cách được thể hiện trong đời sống cá nhân cũng như trong mối quan hệ liên nhân cách Tự đánh giá phản ánh mức độ thoả mãn của chủ thể về trình độ phát triển các thuộc tính nhân cách của cá nhân Vì thế sự tự đánh giá của

cá nhân có ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả của hoạt động, đặc biệt là tự đánh giá về trí tuệ Nó có tác dụng rất lớn đối với sự hình thành và phát triển các phẩm chất trí tuệ trong quá trình học tập ở đại học Nếu SV tự đánh giá đặc điểm trí tuệ ở mức thấp sẽ gây ra những khó khăn trong quá trình học tập, ngược lại những đặc điểm trí tuệ được đánh giá đúng mức cho đến cao là cơ sở tốt cho hoạt động học tập ở đại học

Nhưng một điều cần lưu ý trong nhân cách của SV trong giai đoạn này chính

là sự tự đánh giá còn mâu thuẫn và thậm chí thiếu thực tế Nó thể hiện qua việc so sánh “cái tôi lý tưởng” với “cái tôi thực tế” trong khi “cái tôi lý tưởng” la một hình mẫu mẫu đã được đóng khung, không được thay đổi cho phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể Chính từ sự so sánh thiếu thực tế và cứng nhắc này đã làm sinh viên, đặc biệt là SV năm thứ nhất thiếu lòng tin ở bản thân, làm ảnh hưởng đến các hoạt động của bản thân, trong đó có hoạt động học tập

Điểm đặc biệt khác trong sự phát triển tâm lý của SV chính là sự phát triển của tình cảm nghĩa vụ, ý thức trách nhiệm, tính độc lập trong các hoạt động ở mức

độ cao SV dần có lập trường của bản thân một cách vững vàng, có cách giải quyết vấn đề chính xác, đúng đắn và tự chủ hơn Sự trưởng thành về mặt xã hội, tâm thế sẵn sàng cho việc lĩnh hội kinh nghiệm xã hội và kiến thức nghề nghiệp một cách độc lập được củng cố

Bước vào tuổi SV, khi mà việc xác định nghề nghiệp đã rõ ràng, người thanh niên – sinh viên bắt đầu với các hình thức hoạt động mới giai đoạn này, người SV phải đối mặt với những khó khăn nhất định cả về vật chất lẫn tinh thần Trong Sự thay đổi của môi trường, sự thay đổi của phương thức hoạt động…vv đòi hỏi người

SV phải giải quyết để có thể học tập tốt nhằm hình thành cơ sở vững chắc cho nghề

Trang 20

nghiệp tương lai

Việc giải quyết hiệu quả những khó khăn giúp cho người SV có niềm tin đúng đắn cho việc chọn nghề, là cơ sở củng co nghề nghiệp tương lai cũng như tạo điều kiện cho sự phát triển nhân cách được thuận lợi

Tuổi SV là thời gian quan trọng nhất cho sự phát triển nhân cách, nhân cách nghề nghiệp Đây là lứa tuổi mà các chức năng tâm lý, đặc biệt là sự phát triển các năng lực trí tuệ diễn ra hiệu quả nhất Tuy nhiên, để phát triển nhân cách toàn diện, điều quan trọng là người SV phải hiểu được tính không lặp lại trong tính cách của mình Với lứa tuổi sinh viên B.G.Ananhiev đã viết: “Lứa tuổi sinh viên là thời kỳ phát triển tích cực nhất về tình cảm đạo đức và thẩm mỹ, là giai đoạn hình thành và

ổn định tính cách Đặc biệt là vai trò xã hội của người lớn” [27, tr.61] Sự phát triển nhân cách của SV diễn ra trong suốt quá trình học tập ở đại học – cao đẳng diễn ra với mục đích trở thành một người chuyên gia có trình độ năng lực và đạo đức nghề nghiệp trong tương lai Vốn hiểu biết, kinh nhiệm sống, kinh nghiệm nghề nghiệp…vv được hoàn thiện và dần dần nghề nghiệp hoá

Trong sự phát triển nhân cách của SV, cho dù đã dần đi vào ổn định nhưng nóvẫn là một quá trình phức tạp, nảy sinh nhiều mâu thuẫn cần giải quyết đặc biệt trong quá trình chuyển hoá những tri thức về nghề từ bên ngoài thành tri thức, kỹ năng về nghề của bản thân Trong quá trình chuyển hoá những cái bên ngoài thành cái bên trong, yếu tố quyết định cho sự phát triển này chính là bản thân của chủ thể, của người SV Chỉ khi nào bản thân người SV nhận thức được những khó khăn và

nỗ lực tìm cách khắc phục những khó khăn đó thì mới có thể đạt được hiệu quả mong muốn trong các hoạt động của mình và ngày càng hoàn thiện nhân cách người

SV

Tóm lại, tuổi SV là giai đoạn phát triển đạt đến độ trưởng thành cả về sinh lý

và tâm lý Tuy nhiên, sự phát triển nhân cách của SV không phải là một con đường bằng phẳng, hoàn toàn thuận lợi mà gặp phải nhiều khó khăn vướng mắc, đòi hỏi sự

nỗ lực khắc phục của chính bản thân người SV Chính sự tích cực, tự giác của sinh viên sẽ là yếu tố vô cùng quan trọng trong việc hình thành và phát triển các phẩm chất nhân cách của người chuyên gia trong tương lai

Trang 21

2.1.1.4 Một số khái quát về sinh viên năm thứ nhất

SV năm thứ nhất, họ là những người vừa rời khỏi ghế nhà trường Phổ thông bước vào ngưỡng cửa Đại học, Cao đẳng Thông thường họ có độ tuổi 17, 18 với đầy sức trẻ, hoài bão và có ý chí vươn lên Nhân cách của họ đã và đang phát triển mạnh, họ đã có ý thức về những hành vi của mình

SV năm thứ nhất chưa có được phẩm chất nghề nghiệp chuyên biệt thuộc một ngành nhất định Họ là con em thuộc các tầng lớp xă hội khác nhau, ở nông thôn và thành thị Do đó, các yếu tố bẩm sinh di truyền đã được biến đổi dưới ảnh hưởng của giáo dục gia đình, trường phổ thông, các phong tục tập quán địa phương

và những điều kiện sống, sinh hoạt nói chung Vào trường Đại học, Cao đẳng họ đã

có một số phẩm chất tương đối ổn định, đại biểu cho lối sống của tầng lớp, giai cấp

và của địa phương mình Do vậy, trong tập thể SV năm thứ nhất thường có va chạm mạnh do tính độc đáo của nhân cách con người trẻ Trong quá trình làm quen với cuộc sống tập thể đầu tiên ở trường Đại học, Cao đẳng SV thường có hành vi bắt chước lẫn nhau thể hiện bước đầu đồng nhất xã hội đây, SV chưa có quan điểm phân hóa đối với các vai t ò của mình Việc nắm được đặc điểm nhân cách SV năm thứ nhất có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định nội dung, hình thức và phương pháp tác động đến họ theo hướng hình thành nhân cách người chuyên gia tương lai trong trường Đại học, Cao đẳng Hình thành nhân cách người chuyên gia không thể nằm ngoài quy luật chung là: nhân cách được bộc lộ, hình thành và phát triển trong hoạt động Trong đó, hoạt động học tập đóng vai trò là hoạt động chủ đạo, có ảnh hưởng quyết định đến nhận thức nghề nghiệp và hoàn thiện nhân cách của SV

