1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khảo sát từ chuyển loại trong thơ chế lan viên

80 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngay trong ngôn ngữ Việt, vấn đề từ loại cũng chưa có sự thống nhất ở các nhà Việt ngữ học.Trong lĩnh vực ngôn ngữ học việc nghiên cứu về từ loại tiếng Việt đã được các tác giả như: Đỗ H

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi: Lê Thị Ánh, sinh viên lớp 09CVH3, khoa Ngữ Văn, trường Đa ̣i ho ̣c Sư phạm - Đa ̣i ho ̣c Đà Nẵng, xin cam đoan rằng: Công trình này do tôi thực hiê ̣n dưới

̣ hướng dẫn của TS Trương Thị Diễm

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiê ̣m về nô ̣i dung, tính khoa ho ̣c trong công trình này

Đà Nẵng, ngày 15 tháng 05 năm 2013

Người thực hiê ̣n

Lê Thi ̣ Ánh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành đề tài Khảo sát từ chuyển loại trong thơ Chế Lan Viên, Tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình,

chu đáo của Cô giáo: TS Trương Thị Diễm – người hướng dẫn trực tiếp, ta ̣o mo ̣i điều liê ̣n giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiê ̣n đề tài Tôi xin được tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Cô

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các thầy,

cô giáo trong khoa Ngữ Văn – Trường Đa ̣i ho ̣c Sư Pha ̣m Đà Nẵng, các thầy cô trong thư viê ̣n đã giúp đỡ tôi về mo ̣i mă ̣t trong thời gian qua

Xin cảm ơn gia đình, ba ̣n bè đã đóng góp những ý kiến quý báu cùng những lời đô ̣ng viên tôi trong suốt quá trình làm khóa luâ ̣n

Xin trân trọng cảm ơn !

Đà Nẵng, tháng 05 năm 2013

Sinh viên

Lê Thi ̣ Ánh

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Bố cục của khóa luận 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 5

1.1 Từ loại và hiện tượng chuyển loại 5

1.1.1 Các tiêu chí phân định từ loại trong tiếng Việt 5

1.1.1.1 Tiêu chí ý nghĩa khái quát của lớp từ 5

1.1.1.2 Tiêu chí đặc điểm hoạt động ngữ pháp của lớp từ 6

1.1.1.3 Tiêu chí chức năng ngữ pháp của từ 7

1.1.2 Hiện tượng chuyển loại 9

1.1.2.1 Khái niệm hiện tượng chuyển loại 9

1.1.2.2 Những phương thức chuyển loại 12

1.2 Giới thiệu về tác giả, tác phẩm Chế Lan Viên 14

1.2.1 Về tác giả Chế Lan Viên 14

1.2.2 Giới thiệu chung về thơ Chế Lan Viên 17

CHƯƠNG 2 TỪ CHUYỂN LOẠI XUẤT PHÁT TỪ TỪ LOẠI THỰC TỪ 20

2.1 Khảo sát từ chuyển loại trong nội bộ thực từ 20

2.1.1 Từ chuyển loại xuất phát từ từ loại danh từ 20

2.1.1.1 Danh từ dùng như động từ 20

2.1.1.2 Danh từ dùng như tính từ 21

2.1.1.3 Danh từ dùng như đại từ 24

2.1.2 Từ chuyển loại xuất phát từ từ loại động từ 24

2.1.2.1 Động từ dùng như danh từ 25

2.1.2.2 Động từ dùng như tính từ 26

Trang 5

2.1.3.2 Tính từ dùng như động từ 27

2.2 Khảo sát từ chuyển loại từ thực từ sang hư từ 30

2.2.1 Động từ sang quan hệ từ 30

2.2.2 Động từ sang phó từ 32

2.2.3 Động từ sang tình thái từ 35

2.2.4 Danh từ sang quan hệ từ 35

2.3 Giá trị của việc chuyển loại xuất phát từ từ loại thực từ trong thơ 39

Chế Lan Viên 39

CHƯƠNG 3 TỪ CHUYỂN LOẠI XUẤT PHÁT TỪ TỪ LOẠI HƯ TỪ 57

3.1 Khảo sát từ chuyển loại xuất phát từ từ loại hư từ 57

3.1.1 Phó từ sang quan hệ từ 57

3.1.2 Quan hệ từ sang tình thái từ 58

3.2 Giá trị của việc chuyển loại xuất phát từ từ loại hư từ trong thơ 60

Chế Lan Viên 60

KẾT LUẬN 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 67 PHỤ LỤC

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chế Lan Viên là một trong những tên tuổi hàng đầu của nền thơ ca hiện đại Việt Nam thế kỉ XX Hơn 50 năm lao động nghệ thuật, ông để lại cho đời 13 tập thơ, trong đó có những thi phẩm đã gây được tiếng vang lớn, trở thành những hiện tượng nổi bật trong đời sống văn học đương thời Chế Lan Viên có quan niệm thơ

và phong cách nghệ thuật độc đáo, có ảnh hưởng lớn đến nền thơ Việt Nam hiện đại Ông chính là một nhà nghệ sĩ lớn, luôn trăn trở tìm tòi trên con đường nghệ thuật Hơn nửa thế kỉ sáng tác, ông đã thử mình trên nhiều khuynh hướng nghệ thuật và ở chặng đường nào cũng đã gặt hái được những thành công nổi bật Nhưng

nhà thơ vẫn luôn không tự bằng lòng với mình, bởi: Cái trang mơ ước một đời chưa

với tới và khắt khe với chính mình khi nhìn lại đời thơ: Một nghìn câu thơ thì chín trăm câu dang dở, Ai đón đợi thơ tôi ở cuối con đường (Hồi kí bên trang viết)

Có thể nói, Thơ là một thể loại rất thành công và cũng là sở trường của Chế Lan Viên Thơ Chế Lan Viên vừa độc đáo vừa sâu sắc, vừa thẳng thắn mà lại chân

thành Những tác phẩm của ông không chỉ là những khám phá về mặt nội dung mà còn là những phát minh về mặt hình thức Ông luôn quan niệm hình thức cũng là vũ

khí, và chính những phát minh về mặt hình thức ấy đã in đậm dấu ấn cá nhân, tạo

nên một phong cách riêng cho nhà thơ Chế Lan Viên thành công trên mọi phương diện, từ đề tài, cảm hứng đến chất liệu, hình ảnh, từ giọng điệu, ngôn ngữ đến thể thơ và bút pháp…Bởi vậy, thơ ông đã thu hút được sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu và phê bình văn học Tiếng Việt qua thơ Chế Lan Viên rất sinh động, trong sáng và hấp dẫn Đặc biệt là đối với người dạy - học văn quan tâm đến vấn đề ngôn ngữ trong thơ là điều rất cần thiết, bởi có hiểu cách dùng từ ngữ thì mới hiểu và hiểu sâu được nội dung của tác phẩm

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về các tác phẩm của Chế Lan Viên, đặc biệt là thơ Mỗi công trình nghiên cứu một vấn đề khác nhau nhưng nhìn chung đều

đi vào khẳng định giá trị thơ của ông Tuy nhiên vấn đề: Khảo sát từ chuyển loại

Trang 7

trong thơ Chế Lan Viên lại chưa có một công trình nào nghiên cứu Do đó, nghiên

cứu đề tài: Khảo sát từ chuyển loại trong thơ Chế Lan Viên, chúng tôi cũng mong

muốn góp thêm một phần nhỏ trong việc chứng minh tính độc đáo, cá tính sáng tạo rất riêng chỉ có ở Chế Lan Viên Đồng thời, việc thực hiện đề tài cũng sẽ giúp cho chúng tôi có một cái nhìn sâu sắc hơn về tài năng sử dụng từ ngữ của Chế Lan Viên

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong cuốn Giáo trình Từ pháp học tiếng Việt tác giả Nguyễn Văn Chính đã

khái quát về lịch sử nghiên cứu từ loại tiếng Việt như sau: Vấn đề từ loại đã được quan tâm, chú ý từ rất sớm, bắt nguồn từ những công trình nghiên cứu thời cổ đại

Hy Lạp và La Mã Tuy vậy, cho đến nay, vấn đề phân định từ loại là không giống nhau cho tất cả mọi ngôn ngữ Ngay trong ngôn ngữ Việt, vấn đề từ loại cũng chưa

có sự thống nhất ở các nhà Việt ngữ học.Trong lĩnh vực ngôn ngữ học việc nghiên cứu về từ loại tiếng Việt đã được các tác giả như: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Tài Cẩn,

