1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học thông qua trò chơi học tập trong dạy học môn kĩ thuật lớp 4, 5

89 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 2,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm hiểu thực tế giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh thông qua trò chơi học tập trong dạy học môn Kĩ thuật lớp 4, 5 .... Do đó có thể nói vận dụng trò chơi học tập trong dạy h

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GD TIỂU HỌC - MẦM NON

-

Đề tài:

Giáo viên hướng dẫn : ThS Trần Thị Kim Cúc Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Tú Uyên

Đà Nẵng, tháng 05 năm 2013

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 5

2 Mục đích nghiên cứu 6

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 6

3.1 Khách thể nghiên cứu 6

3.2 Đối tượng nghiên cứu 6

4 Giả thuyết khoa học 6

5 Lịch sử vấn đề .3

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Cấu trúc của khóa luận 4

PHẦN NỘI DUNG .6

CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC THÔNG QUA TRÒ CHƠI HỌC TẬP TRONG MÔN KĨ THUẬT LỚP 4, 5 6

1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 6

1.1.1 Tổng quan về giáo dục môi trường 6

1.1.1.1 Các khái niệm cơ bản 6

1.1.1.2 Các cách tiếp cận trong giáo dục môi trường 13

1.1.2 Giáo dục môi trường trong môn Kĩ thuật lớp 4, 5 qua trò chơi học tập 14

1.1.2.1 Những vấn đề về dạy học môn Thủ công – Kĩ thuật ở bậc Tiểu học 14

a.Quan điểm về môn học 14

b Đặc điểm của môn học 14

c Mục tiêu của môn học 15

1.1.2.2 Nội dung chương trình môn Kĩ thuật lớp 4, 5 ở Tiểu học 16

1.1.2.3 Trò chơi học tập 17

a.Trò chơi 17

Trang 3

1.1.2.4 Vai trò của môn Thủ công Kĩ thuật trong việc giáo dục môi trường cho

HSTH 22

1.1.3 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh tiểu học 22

1.1.3.1 Đặc điểm về nhận thức 22

1.1.3.2 Đặc điểm nhân cách của học sinh tiểu học 24

1.1.3.3 Đặc điểm về tình cảm của học sinh tiểu học 24

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 26

1.2.1 Thực tiễn dạy học 26

1.2.2 Tìm hiểu thực tế giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh thông qua trò chơi học tập trong dạy học môn Kĩ thuật lớp 4, 5 26

1.2.2.1 Đối tượng điều tra 26

1.2.2.2 Nội dung điều tra 26

1.2.2.3 Phương pháp điều tra 27

1.2.2.4 Kết quả điều tra 27

Tiểu kết chương 1 34

CHƯƠNG II : GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC THÔNG QUA TRÒ CHƠI HỌC TẬP TRONG MÔN KĨ THUẬT LỚP 4, 5 35

2.1 TỔNG QUAN VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở TIỂU HỌC 35

2.1.1 Phương pháp điều tra 35

2.1.2 Phương pháp thí nghiệm 36

2.1.3 Phương pháp thảo luận, tranh luận 37

2.1.4 Phương pháp đóng vai 38

2.1.5 Phương pháp thực hành 39

2.1.6 Phương pháp trực quan 40

2.1.7 Phương pháp trò chơi 41

2.1 CÁC NGUYÊN TẮC GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH THÔNG QUA TRÒ CHƠI HỌC TẬP TRONG MÔN KĨ THUẬT LỚP 4, 5 Ở TIỂU HỌC 42

2.1.1 Đảm bảo mục tiêu của bài học 42

2.1.2 Đảm bảo tính vừa sức 42

Trang 4

2.1.3 Đảm bảo sự thống nhất vai trò của giáo viên và học sinh trong dạy học

43

2.2 NHỮNG NỘI DUNG GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG TRONG MÔN KĨ THUẬT LỚP 4, 5 CÓ THỂ SỬ DỤNG TRÒ CHƠI HỌC TẬP 47

2.2.1 Lớp 4 47

2.2.2 Lớp 5 45

2.3 THIẾT KẾ TRÒ CHƠI HỌC TẬP NHẰM GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC TRONG MÔN KĨ THUẬT LỚP 4, 5 47

2.3.1 Lớp 4 47

2.3.2 Lớp 5 50

2.5 KẾT HỢP TRÒ CHƠI HỌC TẬP VỚI MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP KHÁC NHẰM GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH TRONG MÔN KĨ THUẬT LỚP 4, 5 58

2.5.1 Sử dụng hình ảnh trực quan 58

2.5.2 Tổ chức hoạt động ngoại khóa 58

Tiểu kết chương 2 60

CHƯƠNG III : THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 62

3.1 MỤC ĐÍCH THỰC NGHIỆM 62

3.2 ĐỐI TƯỢNG THỰC NGHIỆM 62

3.3 NỘI DUNG THỰC NGHIỆM 62

3.4 KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 67

3.4.1 Tiêu chí đánh giá 67

3.4.2 Tiến hành thực nghiệm 67

3.4.2.1 Bài: Lợi ích của việc trồng rau, hoa 67

3.4.2.2 Bài : Vệ sinh phòng bệnh cho gà 68

3.4.3 Kết quả thực nghiệm 76

Tiểu kết chương 3 78

PHẦN KẾT LUẬN 79

1 KẾT LUẬN 79

2 Ý KIẾN ĐỀ XUẤT 80

3 HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP CỦA ĐỀ TÀI 81

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1 Môi trường là không gian sinh sống của con người và sinh vật, không có môi trường thì sẽ không có sự sống trên Trái Đất Tuy nhiên, sự phát triển về kinh tế - xã hội hiện nay đã làm cho môi trường sống của con người trở nên xấu đi và ảnh hưởng không nhỏ đối với cuộc sống hiện tại cũng như trong tương lai Do đó, nhiều quốc gia trên thế giới đã đề ra các biện pháp để giải quyết vấn đề môi trường nhằm cải thiện môi trường như: xây dựng bộ luật bảo vệ môi trường và quản lí theo bộ luật đó; sử dụng các biện pháp xử phạt hành chính; áp dụng chế độ thuế môi trường Thế nhưng sẽ không có một bộ luật hoặc một mức thuế nào có thể bắt buộc mọi người phải tôn trọng môi trường mà vấn đề môi trường còn là vấn đề của lối sống, của cách suy nghĩ của mỗi con người, là những vấn đề có liên quan đến đạo đức của con người Biện pháp giáo dục sẽ có tác dụng lâu dài và triệt để nhất đó

là mọi người hưởng được một nền giáo dục mới về môi trường

2 Nhận thức được tầm quan trọng của môi trường, Bộ Chính trị Ban Chấp hành

Trung ương đã nhấn mạnh: “Cần phải đưa vấn đề bảo vệ môi trường vào trong hệ

thống giáo dục quốc dân” Vì vậy, trong chiến lược giáo dục môi trường ở Việt Nam,

giai đoạn đầu tiên là tập trung vào học sinh ở trường phổ thông, thông qua hệ thống trường học Bởi trường học có khả năng thực hiện chương trình học tập theo khuôn khổ chính qui, có cấu trúc và được hỗ trợ chính thức

