Căn cứ vào sự cần thiết phải GDMT cho học sinh tiểu học và ưu điểm của việc sử dụng trò chơi học tập trong dạy học môn TN&XH lớp 2, em chọn đề tài nghiên cứu“Giáo dục ý thức bảo vệ môi t
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
SƯ PHẠM TIỂU HỌC
Trang 2Để hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này, em đã nhận được nhiều sự giúp đỡ nhiệt tình của quý thầy cô
Lời đầu tiên em xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn đến Quý thầy cô trong Khoa Giáo dục Tiểu học - Mầm non đã trang bị cho em những kiến thức sâu sắc để hoàn thành tốt đề tài này
Em cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn thầy giáo Vũ Đình Ngàn đã hướng dẫn tận tình
và giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình nghiên cứu, thực hiện khóa luận
Em xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu – quý thầy cô giáo và các em học sinh trường Tiểu học Trần Cao Vân đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình thực tập
và nghiên cứu, hoàn chỉnh đề tài
Em cũng xin thể hiện sự kính trọng và lòng biết ơn đến cha mẹ, là người đã tạo cho em những động lực, sự động viên và giúp đỡ em trong suốt thời gian qua để em có thể hoàn thành tốt khóa luận này
Vì trình độ có hạn và thời gian không cho phép nên cho dù đã nỗ lực cố gắng nhưng đề tài vẫn không thể tránh khỏi những thiếu sót, kính mong các thầy cô giáo đóng góp ý kiến , bổ sung cho khóa luận này được hoàn thiện hơn
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2013
Sinh viên thực hiện Bùi Thị Tâm
Trang 31.1.1.1 Các khái niệm cơ bản 5
1.1.1.2 GDMT trong nhà trường Tiểu học 8
1.1.2.4 Vai trò của TCHT trong việc GDMT cho học sinh Tiểu học 12
1.1.2.5 Vai trò của TCHT đối với sự phát triển trí tuệ của học sinh 14 1.1.3 Đặc điểm tâm , sinh lí của học sinh Tiểu học 15
1.1.4.1 Vai trò, vị trí của môn TN&XH trong nhà trường Tiểu học 17
1.1.4.2 Nhiệm vụ của môn TN&XH trong nhà trường Tiểu học 17
1.1.4.3 Mục tiêu của môn TN&XH lớp 2 18
1.1.4.4 Đặc điểm nội dung chương trình môn TN&XH lớp 2 18
1.2.1 Giới thiệu khái quát về quá trình điều tra 19
1.2.1.1 Mục đích và đối tượng điều tra 19
1.2.1.2 Phương pháp điều tra 19
Trang 41.2.1.3 Nội dung điều tra 19
1.2.2.1 Kết quả điều tra 15 giáo viên 20
1.2.2.2 Kết quả điều tra 84 học sinh 22
Chương 2 : THỰC TRẠNG GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG CHO HỌC SINH THÔNG QUA VIỆC TỔ CHỨC TRÒ
CHƠI HỌC TẬP TRONG CHỦ ĐỀ TỰ NHIÊN MÔN TỰ NHIÊN VÀ
XÃ HỘI LỚP 2
25
2.1 NỘI DUNG GDMT CÓ TRONG TRƯỜNG TIỂU HỌC 25 2.1.1 Nội dung GDMT có trong chương trình môn TN&XH 25 2.1.2 Những nội dung về môi trường và GDMT có trong chương trình môn
2.3 PHÂN LOẠI HỆ THỐNG TRÒ CHƠI HỌC TẬP THEO CHỦ ĐỀ TỰ
NHIÊN MÔN TN&XH LỚP 2
28
2.3.2 Hệ thống trò chơi học tập đươc vận dụng và tổ chức trong chủ để tự
ĐỀ TỰ NHIÊN CỦA MÔN TN&XH ĐỂ GDMT CHO HỌC SINH
46
Trang 53.4.TIẾN HÀNH THỰC NGHIỆM 57 3.5.KẾT QUẢ VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 58
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU
BVMT : Bảo vệ môi trường
GDMT : Giáo dục môi trường
Trang 7Biểu đồ so sánh kết quả thực nghiệm lần thứ hai của lớp TN ( 2/4) và lớp ĐC (2/5)
Trang 85 Phiếu trưng cầu ý kiến giáo viên
6 Phiếu trưng cầu ý kiến học sinh
7 Phiếu kiểm tra ( TN&XH 2)
8 Đồ dùng cho giáo án thực nghiệm
Tranh minh họa giáo án thực nghiệm 1
Tranh minh họa giáo án thực nghiệm 2
9 Một số hình ảnh hoạt động thực nghiệm sư phạm
Trang 9PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN
(Đối với giáo viên)
Hiện nay, việc sử dụng TCHT trong dạy học môn TN&XH là phương tiện, là con đường thuận tiện nhất để GDMT cho học sinh Căn cứ vào sự cần thiết phải GDMT cho học sinh tiểu học và ưu điểm của việc sử dụng trò chơi học tập trong dạy học môn
TN&XH lớp 2, em chọn đề tài nghiên cứu“Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh khối lớp 2 thông qua việc tổ chức trò chơi học tập trong chủ đề tự nhiên của môn
Tự nhiên và xã hội” , với mong muốn tìm hiểu kĩ hơn về việc GDMT cho học sinh tiểu
học qua hình thức tổ chức trò chơi học tập ở môn TN-XH Xin thầy/cô vui lòng cho biết ý kiến của mình về vấn đề này bằng cách đánh dấu √ vào ô trống trước ý kiến được chọn
1 Thầy/cô nhận thức như thế nào về khái niệm “ môi trường”
Môi trường là toàn bộ hệ thống tự nhiên và xã hội do con người tạo ra Trong
đó con người sinh sống và lao động
Là môi trường của một vật thể, một đối tượng nhất định
Môi trường bao gồm tất cả các yếu tố bao quanh sinh vật
2 Theo thầy/cô, mục tiêu GDMT trong nhà trường Tiểu học hiện nay là gì?
Hình thành thái độ và hành vi BVMT Hình thành tình yêu thiên nhiên và môi trường Cung cấp tri thức về các vấn đề môi trường và BVMT Bồi dưỡng tình cảm yêu thiên nhiên cho học sinh 3.Mức độ của việc tổ chức trò chơi học tập để GDMT qua các bàidạy :
5 Theo thầy/cô, khi tổ chức trò chơi học tập để GDMT gặp phải những khó khăn gì?
Không có đủ thời gian để tổ chức trò chơi cho họcsinh
Kĩ năng dạy học bằng trò chơi học tập chưa được tốt Thiếu tài liệu và sách hướng dẫn tổ chức TCHT để GDMT cho học sinh Khó quản lí nề nếp lớp học
Mất quá nhiều thời gian, công sức để chuẩn bị bài
Trang 106 Theo thầy/cô, khi tổ chức TCHT để GDMT có những thuận lợi gì?
Dễ chủ động thực hiện mục tiêu GDMT Lớp học sinh động, sôi nổi
Học sinh hứng thú, tích cực học bài
7 Nguồn TCHT mà thầy cô có được là gì?
Sử dụng TCHT đã được thiết kế sẵn trong sách giáo viên hoặc sách thiết
kế bài giảng Sưu tầm TCHT ở các sách hướng dẫn tổ chức trò chơi cho học sinh
8 Theo thầy/cô , mục đích của việc sử dụng trò chơi học tập trong dạy học là gì?
Thực hiện bước củng cố
Sử dụng để khởi động trước khi vào bài mới
Sử dụng như một phương tiện cung cấp tri thức mới và rèn kĩ năng
Sử dụng như một phương tiện để giải toả những căng thẳng hoặc lấp thời gian trống
9.Theo thầy/cô những điều kiện cần có đảm bảo cho việc vận dụng trò chơi học tập có hiệu quả là gì?
Bản thân từng giáo viên phải nhận thức được ưu điểm cốt lõi của trò chơi học tập để GDMT
Phụ thuộc rất nhiều vào kĩ năng tổ chức trò chơi của giáo viên Sách và tài liệu giới thiệu trò chơi học tập để GDMT là điều kiện không thể thiếu
Điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường
( Chân thành cảm ơn các em)
Trang 11PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN
(Đối với học sinh)
Họ và tên học sinh :………
Lớp:………
Khoanh tròn vào các câu em chọn
1 Theo em môn Tự nhiên và Xã hội là một môn học :
a Rất quan trọng
b Quan trọng
c Không quan trọng
2 Trong quá trình học các em có được tham gia các trò chơi :
a Luôn luôn b Thỉnh thoảng c Chưa bao giờ
3 Em có thích chơi trò chơi trong giờ học Tự nhiên và Xã hội không :
a Rất thích d Không thích lắm
b Thích c Không thích
4 Trong giờ học Tự nhiên và Xã hội, thầy cô tổ chức trò chơi khi nào :
a Đầu giờ học c Cuối giờ học
b Trong giờ học bài mới d Tiết ôn tập
5 Qua mỗi TCHT, các em có học được gì về những việc để BVMT không?
( Chân thành cảm ơn các em)
Trang 12PHIẾU KIỂM TRA
Bài 28 : Một số loài vật sống trên cạn
Họ và tên:
Lớp:
Thời gian: 7 phút Các em hãy khoanh tròn vào đáp án mà em cho là đúng nhất:
Câu 1: Đố bạn, đây là con gì? Sống ở đâu?
a Lạc đà, sống ở xa mạc c Tê giác, sống ở xứ nóng
b Ngựa, sống ở xứ nóng d Lạc đà, sống ở xứ lạnh
Câu 2: Con nào dưới đây sống trên cạn:
a Châu chấu b Gấu trúc
c Cào cào d Cá heo
Câu 3 : Hãy nối các con vật sau với nơi sống của chúng
Câu 4 : Đánh dấu × vào cột thể hiện các con vật có lợi và có hại sao cho phù hợp
Câu 5 : Em đã làm gì để bảo vệ nơi sống của các động vật quý hiếm ở trong rừng Hãy
khoanh tròn vào việc làm đúng
Trang 13PHIẾU KIỂM TRA Bài 29 : Một số loài vật sống dưới nước
Họ và tên:
Lớp:
Thời gian: 7 phút Các em hãy khoanh tròn vào đáp án mà em cho là đúng nhất:
Câu 1: Đố bạn, đây là con gì? Sống ở đâu?
