Nỗi buồn kiêu Trước những buồn vui của nhân tình thế thái, cái tôi trong cõi thơ Nguyễn Trọng Tạo lặng mình lùi lại một khoảng, đủ để chiêm nghiệm và rồi khái quát lên nỗi buồn của bản t
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi; các kết quả nghiên cứu nêu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được công bố trong bất
kì công trình nào khác Nếu có điều gì sai sót, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Tác giả khóa luận
Lê Minh Hà Vân
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài, ngoài những nỗ lực không ngừng của bản thân, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ từ thầy cô, người thân và bạn bè Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến Tiến sĩ Bùi Bích Hạnh, người trực tiếp hướng dẫn
và hỗ trợ tôi hoàn thành khóa luận Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, các thầy cô và cán bộ của thư viện nhà trường đã tạo mọi điều kiện để giúp đỡ tôi Cuối cùng, tôi xin được cảm ơn gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên cạnh, động viên và giúp đỡ để tôi
có thể hoàn thành tốt nhất công trình nghiên cứu này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả khóa luận
Lê Minh Hà Vân
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
MỤC LỤC 3
MỞ ĐẦU 5
1 Lí do chọn đề tài 5
2 Lịch sử vấn đề 5
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 Giới thuyết thuật ngữ 7
4.1 Giọng điệu 7
4.2 Giọng điệu trong thơ trữ tình 8
5 Phương pháp nghiên cứu 8
5.1 Phương pháp hệ thống 8
5.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp 9
5.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu 9
6 Bố cục khóa luận 9
NỘI DUNG 10
CHƯƠNG 1 THƠ NGUYỄN TRỌNG TẠO SAU 1975 – KHUÔN MẶT ĐA DIỆN CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH 10
1.1 Cái tôi lầm lũi tìm về xứ cỏ may lạc loài 11
1.2 Cái tôi cô đơn với một “nỗi buồn kiêu” 14
1.3 Cái tôi chông chênh trước những đổ ngã của cuộc đời 17
1.4 Cái tôi cuồng si trong nỗi khát tình 20
CHƯƠNG 2 THƠ NGUYỄN TRỌNG TẠO SAU 1975 – HỢP ÂM CỦA NHỮNG SẮC THÁI GIỌNG ĐIỆU 24
2.1 Giọng hoài niệm về tháp cổ rêu phong một đời 24
2.1.1 Phiêu diêu trong cõi nhớ 25
Trang 52.1.2 Ngậm ngùi với cái chớp mắt đã nghìn năm trôi 28
2.2 Giọng nghẹn ngào với nỗi buồn không tan 31
2.2.1 Chênh chao trong nỗi ám ảnh lạc đường mưa gió 31
2.2.2 Tiếu lâm đời thực khóc òa chiêm bao 35
2.3 Giọng suy tư, ngẫm ngợi về thời tôi sống 38
2.3.1 Suy ngẫm về những giá trị cứ đổi thay 38
2.3.2 Chiêm nghiệm về thời gian bay khoảnh khắc nghìn năm 42
2.4 Giọng đắm đuối trong trường tình vô định 46
2.4.1 Say tình của một đôi môi khát 46
2.4.2 Ru đau thương hoang hoải dấu lưng trần 50
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN GIỌNG ĐIỆU THƠ NGUYỄN TRỌNG TẠO SAU 1975 54
3.1 Thể thơ 54
3.1.1 Lục bát 54
3.1.2 “Đồng dao” 58
3.2 Ngôn ngữ 62
3.2.1 Đậm chất đời thường 62
3.2.2 Giàu tính nhạc 65
3.3 Một số biện pháp tu từ đặc sắc 69
3.3.1 Phép điệp 69
3.3.2 Tương phản 72
KẾT LUẬN 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nguyễn Trọng Tạo cùng với các nhà thơ khác như Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Lâm Thị Mỹ Dạ, Ý Nhi, Lê Thị Mây… đã góp mặt làm nên một khuôn diện phong phú của đời sống thơ Việt Nam sau 1975 Với ý thức và
nỗ lực cách tân nghệ thuật sâu sắc, Nguyễn Trọng Tạo đã nhanh chóng khẳng định tên tuổi bằng một giọng điệu riêng, “một tư duy thơ sắc sảo, trẻ trung, đầy dự cảm” Thơ Nguyễn Trọng Tạo là khúc hát chứa chan nỗi niềm; là tiếng trở mình cùng thời gian; những thanh âm đầy suy tư, chiêm nghiệm về nhân tình thế thái được cất lên từ một “trái tim đầy nhạc” Giữa bao nỗi chơi vơi, chông chênh của cuộc đời, lặng mình giữa tiếng thơ Nguyễn Trọng Tạo, tâm hồn người đọc như tìm được điểm tựa, dịu êm mà vững chắc
Trong quá trình tìm lại thơ mình, tìm lại chính mình, Nguyễn Trọng Tạo đã tạo nên một “nốt lạ” trong bản nhạc đa thanh của thi đàn Việt Nam sau 1975,
“một chất giọng mà khi đọc kĩ ta mới thấy hết cái da diết bên trong” [23, tr.7]
Với những lí do trên, tác giả khóa luận quyết định chọn đề tài Giọng điệu thơ
Nguyễn Trọng Tạo sau 1975 với mong muốn nhận diện đầy đủ hơn về phong cách
thơ Nguyễn Trọng Tạo; đồng thời giải mã thế giới nghệ thuật thơ ông dưới góc nhìn thi pháp học
Trang 7tìm hiểu của giới nghiên cứu, phê bình Đặc biệt, nghiên cứu về giọng điệu thơ ông
tuy không phải là một vấn đề quá mới mẻ song đến nay, gần như chưa có công trình
nào đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu một cách có hệ thống
Trong bài “Nguyễn Trọng Tạo – Chớp mắt với ngàn năm”, Nguyễn Đăng Điệp
đã khẳng định: “Nguyễn Trọng Tạo là người có giọng điệu riêng” [23, tr.7] Theo
ông, “cái nốt riêng” ấy thực sự trở thành “cách nói của Nguyễn Trọng Tạo” là khi
khúc “Đồng dao cho người lớn” ra đời Ông nhận xét: “Những câu thơ của anh
mang chất giọng tưng tửng, ngu ngơ ngỡ như chơi vơi nhưng kì thực chứa rất nhiều
ngẫm ngợi, trí tuệ” [23, tr.7] Hoàng Phủ Ngọc Tường, trong “Lời tựa Đồng dao cho
người lớn”, đã mang đến cho giọng điệu thơ Nguyễn Trọng Tạo một tên gọi mới:
“giọng lịch lãm” Theo ông, chất giọng ấy được tạo nên bởi “nụ cười hóm hỉnh, cái
nhìn tinh nghịch và những ý tưởng ngu ngơ nhưng thông minh lạ thường”
[23, tr.514 - 515] Nguyễn Đăng Điệp và Hoàng Phủ Ngọc Tường đều đã rất tinh tế
khi nhận ra những ngẫm ngợi, suy tư trầm lắng, đầy tính triết luận ẩn đằng sau lớp
vỏ ngôn từ tưởng chừng như nhẹ tênh và ngu ngơ ấy
Trong bài “Đọc thơ Nguyễn Trọng Tạo”, Hoàng Cầm đã nhận xét về thơ Nguyễn Trọng Tạo trên bình diện ngôn từ và nhịp điệu – những phương thức
biểu hiện của giọng điệu: “Ngôn từ và nhịp điệu thơ Trọng Tạo cứ tâng tâng, tưng tửng thường khi lênh tênh tưởng như nhẹ nhõm lắm, cũng có lúc hì hục tưởng
như nặng nhọc lắm” [2] Nhận ra sự đối lập giữa cái nhẹ nhõm và cái nặng nhọc ấy,
Trịnh Thanh Sơn đã ví những câu thơ của Nguyễn Trọng Tạo với hình ảnh
“nhẹ như bấc, nặng như chì” Trong bài “Thế giới không còn trăng – Sự giễu nhại
và nỗi đau buồn sâu thẳm”, Trịnh Thanh Sơn đã cho rằng giễu nhại và đau buồn là
giọng điệu chính trong thơ Nguyễn Trọng Tạo và với giọng “giễu nhại bẩm sinh”
của những người con xứ Nghệ, Nguyễn Trọng Tạo đã chọn được cho mình
“một vương quốc, mà ở đó, anh tùy nghi tung hoành, cười cợt, giễu nhại và mặc sức
buồn đau” [21]
Như vậy, dù có những phát hiện, nhận định riêng song ta có thể nhận thấy
những nét tương đồng ở các tác giả nghiên cứu khi cùng nhìn nhận về giọng điệu
Trang 8thơ Nguyễn Trọng Tạo Tuy nhiên, hầu hết các bài viết trên chỉ dừng lại ở việc phát hiện và gợi mở Những nhận định trên tuy tinh tế, sắc sảo nhưng dường như vẫn thiếu một cái nhìn bao quát và hệ thống Các bài viết chỉ là những cảm nhận chung về một hoặc một vài tập thơ, trong đó có đề cập đến vấn đề giọng điệu chứ chưa thực sự đi sâu vào tìm hiểu, phân tích giọng điệu như là một đối tượng
nghiên cứu cụ thể Vì vậy, đề tài Giọng điệu thơ Nguyễn Trọng Tạo sau 1975 sẽ