Hà Quang Năng, Diệp Quang Ban, Nguyễn Thiện Giáp…chú ý nghiên cứu về ý nghĩa khái quát của lớp từ, đặc điểm hoạt động ngữ pháp của lớp từ, chức năng ngữ pháp của lớp từ

Vấn đề mà chúng tôi khảo sát trong khóa luận này là Từ chuyển loại trong thơ

Chế Lan Viên Đây là hiện tượng tồn tại khách quan ở mọi ngôn ngữ và là một hiện

tượng rất phổ biến đối với loại hình ngôn ngữ đơn lập

Nhìn tổng quan, đã có những công trình nghiên cứu về từ loại tiếng Việt trong đó có đề cập đến sự chuyển loại Những chuyên luận, các bài nghiên cứu trên

tạp chí Ngôn ngữvề sự chuyển loại có thể kể đến như: Cách xử lí những hiện tượng

trung gian trong ngôn ngữ của Đỗ Hữu Châu in trong tạp chí Ngôn ngữ số 1,1971, Các cấp bậc khác nhau của hiện tượng chuyển loại trong Tiếng Việt của TS.Trương

Thị Diễm, Xây dựng một hệ thống bài tập trên ngữ liệu ca từ để giảng dạy sinh

động và hiệu quả hơn phần từ loại tiếng Việt cho sinh viên đại học của TS.Trương

Thị Diễm - đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, ĐHSP-ĐHĐN, 2004

Vấn đề chuyển loại đã được đề cập đến trong một số công trình như: Ngữ

pháp tiếng Việt, của Diệp Quang Ban, Giáo trình từ pháp học tiếng Việt của

Trang 8

Nguyễn Văn Chính, Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt của Bùi Minh Toán (chủ biên), Nguyễn Thị Lương, Từ loại tiếng Việt hiện đại của Lê Biên, Ngữ pháp tiếng Việt

của Đỗ Thị Kim Liên Tuy nhiên ta vẫn chưa thấy có sự nhất quán trong cách sử dụng thuật ngữ, khái niệm về sự chuyển loại và những phương thức chuyển loại

Xung quanh tác giả Chế Lan Viên - con người và sáng tác, cũng đã có nhiều bài viết trong giới nghiên cứu, phê bình văn học trong nhiều năm qua Song rất ít công trình nghiên cứu về ngôn ngữ Tuy nhiên, cũng có thể kể đến một số bài viết của các tác giả sau đã ít nhiều đề cập đến vấn đề ngôn ngữ trong tác phẩm của Chế Lan Viên như: Hoài Thanh, Xuân Diệu, Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Đình Sử, Hà

Minh Đức…Lịch sử văn học Việt Nam của Nguyễn Đăng Mạnh và Nguyễn Văn

Long đã khái quát nội dung một số tập thơ của Chế Lan Viên và cũng đã ít nhiều đề

cập đến hình thức nghệ thuật trong thơ Chế Lan Viên Cụ thể, trong tập Điêu Tàn Nguyễn Đăng Mạnh và Nguyễn Văn Long khẳng định: phải nói rằng Điêu Tàn đã

phát lộ một hồn thơ mãnh liệt, chứa đựng một nội lực thi ca đáng khâm phục Những hình ảnh kinh dị gây ám ảnh lạ lùng là sản phẩm của trí tưởng tượng phong phú, sức liên tưởng dồi dào phóng túng [17, tr 208 ]; còn trong tập Ánh sáng và phù

sa, họ lại khẳng định: Ngòi bút của Chế Lan Viên phóng khoáng, uyển chuyển, đa dạng và biến hoá trong giọng điệu, khi thủ thỉ tâm tình, khi trầm tư suy nghĩ, khi sôi nổi trẻ trung, khi ngậm ngùi, xa xót Hồn thơ ông có khi bay bổng với những hình ảnh kỳ ảo , có khi thâm trầm mà thấm thía Cảm xúc thơ có khi nén chặt , hàm súc trong các bài tứ tuyệt, có lúc mở ra bát ngát với những câu thơ tự do kéo dài rất đặc biệt… [17, tr 214 ]

Hay trong công trình nghiên cứu Thơ Chế Lan Viên với phong cách suy

tưởng, Nguyễn Bá Thành đã đề cập đến giá trị nghệ thuật ở Điêu Tàn Còn Ánh sáng và phù sa ông lại đi vào phân tích từng loại suy tưởng, suy tưởng về thơ, tình

yêu, Tổ quốc…

Cũng nghiên cứu về Chế Lan Viên, nhưng Hồ Thế Hà lại tìm hiểu ở một khía

cạnh khác Trong cuốn Thế giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên, ông đã dành hẳn một

chương cho phương thức biểu hiện về chất thơ và đặc điểm của thi pháp biểu hiện,

Trang 9

các biện pháp nghệ thuật đặc sắc, các thể thơ tiêu biểu Trong cuốn Nghệ thuật thơ

Chế Lan Viên, Đoàn Trọng Huy cũng đã dành những chương riêng biệt nghiên cứu

về ngôn ngữ thơ, hình ảnh thơ, thể loại thơ của Chế Lan Viên

Như vậy, hầu hết các công trình nghiên cứu vừa nêu trên đều đã khẳng định được tài nghệ của Chế Lan Viên về nội dung thơ ca chứ chưa đi sâu vào tìm hiểu cơ chế tổ chức từ ngữ trong các tác phẩm của ông Do vậy, trên cơ sở tiếp thu những

kết quả nghiên cứu của các tác giả trên, chúng tôi sẽ đi sâu vào vấn đề khảo sát từ

chuyển loại trong thơ Chế Lan Viên qua một số tập thơ

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:Từ chuyển loại trong thơ Chế Lan Viên

- Phạm vi nghiên cứu: Trong khuôn khổ khóa luận này, chúng tôi chọn

những tập thơ sau để khảo sát: Điêu tàn (1937), Gửi các anh (1955), Ánh sáng và

Phù sa (1960), Hoa ngày thường – Chim báo bão (1967), Những bài thơ đánh giặc (1972), Đối thoại mới (1973), Hoa trước lăng Người (1976), Di Cảo (Tập I) trong

cuốn sách của tác giả: Vũ Thị Thường ( Sưu tập, 2002), Chế Lan Viên toàn tập,

NXB Văn học (Tập 1 và tập 2)

4 Phương pháp nghiên cứu

Chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp thống kê; phương pháp phân loại; Phương pháp đối chiếu, so sánh; Phương pháp tổng hợp, khái quát

5 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, khóa luận của chúng tôi gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận liên quan đến đề tài

Chương 2: Từ chuyển loại xuất phát từ từ loại thực từ

Chương 3: Từ chuyển loại xuất phát từ từ loại hư từ

Trang 10

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Từ loại và hiện tượng chuyển loại

1.1.1 Các tiêu chí phân định từ loại trong tiếng Việt

1.1.1.1 Tiêu chí ý nghĩa khái quát của lớp từ

Trước hết, ta phải hiểu khái niệm từ loại là gì?

Từ loại là lớp từ có cùng bản chất ngữ pháp được phân chia theo ý nghĩa phạm trù, theo khả năng kết hợp trong đoản ngữ (cụm từ), trong câu để thực hiện chức năng ngữ pháp giống nhau

Ví dụ 1: Nó nhanh

Phong cảnh ở đây mĩ lệ

Như vậy, nhanh và mĩ lệ, tuy khác nhau về ý nghĩa từ vựng nhưng có ý nghĩa

khái quát giống nhau (chỉ tính chất, đặc điểm) và đặc điểm ngữ pháp giống nhau (cùng làm vị ngữ)

Từ loại tiếng Việt được phân định theo ba tiêu chí Tiêu chí đầu tiên là dựa vào ý nghĩa khái quát của lớp từ

Ý nghĩa từ loại là ý nghĩa khái quát của từng lớp từ, trên cơ sở khái quát hóa

từ vựng thành khái quát hóa phạm trù ngữ pháp chung (phạm trù từ vựng – ngữ pháp)

Ví dụ 2:

- Sách, vở, giáo viên, sinh viên, học sinh… Các từ trên được phân vào lớp

danh từ, vì cùng chung một ý nghĩa khái quát hóa từ ý nghĩa thực thể, còn gọi là ý nghĩa sự vật Ý nghĩa phạm trù ngữ pháp của danh từ

- Viết, nói, đọc, nghĩ… Các từ trên được phân vào lớp động từ, do ý nghĩa từ

vựng của chúng được khái quát hóa và trừu tượng hóa thành ý nghĩa hoạt động Ý nghĩa phạm trù ngữ pháp của lớp động từ