2.1.2 Hoạt động học tập

2.1.2.1 Khái niệm hoạt động học tập

Khi bàn về vấn đề học tập có rất nhiều quan điểm khác nhau tùy vào cách tiếp cận của các nhà nghiên cứu

I.B.Intenxơn cho rằng, học tập là loại học tập đặc biệt của con người nhằm

mục đích nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và các hình thức nhất định của hành vi Nó bao gồm cả ý nghĩa nhận thức và thực tiễn

Trang 22

A.N.Lêônchiev, P.Iaganpêrin và N.Phatalưđina lại coi học tập xuất phát từ

mục đích trực tiếp và từ nhiệm vụ giảng dạy được biểu hiện ở hình thức tâm lý bên ngoài và bên trong của hoạt động

V.V.Đavưdov quan niệm học tập dựa trên cơ sở nâng cao trình độ tư duy lý

luận

A.V.Petrôvxki lại có một quan niệm khác khi cho rằng hoạt động học tập là

vấn đề phẩm chất tư duy và kết hợp các loại hoạt động trong việc thực hiện mục đích và nhiệm vụ giảng dạy

N.V.Cudomina lại coi hoạt động học tập là loại học tập nhận thức cơ bản của

sinh viên được thực hiện dưới sự hướng dẫn của cán bộ giảng dạy Trong quá trình này việc nắm vững nội dung cơ bản các thông tin mà thiếu nó thì không thể tiến hành được hoạt động nghề nghiệp tương lai [27, tr.89]

Các quan niệm trên về hoạt động học tập mặc dù chưa có sự thống nhất giữa các tác giả song các tác giả khác nhau ít nhiều đều xem xét hoạt động học tập có liên quan đến nhận thức hoặc tư duy và sâu hơn nữa là liên quan đến yếu tố nghề nghiệp Do cách tiếp cận khác nhau nên hoạt động học tập cũng được các tác giả nhấn mạnh ở những khía cạnh khác nhau nhưng họ vẫn gặp nhau ở một điểm chung

đó là xem hoat động học tập là hoạt động có mục đích tự giác, có ý thức về động cơ

và trong đó diễn ra quá trình nhận thức, đặc biệt là quá trình tư duy

Về phía các tác giả Việt Nam, như tác giả Lê Văn Hồng và Lê Ngọc Lan, khi

nghiên cứu về hoạt động học tập đã có quan niệm như sau: hoạt động học tập là hoạt động đặc thù của con người được điều khiển bởi mục đích tự giác và lĩnh hội những tri thức, kỹ xảo mới, những phương thức hành vi và nhưng dạng hoạt động nhất định [14, tr.106]

Tóm lại, hoạt động học tập có thể hiểu khái quát như sau: hoạt động học tập

là một hoạt động có mục đích của chủ thể nhằm lĩnh hội, tiếp thu những tri thức, kinh nghiệm của xã hoi loài người được kết tinh trong nền văn hoá xã hội, qua đó giúp chủ thể phát triển và hoàn thiện nhân cách

Trang 23

2.1.2.2 Đặc điểm hoạt động học tập

Được thể hiện ở những điểm sau:

Đối tượng của hoạt động học tập là hệ thống kiến thức khoa học, kỹ năng, kỹ xảo mới tương ứng Hoạt động học tập là loại học tập mà ở đó bằng sự tự giác và có mục đích của mình, chủ thể biến những tri thức chung của nhân loại thành cái của riêng mình Trong quá trình ấy, người học không sáng tạo ra tri thức mà chỉ tái tạo lại những tri thức đã có Và việc tái tạo tri thức này được diễn ra dưới sự tổ chức, hướng dẫn của người dạy Vì vậy hoạt động học tập sẽ không có kết quả nếu người học chỉ thụ động tiếp nhận các tác động sư phạm Do đó để việc học tập hiệu quả, người học phải là chủ thể tích cực, tự giác và có năng lực trí tuệ để lĩnh hội những tri thức mà giáo viên truyền thụ

Thông thường các hoạt động khác hướng vào làm thay đổi khách thể để cải tạo và biến đổi nó phục vụ cho con người thì hoạt động học tập chủ yếu tác động, làm biến đổi chính bản thân chủ thể thì hoạt động học là hoạt động hướng vào làm thay đổi tương đối lâu bền chính bản thân chủ thể Hoạt động học không làm biến đổi nội dung của tri thức khi nó được lĩnh hội mà chỉ làm thay đổi chính bản thân chủ thể hoạt động học Đây chính là điểm độc đáo, khác biệt giữa hoạt động học tập với các loại hoạt động khác Có thể hoạt động học cũng làm thay đổi khách thể ở một mức độ nhất định nhưng mục đích mà hoạt động học tập hướng vào là làm thay đổi nhận thức của người học và hướng vào tiếp thu cả những tri thức của chính bản thân hoạt động, có nghĩa là hướng vào học cách tiến hành hoạt động học tập, học phương pháp học tập

Hoạt động học tập luôn được tiến hành một cách có định hướng, được thúc đẩy và điều khiển một cách có ý thức, tự giác cao

Hoạt động học chỉ có thể thực hiện được khi con người phát triển ở một trình

độ nhất định, có khả năng điều chỉnh những hành động của mình theo mục đích đã

được ý thức

Trang 24

2.1.3 Hoạt động học tập của SV sư phạm

2.1.3.1 Khái niệm hoạt động học tập của SV

“Hoạt động học tập của sinh viên là một loại hoạt động nhận thức cơ bản của sinh viên, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của cán bộ giảng dạy, nhằm lĩnh hội, nắm vững hệ thống kiến thức, kỹ năng về một loại nghề nào đó, làm cơ sở cho hoạt động nghề nghiệp trong tương lai” [27, tr.89]

2.1.3.2 Đặc điểm hoạt động học tập của SV

Xuất phát từ mục tiêu giáo dục, đào tạo ở bậc Cao đẳng - Đại học là đào tạo nguồn nhân lực có chuyên môn cao về nghề để đáp ứng yêu cầu xã hội Do đó việc học tập của sinh viên ngoài việc mang những đặc điểm của hoạt động học tập nói chung còn có những đặc điểm riêng sau đây [17, tr127-175]:

- Tính chuyên nghiệp: thể hiện trong mục đích của hoạt động học tập ở SV là

nhằm hướng vào việc hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách người chuyên gia trong các lĩnh vực nghề nghiệp tương ứng Vì vậy học tập ở đại học có sự khác biệt rất lớn so với học ở phổ thông Học tập của SV mang tính đặc trưng của hoạt động nghề nghiệp tương lai Ơ đại học người SV không chỉ chiếm lĩnh những kiến thức tổng quát, nền tảng (một phần trong quá trình học) mà mục tiêu chính là chiếm lĩnh hệ thống tri thức, kỹ năng và thái độ về nghề nghiệp, hình thành những phẩm chất của người chuyên gia trong tương lai Tóm lại, trong quá trình học tập, SV phải xây dựng cho mình một nhân cách đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp sau này

- Tính độc lập cao trong học tập: Do yêu cầu cao của việc học để trở thành

chuyê gia trong một lĩnh vực nghề nghiệp nhất định nên trong hoạt động học tập người SV đòi hỏi phải có sự độc lập cao, sự tự ý thức đầy đủ về học tập của bản thân Đó là sự nhận thức được mình là chủ thể của hoạt động học tập, là người định hướng, tổ chức và kiểm tra đánh giá hoạt động học tập của bản thân dưới sự hướng dẫn, trợ giúp của giảng viên Tính độc lập trong học tập của SV thể hiện trong suốt quá trình học tập, từ việc tích cực giải quyết các nhiệm vụ học tập đen việc tìm kiếm tài liệu phục vụ cho việc học, lập kế hoạch học tập phù hợp và nỗ lực ý chí thực hiện nó Bên cạnh đó, việc học tập của SV mang tính chất nghiên cứu khoa học nên buộc SV phải có tính đoc lập cao trong học tập

Trang 25

- Tính thực tiễn: thể hiện ở việc chú trọng phương pháp học bộ môn, chuyên

ngành, cách thức tiến hành nghiên cứu khoa học, làm thí nghiệm…vv phục vụ cho nghề nghiệp tương lai Học tập của SV trên cơ sở nắm vững hệ thống tri thức lý luận, phát triển kỹ năng ứng dụng và năng lực sáng tạo trong chuyên môn của mình Tính thực tiễn trong học tập của sinh viên còn thể hiện ở sự đáp ứng về những đòi hỏi của xã hội trong việc đào tạo một lực lượng chuyên gia về nghề phục vụ cho xã hội trong tương lai

- Tính sáng tạo: Tính sáng tạo trong hoạt động học tập của SV thể hiện ở

việc tham gia nghiên cứu khoa học Tính sáng tạo của SV một mặt xuất phát từ kết quả của sự phát triển của tuổi trưởng thành vừa là yêu cầu của bản thân hoạt động học tập của SV trong thời đại mới

Từ những đặc điểm riêng trên trong hoạt động học tập của SV đã kéo theo một sự thay đổi lớn về nội dung, phương pháp, điều kiện học tập cần có ở bậc Đại học Học tập của SV diễn ra không chỉ trên lớp mà còn ở ngoài lớp; không chỉ tiến hành dưới sự hướng dẫn của giảng viên mà còn được tiến hành một cách độc lập, do bản thân mình tự sắp xếp, tổ chức thực hiện và kiểm tra đánh giá Nội dung học tập bao gồm việc tiếp nhận kiến thức, học kỹ năng, học các thái độ…vv Chính sự thay đổi về tính chất, mục tiêu của học tập ở đại học so với phổ thông đã dẫn đến việc hoạt động học tập của SV mang tính chuyên nghiệp, tính độc lập cao, tính thực tiễn

và tính sáng tạo

2.1.3.3 Hoạt động học tập của SV sư phạm

Hoạt động học tập của SV Sư phạm về cơ bản điễn ra như hoạt động học tập của SV các trường, các ngành nghề khác Tuy nhiên nó vẫn có những đặc điểm riêng, đặc thù của nghề Đó là, SV Sư phạm bên cạnh việc học tập tích lũy tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo tương ứng theo chuyên ngành, chuyên môn sâu còn phải tích cực rèn luyện kỹ năng nghiệp vụ sư phạm để đáp ứng được yêu cầu trơ thành người người giáo viên trong tương lai, không chỉ “dạy chữ” mà còn “dạy người” Chính vì mục tiêu này mà bên cạnh những đặc điểm về hoạt động học tập của SV nói chung, hoạt động học tập của SV Sư phạm có một số đặc điểm nổi bật sau:

Trang 26

Thứ nhất, việc học tập của SV Sư phạm không chỉ đáp ứng yêu cầu chuyên môn chuyên sâu mà còn phải đáp ứng yêu cầu “sư phạm”, hình thành và phát triển nhân cách người giáo viên tương lai Hoạt động học tập của SV sư phạm bên cạnh việc học chữ còn phải học làm thầy Bởi trong tương lai, “công cụ nghề nghiệp” của

SV Sư phạm không chỉ là kiến thức mà còn là nhân cách của mình như K.D.Usinxki

đã từng nhấn mạnh “dùng nhân cách để giáo dục nhân cách” [14, tr.195]

Vì thế đối tượng học tập của SV Sư phạm là một hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, bao gồm những phần sau:

- Các môn khoa học cơ ban: Triết học, Lịch sử Đảng, Kinh tế chính trị học,

Mỹ học, Xã hội học…vv, nhằm trang bị hệ thống kiến thức làm cơ sở hình thành củng cố thế giới quan khoa học

- Các môn khoa học chuyên ngành: Toán học, Văn học, Vật lý học…vv, trang bị những kiến thức chuyên sâu của việc đào tạo chuyên gia về từng lĩnh vực

cụ thể, làm cơ sở để sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học và học tập suốt đời

- Các môn nghiệp vụ sư phạm: Tâm lý học, Giáo dục học, Phương pháp giảng dạy bộ môn, giao tiếp sư phạm, kiến tập, thực tập sư phạm nhằm trang bị hệ thống tri thức, kỹ năng về nghề dạy học, làm cơ sở cho công tác dạy học và giáo dục học sinh sau này

- Các môn ngoại ngữ, tin học: nhằm trang bị phương tiện học tập phục vụ việc nghiên cứu, công tác giảng dạy cũng như trang bị phương tiện phục vụ cho xu thế học tập suốt đời

- Các môn thể dục, giáo dục quốc phòng: nhằm rèn luyện sức khoẻ, nâng cao tinh thần kỷ luật, ý thức công dân

- Các môn học tự chọn: Nữ công, nhạc, hoạ…vv nhằm phát triển năng khiếu, nâng cao trình độ thẫm mỹ

Như vậy, đối tượng hoạt động học tập của SV sư phạm là hệ thong kiến thức,

kỹ năng, kỹ xảo và cách thức chiếm lĩnh chúng thuộc các lĩnh vực khoa học chuyên ngành và nghiệp vụ sư phạm

Thứ hai, trong thời đại hiện nay, với sự phát triển về mọi mặt của xã hội loài người và xu thế toàn cầu hoá đã đặt ra nhiều yêu cầu mới cho nền giáo dục Việt