tập trung đi sâu vào nghiên cứu các sắc giọng trong thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Trọng Tạo Qua đó khẳng định phong cách thơ Nguyễn Trọng Tạo trên thi đàn văn học Việt Nam; đồng thời đem đến một cái nhìn toàn diện về giọng điệu thơ ông sau 1975
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Những sắc thái giọng điệu thơ Nguyễn Trọng Tạo sau
1975
3.2 Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận khảo sát 7 tập thơ của Nguyễn Trọng Tạo:
Sóng thủy tinh (Nxb Hội Văn học nghệ thuật Bình Trị Thiên, 1988), Gửi người không quen (Nxb Nghệ Tĩnh, 1989), Đồng dao cho người lớn (Nxb Văn học,
Hà Nội, 1994), Thư trên máy chữ và Tản mạn thời tôi sống (Nxb Đà Nẵng, 1995),
Nương thân (Nxb Hội nhà văn, Hà Nội, 1999), Thế giới không còn trăng (Nxb
Hội nhà văn, Hà Nội, 2006), Em đàn bà (Nxb Lao động, Hà Nội, 2008)
4 Giới thuyết thuật ngữ
4.1 Giọng điệu
Đi vào giải mã một tác phẩm văn chương mà đặc biệt là tác phẩm thơ, ta không thể không tìm hiểu về giọng điệu Giọng điệu được xem là “một gia vị hoàn chỉnh”
giúp bài thơ thêm đậm đà, ý vị hơn trong lòng người đọc Theo Từ điển thuật ngữ
Văn học, giọng điệu là “thái độ tình cảm, lập trường tư tưởng, đạo đức của nhà văn đối với hiện tượng được miêu tả thể hiện trong lời văn quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ xa gần, thân sơ, thành kính hay suồng
sã, ngợi ca hay châm biếm…” [9, tr.134] Theo Nguyễn Đăng Điệp, “giọng điệu bao giờ cũng thể hiện tính nhất quán với hệ thống mà nó tồn tại và tập trung
Trang 9thể hiện lập trường, thái độ chủ thể trong tác phẩm [5, tr.39] Như vậy có thể thấy,
giọng điệu là một yếu tố thẩm mĩ, có vai trò quan trọng trong việc hình thành phong cách của nhà văn, bộc lộ thế giới tâm hồn và tài năng của chủ thể sáng tạo
4.2 Giọng điệu trong thơ trữ tình
Khi tìm hiểu về giọng điệu, trước hết cần chú ý đến vai trò của chủ thể sáng tạo và khách thể được phản ánh; đồng thời cần làm sáng rõ mối quan hệ giữa hai yếu tố đó để phân tích và nắm bắt giọng điệu một cách chính xác và tinh tế hơn Bên cạnh đó, giọng điệu còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác mà thể loại là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng, góp phần chi phối đến giọng điệu Chính vì điều này mà giọng điệu trong thơ trữ tình khác với giọng điệu trong văn xuôi
Thơ trữ tình là thơ trong đó “những cảm xúc suy tư của nhà thơ hoặc nhân vật
trữ tình trước các hiện tượng đời sống được thể hiện một cách trực tiếp Tính chất
cá thể hóa của cảm nghĩ và tính chất chủ quan hóa của sự thể hiện là những dấu hiệu của thể loại trữ tình” [9, tr.17] Thơ trữ tình thiên về bộc lộ, giãi bày những
tâm tư, tình cảm, là “bản tự thuật của tâm trạng” (Poxpelop) của cả chủ thể và
khách thể
Giọng điệu trong thơ trữ tình một mặt mang đậm tính cá thể và “thấm đẫm
tính chủ quan” [5, tr.67]; mặt khác chịu sự ảnh hưởng của thời đại Nói cách khác,
thông qua tác phẩm của mình, nhà thơ phải nói lên được tiếng nói cá nhân, đồng thời phản ảnh được những “trạng thái tinh thần” của thời đại, hòa vào nhịp thở chung của thời đại Giữa giọng điệu cá nhân và giọng điệu thời đại có mối quan hệ,
tác động qua lại lẫn nhau: “giọng điệu thời đại ảnh hưởng đến giọng điệu cá nhân,
nhưng mặt khác chính giọng điệu cá nhân là yếu tố tạo nên sự phong phú và
âm hưởng chung của giọng điệu thời đại” [5, tr.109 – 110]
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp hệ thống
Đặt những sáng tác của Nguyễn Trọng Tạo sau 1975 trong một hệ thống logic, chặt chẽ, gắn với toàn bộ sự nghiêp sáng tác của ông Đồng thời, gắn sáng tác của nhà thơ vào tiến trình phát triển của văn học Việt Nam sau 1975, đặc biệt là thơ ca
Trang 10để có một cái nhìn toàn diện; từ đó khái quát các luận điểm, triển khai đề tài một cách khoa học
5.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Trên cơ sở phân tích, làm sáng rõ đề tài thông qua một hệ thống luận cứ,
luận chứng xác thực; từ đó, dùng phương pháp tổng hợp để đưa ra những nhận định
về đặc trưng giọng điệu thơ Nguyễn Trọng Tạo sau 1975
5.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu
Không chỉ nghiên cứu, phân tích giọng điệu thơ Nguyễn Trọng Tạo sau 1975, tác giả khóa luận đã tiến hành so sánh, đối chiếu giữa giọng điệu thơ Nguyễn Trọng Tạo giai đoạn trước và sau 1975 Bên cạnh đó, đặt thơ Nguyễn Trọng Tạo trong mối quan hệ với các hiện tượng cùng thời nhằm làm nổi bật những nét riêng, nét độc đáo trong giọng điệu thơ ông
6 Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1 Thơ Nguyễn Trọng Tạo sau 1975 – Khuôn mặt đa diện của cái tôi trữ tình Chương 2 Thơ Nguyễn Trọng Tạo sau 1975 – Hợp âm của những sắc thái giọng điệu Chương 3 Một số phương thức thể hiện giọng điệu thơ Nguyễn Trọng Tạo sau 1975
Trang 11
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 THƠ NGUYỄN TRỌNG TẠO SAU 1975 – KHUÔN MẶT ĐA DIỆN CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH
Bất cứ một người nghệ sĩ nào khi đã dấn thân vào con đường nghệ thuật cũng chọn một hướng đi riêng để thể hiện cá tính sáng tạo và phong cách của mình Nhất là trong thơ ca, các nhà thơ đều chú ý xây hình tượng cái tôi trữ tình đặc sắc vì đây là một yếu tố cốt lõi để nhận diện phong cách nghệ thuật; thể hiện bản sắc của thơ trữ tình “Cái tôi trữ tình là cái tôi của tác giả được nghệ thuật hóa Đó là nhân vật trữ tình quan trọng trong thơ Sự hiện diện này bộc lộ cốt cách, bản sắc của một lối cảm nghĩ sâu xa hơn chính là nội dung của tiếng hát tâm hồn” [7, tr.74]
Nếu như cái tôi trữ tình là nơi bộc lộ trọn vẹn thế giới quan, tư tưởng, tình cảm của chủ thể thì giọng điệu lại là phương thức để thể hiện điều đó Có thể nói, giọng điệu là phương diện chính biểu hiện cái tôi trữ tình Chính vì vậy, khi nghiên cứu về giọng điệu thơ Nguyễn Trọng Tạo sau 1975, cần đi sâu khám phá chân dung của cái tôi trữ tình
Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Trọng Tạo sau 1975 mang hơi thở hiện đại; tạo được bước phát triển mạnh mẽ so với giai đoạn trước Nằm trong khuôn diện chung của thời đại song cái tôi trữ tình trong thơ ông dung chứa nhiều dáng vẻ và
sắc thái Đó có khi là bộ dạng lầm lũi tìm về của một kẻ nhà quê lưu lạc; là cảm thức cô đơn trong nỗi buồn vô tận – một nỗi buồn kiêu; lắm lúc lại là nỗi
chông chênh, khắc khoải trước ngổn ngang cuộc đời hay là chất dại khờ, đắm đuối của một kẻ si tình Tất cả cùng đan hợp, hòa quyện với nhau tạo nên hình tượng cái tôi trữ tình độc đáo, mới mẻ trong thơ Nguyễn Trọng Tạo sau 1975
Trang 121.1 Cái tôi lầm lũi tìm về xứ cỏ may lạc loài
Thế giới thơ Nguyễn Trọng Tạo trước hết là một khung trời tâm tưởng với nỗi hoài nhớ quê hương da diết Đó là nơi mà hình dáng quê nhà luôn đau đáu và
không thôi nhức nhối trong tâm thức của kẻ nhà quê Trước ngổn ngang cuộc đời, cái tôi nhà quê ấy lần tìm về nơi đã từng xa để rồi nỗi nhớ thương được đánh thức
bằng tiếng gọi thơm thảo chốn quê nhà:
Thơm về đồng đất phù sa Thơm về đồi núi thơm qua luống cày Thơm về mùa trĩu bông sây
Thơm về Tiên Tổ tháng ngày nắng mưa