- Vuông, tròn, tốt… Các từ trên được phân vào lớp tính từ, vì cùng chung

một ý nghĩa khái quát chung là ý nghĩa tính chất Ý nghĩa phạm trù ngữ pháp của tính từ

Trang 11

- Và, tuy, nhưng,… Biểu thị ý nghĩa quan hệ khi đi vào hoạt động trong cụm

từ, hay trong câu

Tiêu chí ý nghĩa khái quát của lớp từ là một tiêu chí quan trọng, vì ý nghĩa khái quát của lớp từ chi phối những đặc điểm trong hoạt động ngữ pháp của từ Nhưng nếu chỉ căn cứ vào ý nghĩa khái quát của lớp từ thì chưa đủ Vì thế, ngoài tiêu chí về ý nghĩa khái quát của lớp từ, còn cần phải sử dụng các tiêu chí về hình thức ngữ pháp

1.1.1.2 Tiêu chí đặc điểm hoạt động ngữ pháp của lớp từ

Hình thức ngữ pháp của từ tiếng Việt không bộc lộ trong bản thân từ Từ tiếng Việt chỉ bộc lộc các đặc điểm ngữ pháp trong hoạt động cấu tạo các đơn vị lớn hơn: cụm từ và câu Vì vậy, khi xem xét đặc điểm hoạt động ngữ pháp của từ tiếng Việt, cần phải dựa vào khả năng kết hợp của từ khi cấu tạo cụm từ và khả năng đảm nhiệm các thành phần câu

a Khả năng kết hợp của từ để cấu tạo cụm từ

Vì từ của tiếng Việt không bộc lộ đặc điểm ngữ pháp của từ loại mà nó là thành viên qua hình thức ngữ âm, hình thức cấu tạo, hình thức biến đổi của bản thân

nó, mà chỉ thể hiện đặc điểm ngữ pháp khi kết hợp với các từ xung quanh (trước và sau nó), cho nên cần căn cứ vào các từ xung quanh để xác định đặc điểm ngữ pháp, bản chất từ loại của từ

Năm 1948, Lê Văn Lý đã đề xuất tiêu chuẩn phân định từ loại tiếng Việt dựa vào các từ chứng Những từ cùng xuất hiện trong cùng một bối cảnh, có khả năng thay thế nhau ở cùng một vị trí, có tính chất thường xuyên, được tập hợp vào một lớp từ Các từ tạo ra bối cảnh thường xuyên cho các từ có thể thay thế nhau ở vị trí nhất định,được gọi là từ chứng Vì vậy, muốn phân định được từ loại của các từ cần xem xét khả năng kết hợp với các từ chứng

Ví dụ1:

Những, các, vài/sinh viên (học sinh)/này, kia, ấy

Lượng từ danh từ chỉ từ

Trang 12

Tất cả/ những/ cái/ con/ gàmái/ đen/ ấy

3 2 1 D1 D2 -1 -2

Trên đây là một cụm danh từ, gồm có 7 vị trí Vị trí trung tâm là danh từ chỉ loại (D1) và danh từ chỉ sự vật (D2) Phía trước danh từ là từ "cái" chỉ xuất(1), từ chỉ lượng (2), từ chỉ tổng thể (3) Phía sau danh từ có hai vị trí: định ngữ (1), và từ chỉ định (2)

Ví dụ 2: Những từ: nhà, bàn, chim, người, nhà máy, con, cái…đều có khả năng kết hợp với các chỉ từ (này, kia, ấy, nọ, đó…) ở phía sau: nhà này, bàn này,

chim này, người này, con ấy, nhà máy kia,… hay với các từ chỉ lượng tức số lượng, lượng từ (sáu, bảy, vài, mươi,…) ở phía trước: vài người, sáu nhà máy, những đứa trẻ, tất cả mọi người,…Như vậy, khả năng kết hợp (ở trước và ở sau) với các từ chứng đó xác định các từ trên thuộc từ loại danh từ

Tiêu chí về khả năng kết hợp của từ được các nhà nghiên cứu tiếng Việt điều chỉnh, bổ sung và được công nhận là một trong số tiêu chí quan trọng trong việc phân định từ loại Cùng với ý nghĩa khái quát, căn cứ vào khả năng kết hợp của từ trung tâm

với những từ xung quanh mà xếp từ loại cho những từ đó Chính vì vậy, đặc trưng về khả

năng kết hợp của các lớp từ là dấu hiệu chủ yếu về ngữ pháp, có tác dụng quyết định trong việc phân định, quy loại các lớp từ tiếng Việt về mặt từ loại

b Khả năng cấu tạo câu, đảm nhiệm chức vụ các thành phần câu

Đây cũng là một phương diện bộc lộ đặc điểm và bản chất ngữ pháp của các từ trong tiếng Việt Hoạt động cấu tạo câu chủ yếu được xem xét ở năng lực đảm nhiệm vai trò của hai thành phần chính (chủ ngữ và vị ngữ) trong nòng cốt của câu đơn bình thường

Căn cứ vào đó có thể phân biệt những từ có thể đảm nhiệm vai trò các thành phần chính (danh từ, động từ, tính từ, đại từ) và các từ chỉ đảm nhiệm được vai trò của các thành phần phụ (số từ, phó từ), hoặc chỉ đảm nhiệm vai trò nối kết các thành phần câu (quan hệ từ) Ngoài ra còn có những từ loại không đảm nhận vai trò cấu tạo một thành phần nào trong cấu trúc ngữ pháp cơ bản của câu, mà chỉ thể hiện ý nghĩa tình thái của câu (tình thái từ, trợ từ, thán từ)

1.1.1.3 Tiêu chí chức năng ngữ pháp của từ

Tham gia vào cấu tạo câu, từ có thể đứng vào từng vị trí khác nhau trong câu, hoặc có thể thay thế nhau ở từng vị trí đó và cùng biểu thị một mối quan hệ về

Trang 13

chức năng ngữ pháp với các thành phần khác trong cấu tạo câu thì xếp vào cùng một từ loại Cho nên, ta có thể dùng tiêu chí chức năng ngữ pháp mà từ đảm nhiệm

để làm cơ sở khi phân loại

Ví dụ 1: Sinh viên // rất thông minh

Bộ đội // rất dũng cảm

Nông dân // rất cần cù

CN VN Trong câu, danh từ thường làm chủ ngữ, động từ và tính từ thường làm vị ngữ

Tuy nhiên, có vấn đề là một từ có thể giữ một hoặc hơn một chức năng ngữ pháp trong câu, nên cần phải xem xét chức năng ngữ pháp nào của từ là chủ yếu để làm căn cứ phân loại Vì thế, không thể dựa chủ yếu vào tiêu chí này để phân định

từ loại Do đó, tiêu chí chức năng ngữ pháp ít ổn định hơn so với tiêu chí ý nghĩa khái quát và đặc điểm hoạt động ngữ pháp của lớp từ Việc chỉ dựa vào một tiêu chí duy nhất để phân định từ loại tiếng Việt sẽ mang lại kết quả không cao, không bao quát toàn bộ diện mạo từ loại tiếng Việt Chính vì vậy, việc phân định từ loại tiếng Việt được dựa vào tập hợp ba tiêu chí: ý nghĩa khái quát của từ, khả năng kết hợp của từ và chức năng cú pháp chủ yếu của từ Trong đó, các tiêu chí 1 và 2 có tác dụng nhiều hơn trong việc tập hợp và quy loại từ.Ba tiêu chí đó phải có quan hệ chặt chẽ, thống nhất khi xem xét từ loại của từ

Ta có thể đưa sơ đồ về hệ thống từ loại tiếng Việt như sau:

Sơ đồ khái quát hệ thống từ loại tiếng Việt

Số từ Đại từ

Từ loại tiếng Việt

Phụ từ (định

từ, chỉ từ, phó từ)

Quan hệ

từ

Tiểu từ (tình thái từ, trợ từ,)

Trang 14

1.1.2 Hiện tượng chuyển loại

1.1.2.1 Khái niệm hiện tượng chuyển loại

Hiện tượng chuyển di từ loại là một hiện tượng phổ biến trong các ngôn ngữ

và đặc biệt là trong các ngôn ngữ thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập Chuyển loại là một hiện tượng tích cực trong ngôn ngữ, là một biểu hiện của quá trình tự điều chỉnh hệ thống ngôn ngữ, là một trong các phương thức cấu tạo từ Hiện tượng chuyển loại là một quá trình cần được xem xét trên quan điểm đồng đại động Việc phân biệt chuyển loại với đồng âm và với đa nghĩa; việc chỉ ra các mức độ khác nhau của quá trình chuyển loại; phân biệt chuyển loại đã ổn định với kiêm nhiệm từ loại và với chuyển loại lâm thời là một việc làm cần thiết trong quá trình nghiên cứu

từ loại tiếng Việt

Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, không biến đổi hình thái Số lượng vỏ âm thanh mà người Việt sử dụng làm vỏ ngữ âm cho hình vị tối đa chỉ có