Bậc Tiểu học được xem là nền tảng của các bậc học, đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển toàn diện nhân cách trẻ Giáo dục cho học sinh Tiểu học về môi trường chính là trao cho họ viên gạch đầu tiên để góp phần xây dựng môi trường sống

3 Phần lớn học sinh tiểu học bày tỏ thái độ thích học Thủ công - Kỹ thuật vì các

em cho rằng, môn học rất hay, có nhiều kiến thức bổ ích và thú vị Qua môn học này, tự tay em có thể làm ra những sản phẩm các em thích để gửi tặng ông, bà, cha mẹ; đồng thời môn học còn giúp em khéo léo, nhanh nhẹn, rèn luyện tính cẩn thận, kiên trì; giúp em biết nhiều việc để có thể giúp đỡ bố mẹ, tự phục vụ bản thân, tạo

sự vui vẻ thoải mái sau giờ học và giúp em tự tin hơn trong cuộc sống

4 Nhà sư phạm nổi tiếng N.K.Crupxkaia: “Chơi với trẻ vừa là học, vừa là lao

động, vừa là hình thức giáo dục nghiêm túc” Vì thế, tổ chức trò chơi học tập trong

Trang 6

các tiết học trở thành một hình thức dạy học hiệu quả, kích thích sự hứng thú, niềm say mê học tập và tính tích cực sáng tạo của học sinh

Từ Mầm non lên Tiểu học, trẻ bắt đầu thực hiện một bước ngoặc trong đời:

chuyển từ hoạt động chủ đạo là vui chơi sang hoạt động chủ đạo là học tập Tuy vậy, nhu cầu vui chơi của học sinh tiểu học vẫn chiếm ưu thế và là điều tất yếu Bởi học thông qua trò chơi vẫn là phương tiện nhận thức thế giới hết sức nhẹ nhàng, tự nhiên, không gò bó và mang lại hiệu quả cao Do đó có thể nói vận dụng trò chơi học tập trong dạy học các môn học nói chung và môn Thủ công Kĩ thuật ở Tiểu học nói riêng

là phương tiện, là con đường thuận tiện nhất để giáo dục môi trường cho học sinh

Vì vậy, việc giáo dục môi trường thông qua trò chơi học tập trong dạy học các môn học nói chung và môn Thủ công Kĩ thuật nói riêng là rất quan trọng Tuy nhiên, do những nguyên nhân khác nhau mà nhiều GV còn lúng túng khi dạy học lồng ghép nội dung giáo dục môi trường cho học sinh thông qua trò chơi học tập trong môn Thủ công Kĩ thuật ở Tiểu học

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: “ Giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học thông qua trò chơi học tập trong dạy học môn Kĩ thuật lớp 4,

5 ’’

2 Mục đích nghiên cứu

Vận dụng trò chơi học tập nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục môi trường cho học sinh trong dạy học môn Kĩ thuật lớp 4, 5 ở Tiểu học

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Giáo dục môi trường thông qua môn Kĩ thuật lớp 4, 5

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Vận dụng trò chơi học tập để giáo dục môi trường trong dạy học môn Kĩ thuật lớp 4, 5 ở Tiểu học

4 Giả thuyết khoa học

Nếu giáo viên biết vận dụng một cách linh hoạt và hợp lí một số trò chơi học tập nhằm giáo dục môi trường trong dạy học môn Kĩ thuật lớp 4, 5 thì sẽ nâng cao được hiệu quả giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học, nâng cao hiệu quả dạy học môn Thủ công – Kĩ thuật ở Tiểu học

5 Lịch sử vấn đề

Trang 7

Khi chương trình GDMT được đưa vào trường phổ thông năm 1981 thì cũng

là lúc các công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề này được phát triển Qua nghiên cứu, rà soát, chúng tôi nhận thấy các công trình nghiên cứu GDMT trong nhà trường phổ thông thời gian qua tập trung nghiên cứu về các khía cạnh sau:

Về mục tiêu, nội dung và các giải pháp GDMT cho học sinh nói chung có những công trình nghiên cứu khoa học như: “Vị trí và bước đầu định hướng nội dung, biện pháp GDMT ở bậc tiểu học ở Việt Nam” của tác giả Phạm Đình Thái; “ Một số biện pháp nâng cao chất lượng GDMT cho học sinh tiểu học” của tác giả Nguyễn Thị Vân Hương;

“Hai phạm vi của khái niệm GDMT và mục tiêu GDMT ở trường tiểu học”, “ Về phương pháp tiếp cận trong GDMT”, của tác giả Nguyễn Thị Thấn

Về vấn đề GDMT thông qua môn học có những công trình nghiên cứu như:

“Xác định các hình thức tổ chức và phương pháp GDMT qua môn Địa lí ở trường phổ thông cơ sở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng; “GDMT qua môn

Địa lí” của các tác giả Nguyễn Thị Kim Chương và Nguyễn Phi Hạnh; “GDMT qua

dạy học sinh thái líp 11 phổ thông trung học” của tác giả Dương Tiến Sỹ; “Thực hiện GDMT cho học sinh tiểu học thông qua môn tìm hiểu Tự nhiên và Xã hội” của

Nguyễn Hồng Ngọc; “ Giáo dục môi trường qua hình thức dạy học ngoài líp môn

Tự nhiên và Xã hội” của Võ Trung Minh

Về vấn đề tích hợp GDMT địa phương thông qua môn học có “GDMT địa

phương qua môn Địa lí líp 8 cho học sinh Quảng Nam - Đà Nẵng” của tác giả Đậu

Thị Hoà; “Tích hợp GDMT địa phương trong dạy học các môn về Tự nhiên và Xã

hội cho học sinh tiểu học ở Daklak” của tác giả Lê Thị Ngọc Thơm

Qua đó, ta có thể thấy rằng việc nghiên cứu GDMT ở tiểu học hiện nay chưa được nhiều nhà khoa học quan tâm Các công trình đã nghiên cứu tập trung vào nhiều lĩnh vực khác nhau Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề vận dụng trò chơi học tập để GDMT chưa nhiều và đặc biệt là chưa có công trình nào nghiên cứu vận dụng trò chơi học tập để GDMT trong dạy học Tự nhiên và Xã hội líp 2

Tóm lại, qua việc nghiên cứu trên chúng tôi nhận thấy rằng:

Vấn đề GDMT là một trong những nhiệm vụ được đặt ra cho nhà trường phổ thông hiện nay

Các công trình nghiên cứu về GDMT trong nhà trường phổ thông chủ yếu tập trung nghiên cứu về nội dung và các giải pháp chung Một số đề cập đến vấn đề

Trang 8

GDMT qua các môn học và vấn đề tích hợp GDMT địa phương qua các môn học Vấn

đề vận dụng trò chơi để GDMT trong dạy học các môn học còn chưa nhiều

Do vậy, hiện nay, việc nghiên cứu vận dụng trò chơi học tập để GDMT trong dạy học các môn học ở trường phổ thông và ở tiểu học là điều hết sức cần thiết và rất cần được quan tâm nghiên cứu