(Món quê)
Tìm về nơi quê nhà xa lắc với những nhớ thương xanh rờn là tìm về với
những điều thân yêu và bình dị “Đồng vọng trong nỗi nhớ quê hương là hình ảnh
của người mẹ tần tảo hai tay đồng áng lợn gà nồi niêu” [3, tr.61] Mẹ hiện lên trong
tâm thức với niềm yêu kính và pha lẫn sự tự hào của chủ thể trữ tình:
mẹ tôi dòng dõi nhà quê trầu cau từ thuở chưa về làm dâu
áo sồi nâu, mấn bùn nâu trắng trong dải yếm bắc cầu nên duyên
(Mẹ tôi) Phải chăng mẹ là hiện thân của quê hương hay quê hương là những gì đằm thắm, yêu thương nhất mà suốt một đời mẹ gói gém, giữ gìn nên trong hình tượng người mẹ mang nặng dáng hình quê hương Cái tôi trữ tình thêm một lần nữa bộc bạch nỗi niềm về mẹ:
mẹ tôi tóc bạc răng đen nhớ thương xanh thắm một miền nhà quê
(Mẹ tôi) Suốt một đời lưu lạc, Nguyễn Trọng Tạo chưa một lần thôi thao thức và canh cánh nỗi lòng mong được trở về quê hương:
Trang 13ngác ngơ giữa phố một thằng nhà quê nhớ thương mộ tổ biết bao giờ về
(Lưu lạc)
Dù rong ruổi qua nhiều miền quê khác hay có nương thân nơi chốn thị thành thì cái chất nhà quê ấy vẫn thấm đẫm trong con người Nguyễn Trọng Tạo Cái tôi lầm lũi cúi tìm những mảnh kí ức nơi miền quê ấu thơ Trở về với quê hương là
trở về với tuổi thơ êm đềm, về với những điều bình dị mà ngọt ngào:
sông quê bên lở bên bồi phù sa ai gửi cho tôi bên này
ai trồng thêm một đường cây tôi về trái chín trên tay ngọt ngào
(Trở về)
Ở lúc mà thời gian đã làm mòn tuổi xanh, người thơ da diết thèm nhớ một
cái Tết quê nhà, thèm được hóa thân và chơi những trò của trẻ nhỏ Bởi “Tết là một thế giới lung linh cổ tích của trẻ thơ trong mùi hương trầm thiêng liêng thơm thảo” [14] nên từ lâu, Tết đã trở thành một điều gì đó rất đỗi thiêng liêng trong tâm hồn mỗi con người và nhất là những người con xa quê:
Tết nơi thành thị lặng người nhớ quê tôi thành trẻ nhỏ thung thăng đường về tay cầm gà đất
thổi kèn tò te tôi thành ngọn lửa nấu bánh Giao thừa
(Nhớ Tết)
Trang 14Giữa cái xôn xao, nhộn nhạo của đời sống hiện đại, cái tôi ấy có khi thèm nghe
một điệu hát ru thôn dã để rồi thẩn thờ một mình chèo nhẩm điệu lới lơ xứ Nghệ
quê mình Len lỏi giữa chốn phồn hoa phố phường, những thức quà quê thơm thảo, mặn mà, dậy lên trong lòng thi sĩ nỗi nhớ nhà khôn nguôi:
nghìn năm hay vạn năm xưa muối vừng cơm nắm lon dưa vại cà
trở về nơi mái tranh xưa, được ăn miếng cơm nắm ấm tình người nhà quê Và chốn ấy có sợi cỏ may đã đan vào lòng người đi nỗi thương nhớ và sự chờ mong
Cái tôi trữ tình lại càng có cớ được thổn thức:
Cỏ may khâu áo làng quê
cớ chi gió thổi bay về trời cao
ta lên sân thượng chạm vào
cỏ may Ta cúi xuống chào… cỏ may!
( )
Cỏ may không hẹn mà xanh tìm ta khâu vá cho lành nhớ thương ngang trời hoa cỏ đẫm sương loanh quanh sân thượng mà thương cánh đồng
(Cỏ may trên sân thượng)
Cỏ may gợi lên trong lòng người nỗi nhớ một miền quê nghèo khó mà
chan chứa tình người Để rồi khi ở trên sân thượng cao vời, cái tôi lặng mình
Trang 15cúi xuống chào… cỏ may! Nỗi nhớ thương đồng cạn đồng sâu như con sóng ngầm
chợt dâng lên để lại bao vết xót xa trong trái tim vốn chưa lành của kẻ lưu lạc
1.2 Cái tôi cô đơn với một “nỗi buồn kiêu”
Có thể nói, Nguyễn Trọng Tạo là nhà thơ của nỗi buồn – một “nỗi buồn kiêu”
“Cái trùm lên, nhuần thấm mọi trang thơ Nguyễn Trọng Tạo lại vẫn là nỗi buồn” [21] Đó là nỗi buồn của một cái tôi tự ý thức về bản thể, về sự cô đơn của chính mình Sau 1975, nỗi buồn và sự cô đơn xuất hiện ngày càng đậm nét trong thơ ông Trong bối cảnh đời sống hiện đại, con người ngày một lạnh lùng, vô cảm với nhau; các mối quan hệ giữa các cá nhân trong xã hội cũng ngày một lỏng lẻo Cái tôi trong thơ Nguyễn Trọng Tạo cũng như bao cái tôi khác, cảm nhận rất rõ
sự cô đơn ấy trong chính tâm hồn:
là khi tỉnh giấc trong đêm một mình ta thấy ngồi bên: Nỗi Buồn
(Sonnê buồn)
Cái tôi cô đơn, buồn bã khi ngày không em, lúc không các bạn hay vào
một ngày hoang vắng Có khi cô đơn chỉ vì trong giấc mơ ta thấy ta lang thang đường phố Nhưng cũng có những nỗi cô đơn bất chợt, những nỗi buồn không
nguyên cớ:
dưới chân vẫn dép trên đầu trời thanh đời lên chót đỉnh chợt mình mong manh
(Chợt) Khi đối diện với chính mình, không người tri âm để sẻ chia nỗi niềm mà cuộc sống thì quá nhiều nỗi âu lo nên cái tôi nhiều khi thấy đơn độc trong cảm giác lạc mất niềm tin, trống rỗng:
ngày vung vãi đức tin đêm gặp mình đơn độc
(Tự vấn) Thế nhưng dẫu nỗi buồn có dày vò tâm hồn đến đâu thì cái tôi cô đơn ấy cũng không hề bi lụy, không đi tìm sự xót xa thương hại Với bản tính biết khôi hài và
Trang 16tự khôi hài, Nguyễn Trọng Tạo không cho phép bản thân được ủy mị, buồn đau một cách tầm thường mà luôn biết tự “kiêu” trên chính nỗi buồn của mình Ấy là
nỗi buồn tê tái, song là tê tái trong tự trào:
một ngày người bán rẻ ta
ta thành đồ vật giữa nhà người dưng một ngày người đến rưng rưng mua gì vô giá? Xin đừng mua ta
(Nỗi buồn kiêu) Trước những buồn vui của nhân tình thế thái, cái tôi trong cõi thơ Nguyễn Trọng Tạo lặng mình lùi lại một khoảng, đủ để chiêm nghiệm và rồi khái quát lên nỗi buồn của bản thể, của nhân loại một cách bình thản mà thấm đẫm suy tư:
chợt chuyến tàu không người bến xe không người
cổng chợ không người tôi thấy tôi đọc thơ tôi đàn và tôi hát…
(Hát rong) Nỗi buồn trong thơ Nguyễn Trọng Tạo dường như vô tận, triền miên và đằng đẳng, “nỗi buồn tận đáy nỗi buồn”:
hai mươi bài hát vui hát tặng một nỗi buồn hai mươi bài hát buồn hát tặng nỗi buồn hơn
(Quà sinh nhật)
Sự cô đơn, trống trải cùng với nỗi buồn vô tận làm cho con người cảm thấy nhỏ bé hơn trước cuộc đời đầy giông bão Cái tôi cô đơn tự ví mình như những bông hoa li vàng nhỏ xíu, chìm nổi, khuất lấp giữa muôn vàn loài hoa rực rỡ:
Dẫu nhỏ nhoi, tôi có một cái tên trong li ti lá thẫm
Trang 17khi ngập nước và khi thì ngập nắng hoa li vàng mùa hạ - chính là tôi
(Hoa li vàng) Nếu trong thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường, cái tôi cô đơn quặn thắt một nỗi buồn
thân phận phơ phất cánh phù dung; tự họa bằng nét vẽ tâm linh và những thanh âm
Sự tưng tửng nửa say nửa tỉnh ấy càng làm tăng thêm nỗi cô đơn, đắng đót của
một trái tim đa sầu, đa cảm, một bản thể chênh vênh, khắc khoải trước ngổn ngang cuộc đời Niềm vui rộn rã, ồn ào rồi cũng chóng qua; chỉ còn nỗi buồn ngày một lắng sâu khiến cái tôi cô đơn càng thêm nghiêng ngả:
niềm vui rồi dễ phai nhanh cuộc đời lắng lại long lanh nỗi buồn
(Ngôi sao buồn) Dường như đêm xuống là lúc cái tôi trở nên nhạy cảm hơn, dễ cô đơn và buồn nhiều hơn Đêm là cái cớ để thi sĩ giãi bày tâm sự và thức trọn mọi nỗi buồn đau:
Trang 18Đêm lạnh lẽo và lòng tôi trống trải
lá thư em gửi đến nỗi buồn đau tôi đốt đi và thấy lòng ấm lại chút lửa xanh nơi trang giấy nát nhàu
(Hơi ấm còn lại) Bài thơ bộc lộ rõ nét chiều sâu của nỗi cô đơn và sự khao khát được sẻ chia, đồng cảm của cái tôi trữ tình Thế nhưng, cô đơn vẫn hoài cô đơn, sự sẻ chia nhường lại cho thinh lặng:
em làm sao phiên dịch đời anh một khối đá câm