4 vạn tiếng khác nhau [7, tr.46] Vì thế, để khắc phục mâu thuẫn giữa cái hữu hạn

của số lượng cái biểu hiện (vỏ ngữ âm của từ) và cái vô hạn của cái được biểu hiện

(hiện thực khách quan cần phản ánh), sự xuất hiện từ mới bằng phương thức dùng chất liệu sẵn có để tạo nên các từ phức như từ ghép, từ láy hay việc xuất hiện từ đa nghĩa, từ đồng âm trong ngôn ngữ ngày càng nhiều là một tất yếu Chính sự phát triển của xã hội, nhận thức của con người và nhu cầu giao tiếp xã hội là động lực thúc đẩy ngôn ngữ phải biến đổi

Sự có mặt của hiện tượng chuyển di từ loại trong ngôn ngữ cũng là vì lẽ trên

Đứng trên quan điểm đồng đại - động, chúng ta nhận thấy rằng tĩnh chỉ là tạm thời,

tương đối Vì thế, đường ranh giới của sự phân loại không phải bao giờ cũng dứt

khoát, tuyệt đối, vô điều kiện, bởi vì “mọi ranh giới trong tự nhiên và trong xã hội

đều di động và quy ước đến một mức nào đó” (Lênin) Bản chất của tín hiệu ngôn

ngữ là vận động

Xét một cách sâu xa, hiện tượng chuyển di từ loại là biểu hiện giữa mối quan

hệ giữa tư duy và ngôn ngữ Trong tiếng Việt, chuyển loại diễn ra là do sự thay đổi

cách thức phản ánh của người Việt, chứ không phải là sự thay đổi đối tượng phản

Trang 15

ánh Đó là sự thay đổi cấu trúc sở biểu của từ [6, tr.178]

Về hiện tượng chuyển di từ loại có một số định nghĩa đáng chú ý như sau: Theo tác giả Diệp Quang Ban: “Chuyển di từ loại – Chuyển loại là một hiện tượng một từ khi thì dùng với ý nghĩa và đặc điểm ngữ pháp của từ loại này, khi thì được dùng với ý nghĩa và đặc điểm ngữ pháp của từ loại khác” [4, tr 153]

Tác giả Hà Quang Năng viết: “Chuyển loại là một phương thức cấu tạo từ, nhờ đó một từ mới thuộc phạm trù từ loại này được tạo ra từ một từ loại khác mà vẫn giữ nguyên vỏ âm thanh, đồng thời tạo ra ý nghĩa mới có quan hệ nhất định với

ý nghĩa của từ xuất phát, và nhận những đặc trưng ngữ pháp mới (thể hiện ở khả năng kết hợp và chức năng làm thành phần câu) khác với đặc trưng ngữ pháp của từ xuất phát” [15, tr.173]

Tác giả Hồ Lê thì khẳng định chuyển loại là một hiện tượng đặc thù của tiếng Việt: “Sự chuyển loại là một phương thức cấu tạo từ, có khả năng tạo từ mới trên cơ sở

từ đã có, bằng cách giữ nguyên vỏ âm của từ cũ, tạo ra một nghĩa mới và đưa vào những đặc trưng ngữ pháp khác với đặc trưng ngữ pháp của từ cũ” [14, tr 164]

Ngữ pháp tiếng Việt của UBKHXH (1983) thì cho: “Chuyển loại là hiện tượng về những từ cùng gốc, cùng hình thức ngữ âm, mà có thể dùng theo từ loại

khác nhau” [26, tr 92]

Các nhà Đông phương học Xô-viết đã khẳng định rằng việc chuyển di "các

từ từ loại này sang từ loại khác mà không thay đổi vỏ âm thanh của chúng (tức là hiện tượng chuyển loại) là một trong những đặc điểm quan trọng nhất của các ngôn ngữ này (ngôn ngữ đơn lập)” [dẫn theo Hà Quang Năng, 18, tr.144] Loại của từ

không phải là bất di bất dịch Giữa các loại của từ có một bộ phận chuyển hoá lẫn nhau Chuyển loại cũng là một phương thức cấu tạo từ

Khi khảo sát về từ loại tiếng Việt, chúng ta thường gặp hiện tượng: có những

từ có thể được dùng với những đặc trưng ngữ nghĩa - ngữ pháp của từ loại này hay của từ loại khác

Ví dụ 1:

a Anh ấy vác cuốc1 ra cuốc2 đám đất trước nhà để trồng khoai

DT ĐT

Trang 16

b Công việc tiến hành rất thuận lợi1 Những thuận lợi 2 ấy làm anh ta phấn khởi

TT DT Tóm lại, hiện tượng chuyển loại là hiện tượng một từ khi thì được dùng với ý nghĩa và đặc điểm ngữ pháp của từ loại này, khi thì được dùng với ý nghĩa và đặc điểm ngữ pháp của từ loại khác.Từ những định nghĩa trên, ta thấy ở những tác giả khác nhau có những cách định nghĩa hiện tượng chuyển loại khác nhau nhưng đều

có chung đặc điểm sau:

a Từ chuyển loại có hình thức đồng âm

Một từ thuộc từ loại này khi chuyển thành một từ thuộc từ loại khác vẫn giữ

nguyên vỏ ngữ âm thì chúng là hai từ đồng âm khác từ loại

b Từ chuyển loại có yếu tố nghĩa từ vựng chung

Yếu tố nghĩa từ vựng chung đó là cơ sở của ý nghĩa từ loại, là thành phần trong ý nghĩa khái quát của từ Khi một từ chuyển loại (thành một từ khác, đồng âm), yếu tố nghĩa từ vựng chung sẽ được giữ lại trong cả hai từ, do đối tượng phản ánh (thực thể, quá trình, đặc trưng, quan hệ) trong từ không thay đổi Vì vậy, xét kĩ

về mặt ý nghĩa, thì từ ban đầu và từ chuyển loại có cơ sở đồng nhất ở yếu tố nghĩa

từ vựng chung Từ ban đầu và từ chuyển loại chỉ thay đổi ở ý nghĩa ngữ pháp

c Từ chuyển loại có khả năng kết hợp và chức năng ngữ pháp khác với từ ban đầu

Ví dụ:- Tôi đang suy nghĩ về một bài toán khó

- Những suy nghĩ ấy cần được quan tâm

Thống nhất một cơ sở lý thuyết cũng như khảo sát thực tế những vấn đề nêu trên là điều không đơn giản Trong giới hạn của một đề tài khóa luận chúng tôi chủ

yếu tập chung khảo sát từ chuyển loại trong thơ Chế Lan Viên

Đối tượng của đề tài chúng tôi thực hiện, như đã nói là toàn bộ từ chuyển loại trong thơ Chế Lan Viên Chúng tôi dựa trên cơ sở lý thuyết đã trình bày và dựa

vào sự phân tích nghĩa của các nhà từ điển học trong cuốn Từ điển tiếng Việt để tiến

hành khảo sát Kết quả khảo sát sẽ soi sáng những vấn đề lý thuyết và giúp chúng

tôi thấy rõ đặc điểm từ chuyển loại trong thơ Chế Lan Viên

Trang 17

1.1.2.2 Những phương thức chuyển loại

Trong tiếng Việt, chúng ta thường gặp một số trường hợp chuyển loại sau đây:

- Chuyển loại trong nội bộ thực từ

+ Chuyển loại từ danh từ sang động từ, tính từ

Ví dụ 1: Nước Việt Nam là một

Ví dụ 3:

Chúng ta chưa ý thức đầy đủ vấn đề kế hoạch hóa gia đình (động từ)

Cô ta chưa có ý thức học tập tốt (danh từ)

+ Chuyển loại từ động từ <=> danh từ: từ chỉ hành động như cày, bừa, cưa, đục, v.v… chuyển loại thành tên gọi đồ vật tương ứng như (cái) cày, (cái) bừa, (cái) cưa, (cái) đục v v…; từ chỉ hành động đa tiết như: suy nghĩ, đắn đo, lo ngại v.v… chuyển thành tên gọi khái niệm hay sự vật trừu tượng (những) suy nghĩ, (những) đắn đo, (những) lo ngại v.v…