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề giáo dục môi trường trong

dạy học môn Kĩ thuật lớp 4, 5 nói chung và bằng trò chơi học tập nói riêng

- Xây dựng một số trò chơi học tập để giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học qua môn Kĩ thuật lớp 4, 5 ở Tiểu học

- Thực nghiệm sư phạm

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp lí thuyết

Đọc và phân tích các tài liệu có liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu để thu thập thông tin, cơ sở lí luận cho đề tài

7.2 Phương pháp quan sát

Quan sát các giờ dạy Kĩ thuật lớp 4, 5 ở trường Tiểu học

7.3 Phương pháp điều tra bằng anket

Dùng hệ thống câu hỏi để thu thập ý kiến của giáo viên và học sinh về vấn đề nghiên cứu

7.4 Phương pháp phỏng vấn

Phỏng vấn giáo viên và học sinh về việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường khi dạy học môn Kĩ thuật lớp 4, 5

7.5 Phương pháp thống kê

Để phân tích kết quả điều tra thực trạng, kết quả thực nghiệm ở lớp thực nghiệm và lớp đối chứng

7.6 Phương pháp thực nghiệm

Đề xuất giáo án dạy các bài trong môn Kĩ thuật lớp 4, 5 Thực nghiệm giảng dạy và phân tích số liệu kết quả của việc thực nghiệm

8 Cấu trúc của khóa luận

- Phần mở đầu

- Phần nội dung của khóa luận gồm 3 chương:

Trang 9

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc giáo dục môi trường cho học sinh Tiểu học thông qua trò chơi học tập trong môn Kĩ thuật lớp 4, 5

Chương 2: Giáo dục môi trường cho học sinh Tiểu học thông qua trò chơi học tập trong môn Kĩ thuật lớp 4, 5

- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

- Phần kết luận

- Tài liệu tham khảo

Trang 10

1.1.1 Tổng quan về giáo dục môi trường

1.1.1.1 Các khái niệm cơ bản

a Môi trường

Môi trường là một khái niệm quen thuộc, xuất hiện từ lâu và tồn tại xung quanh chúng ta trong nhiều lĩnh vực, phạm vi khác nhau Môi trường theo nghĩa rộng là tập hợp các yếu tố tự nhiên, nhân tạo có quan hệ mật thiết, tác động qua lại với nhau và qua đó ảnh hưởng đến cuộc sống, sự tồn tại và phát triển của con người

và giới tự nhiên Như vậy, nói đến môi trường là nói đến môi trường của một vật thể, một đối tượng nhất định Hiện nay, có nhiều định nghĩa về môi trường sống của con người:

Theo Viện sĩ địa lý người Nga S.V.Kalesnik: “Môi trường là một bộ phận của trái đất bao quanh xã hội loài người ở một thời điểm nhất định, bị thay đổi bởi xã hội loài người ở mức độ này hay mức độ khác Còn xã hội loài người ở một thời điểm nhất định có quan hệ trực tiếp với nó trong đời sống và trong hoạt động sản xuất của mình” [1;2]

Theo nhà địa lý người Nga Geraximov: “Môi trường là khung cảnh của cuộc sống, của lao động và sự nghỉ ngơi giải trí của con người.” [1;2]

Theo Allby: “ Môi trường là tập hợp các điều kiện bên ngoài mà sự vật tồn tại trong đó Môi trường của con người bao gồm tất cả các lĩnh vực tự nhiên xã hội, công nghệ, kinh tế, chính trị, đạo đức, văn hóa.”[1;2]

Theo Tăng Văn Đoàn, Trần Đức Hạ: “ Môi trường bao gồm tất cả các thành phần của thế giới vật chất bao quanh có khả năng tác động đến sự tồn tại và phát triển của mỗi sự vật Bất cứ một vật thể, một sự kiện nào cũng tồn tại và diễn biến trong một môi trường.” [1;2]

Hiện nay, khái niệm môi trường được sử dụng rộng rãi nhất đó là khái niệm của UNESSCO năm 1981: “Môi trường bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và

Trang 11

nhân tạo trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác những tài nguyên thiên nhiên, hoặc tài nguyên nhân tạo để thỏa mãn nhu cầu của con người.”[1;2]

Một số nhà Địa lí học khác thì cho rằng: “Môi trường mà cụ thể là môi trường địa lí là một bộ phận tự nhiên của bề mặt trái đất bao quanh xã hội loài người, bị thay đổi bởi xã hội loài người ở mức độ này hay mức độ khác, ở những thời điểm nhất định

có quan hệ trực tiếp với bộ phận đó trong thời gian sinh sống và hoạt động sản xuất của mình” [3;13]

Ở Việt Nam, trong cuốn luật Môi trường ban hành tháng 12 năm 1993, điều

I, có đưa ra khái niệm về môi trường: “ Môi trường bao gồm toàn bộ các yếu tố tự nhiên và các yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người

- Con người sống, sinh trưởng và phát triển trong môi trường, tất cả các yếu

tố trong môi trường đều ảnh hưởng tới con người và mọi hoạt động của con người cũng đều ảnh hưởng tới môi trường

Như vậy, môi trường sống của con người bao hàm: Môi trường tự nhiên, môi trường nhân tạo, môi trường kinh tế xã hội

• Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học,

sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động, thực vật, đất, nước Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú

• Môi trường nhân tạo là tất cả những nhân tố vật lí, sinh học, xã hội do con

người tạo ra và chịu sự chi phối của con người như thành phố, làng mạc, nhà máy,

Trang 12

bệnh viện, công viên Trình độ khoa học-kĩ thuật ngày càng phát triển, xã hội ngày càng phát triển thì môi trường nhân tạo ngày càng thay đổi nhanh chóng để thỏa mãn nhu cầu của con người

• Môi trường kinh tế - xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người,

là các hệ thống tổ chức xã hội cùng các mối quan hệ của chúng Đó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định, các hoạt động kinh tế, hoạt động chính trị, văn hóa giáo dục Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác

b Bảo vệ môi trường

Con người sống trong môi trường, giữa con người và môi trường có mối quan

hệ qua lại mật thiết với nhau, mối quan hệ này vừa mâu thuẫn lại vừa thống nhất trong một tổng thể hoàn chỉnh Đó là tổng thể “Môi trường và con người” Trong tổng thể đó, để tồn tại và phát triển đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của cuộc sống thì con người phải tác động vào môi trường để khai thác tài nguyên thiên nhiên có sẵn trong môi trường Hết thế hệ này qua thế hệ khác, con người cứ tác động và đã làm cho môi trường đã bị biến đổi mạnh mẽ so với môi trường nguyên sinh Thời đại ngày nay, với sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kĩ thuật và công nghệ mới, con người đã khai thác môi trường một cách sâu, rộng và triệt để hơn Xauutski đã nói:

“ Ngày nay không còn bộ phận nào của bề mặt Trái Đất, một diện tích nào của đại dương thế giới, một tầng lớp nào của khí quyển mà lại không chịu tác động này hay tác động khác của con người ” Nước ta trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, đặc biệt trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày nay chúng ta cũng tác động mạnh mẽ hơn bao giờ hết đến tự nhiên và môi trường làm cho môi trường

bị biến đổi sâu sắc và gây suy thoái nhiều yếu tố tự nhiên

Vấn đề môi trường sống hiện nay đã vượt ra ngoài phạm vi sinh thái học thông thường mà nó đã trở thành một vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội của toàn cầu, bảo vệ môi trường trở thành nhiệm vụ cấp bách đối với mọi người, mọi dân tộc, mọi quốc gia trên hành tinh

Khái niệm bảo vệ môi trường xuất hiện từ cuối thế kỉ XVIII, khi mà chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh mẽ, nhiều nguồn tài nguyên được phát hiện và được

Trang 13

khai thác ngày càng tăng lên gấp bội, các nguồn tài nguyên bị tàn phá và nhanh chóng cạn kiệt, vì vậy ý niệm phải bảo vệ môi trường nảy sinh

Lúc đầu bảo vệ môi trường chỉ nhằm bảo vệ những tài nguyên thiên nhiên bị tàn phá như những khu rừng, những phong cảnh tự nhiên Hiện nay bảo vệ môi trường không chỉ mang ý nghĩa “giữ gìn” mà nó mang ý nghĩa tổng hợp, bao quát nhiều khía cạnh để không làm ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội,đồng thời cũng không tàn phá môi trường, đó là:

- Sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên và bảo vệ sự cân bằng sinh thái Sử dụng hợp lí có nghĩa là sử dụng nguồn tài nguyên một cách tiết kiệm, không lãng phí

và có hiệu quả Sử dụng hợp lí còn là việc sử dụng theo một phương án tối ưu, dựa trên cơ sở các quy luật phát triển của môi trường để có thể khai thác sử dụng các tài nguyên có lợi nhất và làm môi trường cũng tốt lên hơn

- Cải tạo phục hồi các nguồn tài nguyên đã bị cạn kiệt Mục đích của cải tạo

là để phục hồi và nâng cao chất lượng của môi trường Ngày nay, nhiệm vụ cải tạo phục hồi các cảnh quan trở thành các nhiệm vụ rất quan trọng, bởi vì các cảnh quan

tự nhiên đã bị con người khai thác từ lâu

- Chống ô nhiễm và suy thoái môi trường Bởi môi trường ô nhiễm do các chất thải công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải và sinh hoạt gây ra đang ngày càng trầm trọng Sự ô nhiễm nặng đang làm cho môi trường bị suy thoái, bị phá huỷ đồng thời gây tác hại nghiêm trọng cho sức khoẻ và sự phát triển của con người và mọi sinh vật

- Bảo vệ tính đa dạng sinh học và vốn gen di truyền quý hiếm Sinh vật hay những thành viên quan trọng của môi trường mà sự tồn tại của chúng còn đảm bảo giữ cho hệ sinh thái được cân bằng ổn định

- Nghiên cứu cách phòng chống và dự báo các sự cố môi trường Bởi xét cho cùng, hoạt động của con người là nguyên nhân gây ra lũ lụt, hạn hán, động đất, núi lửa, lở núi,…

Nói tóm lại, bảo vệ môi trường như lời kêu gọi sự quan tâm thích đáng và hợp lí tới môi trường Ngay lập tức phải hợp tác với nhau một cách đầy thiện ý trong việc sử dụng, quản lí nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ tính đa dạng sinh

học, sự cân bằng sinh thái, phòng chống sự suy thoái và ô nhiễm môi trường

Trang 15

c Giáo dục môi trường

Một số định nghĩa về Giáo dục môi trường:

• Hội nghị về giáo dục môi trường ở Pari (1970) lần đầu nêu ra định nghĩa hoàn chỉnh: “ Giáo dục môi trường là một quá trình nhận thức ra giá trị và sáng tỏ các quan điểm, phát triển các kĩ năng và thái độ cần thiết để hiểu và đánh giá đúng mối tương quan giữa con người, môi trường văn hóa và môi trường tự nhiên bao quanh Giáo dục môi trường đòi hỏi thực hành trong việc ra quyết định và tự xây dựng quy tắc về hành vi, về các vấn đề có liên quan đến chất lượng môi trường Giáo dục môi trường đòi hỏi thực hành trong việc ra quyết định và tự xây dựng quy tắc về hành vi, về các vấn đề có liên quan đến chất lượng môi trường” [20;2]

• Hội nghị về GDMT ở Jani, Phần Lan(1974), lại nêu ra: “ Giáo dục môi trường là con đường thực hiện các mục tiêu bảo vệ môi trường Giáo dục môi trường không phải là một ngành khoa học hay một môn học tách biệt, nó được tiến hành theo nguyên tắc giáo dục toàn bộ cuộc đời.” [20;2]

• UNESCO lại quan niệm: “ Giáo dục môi trường là tạo ra những mẫu mực mới trong hành vi của các cá nhân, nhóm và xã hội như là một tổng thể hướng về môi trường” [20;2]

• Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá thế giới (UNESCO) (Belgrade, Nam

tư, 1975) lại quan niệm: “Giáo dục môi trường là tạo ra những mẫu mực mới trong

Trang 16

• Còn theo hội bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN; 1971) thì giáo dục môi trường là:“ quá trình nhận thức các giá trị và làm sáng tỏ các khái niệm để phát triển

kỹ năng và thái độ cần thiết, giúp hiểu biết sâu sắc mối liên quan lẫn nhau giữa con người với nền văn hoá nhân loại và môi trường sinh học xung quanh Giáo dục môi trường cũng đòi hỏi thực hành trong việc đưa ra các quyết định và tự tạo lập một chuẩn mực cho hành vi về các vấn đề liên quan đến chất lượng môi trường” [22;12]

Tuy các định nghĩa về giáo dục môi trường có khác nhau nhưng đều nhấn mạnh rằng giáo dục môi trường là môn khoa học, cũng là một môn học quan trọng hướng đến sự phát triển một thế giới mà mọi người đều nhận thức và quan tâm về môi trường cũng như các vấn đề liên quan Nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng, thái

độ, tình cảm và cam kết hành động cá nhân hay tập thể hướng đến các giải pháp cho các vấn đề về môi trường ở hiện tại và ngăn chặn các vấn đề mới phát sinh trong tương lai Thực chất giáo dục môi trường là hình thành văn hóa sinh thái cho con người; là quá trình thông qua các hoạt động giáo dục chính quy và không chính quy nhằm giúp con người có sự hiểu biết, kĩ năng tạo điều kiện cho họ tham gia vào phát triển xã hội bền vững về môi trường, cụ thể :

• Giáo dục môi trường giúp cho con người từng bước nắm được các tri thức

cơ bản về môi trường, thiên nhiên xung quanh, về sinh thái học

• Chỉ ra cho con người thấy những việc làm của con người đang tác động rất lớn đến môi trường và ngày càng làm thay đổi bộ mặt của thiên nhiên; giáo dục con người phải biết bảo vệ môi trường, có nghĩa vụ giữ gìn, cải thiện môi trường bắt đầu

từ những hành động nhỏ, cá nhân sau đó tiến tới những hành động lớn hơn và lan rộng ra cộng đồng