tạc thành ngôn ngữ một đối thoại câm thốt ra con chữ
(Người phiên dịch chính mình) Viết về “sự cô đơn nguyên ủy” của loài người, Nguyễn Trọng Tạo đã trở về với tận đáy hồn mình, nhìn lại mình, nhìn lại đời để rồi tái tê, dằn dỗi với những vần thơ chứa “thứ ánh sang u huyền” đầy huyễn hoặc
1.3 Cái tôi chông chênh trước những đổ ngã của cuộc đời
Thực trạng xã hội hiện đại với những khiếm khuyết và sự xuống cấp về đạo đức, nhân cách đòi hỏi người nghệ sĩ phải có cái nhìn chân xác, từng trải hơn về cuộc đời Sau 1975, hướng cái nhìn về con người cá nhân với những lo toan, trăn trở của cuộc sống thường nhật, ngòi bút Nguyễn Trọng Tạo đã xoáy sâu, lột tả một cách chân thực những mặt trái của cuộc đời:
có câu trả lời biến thành câu hỏi
có kẻ ngoại tình ngỡ là tiệc cưới
có cha có mẹ có trẻ mồ côi
có ông trăng tròn nào phải mâm xôi (Đồng dao cho người lớn)
Trang 19Trước những biến động lớn lao của cuộc sống mới, người nghệ sĩ với tâm hồn nhạy cảm đã không ít lần nhận ra những nghịch lí, sự tan vỡ và nỗi hoài nghi về cuộc đời Cái tôi ngỡ ngàng khi hay tin:
Thế giới không còn trăng! Tin nghe rùng rợn quá chú Cuội cây Đa tan xác giữa thiên hà
không còn tết Trung Thu không còn đêm phá cỗ không còn ánh trăng ngà cho thi sĩ làm thơ
(Thế giới không còn trăng) Trong ngổn ngang suy tư, cái tôi trữ tình đắng lòng nhận thấy những bi kịch, mâu thuẫn mà con người hoàn toàn bất lực Những câu thơ dự cảm mang tính
dự báo mạnh mẽ và sâu sắc xuất hiện nhiều trong thơ Nguyễn Trọng Tạo:
Khi đang đắm yêu nào tin được bao giờ rồi một ngày người yêu ta đổi dạ
rồi một ngày thần tượng ta tan vỡ bạn bè thân thọc súng ở bên sườn
(Tản mạn thời tôi sống) Chứng kiến sự gãy đổ của thần tượng, cái vụn vỡ của những ảo mộng, chủ thể trữ tình không thôi khắc khoải trước cuộc đời Những đớn đau về sự tan vỡ, những bất lực trong tận cùng nỗi đau khiến cái tôi thêm chao đảo và mất niềm tin:
như con chiên sùng đạo chợt bàng hoàng nhận ra chúa chỉ ghép bằng đất đá
(Tản mạn thời tôi sống) Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Trọng Tạo thật sự hoang mang, bế tắc trước
sự phức tạp của đời sống cùng với sự đảo lộn của những giá trị, chuẩn mực cũ:
bây giờ yêu nghĩa là vào sàn nhảy anh quê mùa ngồi nhai kẹo cao su
Trang 20Trăn trở trên hành trình tìm kiếm những điều tốt đẹp đã mất đi, cái tôi quay quắt
tìm về kí ức với hình ảnh em mặc tứ thân cùng nón ba tầm Nhưng sự thật trớ trêu:
em giờ quần soọc áo phông
ta như một gã nhà nông cuối mùa
em giờ píc ních sân chùa
ta như sư đá còn ưa xoa đầu
(Thơ nhờ em gửi về Nguyễn Bính) Chủ thể ngậm ngùi, bất lực trước những đổi thay của cuộc đời Giữa chênh vênh đôi bờ thật – giả, cái tôi bị ám ảnh bởi sự hoài nghi:
tôi gặp người đẹp đèo con biết đâu chẳng phải con nàng
tôi gặp người đẹp bên chồng chắc chi chồng nàng trẻ thế
(Người đẹp nhìn tôi) Giữa hạnh phúc – khổ đau, niềm tin – tuyệt vọng, thiện - ác, tốt – xấu… cái tôi chênh chao kiếm tìm một điểm tựa nhưng càng thêm hẫng hụt:
tôi vốn tin Con Người hơn tin chó cái niềm tin như tảng đá trong mình nhưng đọc ĐOẠN ĐẦU ĐÀI niềm tin tôi tan vỡ người ác hơn chó sói chốn rừng xanh!
(Gửi con người) Khi đất nước vừa bước ra từ cuộc chiến với rất nhiều tổn thương vẫn còn đang
rỉ máu, nhức nhối trước vạn ngàn câu hỏi đặt ra, Nguyễn Trọng Tạo đã ám ảnh người đọc bởi điệp khúc:
thời tôi sống có bao nhiêu câu hỏi câu trả lời thật không dễ dàng chi
(Tản mạn thời tôi sống)
Trang 21Đó cũng là nỗi ám ảnh không thôi trong hành trình trở về của chủ thể trữ tình
Người thơ ý thức được thời tôi sống không thể đứng quay lưng, vết thương kia có nhức buốt đến chừng nào rồi cũng được thời gian làm sẹo Cho nên, dẫu niềm tin
tan vỡ, cái tôi trong thơ Nguyễn Trọng Tạo vẫn ráo riết đi tìm câu trả lời cho những băn khoăn, hoài nghi như cố níu giữ những giá trị tốt đẹp đang dần bị hủy hoại Cái tôi cố gắng kiếm tìm cho mình một lí do để tiếp tục gửi tin yêu vào cuộc đời:
mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ
mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió
(Đồng dao cho người lớn)
Bởi người thơ tin rằng: những bông hoa vẫn cứ nở đúng mùa Người khác có thể tin thì tin không tin thì thôi nhưng ý thức được sứ mệnh của người cầm bút, cái tôi trong thơ Nguyễn Trọng Tạo không thể không tin gì mà viết Lời tự thú thành
thật đáng trân trọng kia chỉ có thể xuất phát từ một trái tim ấm nóng biết yêu người, yêu đời và dành trọn cho thơ Chủ thể trữ tình ngày càng rát bỏng những khát vọng muốn đi tìm lời giải đáp cho những hoài nghi về cuộc đời Thế nhưng, cái tôi ấy phải đau đớn thừa nhận:
em lộng lẫy mộng mơ giờ nhàu nát bên đường anh là kẻ vớt trăng bao lần trăng vỡ nát (Nghiền ngẫm)
Cái vỡ nát kia dẫu có phục chế vẫn chỉ là phục chế “Anh” vẫn muốn, vẫn thèm cái tốt đẹp đã mất đi! Càng khao khát kiếm tìm, cái tôi càng thêm
chông chênh trước những mất mát, tổn hao quá lớn của cuộc đời
1.4 Cái tôi cuồng si trong nỗi khát tình
Bên cạnh những vần thơ về nhân thế, về nỗi cô đơn hay nỗi nhớ quê nhà,
cảm hứng về tình yêu cũng là một hơi thở mạnh trong nhịp thơ Nguyễn Trọng Tạo
Với bản tính thấy đẹp là mê, Nguyễn Trọng Tạo mê đắm với những ánh mắt đa tình,
những cánh môi thiên thần hay những làn tóc rối:
xe rời Thành Tuyên xa miền gái đẹp còn vọng lời chào dính hơn xôi nếp
Trang 22còn xanh lá tếch ai cầm trên tay
da trắng chân dài cổ cao váy bay
(Qua miền gái đẹp) Nguyễn Trọng Tạo là người duyên nợ với chữ “say” Ông say trong đời và ông say cả trong thơ Nhưng là “anh” say rượu hay “anh” say “em”; là môi khát rượu hay môi khát một nụ hôn cháy bỏng:
tìm hoa tôi tìm cánh môi thần tiên
em truyền sang tôi nóng bỏng lửa thiêng
(Tìm hoa) Tình yêu trong thơ Nguyễn Trọng Tạo không phải là những giai điệu nhẹ nhàng, ngọt ngào mà là sự bốc lửa, đê mê:
hai ánh mắt gặp nhau trào biển cả
nụ hôn nồng cánh rừng cháy trên môi
(Ta đã yêu nhau từ kiếp trước)
là những xúc cảm mãnh liệt:
lửa từ biển trào lên hừng hực dậy thì lửa từ núi phun xuống đồng bằng phù sa nham thạch taxi tăng dần tốc độ
ta khát căn phòng trắng muốt đợi em đêm trắng ấp ngày
(Khát)
Trang 23Đó còn là những được – mất, những rạn vỡ tái tê Bởi một thời, cái tôi ấy dại khờ, nông nỗi để rồi “ngày không em”:
anh cây chổi tựa mòn góc bếp anh cái chảo mốc meo
anh con mèo đói kêu khan anh con chồn hoang ngủ vùi trong hốc tối…
(Ngày không em)
Điên cuồng trong nỗi nhớ “em”, “anh” bơ vơ chẳng biết làm gì để ru lòng ấm
lại, để cơn mơ giật liên hồi thôi không còn thổn thức “Anh” đau đáu mơ về “em” nơi thiên đường mây trắng, nơi có gió mềm mại dáng em, có lửa cháy môi em để rồi cay đắng nhận ra một sự thật:
ngày không em anh không có thật anh bị phép tàng hình chiếc bình vỡ không sao gắn lại…
(Ngày không em)
“Anh” không phải là mình khi “anh” không còn “em” nữa Nỗi nhớ như điên dại, nỗi khao khát như nắng đợi cơn mưa khiến “anh” sẵn sàng đánh đổi tất cả:
cỏ bên đường ngỡ ngàng thay áo mới
đá vỡ tan thành ríu rít tiếng chim cho tôi đánh mất mình khi em đến
để nhận ra mình mới mẻ lúc yêu em!