A Cá quả, sống ở biển C Tôm, sống ở ao, đầm
B Cua, sống ở sông D Cá quả, sống ở ao, hồ
Câu 2: Con nào dưới đây sống dưới nước
Câu 4 : Đánh dấu × vào cột thể hiện lợi ích của các loài vật
Tên loài vật Làm thức ăn Làm thuốc Cứu người
Cá ngựa
Cá heo, cá voi
Tôm, cua
Cá lóc
Câu 5 : Có nhiều loài vật có ích nhưng cũng có những loài vật gây nguy hiểm cho con
người, chúng ta có cần phải bảo vệ chúng không?
A Không, cần phải tiêu diệt chúng
B Phải bảo vệ tất cả các loài vật
Chân thành cảm ơn các em!
Trang 14PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đê tài
Trang 15Hiện nay, có rất nhiều những vấn đề xã hội mang tính cấp bách và được mọi người quan tâm, trong đó vấn đề về môi trường và bảo vệ môi trường luôn chiếm một
vị trí quan trọng đối với các nước phát triển và đang phát triển
Môi trường bao gồm toàn bộ các yếu tố tự nhiên và các yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống sản xuất,
sự tồn tại và phát triển của con người và thiên nhiên [2] Môi trường có vai trò vô cùng quan trọng đối với cuộc sống của con người trên Trái đất
Thế nhưng, “ Ngày nay không còn một bộ phận nào của bề mặt Trái đất, một
diện tích nào của đại dương thế giới, một tầng lớp nào của khí quyển mà lại không chịu tác động này hay tác động khác của con người” [15] Môi trường Việt Nam và
trên thế giới đang bị ô nhiễm và bị suy thoái nghiêm trọng, tất cả những điều này là do bàn tay con người tạo ra , đã gây ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của một bộ phận lớn cư dân trên Trái đất Vì vậy con người phải nhận thức được việc cần phải bảo vệ môi trường (BVMT) sống xung quanh Bảo vệ và cải thiện môi trường của con người đang là vấn đề lớn làm ảnh hưởng tới cuộc sống tốt đẹp của mỗi quốc gia và phát triển
kinh tế thế giới, là khát khao của các dân tộc và là nhiệm vụ của mọi chính phủ [7]
Sự thiếu hiểu biết về môi trường và giáo dục môi trường ( GDMT), cũng là một trong những nguyên nhân chính gây nên ô nhiễm và suy thoái môi trường Do đó GDMT phải là một nội dung giáo dục quan trọng nhằm đào tạo con người có kiến thức, có đạo đức về môi trường, có năng lực phát hiện và xử lí các vấn đề môi trường trong thực tiễn Cho nên biện pháp giáo dục sẽ có tác dụng lâu dài và triệt để nhất.Đặc biệt chỉ có thể giải quyết được một cách triệt để nếu các tầng lớp thanh thiếu niên hưởng được một nền giáo dục mới về môi trường vì họ là chủ nhân tương lai của Trái đất, là người sẽ thực hiện các biện pháp khác để tiếp tục giải quyết vấn đề môi trường
Hiện nay, trường tiểu học được xem là nấc thang nền móng, nấc thang cơ sở với hàng chục triệu trẻ em vẫn đang ở trong giai đoạn phát triển nhận thức, thái độ, hành vi
và sự thành đạt của họ trong tương lai Việc chuẩn bị đầy đủ các hành trang về nhận thức, tri thức bảo vệ môi trường sẽ là lực lượng hùng hậu đóng vai trò nòng cốt tro ng mọi hoạt động cải thiện môi trường, bảo vệ tài nguyên của toàn xã hội Do đó giáo dục cho học sinh tiểu học về môi trường chính là trao cho họ viên gạch đầu tiên để góp phần xây dựng môi trường sống.Vì vậy GDMT còn được coi là thành tố trong cấu trúc học vấn phổ thông của học sinh tiểu học và các cấp học tiếp theo
Trên thực tế những vấn đề GDMT đã được đưa vào các môn học như: Tự nhiên
và Xã hội (TN-XH), Khoa học, Lịch sử và Địa lí, Đạo đức Trong các môn học đó thì TN-XH là môn có nội dung GDMT cao nhất vì đây là môn học có nội dung về giới tự nhiên và xã hội gần gũi bao quanh học sinh Học sinh tiểu học có đặc điểm tâm sinh lí
rõ nét nhất đó là hiếu động, nghịch ngợm, dễ hưng phấn và dễ xúc cảm, vì thế mà giáo
Trang 16viên rất dễ dàng giáo dục tình cảm yêu thiên nhiên, yêu cỏ cây, chim thú, biết nâng niu, chăm sóc, do đó môn TN-XH là môn học có nhiều cơ hội để GDMT nhất
Hơn nữa mục tiêu GDMT cho học sinh tiểu học không chỉ cung cấp kiến thức
mà còn phải cung cấp cho các em chuẩn mực về đạo đức, những quan niệm về sinh thái, hành vi cần thiết, đúng đắn với môi trường xung quanh Cho nên muốn làm được điều này, người giáo viên tiểu học bằng sự nhảy cảm, nghệ thuật sư phạm và những biện pháp và hình thức tổ chức dạy học thích hợp để tạo cho trẻ sự hứng thú trong từng nội dung, từng hoạt động GDMT và cảm giác mong đợi đến từng buổi học về GDMT
Khổng Tử từng dạy học trò rằng: “Biết mà học không bằng thích mà học, thích mà học
không bằng vui say mà học” Vì vậy một trong những giải pháp đảm bảo sự thành công
trong việc GDMT cho học sinh thông qua môn TN-XH là tạo sự hứng thú nhận thức cho các em
Thời gian qua bậc Tiểu họcViệt Nam đã thực hiện những thay đổi trong toàn
bộ quá trình dạy học nhằm đáp ứng nhu cầu của sự phát triển đất nước và hội nhập vào
sự tiến bộ chung của khu vực và Thế giới
Trong đó, “Học mà chơi - chơi mà học” là một trong những phương pháp giúp cho học sinh tích cực tham gia vào hoạt động thực hành rèn luyện kiến thức, đồng thời tiếp thu kiến thức một cách tự giác và hứng thú Trò chơi học tập với tính hấp dẫn của mình có tiềm năng lớn để trở thành một hình thức dạy học hiệu quả, kích thích sự hứng thú nhận thức, niềm say mê học tập và tính tích cực sáng tạo của học sinh Nhà
sư phạm nổi tiếng N.K.Crupxkaia đã nói: “Chơi với trẻ vừa là học, vừa là lao động,
vừa là hình thức giáo dục nghiêm túc” Thông qua trò chơi học tập học sinh được phát
triển cả về trí tuệ, thể lực, nhân cách , giúp cho việc học tập nhẹ nhàng hơn Đồng thời đáp ứng được hai nhu cầu đó là “ nhu cầu vui chơi và nhu cầu học tập” đây là một hình thức đang được xã hội quan tâm
Vì thế có thể nói sử dụng trò chơi học tập trong dạy học môn TN-XH lớp 2 là phương tiện, là con đường thuận tiện nhất để GDMT cho học sinh bởi tính chất vui chơi học tập của nó, giáo viên có thể tổ chức những việc làm BVMT thông qua các trò chơi
Thế nhưng, những tài liệu nghiên cứu về vấn đề này lại chưa nhiều,và cũng có nhiều giáo viên chưa thực sự coi trọng và sử dụng phổ biến các TCHT cho giờ học môn TN-XH, giờ học vẫn còn nhàm chán và chưa mang lại hiệu quả cao
Xuất phát từ những lí do trên, căn cứ vào sự cần thiết phải GDMT cho học sinh tiểu học và ưu điểm của việc sử dụng trò chơi học tập trong dạy học môn TN&XH lớp 2,
em chọn đề tài nghiên cứu “Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh thông qua việc tổ chức trò chơi học tập trong chủ đề tự nhiên môn Tự nhiên và xã hội lớp 2” với
mong muốn tìm hiểu kĩ hơn về việc GDMT cho học sinh tiểu học qua hình thức tổ chức
Trang 17trò chơi học tập ở môn TN-XH, để từ đó góp phần học tốt và dạy tốt môn học này đồng thời chuẩn bị hành trang trong công tác giảng dạy sau này
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Khi chương trình GDMT được đưa vào trường phổ thông năm 1981 thì cũng là lúc các công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề này được phát triển
- Phạm Đình Thái - Vị trí và bước đầu định hướng nội dung, biện pháp GDMT ở
bậc tiểu học ở Việt Nam”
- Nguyễn Thị Vân Hương - Một số biện pháp nâng cao chất lượng GDMT cho học
sinh tiểu học
- Nguyễn Thị Thấn - Hai phạm vi của khái niệm GDMT và mục tiêu GDMT ở
trường tiểu học - Về phương pháp tiếp cận trong GDMT
- Vũ Xuân Đỉnh - Học mà vui vui mà học
- Bùi Phương Nga( chủ biên) - Trò chơi học tập Tự nhiên - Xã hội lớp 1, 2, 3 ,
Dự án phát triển giáo viên Tiểu học- NXB Giáo dục.…
- Hà Nhật Thăng (chủ biên) - Tổ chức hoạt động vui chơi ở Tiểu học nhằm phát
triển tâm lực, trí tuệ, thể lực cho học sinh
- Bùi Sĩ Tụng, Trần Quang Đức( đồng chủ biên) - 150 trò chơi thiếu nhi
Các công trình nghiên cứu trên là tài liệu tham khảo quý giá, bổ ích cho chúng
em trong quá trình nghiên cứu này
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu việc tổ chức trò chơi học tập nhằm nâng cao hiệu quả GDMT trong dạy học chủ đề tự nhiên mônTN-XH khối lớp 2
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình GDMT cho học sinh Tiểu học thông qua môn TN-XH lớp 2
- Đối tượng nghiên cứu: Hình thức tổ chức trò chơi học tập được sử dụng trong dạy học chủ đề tự nhiên môn TN-XH lớp 2 để GDMT cho học sinh
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tổ chức TCHT để GDMT cho
- GDMT thông qua các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học các môn học
ở tiểu học là một vấn đề có phạm vi rộng Trong thời gian có hạn, đề tài chỉ nghiên
Trang 18cứu việc tổ chức một số trò chơi học tập để GDMT cho học sinh thông qua chủ đề tự nhiên môn TN-XH lớp 2