• Rèn luyện cho con người có những năng lực dự đoán hậu quả của những tác động của con người vào thiên nhiên, năng lực lập kế hoạch sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên thiên nhiên, cải tạo và bảo vệ môi trường xung quanh

Giáo dục môi trường nhằm giúp cho mỗi cá nhân, cộng đồng có sự hiểu biết

và nhạy cảm về môi trường cùng các vấn đề của nó; những khái niệm, kiến thức cơ bản về môi trường và bảo vệ môi trường; những tình cảm, mối quan tâm trong việc cải thiện và bảo vệ môi trường; những kĩ năng giải quyết các vấn đề cũng như kĩ năng thuyết phục các thành viên khác cùng tham gia bảo vệ môi trường

Trang 17

1.1.1.2 Các cách tiếp cận trong giáo dục môi trường

a Giáo dục về môi trường

- Trang bị các kiến thức về môi trường, các thành phần môi trường và mối quan hệ giữa chúng với nhau

- Cung cấp những hiểu biết về hệ thống tự nhiên và hoạt động của nó

- Cung cấp những hiểu biết về tác động của con người tới môi trường

b Giáo dục vì môi trường

Xem môi trường thiên nhiên và nhân tạo như một địa bàn, một phương tiện

để giảng dạy, học tập, nghiên cứu Với cách tiếp cận này, môi trường sẽ trở thành phòng thí nghiệm thực tế đa dạng, sinh động cho người dạy và người học, HS hứng thú, hiệu quả học tập cao

c Giáo dục trong môi trường

Trên cơ sở các tri thức được trang bị đi tới xây dựng ý thức quan tâm và trách nhiệm, hình thành các quan niệm giá trị nhân cách, đạo đức đúng đắn, thái độ ứng xử tích cực, xây dựng động cơ và kĩ năng tham gia cải thiện môi trường

Trang 18

1.1.2 Giáo dục môi trường trong môn Kĩ thuật lớp 4, 5 qua trò chơi học tập

1.1.2.1 Những vấn đề về dạy học môn Thủ công – Kĩ thuật ở bậc Tiểu học

a Quan điểm về môn học

Nội dung chương trình Thủ công – Kĩ thuật được xây dựng theo quan điểm sau:

- Nội dung, chương trình được biên soạn nhằm cung cấp cho học sinh một số kiến thức, kĩ năng, kĩ thuật đơn giản về Thủ công – Kĩ thuật để các em có thể vận dụng vào cuộc sống hằng ngày Học sinh bắt đầu làm quen với công việc thực hành

b Đặc điểm của môn học

b.1 Tính cụ thể và tính trừu tượng của môn học

Tính cụ thể của môn học thể hiện ở nội dung đề cập đến những vật phẩm cụ thể như các dụng cụ cầm tay, các đồ chơi, mô hình chi tiết,… Những kiến thức trực quan này học sinh có thể trực tiếp tri giác ngay đối tượng nghiên cứu hoặc qua thao tác mẫu của giáo viên Khi trang bị cho học sinh những hiểu biết này, cần tăng cường quan sát các vật thật, mô hình hoặc các quy trình kĩ thuật

Tính trừu tượng phản ánh trong hệ thống các khái niệm kĩ thuật ( như vật tĩnh, vật động, chuyển động thẳng, chuyển động cong, cân bằng, trọng tâm,…), các nguyên lí kĩ thuật (nguyên lí cấu tạo, nguyên lí chuyển động, nguyên lí cắt gọt,…), các dạng gia công (gia công biến dạng, gia công nối ghép, gia công cắt gọt…), các quá trình sinh học (quy trình sản xuất cây trồng và quy trình sản xuất, nuôi dưỡng, chăm sóc vật nuôi nhỏ) mà học sinh không trực tiếp tri giác được Những nội dung

đó học sinh muốn hiểu biết được phải tư duy trừu tượng (nhận thức lí tính) Song phải có tư liệu cho tư duy phải có nhận thức cảm tính (trực quan) Vì thế trong các tài kiệu kĩ thuật người ta phải trực quan hóa những nội dung trên bằng phương tiện trực quan như hình vẽ, đồ thị, sơ đồ, mô hình…

Trang 19

b.2 Tính tổng hợp của môn học

Thủ công – Kĩ thuật ở bậc Tiểu học là môn học ứng dụng, mà cơ sở của nó là Toán học, Tự nhiên – Xã hội, Khoa học,…

Đặc điểm này đòi hỏi người dạy Thủ công Kĩ thuật phải biết:

+ Kết hợp 2 chiều với các môn học có liên quan đến kiến thức vừa tinh giản lại đỡ trùng lặp

+ Vạch ra ý nghĩa thực tiễn của các môn học, tập áp dụng những kiến thức thu được từ các môn học khác vào thực tiễn

b.3 Tính thực tiễn của môn học

Các đặc điểm này là do đối tượng nghiên cứu và nội dung môn học phản ánh hoạt động thực tiễn của con người: Đó là lao động sản xuất mà trong đó bộ phận kĩ thuật là chủ yếu Chẳng hạn, các phương tiện kĩ thuật (dao, kéo,…) bao giờ cũng gắn với một quy trình sản xuất nhất định và các phương pháp gia công (phương pháp cắt,…) Đặc điểm này làm cho nội dung bài giảng bao giờ cũng gần gũi học sinh nhỏ tuổi mà không làm sai ý nghĩa khoa học của nó

b.4 Ngôn ngữ, thuật ngữ của môn học

Ngoài việc sử dụng ngôn ngữ chung như lời nói, chữ viết, môn Thủ công -

Kĩ thuật còn có ngôn ngữ đặc trưng của nó, đó là quy ước bản vẽ quy trình kĩ thuật Ngôn ngữ đặc trưng này vừa mang tính chất nghề nghiệp riêng song lại mang tính chất quy ước quốc gia (các tiêu chuẩn về kĩ thuật) Những thuật ngữ cũng được sử dụng theo từng chuyên ngành và theo quy ước nhất định

Đặc điểm này đòi hỏi người giáo viên biết:

- Hình thành và cho học sinh sử dụng chính xác khái niệm, tên gọi quy ước

kĩ thuật trong môn học

- Biết sử dụng và hướng dẫn học sinh sử dụng các tài liệu kĩ thuật thông dụng như: bản vẽ kĩ thuật, quy trình mẫu, các mẫu vật,…

c Mục tiêu của môn học

Mục tiêu của môn Thủ công – Kĩ thuật nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức ban đầu, cần thiết như: nắm được một cách cơ bản về tính chất, đặc điểm, công dụng của các vật liệu như giấy, bìa,… các nếp gấp cơ bản, các quy ước chung

về đường nét, các đường cắt cơ bản (đường thẳng, đường cong, đường gấp khúc), các đường khâu cơ bản, các khái niệm về kĩ thuật, chi tiết máy đơn giản, các bộ

Trang 20

phận về vật phẩm, các mối liên kết, quy trình trồng cây chia làm 4 khâu của quá trình sản xuất rau hoa, quy trình nuôi các loài vật nhỏ