+ Chuyển loại từ tính từ <=> danh từ: từ chỉ tính chất đa tiết thường chuyển thành danh từ chỉ sự vật trừu tượng: khó khăn, gian khổ, sung sướng v.v… thành (mọi) khó khăn, (mọi) gian khổ, (mọi) sung sướng v.v…

+ Chuyển loại trong nội bộ từ loại danh từ: danh từ chỉ đồ vật như chén, bát, thuyền, xe, mâm v.v… chuyển thành danh từ chỉ đơn vị (vật chứa đựng) như (một)

Trang 18

chén rượu, (một) bát cơm, (một) thuyền cá, (một) xe gạo v.v…

- Chuyển loại từ thực từ sang hư từ

+ Chuyển loại từ danh từ <=> quan hệ từ: một số danh từ chỉ vị trí: trên,

dưới, trong, ngoài v.v… chuyển thành kết từ: (ngồi) trên ghế, (đi) dưới nước, (họp)

trong hội trường, (ăn) ngoài hiệu

Ví dụ 4: - Rừng là của quý cần bảo vệ (danh từ)

Trang 19

hiện chức năng liên kết của kết từ (quan hệ từ): còn, rồi v.v…

+ Chuyển loại từ phó từ<=> quan hệ từ

cụ thể, đặc biệt, ít phổ biến và thường mang tính chất tu từ Trường hợp rất Việt

Nam, rất Hà Nội, rất Huế được xem là chuyển hóa từ loại lâm thời Chúng chỉ tồn

tại trong những ngữ cảnh cụ thể do sáng tác riêng của người nói

Ví dụ 13:

“Nón rất Huế nhưng đời không phải thế”, “Ta là ai mà còn trần gian thế”

“Huế” và “trần gian” lâm thời được chuyển loại từ danh từ sang tính từ

1.2 Giới thiệu về tác giả, tác phẩm Chế Lan Viên

1.2.1 Về tác giả Chế Lan Viên

Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Phan, sinh ngày 23 – 10 – 1920 (tức ngày 12 tháng 9 năm Canh Thân) trong một gia đình viên chức nghèo tại xã Cam

An, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị Họ Chế trong bút danh là do Hàn Mặc Tử đặt

khi Tử viết bài Thi Sĩ Chàm tặng Chế Bồng Hoan Còn chữ Lan Viên lấy ý tưởng từ

người bạn thơ Yến Lan và ấn tượng vườn lan nhiều hoa nhà bạn Bút danh ấy đã theo người thơ suốt cả đời thơ – đời người và để lại dấu ấn mạnh mẽ trong lòng bao bạn đọc yêu thơ

7 tuổi (năm 1927), nhà thơ đã theo gia đình vào An Nhơn, Bình Định Ông lớn lên và đi học ở Quy Nhơn, đỗ bằng Thành chung thì thôi học, đi dạy tư để kiếm

sống Sau này, cũng tại mảnh đất có nhiều Tháp Chàm, gần bể , Chế Lan Viên bắt đầu làm thơ và tham gia Cách mạng tháng Tám Vì vậy, ông rất gắn bó với thành

Đồ Bàn xưa Có thể xem Quy Nhơn, Bình Định là quê hương thứ hai của Chế Lan

Trang 20

Viên, nơi đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong tâm hồn của nhà thơ Và chính quê

hương thứ hai ấy đã là ám tượng nghệ thuật trong thơ Chế những năm đầu làm bạn

với Nàng thơ

Ông bắt đầu làm thơ từ năm 12, 13 tuổi, thời kỳ đang sống và đi học ở huyện

lỵ An Nhơn Có thơ, truyện ngắn đăng trên các báo Tiếng trẻ, Khuyến học, Phong

hóa từ những năm 1935 – 1936

Năm 17 tuổi, đang là học sinh năm thứ ba trường Trung học Quy Nhơn với

bút danh Chế Lan Viên, ông xuất bản tập thơ đầu tay với nhan đề Điêu Tàn, có lời

tựa đồng thời là lời tuyên ngôn của “Trường thơ loạn” Từ đây cái tên Chế Lan Viên trở nên nổi tiếng trên thi đàn Việt Nam và dư luận đã đặc biệt chú ý đến nhà thơ trẻ tài năng và đặc sắc này Ông cùng với Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Quách Tấn được người đương thời gọi là “Bàn thành tứ hữu” của Bình Định và để lại dấu ấn độc đáo cho Thơ mới đương thời

Năm 1939, Chế Lan Viên ra Hà Nội học, rồi vào Sài Gòn làm báo, ra Thanh

Hóa và quay về Huế dạy học Năm 1942, cho ra đời tập văn xuôi Vàng Sao, tập thơ

triết luận về đời với màu sắc siêu hình, huyền bí Sau đó viết tập bút ký triết luận

Gai Lửa và một tập thơ tập thơ không tên cùng viết những năm ấy (1941 - 1942)

Cách mạng tháng Tám nổ ra, ông tham gia phong trào Việt Minh tại Quy

Nhơn Sau đó, ông ra Huế tham gia Đoàn Xây Dựng cùng với Hoài Thanh, Lưu

Trọng Lư, Đào Duy Anh … Thời kỳ này, Chế Lan Viên viết bài và làm biên tập cho

báo Quyết Thắng, Cứu quốc, Kháng chiến của Việt minh Trung Bộ Phong cách thơ

của ông giai đoạn này cũng chuyển dần về trường phái hiện thực

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ông hoạt động văn nghệ và báo chí ở Liên khu Bốn và chiến trường Bình Trị Thiên Tháng 7 năm 1949, trong chiến dịch Tà Cơn – đường 9 (Quảng Trị), Chế Lan Viên vinh dự gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương

Những bài thơ Chế Lan Viên sáng tác trong thời kỳ kháng chiến được tập

hợp trong tập thơ Gửi các anh (in 1955) Năm 1954, Hòa bình lập lại, Chế Lan Viên tập kết ra Bắc làm biên tập viên báo Văn Học Từ năm 1956 đến năm 1958, ông

Trang 21

công tác ở phòng văn nghệ, Ban tuyên huấn trưng ương và đến cuối năm 1958 trở

lại làm biên tập tuần báo Văn học (sau là báo Văn nghệ) Suốt cả thời kỳ chống Mỹ,

anh công tác trên miền Bắc Từ năm 1963 ông là ủy viên thường vụ Hội Nhà Văn Việt Nam, ủy viên ban thư kí Hội nhà văn Việt Nam Ông cũng là đại biểu Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa các khóa IV, V, VI, ủy viên Ban văn hóa – giáo dục của quốc hội Và các hoạt động đối ngoại trên các diễn đàn văn học quốc tế ở Liên

Xô, Pháp, Nam Tư, Ấn Độ, Tây Âu v.v … Những hoạt động ấy giúp anh có nhiều thay đổi trong dòng thơ của mình, cũng như giúp anh bên cạnh sáng tác thơ còn viết bút ký, tiểu luận, phê bình văn học

Sau ngày thống nhất đất nước (tháng 4/1975), ông vào công tác tại miền Nam Chế Lan Viên mất ngày 19 tháng 6 năm 1989 (tức ngày 16 tháng 5 năm Kỷ Tỵ) tại Bệnh viện Thống Nhất Lễ truy điệu và hỏa táng được tổ chức vào ngày 26 tháng 6 năm 1989, thọ 69 tuổi

Chế Lan Viên là một nhà thơ tài năng, một nhà văn hóa đã có những đóng góp to lớn cho nền thơ Việt Nam và văn hóa Việt Nam Chế Lan Viên đã được nhận Huân chương Độc Lập hạng II (1988) Ông được nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996 (đợt I)

Có thể nói, Chế Lan Viên là một nhà thơ gắn bó Đời và Thơ mình với Dân tộc và sự nghiệp Cách mạng, đồng thời luôn thể hiện những khao khát sáng tạo của một bản lĩnh, một tâm hồn thi sĩ Nhiều tác phẩm của Chế Lan Viên đã có tiếng vang lớn, in đậm dấu ấn trong lòng độc giả, trở thành những đỉnh cao thành tựu của thơ Việt Nam hiện đại Sáng tác của Chế Lan Viên cùng những hoạt động văn hóa phong phú của ông đã có tác động tích cực và ảnh hưởng rộng rãi trong đời sống văn hóa Việt Nam hiện đại