- Phạm vi điều tra: Giáo viên và học sinh trường Tiểu học Trần Cao Vân
7 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
2
Chương 3 : Thực nghiệm sư phạm + Phần III : Kết luận và kiến nghị Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 19PHẦN II : NỘI DUNG Chương 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
Theo Lê Văn Khoa ( 1995) thì : “Môi trường sống là tổng hợp những điều kiện
bên ngoài có ảnh hưởng tới đời sống và sự phát triển của các cơ thể sống”
Theo Hoàng Đức Nhuận ( 2000) thì : “ Môi trường bao gồm tất cả các yếu tố bao
quanh sinh vật, tất cả các yếu tố vô sinh và hữu sinh có tác đông trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự tồn tại, sự sinh trưởng và phát triển của sinh vật”
Đối với con người, môi trường sống là môi trường quan trọng nhất và nó chứa nội dung rộng hơn Đó là tổng hợp các điều kiện vật lí, hoá học, sinh học, xã hội bao quanh có ảnh hưởng tới sự sống và phát triển của các cá nhân và cộng đồng con người
Tuỳ theo nội dung nghiên cứu mà môi trường sống của con người được phân thành môi trường tự nhiên, môi trường nhân tạo, môi trường xã hội
Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố tự nhiên tồn tại khách quan ngoài ý muốn con người và ít chịu sự chi phối của con người
Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người tạo nên sự thuận lợi hoặc trở ngại cho sự tồn tại và phát triển của cá nhân và của cộng đồng con người
Môi trường nhân tạo bao gồm tất cả những nhân tố vật lí, sinh học, xã hội do con người tạo nên và chịu sự chi phối của con người Chúng sẽ tự huỷ nếu không có sự tác động của con người
Tuy nhiên sự phân chia này chỉ để phục vụ nghiên cứu, phân tích các hiện tượng phức tạp trong môi trường Trong thực tế ba loại môi trường trên cùng tồn tại, xen lẫn vào nhau, tương tác với nhau hết sức chặt chẽ Vì vậy, môi trường là một khái niệm rộng lớn chứa đựng nội dung phong phú và đa dạng
Hiện nay khái niệm môi trường được tổ chức thế giới sử dụng, đó là khái niệm
của UNESCO đưa ra năm 1981 “ Môi trường bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên
và nhân tạo, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình, đã khai thác
Trang 20những tài nguyên thiên nhiên hoặc tài nguyên nhân tạo để thoả mãn nhu cầu của con người”
Như vậy, dưới các góc độ khác nhau thì các cách nhìn nhận về môi trường cũng khác nhau.Nếu khái quát hoá lại ta có thể hiểu khái niệm môi trường như sau: “
Môi trường là toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống xã hội do co n người tạo
ra, chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau, bao xung quanh con người và ảnh hưởng tới đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên
b Bảo vệ môi trường
Vào khoảng cuối thế kỷ XVIII sang đầu thế kỷ XI, khi nền công nghiệp bắt đầu phát triển, việc khai thác các nguồn tài nguyên tăng lên nhanh chóng, đã làm cho nhiều khu rừng, nhiều phong cảnh đẹp bị phá huỷ Từ đó mới xuất hiện thuật ngữ “ bảo vệ tự nhiên ”
Khái niệm này được giải thích là: “ Ý muốn chung hướng tới việc bảo tồn
những di sản của thiên nhiên và việc chăm sóc chúng”
Vì vậy bảo vệ thiên nhiên được coi là bảo tồn những đối tượng hiếm, đặc hữu của tự nhiên để chúng khỏi bị tiêu diệt Từ đó, người ta bắt đầu xây dựng những khu rừng cấm để nhằm bảo vệ toàn vẹn các điều kiện tự nhiên của những khu vực nhất định
Tuy nhiên sự phát triển của xã hội không chỉ dừng lại đó Sự bùng nổ dân số đã làm tăng nhu cầu khai thác tài nguyên thiên nhiên Sự phát triển kinh tế- xã hội đã đi cùng với sự ô nhiễm không khí, nước, đất Trong khi đó khả năng chịu đựng của trái đất có giới hạn Nên việc bảo vệ tự nhiên bằng cách “giữ gìn” không còn phù hợp nữa Chính vì thế khái niệm bảo vệ thiên nhiên được thay thế bằng khái niệm BVMT Do
đó bảo vệ môi trường ngày nay mang một nội dung mới, mở rộng hơn, phù hợp hơn với sự phát triển kinh tế - xã hội của toàn thế giới, bao gồm:
Một là, sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên và bảo vệ sự cân bằng sinh thái, sử
dụng nguồn tài nguyên một cách tiết kiệm, không lãng phí và có hiệu quả Sử dụng hợp
lí còn là việc sử dụng theo một phương án tối ưu, dựa trên cơ sở các quy luật phát triển của môi trường để có thể khai thác sử dụng các tài nguyên có lợi nhất và môi trường cũng tốt lên hơn
Hai là, cải tạo phục hồi các nguồn tài nguyên đã bị cạn kiệt Mục đích của cải
tạo là để phục hồi và nâng cao chất lượng của môi trường Ngày nay, nhiệm vụ cải tạo phục hồi các cảnh quan trở thành các nhiệm vụ rất quan trọng, bởi vì các cảnh quan tự nhiên đã bị con người khai thác từ lâu
Ba là, chống ô nhiễm và suy thoái môi trường Bởi môi trường ô nhiễm do các
chất thải công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải và sinh hoạt gây ra đang ngày càng
Trang 21trầm trọng Sự ô nhiểm nặng đang làm cho môi trường bị suy thoái, bị phá huỷ đồng thời gây tác hại nghiêm trọng cho sức khoẻ và sự phát triển của con người và mọi sinh vật
Bốn là, bảo vệ tính đa dạng sinh học và vốn gen di truyền quý hiếm của sinh vật
hay những thành viên quan trọng của môi trường mà sự tồn tại của chúng còn đảm bảo giữ cho hệ sinh thái được cân bằng ổn định
Năm là, nghiên cứu cách phòng chống và dự báo các sự cố môi trường Bởi xét
cho cùng hoạt động của con người là nguyên nhân gây ra lũ lụt, hạn hán, động đất, núi lửa, tai nạn giao thông,
Nói tóm lại, BVMT như lời kêu gọi sự quan tâm thích đáng và hợp lí tới môi trường Ngay lập tức phải hợp tác với nhau một cách đầy thiện ý trong việc sử dụng, quản lí nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ tính đa dạng sinh học, sự cân bằng sinh thái, phòng chống sự suy thoái và ô nhiễm môi trường
c Giáo dục môi trường
GDMT được coi là một bộ phận của giáo dục nhân cách, đạo đức GDMT mang tính xã hội và tính toàn cầu rất cao
Hiện nay trong các tài liệu về giáo dục tồn tại rất nhiều định nghĩa về GDMT Cách trình bày các định nghĩa nói chung rất đa dạng, song nếu xét từ mục tiêu GDMT được nêu trong định nghĩa thì có thể phân chia thành 2 loại định nghĩa sau đây [7] :
Thứ nhất, GDMT là quá trình hình thành cho người học những hiểu biết, tri
thức về môi trường và các vấn đề môi trường liên quan Đại diện cho kiểu định nghĩa này là định nghĩa về GDMT được nêu trong luật GDMT của Mỹ được ban hành vào
năm 1970: “GDMT là quá trình giúp cho người học hiểu được mối quan hệ giữa con
người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội bao quanh, nhận thức được các vấn đề dân số, ô nhiễm, bảo toàn thiên nhiên, kĩ thuật phát triển đô thị và nông thôn
có ảnh hưởng đến môi trường con người như thế nào”
Thứ hai, GDMT là quá trình không chỉ hình thành ở người học những hiểu biết
về môi trường và những vấn đề liên quan mà còn hình thành ở họ những thái độ và hành động giải quyết các vấn đề môi trường , bảo vệ và cải thiện môi trường Đại diện cho kiểu định nghĩa này là định nghĩa được đề cập tại hội thảo “GDMT trong chương trình của trường học” của hiệp hội quốc tế về Bảo vệ Tự nhiên và Tài nguyên Thiên
nhiên ( IUCN) năm 1970: “GDMT là một quá trình hình thành những nhận thức, hiểu
biết về mối quan hệ qua lại giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội bao quanh con người Hơn nữa, GDMT cũng đòi hỏi hình thành ở người h ọc khả năng quyết định và những hành động có liên quan tới chất lượng môi trường [ 7]
Như vậy, việc GDMT cần phải được tiến hành sâu rộng ngay từ tuổi ấu thơ tới tuổi trưởng thành, từ những người làm việc sinh hoạt thường ngày trong cộng đồng tới những người làm công tác chỉ đạo quản lí, nhà chiến lược kinh tế xã hội
Trang 22d Khoa học môi trường
Trong những thập niên qua, tình trạng suy thoái môi trường và những hậu quả của nó đã khai sinh ra khoa học môi trường Khoa học môi trường ra đời có nhiệm vụ giải quyết các vấn đề môi trường nảy sinh trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của con người Trong đó, chủ yếu là tìm ra các giải pháp để giải quyết và điều hoà tốt nhất các mâu thuẫn nảy sinh giữa môi trường và sự phát triển kinh tế xã hội, nhất là trong thời đại công nghiệp hoá ngày nay, để đưa xã hội và môi trường sống của con người tiến tới trạng thái phát triển bền vững [21]
Như vậy khoa học môi trường được hiểu là một ngành khoa học lấy đối tượng
nghiên cứu và quản lí là môi trường [18]
1.1.1.2 GDMT trong nhà trường tiểu học
a Vị trí và vai trò của GDMT trong nhà trường Tiểu học