Trang 27

Nam, đặc biệt là giáo dục ở bậc đại học Do đó hoạt động học tập của SV sư phạm cũng không nằm ngoài sự tác động này Trong thế kỷ XXI, thế kỷ của công nghệ thông tin, một mô hình giáo dục mới đã ra đời Việc học tập trên mạng sẽ ngày càng phát triển và dần chiếm một vai trò quan trọng trong quá trình chuyển giao tri thức

Vì vậy vai trò, vị trí của người giáo viên cũng có sự thay đổi Không gian, thời gian giáo dục cũng không bị bó hẹp và chịu nhiều ràng buộc như hiện nay mà sẽ được

mở rộng để phục vụ cho nhu cầu học tập mọi lúc, mọi nơi của con người…vv Từ

đó, SV Sư phạm trong quá trình học tập phải học cách dạy học nói chung và dạy bộ môn nói riêng thông qua việc học tập lý luận dạy học và phương pháp dạy học mỗi

bộ môn cụ thể, học cách chuyển tải, tổ chức cho người học lĩnh hội kiến thức một cách dễ dàng, có hệ thống và học cách sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại

Đồng thời để có thể thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học và giáo dục, SV sư phạm cần phải tích cực học tập, rèn luyện khả năng giao tiếp sư phạm, trau dồi vốn ngôn ngữ, khả năng diễn đạt trước học sinh, trau dồi phong thái…vv

Tóm lại, hoạt động học tập của SV Sư phạm là một quá trình vất vả, học tập

và rèn luyện về nhiều mặt để có thể đáp ứng yêu cầu của nghề là “dạy chữ, dạy người” đồng thời đáp ứng được những yêu cầu do sự phát triển của xã hội đặt ra Vì thế trong quá trình học tập của mình, SV Sư phạm phải thực sự là người làm chủ, tích cực, chủ động, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, nhằm đạt tới việc tự học không chỉ trong một giai đoạn nhất định mà còn diễn ra suốt đời Có như thế SV sư phạm mới có thể đáp ứng những yêu cầu về nghề dạy học trong thời đại tiến bộ không ngừng về mọi phương diện như hiện nay

2.2 KKTL trong hoạt động học tập của sinh viên sƣ phạm

2.2.1 Khó khăn tâm lý

Theo từ điển Tiếng Việt thì “khó khăn” có nghĩa là sự trở ngại làm mất

nhiều công sức hoặc thiếu thốn [34, tr.357]

Theo từ điển láy Việt thì “khó khăn” có nghĩa có nhiều trở ngại [9, tr.571]

Từ điển Anh – Việt thì “difficulty” hoặc “hardship” đều dùng để chỉ sự khó

khăn, gay go, khắc nghiệt đòi hỏi nhiều nỗ lực để khắc phục [35]

Trang 28

Như vậy, từ cách định nghĩa của các từ điển trên ta có thể thấy khi nói đến khó khăn có nghĩa là nói đến những gì cản trở, trở ngại, đòi hỏi nhiều nỗ lực để vượt qua

Trong thực tiễn, khi tiến hành bất cứ một hoạt động nào con người đều gặp phải những khó khăn, làm cho hoạt động chệch hướng, làm giảm đi hiệu quả mà con người mong muốn, thậm chí không đạt hiệu quả hoạt động Những khó khăn này, được gọi chung là những khó khăn trong quá trình hoạt động của con người được tạo nên bởi các yếu tố mang tính chất tiêu cực Đó là những yếu tố khách quan (bên ngoài) và yếu tố chủ quan (bên trong)

Những yếu tố bên ngoài, được hiểu là những điều kiện, phương tiện, môi trường…vv Đây là những yếu tố có ảnh hưởng gián tiếp đến tiến trình hoạt động của con người

Những yếu tố bên trong, chính là những yếu tố xuất phát từ bản thân mỗi cá nhân khi tham gia vào hoạt động đó, như nhận thức, thái độ tình cảm, nãng lực, vốn kinh nghiệm, thao tác kỹ năng tiến hành hoạt động Xét theo phương diện nguồn goc xuất phát, các yếu tố bên trong có thể chia làm hai loại: yếu tố sinh học và yếu

tố tâm lý Những khó khăn do yếu tố tâm lý tạo nên gọi là những KKTL Chính yếu

tố bên trong này ảnh hưởng trực tiếp đen tiến trình và kết quả hoạt động của con người

Xuất phát từ quan điểm trên, KKTL trong đề tài này được hiểu như sau: KKTL là những nét tâm lý cá nhân, nảy sinh trong quá trình hoạt động của chủ thể,

gây cản trở, ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình và hiệu quả hoạt động của chủ thể

2.2.2 KKTL trong hoạt động học tập của sinh viên sư phạm

Hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo của SV Nó là một loại hoạt động nhận thức, lao động trí óc căng thẳng có cường độ cao Đây là một hoạt động đặc thù giúp con người hình thành và phát triển tâm lý, nhân cách Do vậy, trong quá trình tham gia vào hoạt động học tập, khi gặp những khó khăn, đặc biệt là những khó khăn về mặt tâm lý, đòi hỏi người học phải tích cực, chủ động huy động tối đa những phẩm chất và năng lực của cá nhân để khắc phục nhằm đạt hiệu quả cao trong hoạt động học tập của mình

Trang 29

Đối với SV năm thứ nhất nói chung, SV Sư phạm năm thứ nhất nói riêng, để phát triển, xây dựng và hoàn thiện nhân cách, hình thành bước đầu kinh nghiệm về tương lai, họ phải tiến hành hoạt động học tập với sự làm quen, thích nghi với một môi trường học tập mới hoàn toàn so với ở bậc phổ thông Trong quá trình này sẽ nảy sinh ra nhiều KKTL, gây cản trở sự thích ứng với hoạt động học tập của SV năm thứ nhất, dẫn đến hiệu quả hoạt động học tập không cao

KKTL trong hoạt động học tập là một hiện tượng tâm lý phức tạp, nảy sinh trong quá trình học tập của con người nói chung, của SV phạm năm thứ nhất nói riêng

Bàn về KKTL trong hoạt động học tập, người nghiên cứu cho rằng: KKTL

trong hoạt động học tập là những nét tâm lý cá nhân, nảy sinh, tồn tại trong hoạt động học tập của người sinh viên, gây cản trở, ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình và hiệu quả hoạt động học tập của chính người SV đó

Đặc trưng của hoạt động học tập ở bậc Cao đẳng – Đại học so với bậc phổ thông được xác định bởi sự khác biệt trong phương pháp học tập, cách thức tổ chức học tập mà trong đó vai trò của người SV là tích cực chủ động dưới sự hướng dẫn của giáo viên