(Bài thơ khác) Càng đi sâu vào cõi tình trong thơ Nguyễn Trọng Tạo, người đọc càng khám phá thêm nhiều tâm trạng mới, nhiều cung bậc cảm xúc mới của cái tôi cuồng si khát thèm một tình yêu vĩnh cửu, trinh nguyên:
Xanh nụ hôn khẽ chạm mỉm cười xanh hồn xoáy lốc nồng nàn đường cong thân thể bão
em như em mười bảy anh như vừa hai mươi
(Xanh)
Trang 24Tình yêu là men say làm cho con người quên thời gian và tuổi tác Tình yêu khiến cho “anh” và “em” như trẻ lại cái thời đôi mươi ngày nào Tình trong quá khứ hiện về; tình trong tâm tưởng, trong ý thức hiện tại, nhân vật trữ tình trào dâng
chia cho em một đời tôi một cay đắng
một niềm vui
một buồn tôi còn cái xác không hồn
cái chai không rượu tôi còn vỏ chai
(Chia) Cái tôi “yêu đến hết mình, đến tan xác, đến rỗng không, đến không còn hồn vía” [22] vậy mà suốt cả đời cứ đau đáu một nỗi niềm khôn nguôi:
tôi còn mắc nợ áo dài một làn gió trắng một bài thơ hay tôi còn mắc nợ mi mày
một con thuyền lá xanh đầy mắt nai
(Tôi còn mắc nợ áo dài)
Phải chăng đó là con tình nặng nợ nhân sinh, là cái dại khờ đắm đuối của một đời thơ tưởng đã héo khô vì một trái tim khát tình Cái tôi cuồng si ấy dẫu có uống đầy những yêu thương hay nếm đủ những cay đắng hân hoan thì vẫn một đời
khát yêu
Trang 25CHƯƠNG 2 THƠ NGUYỄN TRỌNG TẠO SAU 1975 – HỢP ÂM CỦA NHỮNG SẮC THÁI GIỌNG ĐIỆU
“Thơ ca là tiếng nói độc bạch, đọc thơ là “nghe trộm” lời tự hát của thi nhân” [5, tr.61] Có thể nói, nghiên cứu về giọng điệu thơ Nguyễn Trọng Tạo sau 1975 chính là con đường đi vào nắm bắt điệu hồn của nhà thơ Trên cơ sở đó, thấu hiểu
tư tưởng, tình cảm mà tác giả gửi gắm qua tác phẩm
Nguyễn Đăng Điệp từng nhận định: “Sự đa dạng về phong cách và sự phong phú
về giọng điệu là đặc điểm nổi bật của thơ Việt sau 1975”[6] Thiết nghĩ, có được đặc điểm đó chủ yếu là do sự thức tỉnh của ý thức cá nhân cùng với sự giải phóng triệt để cá tính sáng tạo của nhà thơ mà thành Giữa nhiều khuynh hướng mới của đời sống thơ ca, Nguyễn Trọng Tạo đã không ngừng đổi mới và dần xác lập cho thơ mình một vị thế với phong cách sáng tạo riêng Bằng cảm quan nghệ thuật mới, sau những thể nghiệm ban đầu, tiếng thơ Nguyễn Trọng Tạo dần định hình và thể hiện rất rõ sự “vỡ giọng” Đó là bước chuyển mạnh mẽ từ giọng ngợi ca ở các
trường ca Con đường của những vì sao và Tình ca cho người lính sang giọng trữ tình và triết lí ở các tập thơ Sóng thủy tinh, Gửi người không quen, Tản mạn thời
tôi sống, Đồng dao cho người lớn, Nương thân mà đỉnh cao là tập thơ Thế giới không còn trăng Chất sử thi hào hùng, bi tráng đã nhường chỗ cho những hoài
niệm day diết của một trái tim rạn vỡ, những suy tư, trăn trở của một cái tôi cô đơn,
buồn tủi cùng sự đắm đuối trong cạn cùng yêu thương của một tâm hồn khát yêu
2.1 Giọng hoài niệm về tháp cổ rêu phong một đời
Với những nhà thơ mà hồn vía văn hóa dân tộc đã thấm sâu vào từng xúc cảm
và những suy nghĩ trở trăn như Nguyễn Trọng Tạo thì cảm thức văn hoá dân gian, cảm thức nguồn cội là đặc điểm thường xuất hiện Suốt một đời lãng tử phiêu bạt, hành trang mà Nguyễn Trọng Tạo mang theo là nỗi nhớ - một “nỗi nhớ không tên” Tìm về với hồn quê như một phút ngưng lặng, tạm lãng quên những ưu tư trước
Trang 26cuộc đời ồn ã; quên mà để nhớ, để hoài niệm và hướng tới những giá trị đích thực
của cuộc sống, một điểm tựa mang tính truyền thống ngàn đời Không chỉ bó hẹp
trong bản thể hồn mình, thơ Nguyễn Trọng Tạo đưa người đọc trở về với cội nguồn
linh thiêng của dân tộc Người thơ lần bước tìm về lối xưa với giọng thơ hoài niệm
da diết
2.1.1 Phiêu diêu trong cõi nhớ
Đời người như một dòng sông chảy hoài chảy mãi, rồi cũng có lúc trở về bến cũ, về với những kỉ niệm Dù đi đến cùng trời cuối đất, con người vẫn khát khao một lần được trở về với tuổi thơ êm đềm, về với quê cha đất mẹ, với những điều bình dị mà sâu lắng Có lẽ, kí ức là điểm tựa dịu êm và ngọt ngào nhất cho bước chân của kẻ tha phương Ở cái tuổi bóng đã tròn, nhìn lại tất cả những gì
đã qua, Nguyễn Trọng Tạo quay quắt tìm lại những nỗi niềm xưa cũ nhưng tất cả chỉ còn trong giấc mộng Tận sâu thẳm hồn mình, nỗi nhớ thương nguồn cội ấy cứ
day dứt mãi không thôi Cái tôi trữ tình hạ giọng tìm về xứ chiêm bao, về với
quá khứ trong cơn mộng mị:
tung tăng thanh xuân trôi ngược chiều phút chốc mộng du lên phiêu diêu
(Sonnê không định trước) Câu thơ như chuỗi thanh âm vi diệu thoát thai từ nỗi nhớ Nỗi nhớ cứ
phập phồng xuất hiện trên đèo dốc mù sương, trong li rượu chói chang, trong
căn phòng huyền ảo ở trạng thái tỉnh táo mơ màng Người thơ như lãng đãng
ngược dòng trở về nguồn, về cội trong sương khói huyền ảo:
tạ từ da trắng áo hồng tôi về tháp cổ rêu phong một đời
tạ từ Ai tạ từ tôi chập chờn Tiên Nữ nói cười xa xăm
(Tạ từ)