Môn Thủ công – Kĩ thuật ở bậc tiểu học có nhiệm vụ hình thành và rèn luyện cho học sinh tiểu học hệ thống các kĩ năng kĩ thuật Những kĩ năng kĩ thuật chung:

Kĩ năng đặt kế hoạch lao động ( yêu cầu, điều kiện, phương tiện, thời gian), kĩ năng

tổ chức lao động, kĩ năng cảm giác ( nghe, nhìn), kĩ năng trí tuệ ( tính toán, đọc bản vẽ), kĩ năng vận động ( thao tác, động tác) Những kĩ năng cụ thể: kĩ năng sử dụng các công cụ lao động đơn giản ( kéo, dao, kim, bình tưới), kĩ năng xé dán, gấp, cắt dán các hình cơ bản, kĩ năng lắp các mô hình cơ khí, mô hình điện

Môn Thủ công – Kĩ thuật còn giáo dục kĩ thuật tổng hợp và hướng nghiệp cho học sinh Giáo dục kĩ thuật tổng hợp tức là làm cho học sinh có kĩ năng, thói quen, lòng ham thích đối với sản phẩm tự làm ra như là sản phẩm lao động Học sinh có khả năng áp dụng vào lao động các tri thức thu lượm từ các môn học khác như Toán, Tự nhiên và Xã hội, Khoa học,… Có kinh nghiệm lựa chọn, chuyển dịch các tri thức, kĩ năng chế tạo ra các sản phẩm từ các vật liệu khác nhau, kĩ năng kĩ xảo sử dụng các dụng cụ đơn giản, có khả năng tổ chức lao động của mình, của tổ

và nhóm Bên cạnh đó, Thủ công – Kĩ thuật còn giáo dục hướng nghiệp cho học sinh Tiểu học Ở bậc tiểu học, vấn đề hướng nghiệp được tích lũy một cách có ý thức vào các nội dung của chương trình, không tách thành một nội dung độc lập nhằm hướng dẫn các em làm quen với một vài nghề đơn giản để các em có khái niệm ban đầu về nghề nghiệp

Môn Thủ công – Kĩ thuật giáo dục các em tác phong công nghiệp và thế giới quan khoa học Tác phong công nghiệp chính là tính kỉ luật lao động, tính tiêu chuẩn kĩ thuật, tính đồng bộ cân đối, tính trật tự vệ sinh, đảm bảo điều kiện lao động tối ưu cho con người và an toàn lao động cho con người và thiết bị

Mặt khác, môn Thủ công – Kĩ thuật còn giáo dục các em biết quý trọng lao động, có quan điểm đúng đắn về lao động Giáo dục các em tình yêu con người, quê hương, đất nước Dạy cho học sinh nắm vững kĩ thuật đồng thời trang bị cho học sinh phương tiện, sức mạnh để thực hiện ước mơ xây dựng cuộc sống hạnh phúc cho bản thân và cho mọi người

1.1.2.2 Nội dung chương trình môn Kĩ thuật lớp 4, 5 ở Tiểu học

* Nội dung chương trình lớp 4:

Trang 21

Chương 1: Kĩ thuật cắt, khâu, thêu

Bài 1: Vật liệu, dụng cụ cắt, khâu, thêu

Bài 2: Cắt vải theo đường vạch dấu

Bài 3: Khâu thường

Bài 4: Khâu ghép hai mép vải bằng mũi khâu thường

Bài 5: Khâu đột thưa

Bài 6: Khâu viền đường gấp mép vải bằng mũi khâu đột thưa Bài 7: Thêu móc xích

Bài 8: Cắt, khâu, thêu sản phẩm tự chọn

Chương 2: Kĩ thuật trồng rau, hoa

Bài 9: Lợi ích của việc trồng rau, hoa

Bài 10: Vật liệu và dụng cụ trồng rau, hoa

Bài 11: Điều kiện ngoại cảnh của cây rau, hoa

Bài 12: Trồng cây rau, hoa

Bài 13: Chăm sóc rau, hoa

Chương 3: Lắp ghép mô hình kĩ thuật

Bài 14: Các chi tiết và dụng cụ của bộ lắp ghép mô hình kĩ thuật Bài 15: Lắp cái đu

Bài 1: Đính khuy hai lỗ

Bài 2: Thêu dấu nhân

Bài 3: Một số dụng cụ nấu ăn và ăn uống trong gia đình

Bài 4: Chuẩn bị nấu ăn

Bài 5: Nấu cơm

Bài 6: Luộc rau

Bài 7: Bày, dọn bữa ăn trong gia đình

Bài 8: Rửa dụng cụ nấu ăn và ăn uống

Bài 9: Cắt, khâu, thêu hoặc nấu ăn tự chọn

Trang 22

Chương 2: Kĩ thuật nuôi gà

Bài 10: Lợi ích của việc nuôi gà

Bài 11: Một số giống gà được nuôi nhiều ở nước ta

Bài 12: Thức ăn nuôi gà

Bài 13: Nuôi dưỡng gà

Bài 14: Chăm sóc gà

Bài 15: Vệ sinh phòng bệnh cho gà

Chương 3: Lắp ghép mô hình kĩ thuật

Con người có nguồn gốc từ động vật bậc cao Ở loài vật, những kinh nghiệm

săn bắt, tự vệ được hình thành theo bản năng hoặc quan sát Những con vật chưa trưởng thành thường tập khả năng đó với nhau hoặc với cha mẹ chúng Đặc biệt là khả năng tự vệ, săn bắt Khi chuyển hoá thành người, những kinh nghiệm ấy vẫn tồn tại, đặc biệt ở thời kì sơ khai Theo bản năng, trong quá trình con người tự vệ, săn bắt, hái lượm… đã truyền thụ kinh nghiệm cho nhau, dần dần phát triển thành trò chơi như ngày nay

* Nguồn gốc xã hội

Con người tồn tại và phát triển như ngày nay là nhờ quá trình lao động, sáng tạo và truyền thụ kinh nghiệm từ đời này sang đời khác Trong đời sống thường nhật của con người thường diễn ra những hoạt động như lao động, học tập, sinh hoạt, hoạt động xã hội và những hoạt động vui chơi giải trí Như vậy vui chơi chiếm một vai trò quan trọng trong đời sống của chúng ta Đến xã hội văn minh như ngày nay, con người phải giao tiếp, phải có hiểu biết rộng rãi và trò chơi đáp ứng được nhu cầu này Cùng với sự tồn tại và phát triển của loài người, trò chơi luôn đáp ứng

Trang 23

được những yêu cầu của con người trong mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, luôn phản ánh xã hội và trình độ phát triển của xã hội Đặc biệt đối với trẻ em, các hoạt động của xã hội cũng được các em phản ánh thông qua các trò chơi khác nhau