Sinh thời, và sau khi ông mất, mỗi tác phẩm của Chế Lan Viên cũng như sự nghiệp sáng tác của ông đã được giới nghiên cứu phê bình chú ý, và dù có những ý kiến khác nhau nhưng nhìn chung Chế Lan Viên được đánh giá như một thi sĩ tài năng, một phong cách đặc sắc

Trang 22

1.2.2 Giới thiệu chung về thơ Chế Lan Viên

Chế Lan Viên là một nhà thơ tài năng, nhà hoạt động văn hóa có vị trí quan trọng trong văn học Việt Nam hiện đại Trong hơn 50 năm cầm bút, Chế Lan Viên

đã để lại một khối lượng tác phẩm lớn và đa dạng Chế Lan Viên vừa làm thơ, vừa viết văn, viết tiểu luận, phê bình Ở lĩnh vực nào, anh cũng là một cây bút tài năng, không lẫn với ai được, có nhiều đóng góp xuất sắc

Trước hết, Chế Lan Viên là một nhà thơ Gọi sự tồn tại của mình là một kiếp

sống phụng khai thần bút, với niềm đam mê sáng tạo thường trực và bất tận, thi

nhân đã để lại cho nhân loại một sự nghiệp sáng tác đồ sộ với 1025 bài thơ Và hiếm có nhà thơ nào như Chế - nổi tiếng cả trên ba chặng đường thơ của dân tộc :

trước 45 là Điêu Tàn (thi sĩ – lãng mạn), 45 – 75 là Ánh sáng và phù sa (thi sĩ – chiến sĩ), và sau 75 là Di cảo thơ (thi sĩ – triết nhân) Đây quả thật là ba niềm sửng

sốt (chữ dùng của Trần Mạnh Hảo) mà Chế Lan Viên tạo ra cho cuộc đời

Trước Cách mạng tháng Tám, thơ Chế Lan Viên là một thế giới đúng

nghĩa “Trường thơ loạn” Tập thơ Điêu tàn viết lúc ông mới 17 tuổi “đột ngột

xuất hiện ra giữa làng thơ Việt Nam như một niềm kinh dị Nó dựng lên một thế giới đầy sọ dừa, xương máu, cùng yêu ma… Giữa đồng bằng văn học Việt Nam ở nửa thế kỷ hai mươi, nó đứng sững như một cái tháp Chàm, chắc chắn và lẻ loi,

bí mật” (Chế Lan Viên, Điêu tàn-Tác phẩm và dư luận)

Là một cậu bé mới lớn, nhưng trong thế giới tâm hồn Chế, dường như không

hề có những cảm xúc trong sáng, hồn nhiên của tuổi hoa niên Có phải cuộc đời đầy đắng xót cộng với bản tính nhạy cảm nghệ sĩ đã làm nên một Chế Lan Viên sầu và

già trước tuổi ? Chế quan niệm : “Thi sĩ không phải là người Nó là người Mơ,

người Say, người Điên Nó là Tiên, là Ma, là quỉ, là Tinh, là Yêu Nó thoát hiện tại

Nó xáo trộn dĩ vãng Nó ôm trùm tương lai Người ta không hiểu được vì nó nói những cái vô nghĩa, tuy rằng, những cái vô nghĩa hợp lí” ( Tựa Điêu Tàn) Thế giới

trong ông không phải là thực tại xanh non mà là thế giới của hư vô, của Chiêm quốc

đổ nát, của những bãi tha ma và đêm tàn, chồng chất u buồn, chồng chất đớn đau Hình ảnh thơ đầy quái đản và ma mi bao trùm vũ trụ thơ Không gian âm phủ và

Trang 23

thời gian dĩ vãng đã mấy trăm năm với những tiếng khóc hời ai oán, não nũng ấy khiến ai một lần đặt chân ghé qua cũng rùng mình ớn lạnh Chế từ bỏ cõi đau thương của cuộc đời thực tại nhưng lại tìm đến một cõi đau thương khác Đấy là cõi

lạ - cõi âm – cõi của bi kịch Và trong cõi ấy, Chế đã thăng hoa đến rợn ngợp, với những sự vượt ngưỡng về trí tuệ, vượt ngưỡng về cảm xúc của một hồn thơ

Năm 1955 Chế Lan Viên xuất bản tập thơ Gửi các anh gồm 14 bài thể hiện

sự chuyển biến quan trọng trong tư tưởng và hồn thơ Chế Lan Viên Sau Cách

mạng tháng Tám, thơ ông đã “đến với cuộc sống nhân dân và đất nước, thấm

nhuần ánh sáng của cách mạng”, và có những thay đổi rõ rệt Có thể nói rằng,

Chế Lan Viên đã đi từ phù du đến “Ánh sáng và phù sa” , từ “thung lũng đau

thương ra cánh đồng vui” Năm 1960, Ánh sáng và phù sa – đứa con tinh thần

được mọi người yêu mến và ngưỡng mộ của Chế ra đời Đây là một thành công đặc sắc, đánh dấu bước phát triển mới của thơ Chế Lan Viên Như cách nói của Chế, thi

nhân đã đi“từ thung lũng đau thương ra cánh đồng vui” với những sự đổi mới về cảm xúc thi ca Bắt gặp trong Ánh sáng và phù sa là những vần thơ hòa nhập vào

cuộc sống hiện tại, vào đời sống kháng chiến, với đất nước, với nhân dân, với Bác Hồ…

Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thơ Chế Lan Viên đã đạt

nhiều thành tựu mới với các tập thơ : Hoa ngày thường – Chim báo bão (1967),

Những bài thơ đánh giặc (1972), Đối thoại mới (1973) và Ngày vĩ đại (1975) kết tụ

khuynh hướng sử thi hào hùng, chất chính luận và tính thời sự của những năm nhà thơ tham gia kháng chiến chống Mỹ, tham gia Ban lãnh đạo Hội nhà văn Việt Nam, tham dự nhiều diễn đàn văn hóa quốc tế trên thế giới… Sau 1975, âm hưởng hùng tráng của những ngày chống Mỹ cứu nước vẫn còn vang vọng trong các tập thơ :

Hoa trước lăng Người (1976), Hái theo mùa (1977) Và vào những năm cuối đời,

khi đã trải qua biết bao nhiêu bể dâu của cuộc đời, cái tôi thi sĩ lại trăn trở thế sự

trong những vần thơ Hoa trên đá (1984) và Ta gửi cho mình (1986)

Suốt một đời miệt mài với thơ ca đến tận những giây phút cuối cùng của cuộc đời, con người nặng nợ với văn chương ấy đã về với hư vô vào ngày

Trang 24

19.06.1989, để lại cho đời biết bao niềm tiếc nuối khôn nguôi Sau khi ông mất, những Di cảo thơ của ông được nhà văn Vũ Thị Thường – vợ nhà thơ, sưu tầm,

tuyển chọn và xuất bản : Di cảo thơ I in năm 1992, Di cảo thơ II in năm 1993 và được giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam năm 1994 Tập Di cảo thơ III xuất bản

năm 1996 và nhiều bài thơ để lại của Chế Lan Viên còn tiếp tục được sưu tầm, tập hợp

Trang 25

- Từ chuyển loại có hình thức đồng âm

- Từ chuyển loại có yếu tố nghĩa từ vựng chung

- Từ chuyển loại có khả năng kết hợp và chức năng ngữ pháp khác với từ ban đầu

Căn cứ vào các tiêu chí phân định từ loại tiếng Việt và đặc điểm của sự chuyển loại Chúng tôi phân loại, thống kê từ chuyển loại trong thơ Chế Lan Viên thành những phương thức chuyển loại sau đây: Từ chuyển loại xuất phát từ từ loại thực từ, từ chuyển loại xuất phát từ từ loại hư từ

2.1.1 Từ chuyển loại xuất phát từ từ loại danh từ

Căn cứ vào đặc điểm ý nghĩa, đặc điểm ngữ pháp và khả năng kết hợp của

từ, chúng tôi tiếp tục chia hiện tượng chuyển loại của danh từ thành các loại sau:

Trang 26

………

Khi đã có hướng rồi, đừng sợ đời hết lửa

(Khi đã có hướng rồi)

Hướng: thuộc nhóm danh từ

Nhưng trong các câu thơ sau đây từ “hướng” được tác giả dùng với tư cách

Học thuyết na-pan, nền văn hóa na-pan…

Cành đào na-pan, tượng phật na-pan

(Phác thảo cho một trận đánh, một bài thơ diệt Mỹ)

Na-pan: thuộc nhóm danh từ

Nhưng trong câu thơ sau đây từ “na-pan” được tác giả dùng là động từ

Ví dụ: Nich-xơn muốn na-pan hóa loài người và cô-ca cô-la nhân loại

(Phác thảo cho một trận đánh, một bài thơ diệt Mỹ)

Và hàng trăm trẻ em bị na-pan hóa trong nôi kia chưa

một em nào Cầm Tư bàn luận !