Và như đã trình bày ở các phần trên, chúng ta thấy rằng tính độc lập cao trong học tập là một trong những đặc điểm của hoạt động học tập của SV Chính vì thế, khi gặp những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của mình, hầu như người SV cũng tự mình tìm cách khắc phục Việc khắc phục những khó khăn tâm lý này có lúc là sự ngẫu nhiên, là việc rút kinh nghiệm sau những lần thất bại trong học tập ở trường Sư phạm Điều này cũng làm mất không ít thời gian trong quá trình học tập Nhưng cũng có khi người SV không ý thức được những khó khăn tâm

lý mà mình gặp phải để rút ra bài học kinh nghiệm nhằm cải thiện hoạt động học tập của mình Đặc biệt đối với SV năm thứ nhất, phần lớn mới kết thúc bậc phổ thông

Họ bước vào Đại học với nhiều bỡ ngỡ, lạ lẫm Họ đồng thời vừa làm quen với cuộc sống mới, trường mới, bạn mới, những môn học mới, cách thức tổ chức học tập mới, phương pháp giảng dạy mới Những vấn đề này, khi học ở phổ thông, ít học sinh nào quan tâm hoặc được quan tâm nhắc nhở để chuẩn bị tâm thế Do đó ít

Trang 30

nhiều, hầu hết các bạn SV năm nhất đều gặp phải cảm giác hẫng hụt, lo lắng Trong quá trình học, bên cạnh những SV có tính thích ứng cao, dần làm quen với môi trường mới, hoạt động học tập đi vào ổn định thì còn không ít SV gặp nhiều khó khăn trong việc tìm cách giải quyết những van đề này một cách đúng đắn khoa học Thực tế cho thấy, SV năm thứ nhất thường lấy sự chăm chỉ, cần cù của mình để mong đổi lấy một kết quả học tập cao Chính vì thế, đôi khi ngay cả ở những SV khá giỏi vẫn xảy ra việc không có phương pháp học tập khoa học Họ thường lấy việc tập trung nghe giảng trên lớp, ghi chép cẩn thận, chăm chỉ tìm những tài liệu có liên quan theo sự hướng dẫn của giáo viên, làm bài tập theo mẫu, hoc thuộc lòng để thay thế cho việc học tập khoa học, có hệ thống và nắm bản chất vấn đề, một điều

mà theo người nghiên cứu là quan trọng chủ yếu của học tập ở đại học

2.3 Biểu hiện của KKTL trong hoạt động học tập

Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập được hiểu là những nét tâm lý cá nhân mang tính tiêu cực nảy sinh, tồn tại trong hoạt động học tập của chủ thể học tập, làm cho quá trình học tập bị chệch hướng, bị cản trở, dẫn tới hiệu quả học tập không cao Những khó khăn tâm lý này có thể được biểu hiện ở những dạng sau:

2.3.1 Nhận thức

Nhận thức là một trong những thành tố quan trọng của đời sống tâm lý con người Nhận thức giúp con người hiểu biết về các sự vật hiện tượng, từ đó bày tỏ thái độ tình cảm và có hành vi tương ứng

Học tập là một hoạt động khó khăn, phức tạp, do đó, trong quá trình học tập không phải lúc nào SV cung có nhận thức đúng đắn, đầy đủ về nó Chính những nhận thức chưa đúng, chưa phù hợp này là những khó khăn tâm lý gây nên những sai lầm trong hoạt động học tập của cá nhân Về những KKTL biểu hiện ở dang nhận thức chúng ta có thể chia làm hai nhóm: nhận thức về bản thân (chủ thể), là người tiến hành hoạt động học tập và nhận thức về đối tượng học tập

- Nhận thức về bản thân: đây người nghiên cứu xin nhấn mạnh khía cạnh

nhận thức về động cơ học tập trong quá trình nhận thức về bản thân của SV trong hoạt động học tập

Trang 31

Động cơ trong tâm lý học, theo nghĩa chung nhất là cái thúc đẩy và quy định chiều hướng hoạt động nhằm đạt mục đích nào đó, là những gì thôi thúc con người

có những ứng xử nhất định[19] Mặt khác, theo A.N.Leonchiev và B.Ph.Lomov thì

“Lĩnh vực động cơ của nhân cách có liên quan chặt chẽ đến những nhu cầu, chế

định hành vi con người một cách khách quan và có quy luật Động cơ là sự biểu hiện chủ quan của nhu cầu, là vị trí gián tiếp của nhân cách trong xã hội Ngược lại, nhu cầu là cơ sở của động cơ Trên thực tế động cơ và nhu cầu gắn bó mật thiết với nhau đến mức thường không thể phân tách chúng ra được.” [21, tr.478 - 482]

Do đó, việc xác định cho được động cơ học tập cũng chính là xác định được nhu cầu học tập của bản thân SV Nhu cầu học tập la thành tố quan trọng của động

cơ hoạt động, là nguồn gốc tính tích cực học tập, biểu hiện qua tính tự giác, thái độ nghiêm túc, luôn vượt lên mọi khó khăn để giải quyết các nhiệm vụ học tập, qua đó nâng cao hiệu quả học tập

Trên cơ sở mối quan hệ giữa động cơ học tập – nhu cầu học tập như phân tích trên, thì việc không xác định được động cơ học tập, tức động cơ học tập không

rõ ràng sẽ là một KKTL trong hoạt động học tập của SV

- Nhận thức về đối tượng học tập: nhận thức ở đây không có nghĩa là khả

năng nhận thức nội dung môn học của SV mà người nghiên cứu muốn nhấn mạnh đến sự nhận thức của SV về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của đối tượng học tập đối với sự phát triển của bản thân chủ thể học tập Như chúng ta đã biết, học tập của SV luôn gắn liền với việc trở thành chuyên gia trong một lĩnh vực cụ thể ở tương lai, trở thành một người hoạt động nghề phục vụ cho nhu cầu xã hội và chính hoạt động học tập ở đại học sẽ giúp họ đạt được mục tiêu này Chính vì thế, việc nhận thức đúng đắn vai trò, vị trí, tầm quan trọng của đối tượng học tập sẽ giúp SV tích cực học tập và ngược lại sẽ gây ra việc SV thiếu tâm thế học tập, học đối phó, dẫn đến hoạt động học tập kém hiệu quả

2.3.2 Thái độ

Đây là thái độ, tình cảm của SV đối với việc học tập Có thể nói KKTL biểu hiện ở dạng thái độ, tình cảm là việc xuất hiện những xúc cảm âm tính đối với hoạt động học tập như coi thường việc học tập, chán ghét, thờ ơ, lo lắng, sợ hãi, căng

Trang 32

thẳng, chán nản khi gặp những vấn đề nảy sinh trong học tập…vv Khi có những thái độ, tình cảm tiêu cực đối với hoạt động học tập thì việc học tập khó mà có hiệu quả cao được Ngược lại nếu SV nào có thái độ tích cực đối với việc học, cần cù, chăm chỉ, biết tìm những biện pháp tạo ra hứng thú trong học tập vv thì chắc chắn hiệu quả của hoạt động học tập sẽ được nâng lên