Trong chiến lược GDMT ở Việt Nam, giai đoạn đầu tiên là tập trung vào học sinh ở trường phổ thông [7] GDMT cho học sinh không chỉ đạt kết quả trước mắt mà còn đạt kết quả lâu dài vì thế hệ trẻ vẫn ở trong quá trình phát triển nhận thức thái độ
và hành vi; họ là thành viên trong nhóm dân cư lớn nhất; sự thành đạt của họ trong tương lai phụ thuộc vào phát triển bền vững hơn bất kì nhóm dân cư nào khác
Đồng thời để GDMT cho thế hệ trẻ một cách có hiệu quả nhất là thông qua hệ thống trường học vì trường học có khả năng thực hiện chương trình học tập theo khuôn khổ chính qui, có cấu trúc và được hỗ trợ chính thức
Cấp tiểu học là cấp nền móng của toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân khi đứa trẻ bước vào lớp Một thì mới thực sự trở thành học sinh lấy học tập làm hoạt động chủ đạo thay vì hoạt động vui chơi khi các em còn ở lứa tuổi mẫu giáo Học sinh sau khi tốt nghiệp tiểu học nghĩa là sau khi đạt được những yêu cầu của giáo dục tiểu học thì mới có thể tiếp tục học lên
Chính vì vậy, giáo dục tiểu học được coi là một bậc học Bậc học này làm nền tảng cho hệ thống giáo dục quốc dân
Mặt khác theo luật phổ cập giáo dục tiểu học, tất cả thiếu niên và người lớn ở
độ tuổi dưới 45 đều sẽ được hưởng cấp giáo dục tiểu học Vì vậy hàng chục triệu trẻ
em một khi được chuẩn bị đầy đủ các hành trang về nhận thức, tri thức về BVMT, sẽ
là lực lượng hùng hậu đóng vai trò nồng cốt trong mọi hoạt động cải thiện môi trường, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của toàn thể xã hội [7]
Với đặc điểm đang phát triển và định hình về nhân cách, những phẩm chất như:
ý thức trách nhiệm với cộng đồng và các hiểu biết cơ bản của các em nếu được bồi dưỡng về GDMT sẽ để lại dấu ấn sâu sắc không thể phai mờ trong toàn bộ cuộc đời sau này của các em Cùng với đó, bản chất tuổi trẻ vốn sẵn dồi dào tình cảm gắn bó
Trang 23với thiên nhiên bao quanh và ý thức sẵn sàng tham gia vào hoạt động công ích Đó là những thuận lợi, những lợi thế của học sinh, hứa hẹn hiệu quả cao của GDMT
b Mục tiêu của GDMT trong nhà trường Tiểu học
Xuất phát từ mục tiêu chung về GDMT trong hiến chương Belgrade, các nước
sẽ xây dựng mục tiêu riêng cho nước mình, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, trình độ nhận thức và khả năng hành động của từng cấp học, dựa trên tiêu chuẩn quan trọng nhất là hành động tích cực của cá nhân và tập thể trong việc cải thiện chất lượng môi
trường Thông qua chỉ thị 36/CT-TƯ đưa ra ngày 25/6/1998 của bộ chính trị về “Tăng
cường công tác BVMT trong thời kì công nghiệp hoá ,hiện đại hoá đất nước” ở đó đó
nêu công tác GDMT là giải pháp đầu tiên: “Thường xuyên giáo dục, tuyên truyền, xây
dựng thói quen, nếp sống và phong trào quần chúng BVMT” Vì vậy, mục tiêu GDMT
trong nhà trường phổ thông nhằm: “Mỗi trẻ được trang bị một ý thức trách nhiệm đối
với sự phát triển bền vững của Trái Đất, một khả năng biết đánh giá vẻ đẹp của thiên nhiên và một giá trị nhân cách được khắc sâu bởi một nền tảng đạo lí về môi trường ”
[1]
Về kiến thức : Giáo dục BVMT ở bậc tiểu học nhằm giúp học sinh có một số
kiến thức cơ bản thiết thực về : Các thành phần môi trường tự nhiên; mối quan hệ giữa con người với các thành phần của môi trường tự nhiên; sự ô nhiễm và suy thoái môi trường tự nhiên và hậu quả đối với con người; biện pháp BVMT xung quanh
Về thái độ: Từng bước phát triển những tình cảm yêu quý, tôn trọng thiên
nhiên, yêu quý gia đình, trường lớp, quê hương đất nước, luôn có thái độ thân thiện với môi trường và có ý thức quan tâm đến các vấn đề môi trường xung quanh, giữ gìn
vệ sinh thân thể, vệ sinh môi trường xung quanh
Về kĩ năng : Bước đầu hình thành và rèn luyện các kĩ năng như quan sát, phân
tích, so sánh, chăm sóc cây cối, vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường; các hành vi sống ngăn nắp, sạch sẽ, sống hòa nhã, gần gũi với thiên nhiên, tham gia các hoạt động trồng, chăm sóc cây xanh, các loài vật để làm cho môi trường xanh, sạch đẹp
c Nhiệm vụ của GDMT trong nhà trường Tiểu học
GDMT là một quá trình nâng cao nhận thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành thái độ và hành vi đúng đắn cho học sinh về vấn đề môi trường Do đó nó có các nhiệm vụ sau: [7]
Một là, làm cho học sinh hiểu biết về thiên nhiên, về môi trường nói chung và
môi trường Việt Nam nói riêng Nhận thức rõ mối quan hệ khắng khít với sự tác động tương hỗ giữa các sinh vật với các yếu tố của môi trường.Tầm quan trọng của môi trường đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người
Hai là, trên cơ sở những hiểu biết đó, giáo dục cho học sinh ý thức, thái độ, sự
quan tâm, hành vi cư xử đúng mực với môi trường và BVMT, dần dần hình thành ở học sinh lòng yêu thiên nhiên, mong muốn được bảo vệ môi trường sống, các phong
Trang 24cảnh đẹp, các di tích văn hoá, lịch sử của đất nước và cuối cùng làm cho việc BVMT trở thành phong cách, nếp sống của học sinh
Ba là, trang bị cho học sinh các kĩ năng và biện pháp BVMT thông thường
trong sinh hoạt và lao động sản xuất để sau này ra đời các em có thể tham gia một cách
có hiệu quả trong việc BVMT ở nơi sinh sống và làm việc
Trò chơi không chỉ là một “công cụ” dạy học mà nó còn là con đường sáng tạo xuyên suốt quá trình học tập của học sinh Phương pháp tổ chức trò chơi không chỉ là
sự đánh giá trong quá trình dạy và học của thầy và trò mà nó còn tạo cho ta cảm giác thoải mái, tự tin, có sự sáng tạo, nhanh trí, có óc tư duy, tưởng tượng của học sinh Dạy kết hợp với tổ chức trò chơi chính là việc giáo viên hướng dẫn học sinh hoàn thành tốt phẩm chất của con người
Tổ chức trò chơi là một hình thức tổ chức dạy học, chơi là một biện pháp học tập có hiệu quả của học sinh Thông qua trò chơi, học sinh được tập luyện, làm việc cá nhân, làm việc theo đơn vị tập thể theo sự phân công với tinh thần hợp tác Đó là những việc làm thuộc phương pháp học tập mới mà trường Tiểu học cần hình thành ở
người học
1.1.2.2 Đặc điểm TCHT
Xét về mặt cấu trúc thì hoạt động vui chơi được phân biệt với các hoạt động
khác nhau của trẻ A.N.Lờonchep đã chỉ ra rằng: “ Sự thoả mãn những nhu cầu cho sự
sống của cơ thể thực chất vẫn còn tách rời các kết quả hoạt động của trẻ - hoạt động của trẻ không quy định và thực chất không thể quy định được việc thoả mãn những nhu cầu ăn mặc ” Theo ông “ trò chơi có đặc điểm là động cơ của hoạt động trò
chơi, không nằm trong quá trình thực hiện hành động.”
Một số tác giả khác cũng đưa ra một số tổ hợp các dấu hiệu nhằm phân biệt vui chơi với các hoạt động khác không được coi là chơi
P.G.Xamarucova-chuyờn gia xô viết trong lĩnh vực giáo dục trẻ nhỏ đã đưa ra những đặc trưng của hành động chơi như sau:
Trò chơi trẻ em mang tính tự do : Tính tự do được thể hiện ở chỗ tự do chọn trò
chơi và nội dung chơi, tự nguyện kết hợp với các trẻ khác để chơi, tự do tham gia và
Trang 25rút khỏi trò chơi Hoạt động chơi của trẻ hoàn toàn xuất phát từ nhu cầu, hứng thú cá nhân nhằm thoả mãn những nguyện vọng của bản thân trẻ Đây chính là đặc điểm cơ bản phân biệt trò chơi với lao động và học tập Tính tự do của trò chơi liên quan đến vị trí của trò chơi trong cuộc sống xã hội Về điều này A.X.Macarencụ đã chỉ rõ: “ Trò chơi và công việc khác nhau ở điểm gì?” Theo ông chỉ rõ một điều khác biệt đó là: công việc là sự tham gia của con người vào việc sản xuất của xã hội để tạo ra những giá trị vật chất, giá trị văn hoá hay nói ngắn gọn lại là những giá trị xã hội, còn trò chơi thì không tuân theo những mục đích như vậy Đối với những mục đích xã hội thì trò chơi không có quan hệ trực tiếp, nhưng lại có quan hệ gián tiếp Nó tập cho con người
có những cố gắng về thể lực và tâm lí cần thiết cho công việc
Trò chơi trẻ em mang lại tính tự lập, tự điều khiển : K.D Usinxki viết: “Trong cuộc sống thực tế, các cháu hoàn toàn là trẻ con, chúng chưa có tính tự lập nào cả, chúng bị cuốn vào dòng chảy của cuộc sống một cách mù quáng và thờ ơ, nhưng trong trò chơi chúng là những người trưởng thành đang thử sức lực của mình và tự tổ chức sáng tạo của mình ”
Trò chơi có tính biểu trưng độc đáo : sự hiện diện khởi đầu của sáng tạo Một
trò chơi thực sự bao giờ cũng có liên quan tới sáng kiến, sáng tạo Trong trò chơi, tư duy và óc tưởng tượng của trẻ hoạt động rất tích cực
Trò chơi mang màu sắc xúc cảm chân thực, mạnh mẽ và đa dạn g : Mặc dù
trong trò chơi có thể xuất hiện cả những cảm xúc tiêu cực, nhưng trò chơi bao giờ cũng mang đến cho trẻ niềm sung sướng, thoả mãn, bằng lòng Trò chơi mà không có niềm vui thì không còn là chơi nữa