Ví dụ:

Trang 27

- Anh hùng

Tăm tối cần lao nay hóa những anh hùng

(Người đi tìm hình của nước)

Đây tiếng khóc các anh hùng bất khuất

(Tiếng khóc đúc Việt Nam thành một khối)

Anh hùng: thuộc nhóm danh từ chỉ người với ý nghĩa chỉ người lập nên

công trạng đặc biệt đối với nhân dân, đất nước Danh hiệu cao nhất của nhà nước tặng cho người hoặc đơn vị có thành tích và cống hiến xuất sắc trong lao động hoặc chiến đấu

Nhưng trong các câu thơ sau đây từ “anh hùng” được tác giả dùng là tính từ

Ví dụ :

Anh anh hùng sao ! Và chị rất anh hùng

(Ngọn lửa Mô - Ri - Xơn)

Ta rách xé trong riêng tây mà Người cao cả anh hùng

(Ta nhận vào ta phẩm chất của Người)

Dạy cho chúng trở nên anh hùng, đấy là việc làm của

bà mẹ ở quê tôi

(Làm bà mẹ ở Việt Nam)

Anh hùng: thuộc nhóm tính từ mang ý nghĩa chỉ phẩm chất, diễn tả người có

tính cách dũng cảm, mạnh mẽ của người anh hùng Có tư cách về từ loại tương đương với dũng cảm, gan dạ…

- Thiên tài

Máu ta thắp nên thiên tài quân sự ấy (Thời sự hè 72, bình luận)

Thiên tài: là danh từ

Nhưng trong câu thơ sau đây từ “thiên tài” được tác giả dùng là tính từ

Ví dụ:

Đặt tất cả “những bài thơ thiên tài về Điện Biên”

sau “những Điện Biên”

(Nghĩ về thơ)

Trang 28

Dẫu nghìn thi sĩ thiên tài không dỗ nổi

(Thời sự hè 72, bình luận)

Thiên tài: thuộc nhóm tính từ

- Con

Con dù lớn vẫn là con của mẹ,

Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con (Con cò)

Con : thuộc nhóm danh từ đơn vị loại thể

Nhưng trong câu thơ sau đây từ “con” được tác giả dùng là tính từ

Ví dụ :

Tầm nhìn xa từ nỗi đau con đến cái vui gần

(Di chúc của Người)

Anh nhen nhúm từng ngọn lửa, hơi thở, hạt tấm con để

dựng nên đời (Thời sự hè 72, bình luận)

Con : thuộc nhóm tính từ

- Xuân

Bọn đẵn gốc những mùa xuân nảy lộc

(Đế quốc Mỹ là kẻ thù riêng của mỗi trái tim ta)

Xuân: thuộc nhóm danh từ

Còn từ “xuân” trong câu thơ sau đây được tác giả dùng là tính từ

Ví dụ:

Rót đi ! rót đi ! Ta nay như bà mẹ còn xuân ngực căng

tròn hai bầu sữa (Tàu đi)

Trong lời ru của mẹ thấm hơi xuân

(Con cò)

Xuân : thuộc nhóm tính từ

Trang 29

2.1.1.3 Danh từ dùng như đại từ

Theo khảo sát, chúng tôi thống kê được số lần chuyển loại của danh từ dùng như đại từ là 3/70 từ, chiếm 4,3 % Với số lần chuyển loại cụ thể là 113/299 lần chiếm 37,8 %

Ví dụ:

- Anh

Anh Y…tôi gặp nằm bên bờ suối Vạn Mai vùi trong đá

lạnh dưới gốc một cây sung chín đỏ mùa hè

Anh V… ở trận Hòn Rào, nằm với mây của biên giới

Việt Lào - mây trời không biên giới

(Chào mừng)

Anh : thuộc nhóm danh từ

Nhưng trong các câu thơ sau đây từ ‘‘anh’’ được tác giả dùng là đại từ

Ví dụ :

Hoan hô người anh và người bạn

Nếu Liên Xô là bài ca xây dựng hòa bình

Thì anh là tiếng thét của kẻ chiến thắng

Anh: thuộc nhóm đại từ dùng để chỉ những người chiến sĩ đã hi sinh cho độc

lập tự do của Tổ quốc Hay thay thế cho một chủ thể trữ tình

2.1.2 Từ chuyển loại xuất phát từ từ loại động từ

Trong thơ Chế Lan Viên, sau từ chuyển loại từ từ loại danh từ thì từ chuyển loại từ từ loại động từ cũng rất phổ biến Trước hết, ta xét tiểu loại sau:

Trang 30

Một tiếng thét căm thù làm ta muốn yêu thương

(60 tuổi của nhà thơ lưu vong nước Thổ)

Yêu thương: thuộc nhóm động từ tình cảm Có tư cách về từ loại tương

đương với nhớ, mong, thương…

Nhưng trong câu thơ sau đây từ “yêu thương” được tác giả sử dụng là danh từ

Ví dụ:

Những yêu thương của lòng tôi, tôi gói

(Như cốm mùa thu)

- Bước

Ngài vội bước trong giòng sâu đón lấy

(Chiến tượng)

Đi, mơ bước những bước dài

(Ngoảnh lại mùa đông)

Bằng mỗi bước trên đường xoài Bác cố bước đi nhanh

(Di chúc của người)

Bước: thuộc nhóm động từ biểu thị ý nghĩa của hành động bước

Nhưng trong các câu thơ sau đây từ “bước” được tác giả dùng là danh từ

Trang 31

(Thời sự hè 72, bình luận)

Khi mỗi bước đi lên của lòng ta đều thấm tình giai cấp

(Người thay đổi đời tôi Người thay đổi thơ tôi)

Nhưng bước đầu đây là của công nông

2.1.3 Từ chuyển loại xuất phát từ từ loại tính từ

2.1.3.1 Tính từ dùng như danh từ

Tính từ là những thực từ chỉ đặc điểm, tính chất của người, vật, sự việc Theo thống kê số từ chuyển loại của tính từ dùng như danh từ có 12/70 từ, chiếm 17,1 % Với số lần cụ thể là 21/299 lần chiếm 7 %

Trang 32

Ví dụ : - Điên cuồng

Hy vọng ! Nghi ngờ ! Điên cuồng ! Cảm hứng (Biển cả)

Điên cuồng : thuộc nhóm tính từ chỉ đặc trưng về trạng thái Có tư cách về

từ loại tương đương với nóng nảy, chậm, nhanh, hấp tấp…

Nhưng trong câu thơ sau đây từ “điên cuồng” được tác giả dùng là danh từ

Ví dụ :

Điên cuồng : thuộc nhóm danh từ

- Đau thương

Sau đỉnh đau thương

Là đau thương nữa

Đau thương : thuộc nhóm tính từ

Nhưng trong câu thơ sau đây từ “đau thương” được tác giả dùng là danh từ

Oai hùng : thuộc nhóm tính từ chỉ phẩm chất, tư thế của con người

Nhưng trong câu thơ sau từ “oai hùng” được tác giả dùng là danh từ

Ví dụ : Ta thai nghén đau thương mà sinh nở cái oai hùng

(Thời sự hè 72, bình luận)

Oai hùng : thuộc nhóm danh từ

2.1.3.2 Tính từ dùng như động từ

Trang 33

Trong thơ Chế Lan Viên, chúng tôi thống kê được số từ chuyển loại của tính

từ dùng như động từ cụ thể là 8/70 từ, chiếm 11,4 % Với số lần chuyển loại là 30/299 lần chiếm 10 %

Ví dụ:

Một vì sao trơ trọi cuối trời xa (Những sợi tơ lòng)

Xa: thuộc nhóm tính từ chỉ đặc trưng về khoảng cách Có tư cách về từ loại

tương đương với gần…

Nhưng trong các câu thơ sau đây từ “xa” được tác giả dùng với tư cách từ loại là một động từ

Ví dụ:

Xa nước rồi, càng hiểu nước đau thương (Người đi tìm hình của Nước)

Xa nước ba mươi năm một câu Kiều, Người vẫn nhớ

(Người thay đổi đời tôi Người thay đổi thơ tôi)

Xa dần truyện ngắn, bớt dần thơ (Cảnh điền viên)