Như vậy, bản chất của trò chơi là một hoạt động phản ánh lao động và cuộc sống của con người Nó là sợi dây nối liền các thế hệ với nhau Hoạt động chơi liên quan chặt chẽ với sự phát triển của xã hội và sự thay đổi vị trí của trẻ em trong các mối quan hệ xã hội Do vậy trò chơi được coi là phương tiện giáo dục trẻ một cách nhẹ nhàng và hợp lí

a.2 Đặc điểm trò chơi

P.G.Xamarucova - chuyên gia Xô Viết trong lĩnh vực giáo dục trẻ nhỏ đã đưa ra những đặc trưng của hành động chơi như sau:

Trò chơi trẻ em mang tính tự do Tính tự do được thể hiện ở chỗ tự do chọn

trò chơi và nội dung chơi, tự nguyện kết hợp với các trẻ khác để chơi, tự do tham gia và rút khỏi trò chơi Hoạt động chơi của trẻ hoàn toàn xuất phát từ nhu cầu, hứng thú cá nhân nhằm thoả mãn những nguyện vọng của bản thân trẻ

Trò chơi trẻ em mang lại tính tự lập, tự điều khiển K.D Usinxki viết:

“Trong cuộc sống thực tế, các cháu hoàn toàn là trẻ con, chúng chưa có tính tự lập

nào cả, chúng bị cuốn vào dòng chảy của cuộc sống một cách mù quáng và thờ ơ, nhưng trong trò chơi chúng là những người trưởng thành đang thử sức lực của mình và tự tổ chức sáng tạo của mình ”

Trò chơi có tính biểu trưng độc đáo - sự hiện diện khởi đầu của sáng tạo

Một trò chơi thực sự bao giờ cũng có liên quan tới sáng kiến, sáng tạo Trong trò chơi, tư duy và óc tưởng tượng của trẻ hoạt động rất tích cực

Trò chơi mang màu sắc xúc cảm chân thực, mạnh mẽ và đa dạng Mặc dù

trong trò chơi có thể xuất hiện cả những cảm xúc tiêu cực, nhưng trò chơi bao giờ cũng mang đến cho trẻ niềm sung sướng, thoả mãn, bằng lòng Trò chơi mà không

có niềm vui thì không còn là chơi nữa

Tóm lại, chơi là một hoạt động Ngoài những đặc điểm chung của bất cứ các hoạt động xã hội khác (như có phương hướng, có mục đích, có sự tham gia tích cực của cá nhân …), thì trò chơi trẻ em còn mang những đặc điểm sau:

Trang 24

- Động cơ của trò chơi không nằm ở kết quả mà nằm ở ngay trong bản thân hành động chơi Trong trò chơi, trẻ em không bị phụ thuộc vào nhu cầu thực tiễn, chúng chơi xuất phát từ những nhu cầu và hứng thú trực tiếp của bản thân

- Trò chơi là hoạt động tự lập của trẻ em và mang tính tự do, tự nguyện hay nói cách khác nó thoát khỏi những phương thức hành động bắt buộc Tính tự do và tính tự lập của trẻ trong các loại trò chơi khác nhau được biểu hiện cũng khác nhau

- Trong trò chơi, trẻ em luôn có những sáng kiến và đó là sự hiện diện của mầm móng sáng tạo Những sáng kiến của trẻ trong các trò chơi thuộc nhiều thể loại khác nhau được biểu hiện cũng khác nhau

Trò chơi luôn mang lại sự thoả mãn và niềm vui vô bờ cho người chơi Trong trò chơi đứa trẻ sống hết mình và dấu vết của cuộc sống tuyệt vời đó sẽ lắng đọng sâu sắc trong tâm hồn chúng hơn cả dấu vết của cuộc sống thực

b Trò chơi học tập

b.1 Khái niệm

Trò chơi học tập là trò chơi có luật và những nội dung cho trước, là trò chơi của sự nhận thức, hướng đến sự mở rộng, chính xác hoá, hệ thống hóa các biểu tượng đó nhằm phát triển các năng lực trí tuệ, giáo dục lòng ham hiểu biết của trẻ - trong đó nội dung học tập kết hợp với hình thức chơi

b.2 Thành phần cơ bản của trò chơi học tập

* Nhiệm vụ nhận thức: Là nội dung nhận thức của trẻ do giáo viên xác định

dựa vào mục đích dạy học theo nội dung chương trình giáo dục mẫu giáo, theo đặc điểm nhận thức của trẻ và phản ánh hoạt động dạy học của giáo viên

* Luật chơi:

- Quy định hành động chơi và trình tự các hành động chơi (thường gồm các hành động khác nhau tạo thành một chuỗi, thường đi kèm với lời nói)

- Điều khiển quan hệ giữa các bạn chơi

- Giới hạn hoặc cấm một số biểu hiện hành động hoặc nêu các hình thức phạt khi vi phạm luật chơi

* Hành động chơi: Là hành động trẻ thực hiện trong lúc chơi Chủ yếu là những

hành động nhận thức thông qua luật chơi để giải quyết nhiệm vụ nhận thức

Trang 25

* Kết quả: Trò chơi học tập luôn có một kết quả nhất định Tức là khi kết

thúc trẻ hoàn thành một nhiệm vụ nhận thức nào đó Nhờ đó mà trẻ tích cực tham gia vào những trò chơi tiếp theo

b.3 Phân loại trò chơi học tập

Có nhiều cách phân loại:

- Phân loại theo mục tiêu dạy học thì có: trò chơi hình thành kiến thức, trò chơi hình thành thái độ, trò chơi hình thành hành vi, thói quen…

- Phân loại theo tiến trình bài học thì có: trò chơi khởi động, trò chơi hình thành kiến thức và rèn kĩ năng, trò chơi ôn tập củng cố

- Phân loại theo hình thức tổ chức thì có: trò chơi tập thể, trò chơi cá nhân, trò chơi trong lớp, trò chơi ngoài lớp…

b.4 Vai trò của trò chơi học tập trong giáo dục môi trường cho học sinh Tiểu học

Cùng với học, chơi là nhu cầu không thể thiếu được của học sinh Tiểu học Nếu biết tổ chức cho trẻ vui chơi một cách hợp lí, đúng đắn thì đều mang lại hiệu quả giáo dục Học trong quá trình chơi là quá trình lĩnh hội tri thức, vốn sống, kinh nghiệm xã hội một cách nhẹ nhàng, tự nhiên không gò bó phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí học sinh Tiểu học Học bằng chơi sẽ khơi dậy hứng thú tự nguyện, làm giảm sự căng thẳng thần kinh ở các em, giữ được sự hồn nhiên của trẻ thơ Chính vì vậy, việc vận dụng trò chơi để giáo dục môi trường thì hiệu quả giáo dục sẽ nâng cao Cụ thể là:

- Nội dung trò chơi sẽ minh họa một cách sinh động các mẫu hành vi này Nhờ đó mà các hành vi này sẽ tạo được những biểu tượng rõ rệt ở HS, giúp các em ghi nhớ dễ dàng và lâu bền

- Qua trò chơi rất dễ làm thay đổi thái độ và hành vi về môi trường Cũng như qua trò chơi, học sinh được luyện tập những kĩ năng, thao tác hành vi đúng đắn về vấn đề môi trường, giúp các em thể hiện hành vi một cách đúng đắn và tự nhiên