Trang 27Giọng thơ nửa như thực nửa như chơi đưa ta vào cõi mơ, cõi mộng lúc nào không hay biết Nghe như chơi vơi nhưng kì thực là nỗi lòng tha thiết được trở về của một kiếp người đã thấm bụi trần ai
Trước những biến động lớn lao của cuộc đời, con người hiện đại chưa kịp nhận biết và lí giải thế giới nên thường rơi vào trạng thái bất khả tri Do đó, tính siêu thực được tăng cường trong sáng tạo nghệ thuật Thơ ca mượn yếu tố huyền thoại để nhận thức cuộc đời và thỏa mãn những khát vọng của con người Cái tôi trong thơ Nguyễn Trọng Tạo cũng nương tựa vào cái huyền ảo “bất khả tri”
đó để ngược về quá khứ, diễn tả trạng thái thực tại và mở rộng những suy tưởng để
dự cảm về tương lai:
rồi theo gió mây về chốn quê nhà dốc bầu rượu gạo tăm tăm cỏ hoa uống cho say ngất mơ thành Nữ Oa…
(Thi nhân) Thơ Nguyễn Trọng Tạo hay nói đến say và hơi men thường phảng phất nâng giọng thơ lên tiêu diêu Người thơ tự do tự tại lang thang trong cõi nhớ:
nhớ mắt rắn nhìn rượu nhớ thằng Sơn rượu nhìn nhớ nửa đường mây khuất thông reo về cõi Tiên
(Rượu rắn cùng bạn thơ)
Nỗi nhớ triền miên, nỗi nhớ dài dằng dặc rồi cũng dẫn về cõi Tiên – cõi nhớ -
nơi nhà thơ tìm thấy bạn bè, thấy kỉ niệm của những năm tháng lang bạc khắp bốn phương trời:
bạn bè ơi, nếu mà không các bạn những lúc lang thang ta về đâu không đời để Nhớ - nghèo biết mấy
ta như sao lạc giữa ban ngày
(Cõi nhớ)
Trang 28Trong cơn say, trong cơn mộng mị, cái tôi phiêu diêu ấy mới có cơ hội được nhìn sâu vào bản thể hồn mình, cảm nhận rõ những bước chân lưu lạc của chủ thể
để rồi đau đáu một miền hoài niệm:
lang thang đường phố Huế nhớ chiều nào xa Vinh trời thắp vì sao xanh thương nhớ về mắt biếc
(Nỗi nhớ không tên) Quê hương mãi là miền thương nhớ thiêng liêng trong tâm hồn mỗi con người
Ra đi từ làng quê ví dặm, đến với xứ Huế mộng mơ với những điệu hò mái nhì mái đẩy, tâm hồn thi sĩ được bồi đắp thêm bao phù sa văn hóa Với những chứng tích lịch sử, những đền đài lăng tẩm uy nghi bên vẻ dịu dàng, đằm thắm của sông Hương cùng tà áo dài duyên dáng của người thiếu nữ, Huế đã làm ngả nghiêng biết bao tâm hồn Và Huế cũng đã đi vào thơ Nguyễn Trọng Tạo một cách nhẹ nhàng, dung dị như thế:
lăng tẩm chùa chiền lẩn khuất dưới bóng thông khói sương cổ tích
bất chợt hoa
áo dài thiếu nữ bất chợt lá chiếc hôn thiên nhiên tươi non
(Ấn tượng Huế) Đất và người nơi ấy cũng để lại bao niềm luyến tiếc, một nỗi nhớ thương, một niềm khao khát:
Sao thèm hát một điệu gì xưa lắm Thèm đọc một đoạn văn hoàng-phủ-ngọc-tường
Có ai đó rót chiều vào chén ngọc Huế dịu dàng xây bằng khói và sương
(Vọng Huế)
Trang 29Giữa khói sương huyền ảo, nỗi nhớ mang âm điệu mơ màng hòa hợp với
khung cảnh thiên nhiên sông nước hữu tình Tìm lại Huế những ngày xưa,
thơ Nguyễn Trọng Tạo lại mượn men say để thả hồn mình lâng lâng cùng trời đất:
sông Hương hóa rượu ta đến uống
ta tỉnh đền đài ngả nghiêng say
(Huế 1)
Là người say vì rượu của đất trời hay đất trời ngả nghiêng trước một bậc
tài hoa Tỉnh mà say, say mà tỉnh, cách nói mập mờ nửa thực nửa chơi ấy thể hiện
cái ngạo nghễ đáng yêu của người đã chuếnh choáng bởi cái ma mị của hồn thiêng
sông núi Người thơ càng uống càng tỉnh, hơi thơ càng say càng phiêu diêu
2.1.2 Ngậm ngùi với cái chớp mắt đã nghìn năm trôi
Một đời lãng tử ngao du cho thỏa cái chí làm trai tang bồng với bản tính
“dọc ngang nào biết trên đầu có ai” nên giọng thơ có ngất ngưỡng, phiêu lãng mà
vút lên cao cũng là điều dễ hiểu Thế nhưng, đằng sau cái thanh âm cao vút ấy lại là
tiếng lòng ngậm ngùi và khắc khoải đau thương Giọng thơ vì thế có lúc chùng
xuống, chìm sâu như chính nỗi lòng của tác giả:
ôi ngày tháng gian nan tôi như kiến gặp mưa bò nhanh về tổ
ở trên cao biết mình là con nợ khi nước dưới đất nâu thương nhớ chảy lên trời
(Nương thân) Trải qua bao buồn vui của cuộc đời, sau bao yêu thương say đắm, mộng mị,
người thơ trăn trở về kiếp phù du cát bụi:
ơ cái trống cơm lên bông câu hát cái say chợt khóc cái điên chợt cười
bao giờ người ơi vô vi rộng hẹp chợt đi một đời chợt về cửa khép
(Chợt)
Trang 30Nguyễn Trọng Tạo quan niệm: “Trong vũ trụ vô biên vô tận này, đời người chớp mắt” [23, tr.517] thế nên cái tôi trữ tình giờ đây tự giác ngộ trước những trải nghiệm khóc cười nhân thế với sắc giọng điềm tĩnh:
thôi thì coi sống cũng như chết sinh tử mấy ai đà bất diệt mím môi nào có khác nhăn răng mặt trời cũng tròn tựa mặt trăng…
(Tự kiểm) nhưng cũng ngậm ngùi một nỗi xót xa trước sự ra đi của một kiếp người:
Vườn khuya quỳnh chớm nở sáng dậy qua kiếp quỳnh tiếng ai vừa hát đó
đã luân hồi tử sinh
(Một mình nghe nhạc Trịnh) Những cuộc đời cứ thế mà trôi đi trong vòng xoáy nhân gian để rồi một ngày kia trước khi nhắm mắt xuôi tay, mấy ai tránh khỏi những dằn vặt hay nuối tiếc:
rồi ngày xa lắm thở hơi cuối cùng
diêm cụt đầu đến hỏi gửi lại đời gì không?