Ở phương Tây các nhà nghiên cứu cũng đưa ra các đặc điểm của trò chơi trẻ em
để phân biệt hành động chơi và các hành động khác
Eva Neuman trong luận văn tiến sĩ “The Elementa of play”đã đưa ra 3 đặc điểm trò chơi:
Hành động chơi chịu sự điều khiển từ bên trong, còn các hành động khác chịu
sự điều khiển từ bên ngoài
Khi chơi trẻ không chịu phụ thuộc vào hiện thực, nó có khả năng chế ngự ảnh hưởng từ hiện thực có khả năng giả bộ sẽ không còn là hành động chơi nếu hành động bị trói buộc từ thế giới hiện thực
Trò chơi diễn ra từ bản thân người chơi, hành động nảy sinh do áp lực bên ngoài thì không phải hành động của trò chơi
Catherin trong cuốn “play” đã đưa ra 5 đặc điểm hành động chơi:
Hành động chơi luôn là sự thú vị đối với trẻ
Việc tham gia vào trò chơi là sự hào hứng nội tại chứ không bởi mục đích bên ngoài
Trang 26Chơi là hành động tự do, tự nguyện
Trò chơi kéo theo sự tham gia tích cực từ phía người chơi
Hành động chơi gần gũi với hành động khác thường trong cuộc sống
Tóm lại, chơi là một hoạt động, ngoài những đặc điểm chung của bất cứ các
hoạt động xã hội khác (như có phương hướng, có mục đích, có sự tham gia tích cực của cá nhân …), thì trò chơi trẻ em còn mang những đặc điểm chuyên biệt sau :
Động cơ của trò chơi không nằm ở kết quả mà nằm ở ngay trong bản thân hành động chơi.Trong trò chơi, trẻ em không bị phụ thuộc vào nhu cầu thực tiễn, chúng chơi xuất phát từ những nhu cầu và hứng thú trực tiếp của bản thân
Trò chơi là hoạt động tự lập của trẻ em và mang tính tự do, tự nguyện hay nói cách khác nó thoát khỏi những phương thức hành động bắt buộc Tính tự do và tính tự lập của trẻ trong các loại trò chơi khác nhau được biểu hiện cũng khác nhau Nếu chơi
mà bị ép buộc thì lúc ấy không còn là trò chơi nữa
Trong trò chơi, trẻ em luôn có những sáng kiến và đó là sự hiện diện của mầm móng sáng tạo Những sáng kiến của trẻ trong các trò chơi thuộc nhiều thể loại khác nhau được biểu hiện cũng khác nhau
Trò chơi luôn mang lại sự thoả mãn và niềm vui vô bờ cho người chơi Trong trò chơi đứa trẻ sống hết mình và dấu vết của cuộc sống tuyệt vời đó sẽ lắng đọng sâu sắc trong tâm hồn chúng hơn cả dấu vết của cuộc sống thực Trò chơi giống như niềm vui sướng hay là sự hứng thú, trong trò chơi các chức năng tâm lí được phát huy hết sức mình
1.1.2.3 Phân loại TCHT
Có nhiều cách phân loại TCHT
Phân loại theo mục tiêu dạy học thì có: trò chơi hình thành kiến thức, trò chơi hình thành thái độ, trò chơi hình thành hành vi, thói quen…
Phân loại theo tiến trình bài học thì có: trò chơi khởi động, trò chơi hình thành kiến thức và rèn kĩ năng, trò chơi ôn tập củng cố
Phân loại theo hình thức tổ chức thì có: trò chơi tập thể, trò chơi cá nhân, trò chơi trong lớp, trò chơi ngoài lớp…
Tuy nhiên cách phân loại trên cũng chỉ có tính chất tương đối
1.1.2.4 Vai trò TCHT trong GDMT cho học sinh tiểu học
Cùng với học, chơi là nhu cầu không thể thiếu được của học sinh Lí luận và thực tiễn đã chứng tỏ rằng: Nếu biết tổ chức cho trẻ vui chơi một cách hợp lí, đúng đắn thì đều
mang lại hiệu quả giáo dục
Học trong quá trình chơi là quá trình lĩnh hội tri thức, vốn sống, kinh nghiệm xã hội một cách nhẹ nhàng, tự nhiên không gò bó phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí học sinh
Trang 27Học bằng chơi sẽ khơi dậy hứng thú tự nguyện, làm giảm sự căng thẳng thần kinh
ở các em, giữ được sự hồn nhiên của trẻ thơ Chính vì vậy, việc vận dụng trò chơi để GDMT thì hiệu quả giáo dục sẽ nâng cao Cụ thể là:
Mục tiêu cuối cùng của vấn đề GDMT là hình thành hành vi đúng đắn.Trong khi đó, nội dung trò chơi sẽ minh họa một cách sinh động các mẫu hành vi này Nhờ
đó mà các hành vi này sẽ tạo được những biểu tượng rõ rệt ở học sinh, giúp các em ghi nhớ dễ dàng và lâu bền
Nguyên nhân quan trọng gây ra hiện tượng xuống cấp môi trường là do những hành động và suy nghĩ trước đây của loài người Nhiều người trong chúng ta vẫn chưa thấy được lợi ích về sự thay đổi hành vi và thói quen ứng xử với môi trường Ngay cả những người hiểu được cũng không thường xuyên thực hiện ý muốn này Việc thay đổi thái độ và hành vi của con người đòi hỏi phải có một chiến dịch tuyên truyền đồng
bộ Trong khi đó, qua trò chơi rất dễ làm thay đổi thái độ và hành vi về môi trường Cũng như, qua trò chơi học sinh được luyện tập những kĩ năng những thao tác hành vi đúng đắn về vấn đề môi trường , giúp các em thể hiện hành vi một cách đúng đắn và tự nhiên
Qua trò chơi, học sinh có cơ hội thể nghiệm những chuẩn mực hành vi BVMT Chính nhờ sự thể hiện này, sẽ hình thành được ở học sinh niềm tin về những chuẩn mực hành vi đã học, tạo ra động cơ bên trong cho những hành vi BVMT trong cuộc sống
Qua trò chơi, học sinh sẽ được rèn luyện khả năng quyết định lựa chọn cho mình một cách ứng xử đúng đắn, phù hợp với môi trường
Qua trò chơi, học sinh được hình thành năng lực quan sát, được rèn luyện kĩ năng nhận xét, đánh giá hành vi của người khác là phù hợp hay không phù hợp với chuẩn mực hành vi BVMT
Hoạt đông vui chơi là hoạt động mà động cơ của nó nằm trong chính quá trình hoạt động trong bản thân trò chơi chứ không nằm ở kết quả chơi
Trò chơi là loại phổ biến của hoạt động vui chơi là chơi theo luật, luật của trò chơi chính là quy tắc định rõ mục đích, kết quả và yêu cầu hành động của trò chơi
Trò chơi học tập là trò chơi mà luật của nó bao gồm các qui tắc gắn với kiến thức, kĩ năng có được trong hoạt động học tập, gắn với nội dung bài học, giúp học sinh khai thác vốn kinh nghiệm của bản thân để chơi, thông qua chơi học sinh được vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học vào các tình huống trò chơi và do đó học sinh được luyện tập thực hành củng cố, mở rộng kiến thức, kĩ năng đã học
Chơi là một nhu cầu cần thiết đối với học sinh Tiểu học, có thể nói nó quan trọng như ăn, ngủ, học tập trong đời sống các em Chính vì vậy các em luôn tìm mọi cách và tranh thủ thời gian trong mọi điều kiện để chơi Được chơi các em sẽ tham gia
Trang 28hết sức tự giác và chủ động Khi chơi các em biểu lộ tình cảm rất rõ ràng như niềm vui khi chiến thắng và buồn bã khi thất bại Vui mừng khi thấy đồng đội hoàn thành nhiệm
vụ, bản thân các em thấy có lỗi khi không làm tốt được nhiệm vụ của mình.Vì tập thể
mà các em khắc phục khó khăn, phấn đấu hết khả năng để mang lại kết quả cho tổ, nhóm trong đó có mình Đây chính là đặc tính thi đua rất cao của các trò chơi Vì vậy khi tham gia các trò chơi, học sinh thường tập trung hết khả năng sức lực, tập trung sự chú ý, trí thông minh và sáng tạo của mình
Trò chơi học tập làm thay đổi hình thức hoạt động của học sinh, tạo ra bầu không khí dễ chịu thoải mái trong giờ học, giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách
tự giác tích cực Giúp học sinh rèn luyện củng cố kiến thức đồng thời phát triển vốn kinh nghiệm được tích luỹ qua hoạt động chơi
Trò chơi học tập rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo, thúc đẩy hoạt động trí tuệ, nhờ sử dụng trò chơi học tập mà quá trình dạy học trở thành một hoạt động vui và hấp dẫn hơn, cơ hội học tập đa dạng hơn
Trò chơi không chỉ là phương tiện mà còn là phương pháp giáo dục Như Bác
Hồ đã nói: “Trong lúc học cũng cần cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần cho chúng
học”
1.1.2.5 Vai trò của TCHT đối với sự phát triển trí tuệ của học sinh
Học trong quá trình vui chơi là quá trình lĩnh hội tri thức, vốn kinh nghiệm xã hội nhẹ nhàng, tự nhiên, không bị gò bó, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí ở học sinh Học bằng chơi sẽ khơi dậy hứng thú tự nguyện, làm giảm sự căng thẳng thần kinh ở các em, giữ được nét hồn nhiên trẻ thơ
Trong quá trình chơi, để thực hiện chức năng của hoạt động chơi, giải quyết nhiệm vụ chơi, học sinh phải sử dụng các giác quan để tiếp nhận thông tin ngôn ngữ, phải tự phân tích, tổng hợp, so sánh, phân loại và khái quát hoá, tuỳ theo nhiệm vụ nhận thức của trò chơi, làm cho các giác quan của trẻ tinh nhạy hơn, ngôn ngữ mạch lạc hơn, tư duy trực quan hình tượng phát triển mạnh, các thao tác trí tuệ được hình thành Qua TCHT, học sinh lĩnh hội, tiếp thu và khắc sâu được nhiều tri thức, nhiều khái niệm và hình thành được những biểu tượng rõ rệt về các sự vật, hiện tượng xung quanh Trên cơ sở đó, các phẩm chất trí tuệ của các em được hình thành như: sự nhanh trí, tính linh hoạt, sáng tạo, tính kiên trì,