2.3.3 Hành vi

Hành vi là “bộ mặt” đời sống tâm lý của con người Đây là dạng khó khăn tâm lý biểu hiện cụ thể, dễ nhận thấy nhất trong hoạt động học tập Những khó khăn tâm lý về mặt hành vi có thể là kết quả của sự chi phối bởi nhận thức và thái độ tình cảm hoac do những kỹ năng học tập không đủ thuần thục để sử dụng trong quá trình học tập khiến cho hoạt động học tập không có hiệu quả cao

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, người nghiên cứu tập trung tìm hiểu KKTL trong hoạt động học tập của SV ở một dạng hành vi được biểu hiện cụ thể trong hoạt động học tập là kỹ năng học tập

Kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả những hành động trên cơ sở những tri thức có được đối với việc giải quyết những nhiệm vụ đặt ra cho phù hợp với điều kiện cho phép Nói cách khác, kỹ năng là “tri thức trong hành động” [22, tr.125]

Do hoạt động học tập của SV mang tính chất nghiên cứu, tự hoc dưới sự hướng dẫn của giảng viên là chủ yếu nên việc SV phải nắm được hệ thống kỹ năng học tập hiệu quả là điều rất cần thiết

Việc không biết cách thực hiện các kỹ năng học tập, không thấy được sự cần thiết phải có kỹ năng học tập hoặc vận dụng, sử dụng các kỹ năng học tập không thuần thục sẽ là những KKTL rất lớn gây ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động học tập của SV

Tóm lại, KKTL trong hoạt động học tập được biểu hiện thông qua ba dạng

cơ bản của đời sống tâm lý con người là: nhận thức, thái độ – tình cảm và hành vi

Ba mặt này có mối quan hệ, tác động qua lại lẫn nhau, do đó, trong quá trình học tập, muốn tháo gỡ KKTL cho SV thì cần chú ý quan tâm giải quyết cả ba dạng biểu hiện KKTL trên

Trang 33

2.4. KKTL trong hoạt động học tập của SV SSP – N năm thứ nhất 2.4.1 KKTL biểu hiện ở mặt nhận thức

KKTL trong hoạt động học tập của SV Sư phạm năm thứ nhất biểu hiện ở nhận thức cũng xuất phát từ hai hướng: nhận thức về bản thân và nhận thức về đối tượng học tập

- Đối tượng học tập của SV Sư phạm khá đa dạng, là một hệ thống kiến thức,

kỹ năng, kỹ xảo bao gồm các phần như: các môn khoa học cơ bản, các môn khoa học chuyên ngành, các môn nghiệp vụ Sư phạm, các môn hỗ trợ (tin học, ngoại ngữ), các môn thể dục, giáo dục quốc phòng, các môn học tự chọn (nữ công, nhạc, hoạ…) Các bộ môn này đều có những vị trí, vai trò và tầm quan trọng như nhau bởi

sự đóng góp của nó trong quá trình đào tạo nên một người giáo viên trong tương lai giỏi về chuyên môn và nghiệp vụ cũng như hình thành nhân cách người giáo viên

Tuy nhiên, không phải SV năm thứ nhất nào cũng nhận thức được tầm quan trong, vị trí, vai trò của từng bộ môn trong hoạt động học tập Chính sự hiểu biết mơ

hồ, không rõ ràng về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của các bộ môn trong chương trình học là một KKTL có thể dẫn đến tình trang SV xem thường các bộ môn không thuộc chuyên ngành, học lệch, học đối phó, từ đó dẫn đến hiệu quả hoạt động học tập không cao

Ngoài ra, việc thiếu sự hiểu biết về trường Sư phạm, về ngành nghề Sư phạm cũng như thiếu sự hiểu biết về nhiệm vụ học tập và yêu cầu học tập của SV Sư phạm sẽ là những KKTL biểu hiện ở mặt nhận thức của SV trường Sư phạm Thực

tế cho thấy, khi chủ thể hiểu biết đầy đủ, sâu sắc về đối tượng hoạt động của mình

sẽ giúp họ chuẩn bị tâm thế cũng như các điều kiện để thực hiện hoạt động đó Ngược lại, khi thiếu những hiểu biết cần thiết về đối tượng hoạt động thì chủ thể sẽ tiến hành hoạt động một cách đối phó, thiếu sự tích cực và do đó khó đạt được hiệu quả cao

Bên cạnh đó, SV năm thứ nhất nói chung, SV Sư phạm năm thứ nhất nói riêng, về mặt chủ quan, có thể gặp một khó khăn tâm lý khác là nhận thức động cơ học tập chưa rõ ràng

Trang 34

Động cơ học tập của SV Sư phạm bao gồm những động cơ có ý nghĩa cá nhân và những động cơ mang ý nghĩa xã hội như: động cơ nhận thức khoa học, động cơ nghề nghiệp, động cơ xã hội, động cơ tự khẳng định mình và động cơ vụ lợi [27, tr.93-95]

Những động cơ đó được cụ thể hoá ở mục đích học tập mà SV Sư phạm cần phải đạt tới Theo A.K.Marcova, động cơ học tập là sự phản ánh đối tượng học tập vào đầu óc của người học, thúc đẩy người đó thực hiện hoạt động nhằm thoả mãn nhu cầu học tập Chính động cơ học tập đã chuyển hoá nhu cầu học tập, làm nảy sinh tính tích cực học tập Vì vậy, việc xác định động cơ học tập rõ ràng là tiền đề giúp cho người SV Sư phạm hình thành nhu cầu học tập, làm nảy sinh tính tích cực học tập hướng vào việc hình thành, phát triển nhân cách người giáo viên tương lai

Ngược lại, nếu người SV Sư phạm không xác định được động cơ học tập của mình thì không thể nảy sinh nhu cầu học tập trở thành người giáo viên Từ đó, dẫn đến sự thiếu tích cực trong hoạt động học tập, hiệu quả hoạt động học tập sẽ không cao

Tóm lại, việc thiếu sự hiểu biết về đối tượng học tập, cụ thể là về nội dung, chương trình, hoạt động của trường Sư phạm, cũng như nhận thức không rõ ràng động cơ học tập của bản thân là những KKTL biểu hiện ở mặt nhận thức trong hoạt động học tập của SV Sư phạm

2.4.2 KKTL biểu hiện ở mặt thái độ

Trong quá trình học tập luôn có sự tham gia của các trạng thái tình cảm cũng như thái độ của chủ thể học tập với hoạt động học tập của mình Đó là thái độ của chủ thể học tập với hoạt động học tập

Thực tế cho thấy, SV năm thứ nhất nói chung, SV Sư phạm năm thứ nhất nói riêng, phần lớn đều là học sinh vừa rời khỏi nhà trường phổ thông, bước đầu làm quen với môi trường học tập mới, học tập ở bậc đại học Vì thế đối với hoạt động học tập ở trường đại học còn nhiều xa lạ đối với các em Từ đó, ở các em có thể nảy sinh nhiều thái độ, tình cảm khác nhau đối với hoạt động học tập Xét trên phương diện tích cực, ở các em có thể xuất hiện những thái độ, tình cảm, xúc cảm dương tính đối với hoạt động học tập ở một môi trường mới như: tính tò mò đối với học