(Gửi Thạch Quỳ) Phải chăng khi đi gần hết chặng đường đời, người ta lại quay về quá khứ và
tự vấn bản thân với những điều được – mất, với những điều còn dang dở chưa thành Ngoái lại nhìn đời, tìm lại những kỉ niệm tươi đẹp một thời nay đã rêu phong, Nguyễn Trọng Tạo đắng lòng hoài nhớ quê hương:
có tiếng gọi tưởng gọi mình, ngoái lại bàng hoàng tóc bạc một thời trai…
Như vậy đó, cây mùa thu trút lá
có người điên quỳ gọi đất quê nhà
(Gọi)
Trang 31Gom nhặt từng mảnh vỡ của kí ức, trân trọng quá khứ đau thương mà hào hùng của dân tộc, người thơ lần bước về thăm chiến trường cũ nhưng tất cả chỉ còn trong kỉ niệm:
Đến Trường Sơn nhớ Trường Sơn đạn bom thuở ấy gian thương bây giờ rừng đâu? Chỉ gốc cây khô
ta già mượn lệ trẻ thơ khóc rừng
(Khóc rừng) Trong xốn xang hoài niệm, ta nghe tiếng người thơ nức nở bên gốc cây rừng giữa bạt ngàn nỗi nhớ Đời người thoáng như giấc mộng, khi con người quay quắt tìm về thì tất cả đã là dĩ vãng Nỗi nhớ tràn trụa khắp không gian, niềm thương phủ đầy giấc mộng, giọng thơ trầm trầm vừa như hờn như trách:
Cái thời xuân trẻ xa rồi
tự dưng trí nhớ trêu người mộng du
(…)
tự dưng hai mắt cay cay thấy con chuồn ớt vụt bay về trời…
(Tự dưng) Giọng ngậm ngùi hoài nhớ ấy có khi lại là lời giãi bày chân thành, một xúc cảm mãnh liệt; là nỗi nhớ tiếc xót xa về những điều tốt đẹp đã qua:
anh hát ngu ngơ bài đồng dao mới nỗi buồn niềm vui đứng ngồi vũ hội
ai đem rao bán vinh quang rẻ tiền tôi mua giá đắt một mùa lãng quên
(Đồng dao cho bạn) Cái gì càng xa càng khiến ta quay quắt nhớ và niềm nhớ lại càng thêm sâu Tình yêu hướng về nguồn cội thôi thúc người thơ trở về con sông quê hương để
Trang 32yêu thương chảy hoài, chảy mãi Giọng thơ chìm xuống rất sâu như chính người thơ đang lặng lẽ cúi tìm những mảnh kí ức của ngày trước:
tôi trở lại dòng sông bờ Cỏ Thi xanh mướt xưa em đánh mất trâm giờ lặng lẽ tôi tìm
rồi cũng khóc như em, khóc cho điều đã mất trâm Cỏ Thi Ừ nhỉ, cỏ thôi mà
(Tái diễn) Ngậm ngùi vỗ về tâm hồn mình nhưng không ngăn được dòng nước mắt
Người thơ rồi cũng khóc như em, khóc cho điều đã mất nhưng “chính giọt nước mắt
rơi xuống cỏ giống như giọt sương hiếm hoi rốt cuộc đã bộc lộ một chút gì trong trẻo muôn đời vẫn thuộc về căn cốt của giống nòi thi sĩ” [23, tr.516]
2.2 Giọng nghẹn ngào với nỗi buồn không tan
Sự trở về với con người cá nhân – con người cá thể của thơ sau 1975 đã
mở đường cho khả năng đi sâu vào đời sống nội cảm phức tạp của con người
Số phận, bi kịch hay trạng thái của một con người cụ thể được chú ý diễn đạt hết sức tinh tế, chạm đến vỉa tầng sâu kín nhất trong tâm hồn của con người Trong thơ Nguyễn Trọng Tạo, sự cảm nhận về con người thân phận chủ yếu được bộc lộ qua trạng thái cô đơn và nỗi buồn Hai trạng thái đó thường gắn với sự vỡ mộng,
sự bất lực trước những đòi hỏi tất yếu của cuộc đời Đó còn là sự tự ý thức về
cá tính, hiểu rõ về bi kịch cá nhân mà không có sự chia sẻ Nhân vật trữ tình tự tách mình ra để suy ngẫm, để chiêm nghiệm; đơn độc đối diện với nỗi đau nên càng
cô đơn, càng buồn Giọng thơ vì thế mà thấm đẫm nỗi niềm, trầm lắng và
nghẹn ngào trong từng nghĩ suy với nỗi buồn và sự cô đơn không lối thoát
2.2.1 Chênh chao trong nỗi ám ảnh lạc đường mưa gió
Trên bước đường khát khao sáng tạo nghệ thuật, người nghệ sĩ với trái tim nhạy cảm càng ý thức về cái tôi bản thể của mình bao nhiêu càng hay ưu tư và hoài nghi về sự hiện hữu của mình bấy nhiêu Đó là nỗi buồn mờ ảo, mông lung và
Trang 33trừu tượng Trong những phút giây lạc lõng của cuộc đời; giọng bất an cuộn xoáy
tâm hồn, người thơ như sợ chính chiếc bóng của mình:
hắn là hắn, hắn chính là chiếc bóng không thanh âm, không màu sắc, không buồn vui thế mà hắn suốt đời sát kề tôi
không xóa được, tôi đành chào thua hắn
(Bóng) Bước chân của kẻ nhà quê lưu lạc sao tránh khỏi những lúc chống chếnh, mệt nhoài giữa cuộc đời với bao nghiệt ngã Khi khát vọng “đi tìm ngọn lửa mới mẻ cho thơ” vừa sinh thành, con người ấy đã phải gánh chịu bao áp lực của thế lực bảo thủ đương nhiệm cùng những lực cản dữ dội từ cuộc đời Tưởng chừng như ngã gục thế nhưng chỉ sau những ngày đầu rời Hà Nội, khát vọng cháy bỏng ấy
đã được Nguyễn Trọng Tạo gửi gắm qua tập thơ Thư trên máy chữ gửi đến cho
bạn bè và độc giả quan niệm nghệ thuật của mình Trong suốt hành trình đi tìm lại
thơ, nỗi ám ảnh lạc đường mưa gió cứ bám riết tâm hồn khiến giọng thơ không khỏi
nghẹn ngào:
còn gì ngày trước cho anh dáng cây khuất khuất trăng cành bóng sương thẳm xa chót biển cuối nguồn
núi non dựng kết nỗi buồn không tan…
(An ủi) Rong ruổi khắp mọi nẻo đường, kiếm tìm cho thơ một sức sống mới, cái tôi
cô đơn tạo nên sắc giọng băn khoăn, xót xa cho chính thân phận của mình và những người bạn văn nghệ sĩ cùng thời:
mưa bay gió lạnh đầy trời một đời thi sĩ mấy đời lang thang
ta làm khách trọ thời gian con đường hè phố quán hàng bóng cây
(Không đề cho Đỗ Toàn)
Trang 34Người thơ vẫn hay lang thang một mình như thế, nghe cái lạnh nhắc nhở những buồn vui hòa quyện với cô đơn và khao khát; xếp những kỉ niệm chồng chéo
của những năm tháng độc bước để khi lòng trống vắng, buồn nhớ sẽ dễ dàng tìm về;
bày biện trong thơ sắc giọng hối hả:
bay đấy là THƠ tốc độ chóng mặt cho tôi tìm nhanh tới chốn tôi mong
(Bay) Trên bước đường đến chốn chờ mong đó, giọng điệu lại như nghi ngại, ngơ ngác tự hỏi chính mình:
Chẳng lẽ tôi theo đuổi cánh chim
để đến một vòm trời không tiếng nói
(…)
tôi theo đuổi phù du hay tâm huyết những câu thơ bọt biển vỡ tan rồi
(Theo đuổi) Khi khát vọng, hoài bão không thành thậm chí rơi vào bế tắc, tuyệt vọng, người nghệ sĩ thường băn khoăn, hoài nghi và lục vấn chính mình Ta bắt gặp trong thơ Nguyễn Trọng Tạo không ít câu thơ thể hiện âm vực bế tắc của cái tôi trữ tình:
Tôi cứ đi như chẳng phải vì tôi nhưng nếu không vì tôi, làm sao mà đi được nơi ồn ã ga tàu ai gọi tôi phía trước
tôi kiếm tìm nào ai gọi tôi đâu
(Trong đêm thị xã)
Giữa mênh mông biển sóng với bao thăng trầm, đổ vỡ của cuộc đời mà lòng vẫn đầy vơi khát vọng, cái tôi khao khát xóa bỏ những tháng ngày buồn tênh
trống rỗng hay những đêm dài ắp đầy mơ mộng Thế nhưng, cả trong cơn mộng du,
người thơ cũng bị ám ảnh bởi sự đơn độc:
trong giấc ngủ ta thấy ta lang thang đường phố
Trang 35cây thả xuống ta lá vàng gió thả xuống ta mù sương
những dáng hình thân thuộc, tâm hồn của kẻ khách trọ bị lạc đường mưa gió
cảm thấy hoang vu, lạnh lẽo đến rợn người Giọng thơ nghe lắm nỗi chênh chao:
Thành phố không người quen chỉ còn
thành phố
trắng
im đến nỗi không thể tin
đã một lần ở đó
(Thành phố không người quen) Xác định tận hiến cho thơ ca và cuộc đời, người nghệ sĩ dẫu sống trong những năm tháng “họa vô đơn chí” với những tan vỡ đớn đau đến cùng cực nhưng vẫn giữ trong mình một trái tim ấm nóng Giữa chênh vênh những điều được – mất, một trái tim mỏng manh nhưng đầy nghị lực đã giúp người thơ vững tin neo vào
âm hưởng ước mơ và khát vọng:
đã bao lâu ngơ ngác dưới mưa rơi
sờ lên ngực biết tim mình chưa mất…
(Theo đuổi) Dường như có một nghịch lí nào đó khiến người thơ không ngừng từ bỏ