TCHT còn là phương tiện rất tốt để khắc phục những mặt khó khăn trong quá trình tư duy của học sinh Trong quá trình chơi, học sinh bộc lộ những sai lầm trong những tình huống mới, giáo viên hoặc bạn bè trong nhóm sẽ phát hiện và giúp đỡ các
em giải quyết các tình huống đó Qua đó, các em sẽ tích luỹ được kinh nghiệm, kịp thời sửa chữa sai sót trong tư duy
Trang 29Trò chơi học tập có ảnh hưởng sâu sắc tới việc giáo dục đạo đức cho học sinh
Nó góp phần giáo dục cho các em tính thật thà, tính tổ chức, tính tự lực, tính đoàn kết
Tóm lại: Trò chơi nói chung và trò chơi học tập nói riêng giúp học sinh phát
triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần Trò chơi làm cho học sinh phát triển các năng lực một cách tự nhiên, giúp các em trao đổi kinh nghiệm, tương tác lẫn nhau từ
đó các em tiếp thu kiến thức được dễ dàng
Trò chơi học tập có ý nghĩa rất quan trọng đối với học sinh Tiểu học.Trò chơi gây hứng thú học tập cho học sinh, giúp các em lĩnh hội kiến thức về môn học và giáo dục BVMT nhẹ nhàng, tự nhiên, hiệu quả
Vui chơi là một hoạt động không thể thiếu được của con người ở mọi lứa tuổi, đặc biệt ở lứa tuổi tiểu học Bởi lẽ, nó phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi này nên TCHT được đánh giá cao trong giảng dạy
1.1.3 Đặc điểm tâm, sinh lí của học sinh Tiểu học
Vấn đề GDMT được tiến hành như thế nào, phụ thuộc rất nhiều vào đối tượng được giáo dục, lứa tuổi khác nhau có nội dung, hình thức và phương pháp giáo dục khác nhau cho nên để việc GDMT có hiệu quả thì việc hiểu biết những đặc điểm về tâm sinh lí của học sinh trong nhận thức, thái độ, hành vi đối với môi trường và bảo vệ môi trường là rất cần thiết
Tri giác : Tri giác của học sinh tiểu học mang tính không chủ định Các em
không tập trung sức lực xem xét đối tượng mà chỉ dừng lại ở một chi tiết nào đó, xem
nó là đối tượng Khả năng tri giác, sự phân tích có mục đích, có tổ chức và sâu sắc của các em còn yếu Đặc biệt tri giác các em còn mang tính xúc cảm Không những thế, tri giác của các em được gắn với hành động, với hoạt động thực tiễn Thông qua trò chơi các mẫu hành vi BVMT sẽ tạo được những biểu tượng rõ rệt ở các em.Tuy nhiên khi tổ chức trò chơi cho học sinh, giáo viên phải hướng dẫn các em quan sát (tranh hướng dẫn,
ví dụ mẫu, giáo viên làm mẫu) Giáo viên cũng cần thay đổi đa dạng các trò chơi để hấp dẫn các em
Trí nhớ : Ở học sinh tiểu học trí nhớ trực quan, hình tượng phát triển hơn so
với trí nhớ từ ngữ - logic Các em nhớ và gìn giữ chính xác trong trí nhớ những điều hiểu biết, những biến cố, những gương mặt, những sự việc và sự kiện cụ thể nhanh hơn và tốt hơn là nhớ những định nghĩa, những lời giải thích Đặc biệt là các lớp đầu cấp, các em thường dễ nhớ những gì gây ấn tượng cho mình như : trò chơi, câu
chuyện, bài hát, bài thơ Trò chơi, bản thân nó là một hoạt động trực tiếp, với sự hấp
dẫn vốn có đã tác động trực tiếp đến hứng thú nhận thức, dễ gây được ấn tượng mạnh
ở các em.Vì vậy hình thành những hiểu biết về thiên nhiên, về môi trường cho học
sinh thông qua trò chơi sẽ giúp cho các em ghi nhớ một cách dễ dàng và bền vững hơn
Trang 30Tưởng tượng : Tưởng tượng của học sinh tiểu học được hình thành thông qua
hoạt động học tập dưới tác dụng những yêu cầu của hoạt động này Khả năng tưởng tượng của các em rất phong phú, song tưởng tượng tái tạo vẫn chiếm ưu thế và ngày càng được hoàn thiện Các chi tiết của hình ảnh tưởng tượng còn nghèo nàn, tản mạn,
mờ nhạt không rõ ràng Tưởng tượng của các em chủ yếu dựa vào hình ảnh các sự vật,
hiện tượng cụ thể, chưa biết sáng tạo và khái quát trong tưởng tượng Trò chơi là hoạt
động tái hiện lại cuộc sống một cách rõ nhất Mỗi hoạt động chơi luôn gắn với một
hoạt động trong đời sống để các em tưởng tượng
Chú ý : Đặc điểm cơ bản của lứa tuổi này là chú ý không chủ định phát triển
mạnh và vẫn chiếm ưu thế Tất cả những gì mới mẻ, bất ngờ, rực rỡ, hứng thú tự nhiên
sẽ lôi cuốn , dễ dàng cuốn hút sự chú ý các em mà không cần một sự nỗ lực, ý chí nào Hơn nữa đối với học sinh lớp 2, lớp mà các em vừa mới vượt qua những mới mẻ ban đầu chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập là chủ đạo Do vậy giờ học sẽ trở nên nặng nề, không duy trì được khả năng chú ý của các em nếu các em chỉ có nghe
và làm theo Chính vì thế khi thiết kế, chọn lựa trò chơi phải vừa sức hấp dẫn, sinh động để thu hút sự chú ý của các em Trò chơi không nên phức tạp, khó hiểu, thời gian chơi cũng không nên kéo dài quá khiến các em phân tán, khó tập trung
Nhu cầu : Khi vào trường tiểu học, các em bắt đầu chuyển từ hoạt động chủ
đạo là vui chơi sang hoạt động chủ đạo là học tập Cho nên nhu cầu vui chơi của trẻ vẫn còn chiếm ưư thế trong khi nhu cầu nhận thức lại ở vị trí thấp hơn trong hệ thống các nhu cầu, trong khi mục tiêu GDMT là hình thành ở học sinh những hiểu biết cơ bản về môi trường cũng như những nhận thức sâu sắc về tính khẩn cấp của các vấn đề môi trường Trò chơi học tập đã cùng một lúc thoả mãn hai nhu cầu chủ yếu của học
sinh, đó là nhu cầu vui chơi và nhu cầu nhận thức
Tính cách : Hành vi của học sinh tiểu học thường mang tính tự phát Các em rất
cả tin, hồn nhiên trong quan hệ với thầy cô giáo, bạn bè và người thân Các em đều nghĩ rằng mọi cái đều dễ dàng và đơn giản, nhìn cuộc sống với thái độ lạc quan Bên cạnh đó, một đặc điểm nữa cần lưu ý là các em rất hay bắt chước, cho nên khi xây dựng thiết kế trò chơi, giáo viên phải xây dựng luật chơi cho rõ ràng chặt chẽ, thưởng phạt công minh để hạn chế tính tự phát trong tình cảm của các em Giáo viên phải tạo cho các em một môi trường chơi lành mạnh và bổ ích để xây dựng và củng cố niềm tin cho các em Giáo viên cũng phải là một tấm gương mẫu mực để các em noi theo
Ý chí và hành động :Ý chí của học sinh tiểu học bị chi phối rất nhiều bởi tình
cảm Tình cảm có thể thúc đẩy ý chí hoặc kìm hãm ý chí.Tính độc lập, kiềm chế và tự chủ của các em còn kém cho nên các em ít tự mình giải quyết nhiệm vụ mà thường là chờ đợi sự giúp đỡ của người khác.Tính bộc phát và hành động ngẫu nhiên còn trong
hành động của các em Trò chơi sẽ giúp trẻ luyện tập tính kiên trì độc lập và tự chủ để
Trang 31đi đến đích cuối cùng là “chiến thắng” Đây là động cơ tự nhiên thúc đẩy các em,
chính vì thế mà dần dần thúc đẩy các em phát triển ý chí
Từ những đặc điểm trên, có thể nói rằng việc vận dụng TCHT để GDMT cho học sinh là một việc làm hoàn toàn phù hợp với đặc điểm tâm lí học sinh lớp 2
1.1.4 Môn TN-XH trong nhà trường tiểu học
1.1.4.1 Vai trò, vị trí của môn TN-XH trong nhà trường tiểu học
Môn TN&XH là môn học cung cấp, trang bị cho học sinh những kiến thức ban đầu, cơ bản về tự nhiên và xã hội trong cuộc sống hàng ngày xảy ra xung quanh các
em Bước đầu hình thành và phát triển những kĩ năng: tự chăm sóc sức khoẻ cho bản thân, ứng xử hợp lí trong đời sống để phòng tránh một số bệnh tật và tai nạn; quan sát, nhận xét, nêu thắc mắc, đặt câu hỏi biết cách diễn đạt những hiểu biết của mình về sự vật, hiện tượng đơn giản trong tự nhiên xã hội, góp phần hình thành và phát triển những thái độ, hành vi, ý thức thực hiện các quy tắc giữ vệ sinh, an toàn cho bản thân, gia đình và cộng đồng, bồi dưỡng nhân cách toàn diện cho trẻ
Những hiểu biết ban đầu của học sinh về cuộc sống và thế giới xung quanh em chỉ là những hiểu biết tản mạn, chưa mang tính bản chất mà chỉ mới nằm ở hình thức , tồn tại ở bên ngoài sự vật, hiện tượng Việc học tập môn TN&XH giúp học sinh tiếp cận với thế giới xung quanh bằng những phương pháp khoa học phù hợp với trình độ của các em
1.1.4.2 Nhiệm vụ của môn TN-XH trong nhà trường tiểu học
Tự nhiên và Xã hội là môn học cung cấp và trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản ban đầu về tự nhiên và xã hội trong cuộc sống hằng ngày đang diễn ra xung quanh các em Giúp các em có một cách nhìn khoa học, phương pháp tiếp cận khoa học phù hợp trình độ các em về cuộc sống xung quanh, tránh cho học sinh những hiểu biết lan man, đại khái, hình thức tồn tại bên ngoài sự vật hiện tượng
Ngoài việc cung cấp cho các em những kiến thức cơ bản về sức khỏe, con người, về sự vật – hiện tượng đơn giản trong tự nhiên – xã hội, bộ môn TN&XH còn bước đầu hình thành cho các em các kỹ năng như:
Tự chăm sóc cho bản thân, ứng xử và đưa ra các quyết định hợp lý trong đời sống để phòng tránh một số bệnh tật, tai nạn