Trang 35

tập, tính ham học hỏi, niềm khao khát, lòng quyết tâm học tập, niềm vui, hứng thú học tập, tinh thần kiên trì vượt khó vv trạng thái thái độ, tình cảm này sẽ thúc đẩy SV học tập tích cực Ngược lại, ở SV năm thứ nhất cũng có thể xuất hiện những thái độ, tình cảm âm tính đối với hoạt động học tập như coi thường việc học tập, thờ

ơ, lo lắng, sợ hãi, căng thẳng, chán nản khi gặp những vấn đề nảy sinh do một môi trường học tập mới

Bên cạnh đó, SV Sư phạm năm thứ nhất trong môi trường học tập mới ở đại học, do sự hạn chế của kinh nghiệm, của tuổi đời, nên khi tham gia vào một hoạt động, các em có thể có sự đánh giá chưa phù hợp về đối tượng cũng như bản thân khi tham gia hoạt động đó Trên cơ sở đó, khi tham gia vào hoạt động học tập, một

số SV năm thứ nhất nếu đánh giá quá cao về mình, đặc biệt khi các bạn SV có những thành tích học tập cao trong những năm học phổ thông, bị “che phủ” bởi những thành tích sáng chói đó có thể sẽ dẫn đến sự sơ suất, chểnh mảng, chủ quan, xem thường chính hoạt động học tập hoặc ngược lại lại các em lại bị áp lực, căng thẳng khi ép buộc mình vào hoạt động học tập với mục đích phải được những thành tích như những ngày ở phổ thông Đối lập với sự đánh giá quá cao về bản thân, SV năm thứ nhất lại tự đánh giá thấp về mình từ đó dẫn đến sự mặc cảm tự ti, lo lắng,

sợ mắc sai lầm, thiếu phấn đấu trong quá trình học tập làm ảnh hưởng đến tiến trình

và kết quả học tập

Tóm lại, KKTL trong hoạt động học tập của SV Sư phạm năm thứ nhất biểu hiện ở mặt thái độ chính là những thái độ, tình cảm, xúc cảm âm tính của chủ thể học tập với hoạt động học tập Những KKTL này sẽ làm giảm đi tính tích cực, chủ động, tự giác trong hoạt động học tập của SV Sư phạm năm thứ nhất từ đó dẫn đến hiệu quả học tập không cao

2.4.3 KKTL biểu hiện ở mặt hành vi

Mục tiêu chủ yếu của SV Sư phạm là trở thành người giáo viên trong tương lai Điều đó có nghĩa là họ phải đạt được những điều kiện sau:

- Có lòng yêu nghề, tư cách đạo đức tốt đáp ứng yêu cầu của nghề dạy học

- Có khả năng về chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm

Trang 36

- Có khả năng tự nghiên cứu, học tập, bồi dưỡng, xây dựng phương pháp học tập suốt đời

- Có trình độ ngoại ngữ, tin học.[6, tr 3-7]

Để đạt được những tiêu chuẩn của một “người giáo viên chất lượng cao” như trên thì ngay từ năm đầu tiên học tập tại trường đại học, SV phải không ngừng phấn đấu học tập đạt hiệu quả

Mặt khác, đối tượng học tập của SV Sư phạm lại có khối lượng khá lớn và rộng bao gồm: hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và cách thức chiếm lĩnh chúng thuộc các lĩnh vực khoa học chuyên ngành, nghiệp vụ sư phạm, công cụ Đứng trước sự mâu thuẫn giữa khối lượng tri thức cần tiếp thu lớn với thời gian đào tạo trong trường đại học là giới hạn, người SV Sư phạm cần phải có những phương pháp, kỹ năng học tập khoa học cũng như khả năng sử dụng những kỹ năng học tập thành thục

Hệ thống kỹ năng, kỹ xảo mà các trường đại học cần trang bị cho SV cũng như một SV cần phải có để có thể học tập bao gồm: hệ thống kỹ năng, kỹ xảo nền tảng và hệ thống kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt Trong đó, hệ thống kỹ năng kỹ xảo nền tảng, đúng như tên gọi của nó, làm cơ sở, làm nền tảng cho sự hình thành và phát triển hệ thống kỹ năng, kỹ xảo thứ hai - hệ thống những kỹ năng, kỹ xảo liên quan trực tiếp đến cách “hành nghề” tương lai của SV cũng như làm cơ sở cho mục tiêu học tập suốt đời của một cá nhân [13, tr.80] Vì lẽ đó, SV nói chung, SV Sư phạm năm thứ nhất nói riêng cần phải quan tâm trang bị và rèn luyện hệ thống kỹ năng học tập nền tảng này

Trước khi đề cập những kỹ năng học nền tảng, chúng ta cần bắt đầu từ cách học, phương pháp học Bởi kỹ năng là những thể hiện cụ thể của phương pháp học Bàn về cách học tập có rất nhiều cách phân loại khác nhau do các tiếp cận khác nhau từ nhiều tác giả Tuy nhiên, do tính chất chủ động của chủ thể học là SV thì cách phân loại cách học, phương pháp học theo hoạt động học (theo cách tác động của người hoc đến đối tượng) là khá phù hợp [30, tr.120-206]

Theo cách phân loại này thì người học có ba cách tác động đến đối tượng học tập:

Trang 37

Tác động trực tiếp: mô hình phương pháp tự học, tự nghiên cứu (bao gồm

phương pháp thu nhan, xử lý thông tin, nghiên cứu khoa học…vv) Từ đó tương

ứng cần có các kỹ năng tự học, làm việc độc lập như:

+ Kỹ năng đọc sách:

- Tìm và lựa chọn sách, tài liệu để phục vụ cho việc học bộ môn

- Đọc, phát hiện những thông tin quan trọng phục vụ cho việc học bộ môn

- Đọc kết hợp giữa giáo trình với tài liệu gốc, tài liệu tham khảo

- Tổng hợp, chọn lọc, đánh giá kiến thức ở nhiều nguồn tài liệu khác nhau

- Ghi chép khi đọc sách

+ Kỹ năng nghe giảng và ghi chép:

- Đặt câu hỏi để tìm kiếm, phát hiện vấn đề

- Hệ thống, ôn tập bài cũ để làm nền tảng cho việc tiếp thu bài học mới

- Xác định các vấn đề quan trọng của bài học mới

- Nghe giảng và ghi chép đầy đủ nội dung bài học trên lớp

- Nghe giảng và ghi chép những ý cơ bản, quan trọng của bài học

- Nghe giảng và diễn đạt lại nội dung bài học bằng ngôn ngữ của mình

+ Kỹ năng nghiên cứu khoa học: Bắt đầu hình thành thái độ và hành vi tích

cực đối với việc nghiên cứu khoa học như tham khảo các công trình, học hỏi kinh nghiệm và cộng tác viên với các anh chị khóa trên để tham gia nghiên cứu