khát vọng sống của mình dù biết tôi còn đi Mưa gió Đường dài/ trái tim phải lội
qua bao thác lũ Phải chẳng chính niềm tin yêu mãnh liệt vào cuộc đời đã giúp
Trang 36người thơ thêm sức mạnh vượt qua những nỗi chênh chao có lúc tưởng chừng như
lạc lõng và cuốn trôi giữa dòng đời bất tận
2.2.2 Tiếu lâm đời thực khóc òa chiêm bao
Nguyễn Trọng Tạo từng chia sẻ: “Cuộc đời có niềm vui và nỗi buồn, nhưng tôi thuộc về nỗi buồn Nỗi buồn chính đáng làm cho con người trở nên hướng thiện một cách sâu sắc” Đó dường như là lời giải thích minh xác nhất cho lí do thơ ông thường hay nhắc đến nỗi buồn Trong cuộc sống đời thường tất bật, cười cợt, vui vẻ giữa đám đông, bạn bè nhưng khi chỉ còn lại một mình trong giấc chiêm bao, nhà thơ lại đau đớn vì những trớ trêu, trái ngang:
cái lẽ gì mà nỗi nhớ lang thang cái lẽ gì tiếng trẻ con khóc thét
(Theo đuổi)
Để nghe được tiếng nói thầm kín trong tâm hồn, những âm điệu diệu kì của cuộc sống, người thơ đã tự tách ra khỏi dòng đời xô bồ để đi vào tận cõi lòng mình Thế nhưng, những đói khát thiêng liêng ẩn kín trong sâu xa tâm hồn lại là những thanh âm của sự tan vỡ, của những đớn đau đến cùng cực:
đêm ngủ chợt nghe tiếng trẻ khóc choàng dậy ôm chăn rét tận lòng
(Lũ)
Sau những tất bật, ồn ã của cuộc sống đời thường với công việc làm thơ,
viết nhạc, vài giờ blog, rồi uống rượu ngon bên em thông minh vui tính cùng những
lời xưng tụng yêu thương của bạn bè, chủ thể trữ tình lại trở về với góc riêng
của mình và sự cô đơn lại xâm chiếm trọn vẹn tâm hồn:
tôi về khép lại căn phòng thấy trong lồng ngực như không có gì trái tim đã bỏ tôi đi
ai mà nhặt được gửi về giùm tôi
(Gửi)
Trang 37Sắc giọng cô đơn càng tê tái, lạnh lẽo hơn qua từng câu thơ được thoát ra từ
một tâm hồn căng ứa nỗi niềm Đêm buồn mòn đêm, sự cô đơn thường trực khiến cái tôi trữ tình luôn cảm thấy trống vắng Bao nỗi niềm tâm tư giấu kín nay gói trọn trong chuỗi thanh âm đặc quánh nỗi buồn:
ta thoát áo quần thấy đêm lạnh lạnh
ta tắt ngọn đèn thấy mình đặc quánh
(Vu vơ)
Thoát áo quần, trở lại trong vai mình, người thơ lại dằn vặt với biết bao
nỗi niềm Giọng thơ chùng xuống như chính những suy tư khi người thơ trăn trở về
(Sắm vai) Những câu thơ “ngậm đau” mà thốt lên bằng những con chữ nghe như sắc lạnh nhưng kì thực chất chứa biết bao nghịch lí vò xé tâm tư Người thơ phải tự
nén chặt những đớn đau, tự giấu mình đi để sắm vai hề mà đời thằng hề buồn lắm
anh ơi Thành thực thừa nhận những góc khuất đời thật của mình, người thơ
giãi bày:
chưa già nua, cũng chẳng còn trẻ dại anh ít cười đâu phải ít cười tươi
(Con đường lá chín)
Là anh ít cười chứ chẳng phải ít cười tươi Nhưng bởi “vui nhanh buồn lâu” là
đặc tính của những người nghệ sĩ thế nên đọng lại sau những niềm vui, nỗi hoan hỉ
Trang 38là niềm cô đơn trắc ẩn, là nỗi buồn sâu kín khó sẻ chia Đôi khi nhân vật trữ tình cũng tự vấn để rồi lặng im chôn giấu nỗi buồn; không khóc mà cũng chẳng thể cười:
hoa đã tặng Người đã không còn nữa
em đã yêu Em đã bỏ tôi đi
sẽ dở hơi nếu là tôi đứng khóc nhưng cười vui thì tôi sẽ còn gì?
(Đêm cổ điển) Cười trong cay đắng còn hơn cả nỗi đau thương được che giấu Cảm nhận về nỗi đau nhân tình thế thái, ám ảnh về những tai họa ẩn giấu dưới mỗi bước chân
cô đơn, buồn bã của lữ khách không nhà khiến Nguyễn Trọng Tạo họa nên những lời như nức nở:
ta làm khách trọ bài thơ chưa tan men rượu sững sờ chiêm bao biết tìm gõ cánh cửa nào
vô tình gió lạnh lách vào đáy tim giữa bao còn mất vui phiền câu thơ dang dở que diêm cuối cùng…
(Không đề cho Đỗ Toàn) Niềm vui và nỗi đau, hạnh phúc và bất hạnh, tiếng cười và giọt nước mắt,… tất cả cùng vật lộn, cuộn xoáy trong tâm can người nghệ sĩ khiến những vần thơ của ông vừa tếu táo, ngu ngơ lại vừa pha giọng thâm trầm, đau đớn:
vẽ tôi thơ viết nửa câu nửa câu ma quỷ đêm sâu gọi về
(…)
vẽ tôi lặng nhớ mưa xa tiếu lâm đời thực khóc òa chiêm bao
(Tự họa) Những câu thơ nghe có vẻ ngất ngưởng, nửa thực nửa chơi nhưng đó là những
dòng tự họa chân thực nhất về một cái tôi “nửa khóc nửa cười”
Trang 392.3 Giọng suy tư, chiêm nghiệm về thời tôi sống
Sau 1975, Nguyễn Trọng Tạo khởi xướng ra “Thơ đời thường” đối trọng lại loại thơ ca tụng nhan nhản thời bấy giờ, nhằm đưa thơ ca trở về gần hơn với cuộc đời Đó là khát vọng cách tân thơ mạnh mẽ và sâu sắc của một cây bút ý thức được sứ mệnh của người nghệ sĩ Bằng cái nhìn chân thực, tỉnh táo, thơ Nguyễn Trọng Tạo đã đem đến cho người đọc những nhận thức mới về cuộc đời Nhà thơ không những không né tránh mà còn lột tả chân xác những mặt trái của cuộc sống, những nhức nhối trong xã hội và sự đảo lộn của những chân giá trị Giọng thơ trở nên gần gũi hơn với đời sống nhưng đậm chất suy tư và giàu màu sắc chiêm
nghiệm Đó là những cảm nhận, suy nghiệm của một cái tôi trăn trở trước cuộc đời
2.3.1 Suy ngẫm về những giá trị cứ đổi thay
Bên cạnh tiếng thơ viết về những nỗi buồn, sự cô đơn của chính mình, thơ Nguyễn Trọng Tạo còn là những thanh âm trăn trở về cuộc đời, đặc biệt là sự thay đổi của những nấc thang giá trị:
cái mới đến ngỡ ngàng rồi nhập cuộc sau cái bắt tay xòe một lưỡi dao găm
kẻ tình nguyện giữ nhà muốn chiếm nhà ta ở
(Tản mạn thời tôi sống) Với một tấm lòng thiết tha với cuộc đời, biết yêu và trân trọng điều tốt, cái đẹp, nhà thơ đã “len lỏi vào mọi ngóc ngách đời sống thường nhật lam lũ của con người,
(…) cảnh báo và đánh thức lương tri trước cái xấu, cái ác đang hoành hành” [10]:
rồi một ngày giả dối sẽ nổ tung bởi những hạt sự thật
với tôi, sự thật là nguyên tử
là móng nền ngày mới dựng xây
(Gửi Nguyễn Hoa)
Trang 40Nhà thơ thể hiện rõ quan điểm của mình với sắc giọng đầy tin tưởng Chất triết lí, suy nghiệm được chắt lọc và kết tinh cao độ, dồn nén các chi tiết đời sống qua cách diễn đạt ngắn gọn, súc tích Đó là cả một quá trình người thơ kiếm tìm và trải nghiệm cuộc sống để rồi những nhận thức, suy nghĩ được hiển hiện qua từng con chữ:
và tôi hiểu ngoài đời những gì chưa được thắp
đã sáng lên trong trái tim nhà thơ
và tôi hiểu ngoài đời những gì đã tắt lại cháy lên đầu ngòi bút nhà thơ
(Gửi anh Trần Hữu Thung)
Ta bắt gặp chất giọng chiêm nghiệm, triết lí trong thơ ông khi viết về những nghịch lí, mâu thuẫn của cuộc sống hiện đại:
người cười mỉm người cau mày người khóc bạn lấm bùn sắm comple chính khách
(Điều bình thường lạ lẫm) Thực tế cuộc sống tồn tại rất nhiều nghịch lí mà con người thì bất lực, họ buộc phải chấp nhận và xem đó là những điều bình thường Trái tim người nghệ sĩ đã không ít lần gõ những nhịp đập xót xa mà đau đớn trước hiện thực đó Thế nhưng, bằng cái nhìn tỉnh táo và sắc sảo của một người đã nếm đủ cay đắng ngọt bùi, Nguyễn Trọng Tạo đã thẳng thắn phô bày sự thật ấy lên từng trang thơ của mình Người thơ trầm lắng nghiệm suy trước sự thật trần trụi của đời sống hiện đại:
trộm cắp đâm nhau dưới đèn mờ xích lô máu me cấp cứu
tham nhũng nâng ly mừng thắng lớn
ú ớ nói mê người đói không nhà
(Mộng du) Cuộc sống ngày càng hiện đại, mối quan hệ giữa con người ngày càng lỏng lẻo
Sự gần gũi, yêu thương giữa những con người trong một gia đình được thay bằng