Quan sát, nhận xét, nêu thắc mắc, đặt câu hỏi, diễn đạt những hiểu biết của mình ( bằng lời nói hoặc hình vẽ) về các sự vật – hiện tượng đơn giản trong tự nhiên –
xã hội
Hình thành và phát triển ở học sinh những thái độ, hành vi như: có ý thức thực hiện các quy tắc giữ gìn vệ sinh, an toàn cho bản thân, gia đình và cộng đồng, yêu thiên nhiên, gia đình trường học, quê hương
Trang 321.1.4.3 Mục tiêu của môn TN-XH lớp 2
Sau khi học xong môn TN-XH lớp 2, học sinh sẽ:
Biết sơ lược về hoạt động của cơ quan vận động và cơ quan tiêu hoá ở cơ thể người; phòng chống cong vẹo cột sống; giữ vệ sinh ăn uống; phòng nhiễm giun
Biết về công việc của các thành viên trong gia đình, nhà trường và một số nghề nghiệp trong xã hội, ở địa phương; giữ sạch nhà ở, trường học, giữ an toàn khi ở nhà, ở trường và khi đi đường
Biết cây cối và các con vật có thể sống được ở khắp nơi: trên cạn, dưới nước, trên không; biết quan sát bầu trời ban ngày, ban đêm; có hiểu biết sơ lược về hình dạng
và đặt điểm của mặt trời, mặt trăng và các vì sao
1.1.4.4 Đặc điểm nội dung chương trình môn TN&XH lớp 2
Môn Tự nhiên và Xã hội là môn học chứa đựng những kiến thức gắn với đời sống con người, các sự vật hiện tượng trong thực tế cuộc sống rất gần gũi với học sinh Tiểu học
Môn Tự nhiên và Xã hội là môn học tích hợp kiến thức của khoa học tự nhiên
và khoa học xã hội trong đó tỉ trọng kiến thức khoa học tự nhiên nhiều hơn so với kiến thức khoa học xã hội ”.[1, tr 8]
Môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 được xây dựng theo quan điểm tích hợp xem xét
tự nhiên con người và xã hội trong một thể thống nhất có quan hệ qua lại, tác động lẫn nhau, các kiến thức trong chương trình là kết quả tích hợp kiến thức của nhiều ngành khoa học sinh học, vật lí, địa lí, lịch sử, môi trường Nội dung chương trình có cấu trúc đồng tâm, hợp lí ”.[5, tr 24] Chương trình môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 sẽ tiếp tục phát triển, mở rộng các kiến thức các em đã học ở lớp 1 theo 3 chủ đề: Con người – sức khỏe, Xã hội, Tự nhiên
Sau khi học xong chủ đề Tự nhiên học sinh cần đạt được mục tiêu đề ra: Biết sơ lược về hoạt động của cơ quan vận động và cơ quan tiêu hóa ở cơ thể người; phòng chống cong vẹo cột sống; giữ vệ sinh ăn uống, phòng nhiễm giun Biết về công việc của các thành viên trong gia đình, nhà trường và một số nghề nghiệp trong xã hội, ở địa phương; giữ sạch nhà ở, trường học, giữ an toàn khi ở nhà, ở trường và khi đi đường Biết cây cối và các con vật có thể sống được ở khắp nơi: trên cạn, dưới nước, trên không; biết quan sát bầu trời ban ngày, ban đêm; có hiểu biết sơ lược về hình dạng và đặc điểm của Mặt trời, Mặt trăng và các vì sao[1, tr 4]
Bước đầu hình thành và phát triển những kĩ năng: Tự chăm sóc sức khỏe cho bản thân, ứng xử hợp lí trong đời sống để phòng chống một số bệnh tật và tai nạn Quan sát, nhận xét, nêu thắc mắc, đặt câu hỏi, biết cách diễn đạt những hiểu biết của mình về các sự vật, hiện tượng đơn giản trong tự nhiên và xã hội Hình thành và phát
Trang 33triển những thái độ và hành vi: Có ý thức thực hiện các quy tắc giữ vệ sinh, an toàn cho bản thân, gia đình và cộng đồng Yêu thiên nhiên, gia đình, trường học, quê hương Môn học Tự nhiên và Xã hội là môn học về môi trường tự nhiên và xã hội gẫn gũi, bao quanh học sinh, vì vậy có rất nhiều nguồn cung cấp kiến thức cho các em Do
đó, không chỉ có giáo viên cung cấp trí thức cho các em lĩnh vực này, các em có thể thu nhận kiến thức từ nhiều nguồn khác Với chủ đề Tự nhiên học sinh sẽ được học về thực vật và động vật: một số cây cối và một số con vật sống trên mặt đất, dưới nước, trên không Về bầu trời ban ngày và ban đêm các em sẽ được học về mặt trời, cách tìm phương hướng bằng mặt trời, mặt trăng và các vì sao, qua 10 bài học cụ thể.”.[1, tr 6]
Ở trường Tiểu học hiện nay, môn Tự nhiên và Xã hội là một trong những môn học chiếm vị trí quan trọng cùng với các môn học khác có vai trò tích cực trong việc phát triển toàn diện cho học sinh.Việc coi trọng thực hành và vận dụng kiến thức, quan tâm đến năng lực tự học, tự khám phá kiến thức của học sinh rất được quan tâm
Việc tự khám phá để hiểu biết và tiếp thu kiến thức mới hay củng cố kiến thức
đã học rất hữu ích so với sự rập khuôn, bắt chước Thế giới tự nhiên xung quanh các
em rất phong phú, đa dạng Trò chơi sẽ minh hoạ một cách sinh động nội dung bài học các bài trong chủ đề Tự nhiên Sau khi chơi, các em biết được rõ hơn về các cách làm thiết thực hay cách nhìn đẹp, hiểu được và nhận xét về thế giới thực động vật, làm không khí giờ học thoải mái, hào hứng dễ chịu hơn, giảm sự căng thẳng, phát triển sự nhanh trí, gây hứng thú học tập cho các em Trò chơi làm cho quá trình học tập trở thành một hình thức vui chơi hấp dẫn, học sinh học mà chơi, chơi mà học nâng cao hiệu quả tiết học
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Giới thiệu khái quát về quá trình điều tra
1.2.1.1 Mục đích và đối tượng điều tra
a Mục đích điều tra
Tìm hiểu nhận thức của giáo viên về vấn đề môi trường và GDMT cho học sinh, đồng thời biết được thực tế của việc tổ chức các TCHT để GDMT trong dạy học môn TN&XH ở Tiểu học
b Đối tượng điều tra
- 15 giáo viên lớp 2 trường Tiểu học Trần Cao Vân
- 42 học sinh lớp 2/4 và 41 học sinh lớp 2/5 trường Tiểu học Trần Cao Vân
1.2.1.2 Phương pháp điều tra
- Phương pháp điều tra bằng Anket
- Phương pháp đàm thoại
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp quan sát
Trang 341.2.1.3 Nội dung điều tra
- Nhận thức của giáo viên về môi trường và GDMT
- Thực trạng hoạt động tổ chức TCHT cho các em qua các bài học trong môn TN&XH lớp 2
- Mức độ GDMT và ý thức thực hiện BVMT của học sinh qua trò chơi đó
1.2.2 Kết quả điều tra
1.2.2.1 Kết quả điều tra ở 15 giáo viên
a Nhận thức của giáo viên về GDMT
Về khái niệm môi trường : 15 giáo viên được điều tra đã trả lời: “ Môi trường là
toàn bộ hệ thống tự nhiên và xã hội do con người tạo ra Trong đó con người sinh sống và lao động”, đạt 100% Điều này chứng tỏ giáo viên đã có nhận thức hết sức đúng đắn về khái niệm môi trường
Về mục tiêu GDMT : Với bốn mục tiêu đưa ra thì kết quả thu được :
+ Hình thành thái độ và hành vi BVMT (15 GV, đạt 100%)
+ Hình thành tình yêu thiên nhiên và môi trường ( 5 GV, chiếm 33,34%)
+Cung cấp tri thức về các vấn đề môi trường và BVMT ( 6 GV, chiếm 44,45%.)
Nhận xét : Điều này chứng tỏ phần lớn giáo viên đã xác định được 3 mục tiêu
chính của việc GDMT trong trường tiểu học và đặc biệt hơn nữa là giáo viên đã nhận thức được tầm quan trọng của từng mục tiêu như cung cấp tri thức, bồi duỡng tình cảm
và hình thành thái độ hành vi BVMT cho các em
b Thực tế vận dụng TCHT để GDMT trong dạy học môn TN&XH lớp 2
Về mức độ và hiệu quả sử dụng các hình thức và biện pháp GDMT
Qua quá trình điều tra , tất cả 15 GV đều đã sử dụng TCHT để GDMT cho học sinh trong môn TN&XH (chiếm 100%)
Mức độ thường xuyên : 9 GV, chiếm 66,6 %
Mức độ thỉnh thoảng hoặc khi có tiết thao giảng, dự giờ ( 6 GV, chiếm 40%) Không có GV nào chưa sử dụng TCHT để GDMT , chiếm 0%
Nhận xét : Điều này cho thấy, giáo viên vẫn chưa chú trọng nhiều và sử dụng
thường xuyên TCHT để GDMT cho học sinh, vẫn còn gặp phải những khó khăn nào đó dẫn đến hiệu quả của việc sử dụng TCHT để GDMT cũng chưa cao Và đây cũng chính
là vấn đề mà chúng ta cần tìm hiểu rõ và giải quyết
Những khó khăn và thuận lợi khi vận dụng TCHT để GDMT trong dạy môn TN
XH lớp 2
Để đi sâu vào tìm hiểu vì sao giáo viên lại ít sử dụng TCHT để GDMT trong dạy học cũng như hiệu quả chưa cao, em tiếp tục điều tra ý kiến và được biết rằng :
Trang 35Về thuận lợi: 15 giáo viên cho là dễ chủ động thực hiện mục tiêu GDMT
(100%)
9 giáo viên (chiếm 66,6 %), cho rằng dễ thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi của học sinh về môi trường, lớp học sinh động, sôi nổi
Còn lại là vì học sinh có hứng thú tích cực tham gia bài ( 6 GV, chiếm 40%)
Về khó khăn: 15 GV ( 100%) cho là không đủ thời gian để tổ chức TCHT cho
Nhận xét : Như vậy với kết quả trên , chúng ta thấy rằng sở dĩ giáo viên sử dụng