Xa: thuộc nhóm động từ dời chuyển Có tư cách về tư loại tương đương

với ra, vào, xuống, đến, tới, qua…

- Hồng

Một viên gạch hồng, một trái tim hồng Một chân lý hồng, một ngọn cờ hồng làm sức mạnh

(Ta nhận vào ta phẩm chất của Người)

Hồng: thuộc nhóm tính từ chỉ đặc trưng về màu sắc, có tư cách về từ loại

tương đương với xanh, đỏ, tím, vàng…

Nhưng trong các câu thơ sau đây từ “hồng” được tác giả dùng là động từ

Ví dụ: Phòng cha hồng với bên ngoài hồng lên (Con thức dậy)

Điện hồng lên như trái tim hồng ! (Tàu đến)

Trang 34

Bảng 1: Tổng hợp từ chuyển loại từ thực từ sang thực từ trong thơ Chế Lan Viên

Tiểu

loại

số dùng

như

động từ

dùng như tính từ

dùng như đại từ

dùng như danh

từ

dùng như tính từ

dùng như danh

từ

dùng như động từ

Trang 35

Nhìn số liệu ở bảng (1),ta thấy:

Xét về phương diện từ loại, từ chuyển loại từ thực từ sang thực từ xảy ra ở từ loại danh từ, tính từ, và động từ Xét theo thứ tự từ cao đến thấp, tỉ lệ % chuyển loại giữa các từ theo từ loại như sau:

Từ chuyển loại của danh từ có 32/70 từ, chiếm 45,7 % Với số lần chuyển loại cụ thể là 196/299 lần, chiếm 65,5 % tổng số từ chuyển loại trong nội bộ thực từ

Từ chuyển loại của tính từ có 20/70 từ, chiếm 28,6 % Với số lần chuyển loại

cụ thể là 51/299 lần, chiếm 17,1 % tổng số từ chuyển loại trong nội bộ thực từ

Từ chuyển loại của động từ có 18/70 từ, chiếm 25,7 % Với số lần chuyển loại cụ thể là 46/299 lần, chiếm 15,4 % tổng số từ chuyển loại trong nội bộ thực từ

Như vậy, trong khu vực chuyển loại từ thực từ sang thực từ thì số lượng từ chuyển loại từ danh từ là cao nhất với 45,7 %, tính từ 28,6 % và động từ là 25,7 %

2.2 Khảo sát từ chuyển loại từ thực từ sang hư từ

2.2.1 Động từ sang quan hệ từ

Trước khi khảo sát hiện tượng chuyển loại của động từ sang quan hệ từ, chúng tôi hiểu quan hệ từ là những hư từ cú pháp chuyên dùng để nối kết các từ, các câu và biểu hiện mối quan hệ ngữ pháp giữa các thành phần được nối kết ấy

Trong thơ Chế Lan Viên, chúng tôi thống kê từ chuyển loại động từ sang quan hệ từ có 6/25 từ, chiếm 24 % Với số lần cụ thể là 76/494 lần chiếm 15,4 %

Ví dụ:

- Cho

Mẹ theo chân cho bát nước củ gừng

(Gửi mẹ trong vùng giặc chiếm)

Cho: mang ý nghĩa ban phát, thuộc nhóm động từ trao nhận Có tư cách về

từ loại tương đương với tặng, biếu, trao, cấp…

Nhưng trong các câu thơ sau đây từ “cho” được tác giả dùng là quan hệ từ

Ví dụ: Đừng để cho con đi (Cờ giặc Mỹ)

Có ngã đau cũng dậy cho mẹ cười (Gởi mẹ trong vùng giặc chiếm)

Trang 36

Cho: mang ý nghĩa mục đích, thuộc nhóm quan hệ từ chỉ quan hệ mục đích,

kết quả

- ở

Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở (Tiếng hát con tàu)

Con người ở giữa

Vục đầu xuống ở trong cứt bẩn

(Tiếng hát thằng điên trong dinh Độc Lập)

Anh bạn tôi hai mươi năm trước gặp bom Mỹ ở cầu

sông Đuống

Anh bạn tôi hai mươi năm sau lại gặp bom Mỹ ở cầu

sông Đuống (Thời sự hè 72, bình luận)

ở : thuộc nhóm quan hệ từ

- Còn

Bác dạy : còn người, còn nước, còn non…

(Thời sự hè 72, bình luận)

Còn : mang ý nghĩa tan biến, thuộc nhóm động từ tồn tại, tan biến Có tư

cách về từ loại tương đương với mất, có, sống, chết, xuất hiện…

Nhưng trong câu thơ sau đây từ “còn” được tác giả dùng là quan hệ từ

Ví dụ :

Còn như Người, Người đã hóa hương sen

(Di chúc của Người)

Trang 37

Còn : thuộc nhóm quan hệ từ

2.2.2 Động từ sang phó từ

Chúng tôi nhận thấy hiện tượng động từ được dùng như phó từ là một hiện tượng phổ biến nhất trong thơ Chế Lan Viên Số lượng từ chuyển loại từ động từ sang phó từ là 12/25 từ, chiếm 48 % Với số lần cụ thể là 176/494 lần chiếm 35,6

%

Ví dụ :

- Xuống

Đức Chúa trời mà xuống đây

(Tiếng hát thằng điên trong dinh độc lập)

Xuống : mang ý nghĩa thực, thuộc nhóm động từ dời chuyển Có tư cách về

từ loại tương đương với lên, ra, vào…

Nhưng trong các câu thơ sau đây từ “xuống” được tác giả dùng là phó từ

Ví dụ :

Anh ngã xuống rồi

(Mắt anh đã thấy cả rồi)

Khoái trá kia trào xuống giữa lòng thương

Xuống : mang ý nghĩa phụ cho động từ, thuộc nhóm phó từ chỉ hướng

- Qua

Qua : mang ý nghĩa thực, thuộc nhóm động từ dời chuyển

Nhưng trong các câu thơ dưới đây từ “qua” được tác giả dùng là phó từ

Ví dụ :

Nhưng hoan hô ! hoan hô ! những ngày than vãn xõa tóc đã đi qua, bầy chim quạ cú đã đi qua, cái chết đã đi qua

Trang 38

Qua: thuộc nhóm phó từ chỉ hướng

- Còn

Còn: mang ý nghĩa tồn tại, thuộc nhóm động từ

Nhưng trong các câu thơ sau đây từ “còn” được tác giả dùng là phó từ

Ra : thuộc nhóm động từ dời chuyển

Nhưng trong các câu thơ sau đây từ “ra” được tác giả dùng là phó từ

Ví dụ :

Đi ra với sông

Trang 39

Giờ anh lên núi bản mường đợi anh

(Bữa cơm thường ở trong bản nhỏ)

Lên: mang ý nghĩa thực, động từ chuyển động

Nhưng trong các câu thơ sau đây từ “lên” được tác giả dùng là phó từ

Hãy hiện lên trong lời ta truyền gọi

(Xương vỡ máu trào)

Trang 40

Lên: là phó từ chỉ hướng

2.2.3 Động từ sang tình thái từ

Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy từ chuyển loại từđộng từ sang tình thái từ

là một hiện tượng khá khiêm tốn trong thơ Chế Lan Viên Với số từ chuyển loại là 2/25 từ, chiếm 8 % Cụ thể số lần chuyển loại của động từ sang tình thái từ là 15/494 lần chiếm 3,1 %

- Đi

Đảng đi đường gian khổ (Ngoảnh lại mười lăm năm)

Đi: thuộc nhóm động từ dời chuyển

Nhưng trong các câu thơ sau từ “đi” được tác giả dùng là tình thái từ

Ví dụ :

Rót đi ! Rót đi ! Cho con tàu nay mai nó đi xa…

Rót đi ! Rót đi ! Cho nhẹ bớt người ta đang thừa sức lực

………

Đi đi ! Và mùa sau về lại nữa !

Nếu tàu đói than thì cửa bể đói con tàu

Giết chúng đi ! Chỉ một đường thôi ! Giết chúng (Suy nghĩ 1966)

Đi : là tình thái từ mệnh lệnh hoặc cầu khiến

2.2.4 Danh từ sang quan hệ từ

Qua việc khảo sát thơ Chế Lan Viên, chúng tôi nhận thấy từ chuyển loại danh từ sang quan hệ từ là 5/25 từ, chiếm 20 % Cụ thể với số lần chuyển loại là có 227/494 lần chiếm 45,9 %

- Trong

Ví dụ:

Và trong kia, trong kia, gửi tấm lòng mình cùng vũ khí đến trong kia

(Trận đánh của tình thương)

Ngày đăng: 09/05/2021, 16:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w