Tác động qua hợp tác, tự thể hiện mình: các phương pháp hợp tác, từ đó đòi

hỏi sinh viên cần có các kỹ năng thuyết trình, thảo luận như:

- Xây dựng đề cương cho buổi semina (thảo luận)

- Sắp xếp cấu trúc bài báo cáo logic, khoa học

- Diễn đạt, trình bày rõ ràng, tự tin trước tập thể

- Đặt câu hỏi để trao đổi, dẫn dắt cuộc thảo luận đi đúng hướng

Trang 38

- Phân tích, đánh giá các ý kiến, quan điểm khác nhau trong một cuộc thảo luận

Tác động qua thông tin phản hồi: mô hình các phương pháp tự kiểm tra, tự

điều chỉnh tương ứng la các kỹ năng kiểm tra, đánh giá:

- Đọc, phân tích vấn đề trước khi giải quyết một nhiệm vụ học tập hoặc trong khi làm bài kiểm tra

- Lập dàn ý, xây dựng đề cương bài kiểm tra

- Phân bố thời gian hợp lý khi thực hien một bài kiểm tra

- Viết, trình bày câu trả lời

- Đánh giá, rút kinh nghiệm sau mỗi lần kiểm tra hoặc phải giải quyết một nhiệm vụ học tập nào đó

Tóm lại, kỹ năng học tập nền tảng là một đòi hỏi quan trọng và cần thiết đối với SV nói chung, SV Sư phạm năm thứ nhất nói riêng để giúp cho hoạt động học tập của họ đạt hiệu quả Do đó, có thể nói, việc không biết hoặc biết không rõ cách thực hiện các kỹ năng học tập nền tảng, sử dụng chúng không thành thục hoặc thái

độ xem thường, cho rằng kỹ năng học tập nền tảng là không cần thiết chính là những KKTL biểu hiện ở mặt hành vi trong hoạt động học tập của SV

2.5 Nguyên nhân của KKTL trong hoạt động học tập

Khi tiến hành một hoạt động, để quá trình hoạt động diễn ra suôn sẻ, hạn chế tối đa những khó khăn phát sinh khi thực hiện thì cần phải đảm bảo những điều kiện cần thiết cho hoạt động Ông cha ta đúc kết qua một câu nói thật cô đọng nhưng nêu

lên đầy đủ các điều kiện để một hoạt động của con người thành công đó là “Thiên

thời, địa lợi, nhân hoà” Hay nói một cách khác, hoạt động muốn không gặp khó

khăn thì cần phải hội tụ đầy đủ điều kiện khách quan và chủ quan

Hoạt động học tập là một trong những hoạt động vất vả, khó khăn Do đó, việc đảm bảo các điều kiện cho hoạt động hoc tập là hết sức cần thiết Các điều kiện này nếu được đảm bảo sẽ làm thuận lợi cho hoạt động học tập và ngược lại nếu không đáp ứng được yêu cầu của hoạt động thì nó sẽ là nguyên nhân làm nảy sinh những khó khăn nói chung, KKTL nói riêng trong quá trình thực hiện hoạt động

Trang 39

Như vậy, có thể nói, nguyên nhân gây ra các KKTL trong hoạt động học tập của SV là do các điều kiện cần cho hoạt động học tập diễn ra không được bảo đảm, bao gồm các điều kiện khách quan bên ngoài và điều kiện chủ quan, xuất phát từ chính chủ thể học tập là SV

Bước vào giảng đường đại học, SV Sư phạm năm thứ nhất, những học sinh vừa mới rời khỏi ghế nhà trường phổ thông, bước vào một môi trường học tập với rất nhiều sự mới mẻ, khác biệt Đứng trước bước chuyển đổi này, việc họ sẽ phải gặp nhiều sự thay đổi về nhiều mặt về môi trường sống, môi trường học tập Để đảm bảo cho hoạt động học tập ở bậc đại học có thể diễn ra suôn sẻ và hạn chế những khó khăn nảy sinh trong quá trình học tập, SV phải có những điều kiện nhất định về năng lực, tính cách, kinh nghiệm sống, kinh nghiệm học tập, tâm thế học tập, khả năng thích ứng, nội lực cá nhân đủ để hoà nhập được với một “đời sống” mới Ngược lại, nếu SV năm thứ nhất không đảm bảo những điều kiện như đã nêu trên thì chắc chắn trong hoạt động học tập của mình họ sẽ gặp phải nhiều khó khăn, trong đó có KKTL

Mặt khác, bên cạnh những nguyên nhân chủ quan, xuất phát từ chính bản thân chủ thể học tập thì những điều kiện bên ngoài, khách quan cũng sẽ là những nguyên nhân khiến cho hoạt động học tập nảy sinh khó khăn nói chung, KKTL nói riêng

Các nguyên nhân khách quan gây ra KKTL trong hoạt động học tập có thể là: do các điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động học tập chưa đầy đủ, khối lượng và mức độ nội dung học tập quá lớn và khó, chương trình học bố trí thiếu sự hợp lý, phương pháp giảng dạy của giáo viên chưa phù hợp, và các điều kiện hỗ trợ học tập khác chưa tốt

Như vậy, xét về nguyên nhân gây ra KKTL trong hoạt động học tập của SV năm thứ nhất, chúng ta cần tìm hiểu không chỉ những điều kiện không thuận lợi xuất phát từ môi trường khách quan bên ngoài (nguyên nhân khách quan) mà còn cần phải xác định những yếu tố xuất phát từ chính bản thân chủ thể, SV năm thứ nhất (nguyên nhân chủ quan) Có như thế, việc nhận thức về những nguyên nhân gây ra KKTL trong hoạt động học tập của SV năm thứ nhất mới đầy đủ và chính

Trang 40

xác nhằm giúp đề ra những giải pháp phù hợp để giảm bớt những KKTL, giúp SV năm thứ nhất học tập hiệu quả hơn

KKTL được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động của chủ thể

và chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố khác nhau, có sự gắn bó chặt chẽ với các hoạt động sống khác nhau của con người, vì vậy có thể đo đạc KKTL bằng những phương pháp khác nhau

SV là lớp người có vai trò rất quan trọng đối với tương lai và sự phát triển của đất nước Họ đang trong quá trình tích lũy phẩm chất, trí thức, kỹ năng…và để

có thể thực hiện được ước mơ, hoài bão của mình thì SV phải tự nỗ lực, khắc phục khó khăn trong học tập và rèn luyện Vì vậy, nghiên cứu KKTL trong học tập của

SV và từ đó đề xuất những biện pháp, kiến nghị nhằm giảm bớt KKTL và nâng cao hiệu quả học tập là một việc làm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn

Ngày đăng: 09/05/2021, 16:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w