TCHT trong GDMT cho học sinh không thường xuyên và hiệu quả không cao là do không có đủ thời gian để tổ chức TCHT, với thời gian là 35-40p/tiết chỉ có thể cung cấp cho học sinh những kiến thức về tự nhiên và xã hội, và việc tổ chức TCHT để GDMT chỉ là để củng cố nhằm thư giãn cho học sinh nếu như có thời gian, còn lại thì đại đa số giáo viên đều lồng ghép GDMT vào trong từng hoạt động hay nội dung bài học cụ thể Trong khi đó hầu hết giáo viên được điều tra đều thấy được ưu điểm nổi trội của TCHT trong việc GDMT cho học sinh là dễ làm thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi của học sinh về MT; dễ chủ dộng thực hiện mục tiêu GDMT; học sinh rất hứng thú, tích cực tham gia…Cho nên có thể nói rằng, với những thế mạnh và những thuận lợi của TCHT trong việc GDMT cho học sinh nếu giáo viên biết đầu tư hơn nữa trong việc nghiên cứu, tìm tòi trò chơi sao cho phù hợp với nội dung, đối tượng học sinh, thời gian hợp lí cũng như hoàn cảnh hiện tại của trường, địa phương cùng với việc kết hợp hình thức tổ chức dạy học trong hay ngoài lớp thì hiệu quả giáo dục phần nào sẽ nâng lên
Các nguồn TCHT của giáo viên
Kết quả cho thấy 15 giáo viên đều sử dụng TCHT đã được thiết kế trong sách giáo viên, sách thiết kế bài giảng kết hợp với sử dụng trò chơi trong các sách hướng dẫn tổ chức trò chơi cho học sinh ( đạt 100%)
Điều này cho thấy giáo viên đã thực sự có sự tìm tòi thiết kế các TCHT để tổ chức cho các em chơi nhưng việc thực hiện lại chưa được thường xuyên vì vấn đề thời gian
Mục đích sử dụng TCHT để GDMT trong tiết học
+ Sử dụng để khởi động ( 15GV, 100%)
+ Sử dụng để cung cấp tri thức mới và rèn kĩ năng ( 7 GV, chiếm 46,6%) + Sử dụng bước củng cố ( 15 GV, đạt 100%)
Trang 36Nhận xét : Qua quá trình điều tra, hầu hết giáo viên sử dụng TCHT để GDMT
nhằm thực hiện bước củng cố hoặc khởi động trước khi vào bài mới chứ chưa có nhiều giáo viên chú trọng sử dụng TCHT để cung cấp tri thức mới và rèn kĩ năng Nội dung bài học, những tri thức mới được giáo viên cung cấp trực tiếp qua từng hoạt động tìm hiểu bài chứ chưa cho các em tham gia chơi để nhận thấy được những kiến thức đó
Trong khi đó thực tế cho thấy rằng, trò chơi là một hình thức học tập hấp dẫn đối với học sinh thế nhưng ở đây giáo viên chỉ xem TCHT như một hình thức bổ trợ
và thường diễn ra ở khởi động, củng cố tri thức Điều này có thể cho chúng ta thấy rằng đại đa số giáo viên chưa nhận thức được ưu điểm cốt lõi của TCHT trong quá trình dạy học nói chung và GDMT nói riêng.Thực ra TCHT không chỉ là hình thức để củng cố tri thức mà còn là phương tiện để cung cấp tri thức và rèn các kĩ năng cho các
em Bởi qua trò chơi, học sinh tiếp thu kiến thức một cách nhẹ nhàng hơn, tự nhiên
hơn và hiệu quả hơn [20]
Những điều kiện cần có đảm bảo cho việc vận dụng TCHT để GDMT có hiệu quả
Dựa trên những số liệu đã thống kê được, nhận thấy đại đa số giáo viên đều cho rằng : điều kiện cần có để đảm bảo cho việc tổ chức TCHT có hiệu quả là bản thân từng giáo viên phải nhận thức được ưu điểm cốt lõi của từng trò chơi, và phụ thuộc vào kĩ năng tổ chức trò chơi của giáo viên sao cho phù hợp với đối tượng học sinh, thời gian hợp lí Ngoài ra một số ít giáo viên cho rằng , sách tài liệu giới thiệu trò chơi là điều kiện không thể thiếu
Như vậy, qua quá trình tìm hiểu và điều tra, thấy rằng việc tổ chức TCHT để GDMT ở trường Tiểu học hiện nay vẫn chưa thường xuyên và chưa mang lại hiệu quả cao, giáo viên vẫn còn gặp phải một số khó khăn trong việc tổ chức cho học sinh tham gia chơi
1.2.2.2 Kết quả điều tra 84 học sinh
Qua quá trình điều tra ở học sinh, thu được kết quả sau :
Câu 1 : Theo em môn Tự nhiên và Xã hội là một môn học :
Trang 37Câu 3 : Em có thích chơi trò chơi trong giờ học Tự nhiên và Xã hội không ?
Nhận xét : Qua kết quả điều tra, nhận thấy rằng :
Khi hỏi về tầm quan trọng của môn TN&XH, có 28 HS cho rằng môn TN&XH rất quan trọng ( chiếm 33,3%); 56 HS cho rằng quan trọng ( 69,6%) và không có HS nào chọn không quan trọng Như vậy, các em đã nhận thức được tầm quan trọng của môn TN&XH trong cuộc sống
Khi tổ chức TCHT để GDMT cho HS, GV còn gặp phải không ít những khó khăn và bất cập nên không thường xuyên tổ chức cho các em tham gia chơi, vì thế các
em ít được tham gia chơi trong giờ học, chỉ có một số ít là thường xuyên được chơi TCHT ( 32HS, chiếm 38,08%), số đông HS chỉ thỉnh thoảng mới được tham gia chơi ( 62HS, chiếm 73,8%) Trong khi đó, kết quả cho thấy, hầu hết các em đều thích tham gia TCHT ( 41HS, chiếm 48,8%), chỉ có số ít HS không thích tham gia TCHT ( 4HS, chiếm 4.76%) Tỉ lệ HS thích tham gia chơi TCHT rất lớn, điều này cho thấy các em rất hào hứng và hứng thú TCHT, sẽ mang lại hiệu quả cao trong giờ học
Các em được GV tổ chức cho tham gia TCHT chủ yếu là vào đầu giờ học ( 26,19%) và cuối giờ học ( 36,9 %); các em chưa được tham gia TCHT để tự tìm hiểu
và khám phá ra những kiến thức mới về môi trường và BVMT, mà chỉ được GV lồng ghép GDMT qua các hoạt động trong tiết dạy Mặc dù, biết rằng, khi được tham gia
Trang 38TCHT thì hầu hết các em đều tự nhận thức được việc BVMT và hình thành ý thức, thái
độ hành vi trong việc BVMT qua bài học đó Khi được hỏi, 100% HS cho rằng qua mỗi TCHT, các em đều biết được phải làm gì để BVMT
Nếu GV có thể nhận thức được việc HS thích tham gia TCHT sẽ hào hứng và hứng thú trong việc học, từ đó GV có thể dễ dàng truyền đạt những kiến thức về MT
và BVMT cho HS, giờ học sẽ mang lại hiệu quả cao
Như vậy, TCHT có vai trò rất quan trọng, phù hợp với lứa tuồi học sinh Tiểu học GV biết tận dụng những ưu điểm đó của TCHT để tổ chức cho học sinh tham gia chơi thì quá trình dạy học sẽ đạt hiệu quả cao
Trang 39Chương 2 : THỰC TRẠNG GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH THÔNG QUA VIỆC TỔ CHỨC TRÒ CHƠI HỌC TẬP TRONG CHỦ ĐỀ TỰ NHIÊN MÔN TỰ NHIÊN
VÀ XÃ HỘI LỚP 2
2.1 NỘI DUNG GDMT CÓ TRONG TRƯỜNG TIỂU HỌC
2.1.1 Nội dung GDMT có trong chương trình môn TN&XH
Phần lớn các nội dung GDMT đều được đưa vào nội dung các môn học để giáo dục cho học sinh [8] Trong môn TN-XH nội dung GDMT được đưa vào với các lĩnh vực sau:
Thứ nhất, những kiến thức về môi trường và các yếu tố của môi trường bao
gồm: các yếu tố của môi trường tự nhiên và các yếu tố của môi trường nhân tạo, các điều kiện sinh thái của môi trường , quan hệ giữa các yếu tố sinh thái của môi trường với đời sống của con người
Thứ hai, những tác động của môi trường đến đời sống sinh vật và con người
bao gồm: tác động đến môi trường , đến sự tồn tại và phát triển của động thực vật và con người; tác động đến các điều kiện lao động sản xuất của con người, tác động đến các điều kiện nghỉ ngơi, giải trí và sức khoẻ của con người
Thứ ba, những tác động của con người và của động thực vật đến môi trường
bao gồm: việc khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, việc bảo vệ và cải tạo môi trường tự nhiên, những nguyên nhân gây biến đổi môi trường
Thứ tư, những kĩ năng học tập và BVMT bao gồm: các kĩ năng học tập như
điều tra quan sát thực tế Các kĩ năng BVMT như: vệ sinh nhà cửa, trường lớp, xử lí chất thải
Những nội dung đó được thể hiện đầy đủ qua các chủ đề sau :
Chủ đề con người và sức khỏe : giúp học sinh hiểu được mối quan hệ giữa môi
trường và sức khỏe, hình thành ý thức và thói quen giữ vệ sinh thân thể, vệ sinh ăn uống, vệ sinh môi trường xung quanh
Chủ đề Xã hôi : gia đình, nhà trường, làng quê và đô thị trang bị cho học sinh
những hiểu biết về quê hương đất nước, tìm hiểu về mối quan hệ giữa con người và môi trường, sự tác động qua lại giữa các yếu tố môi trường gần gũi với cuộc sống của học sinh Trên cơ sở đó bồi dưỡng ình yêu làng bản, phố phường và có ý thức với hành
vi môi trường của mình
Chủ đề tự nhiên : giúp học sinh nhận biết sự phong phú của các loài cây, con
vật và các điều kiện sống của chúng, sự cần thiết phải bảo vệ và cách bảo vệ chúng
Trang 402.1.2 Những nội dung về môi trường và GDMT có trong chương trình môn
TN-XH lớp 2
Để vận dụng TCHT nhằm GDMT trong dạy học môn TN-XH lớp 2, trước hết, người giáo viên cần biết được những nội dung về môi trường và BVMT đã thể hiện trong từng bài học cụ thể của nội dung chương trình sách giáo khoa môn TN-XH lớp
Tự nhiên : Thực vật , động vật và việc bảo vệ chúng
Mặt trời và ảnh hưởng của Mặt trời đối với cuộc sống của con người
Bảng 2.1 Nội dung về môi trường và BVMT trong chủ đề tự nhiên
các bài
Tự
Nhiên
- Sự đa dạng của động vật và thực vật trong thiên nhiên Có ý thức và
thái độ yêu quý, bảo vệ các loài động thực vật đó
- Tác động của thiên nhiên đối với đời sống con người Nét đẹp của
thiên nhiên vào ban ngày và ban đêm Hình thành thái độ yêu mến
thiên nhiên, gần gũi thiên nhiên
24 đến 33
Bảng 2.2 Nội dung chủ đề tự nhiên trong môn TN&XH lớp 2