- Qua trò chơi, học sinh sẽ được rèn luyện khả năng quyết định lựa chọn cho mình một cách ứng xử đúng đắn, phù hợp với môi trường

- Qua trò chơi, học sinh được hình thành năng lực quan sát, được rèn luyện kĩ năng nhận xét, đánh giá hành vi của người khác là phù hợp hay không phù hợp với chuẩn mực hành vi bảo vệ môi trường

Trang 26

1.1.2.4 Vai trò của môn Thủ công Kĩ thuật trong việc giáo dục môi trường cho HSTH

Trong chiến lược giáo dục môi trường ở Việt Nam, giai đoạn đầu tiên là tập trung vào học sinh ở trường phổ thông Giáo dục môi trường cho học sinh không chỉ đạt kết quả trước mắt mà còn đạt kết quả lâu dài vì thế hệ trẻ vẫn ở trong quá trình phát triển nhận thức thái độ và hành vi; họ là thành viên trong nhóm dân cư lớn nhất; sự thành đạt của họ trong tương lai phụ thuộc vào phát triển bền vững hơn bất kì nhóm dân cư nào khác

Đồng thời để giáo dục môi trường cho thế hệ trẻ một cách có hiệu quả nhất là thông qua hệ thống trường học vì trường học có khả năng thực hiện chương trình học tập theo khuôn khổ chính qui, có cấu trúc và được hỗ trợ chính thức

Với đặc điểm đang phát triển và định hình về nhân cách, những phẩm chất như ý thức trách nhiệm với cộng đồng và các hiểu biết cơ bản của các em nếu được bồi dưỡng về giáo dục môi trường sẽ để lại dấu ấn sâu sắc không thể phai mờ trong cuộc đời của các em Bên cạnh đó, bản chất thiếu nhi vốn sẵn dồi dào tình cảm gắn

bó với thiên nhiên bao quanh và ý thức sẵn sàng tham gia vào hoạt động công ích

Đó là những thuận lợi, những lợi thế của học sinh tiểu học, hứa hẹn hiệu quả cao của giáo dục môi trường

Phần lớn nội dung giáo dục môi trường cho học sinh được tích hợp trong tất

cả các môn học Kĩ thuật là một môn học thú vị, luôn thu hút các em học sinh bởi qua môn học này, các em tự tay làm ra các sản phẩm yêu thích Giáo dục môi trường qua môn học này không chỉ khắc sâu kiến thức môi trường lâu hơn mà còn giúp các em biết vận dụng vào thực tế của cuộc sống

1.1.3 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh tiểu học

1.1.3.1 Đặc điểm về nhận thức

a Tri giác

Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không ổn định: ở đầu tuổi tiểu học tri giác thường gắn với hành động trực quan, đến cuối tuổi tiểu học tri giác bắt đầu mang tính cảm xúc, trẻ thích quan sát các sự vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp hẫn, tri giác của trẻ đã mang tính mục đích,

có phương hướng rõ ràng Tri giác có chủ định (trẻ biết lập kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết làm các bài tập từ dễ đến khó, )

Trang 27

Do đó, giáo viên cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tích chất đặc biệt khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác

b Chú ý

Ở đầu tuổi tiểu học chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát,

điều khiển chú ý còn hạn chế Ở giai đoạn này chú ý không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến những môn học, giờ học

có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh, trò chơi Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quá trình học tập

Ở cuối tuổi tiểu học trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của

mình Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập như học thuộc một bài thơ, một công thức toán hay một bài hát dài, Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn của yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian cho phép để làm một việc nào đó và

cố gắng hoàn thành công việc trong khoảng thời gian quy định

Sự chú ý của học sinh Tiểu học đòi hỏi một động cơ thúc đẩy, ở lứa tuổi này chú ý không chủ định được phát triển Những điều mới mẻ, bất ngờ sẽ thu hút sự chú của các em, vì vậy giáo viên cần sử dụng những đồ dùng dạy học mới lạ, đẹp gợi cho các em cảm xúc tích cực

c Trí nhớ

Loại trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - lôgic

Giai đoạn lớp 1,2 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm ưu thế

hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa Nhiều học sinh chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cách khái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu

Giai đoạn lớp 4,5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường

Ghi nhớ có chủ định đã phát triển Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thú của các em

Do đó, điều quan trọng nhất trong các giờ học Thủ công Kĩ thuật là làm sao giúp cho học sinh ghi nhớ một cách tốt nhất các kiến thức Nắm được điều này, giáo

Trang 28

viên phải giúp các em biết cách khái quát hóa và đơn giản mọi vấn đề, giúp các em xác định đâu là nội dung quan trọng cần ghi nhớ, các từ ngữ dùng để diễn đạt nội dung cần ghi nhớ phải đơn giản dễ hiểu, dễ nắm bắt, dễ thuộc và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lý hứng thú và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức

d Tưởng tượng

Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dầy dạn Tuy nhiên, tưởng tượng của các em vẫn mang một số đặc điểm nổi bật sau:

Ở đầu tuổi tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững và

dễ thay đổi

Ở cuối tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những

hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ở giai đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh, Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em

Nhiệm vụ của giáo viên môn Thủ công Kĩ thuật nói riêng và các môn học khác nói chung là phải phát triển tư duy và trí tưởng tượng của các em bằng cách biến các kiến thức "khô khan" thành những hình ảnh có cảm xúc, đặt ra cho các em những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các em vào các hoạt động nhóm, hoạt động tập thể để các em có cơ hội phát triển quá trình nhận thức lý tính của mình một cách toàn diện

e Tư duy

Tư duy của trẻ Tiểu học là tư duy cụ thể, mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát theo từng giai đoạn phát triển của các

em Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi Lớp 4, 5 bắt đầu biết khái quát hóa lý luận Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng ở phần đông học sinh Tiểu học Từ những đặc điểm tư duy của học sinh, trong giờ dạy học Kĩ thuật giáo viên nên sử dụng phối hợp một cách linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học khác nhau nhằm phát huy tính tích cực tư duy

sáng tạo của học sinh

Trang 29

1.1.3.2 Đặc điểm nhân cách của học sinh tiểu học

Nét tính cách của trẻ đang dần được hình thành, đặc biệt trong môi trường nhà trường còn mới lạ, trẻ có thể nhút nhát, rụt rè, cũng có thể sôi nổi, mạnh dạn Sau 5 năm học, "tính cách học đường" mới dần ổn định và bền vững ở trẻ

Nhìn chung việc hình thành nhân cách của học sinh tiểu học mang những đặc điểm cơ bản sau: Nhân cách của các em lúc này mang tính chỉnh thể và hồn nhiên Trong quá trình phát triển, trẻ luôn bộc lộ những nhận thức, tư tưởng, tình cảm, ý nghĩ của mình một cách vô tư, hồn nhiên, thật thà và ngay thẳng Nhân cách của các

em lúc này còn mang tính tiềm ẩn Những năng lực, tố chất của các em còn chưa được bộc lộ rõ rệt, nếu có được tác động thích ứng chúng sẽ bộc lộ và phát triển Đặc biệt nhân cách của các em còn mang tính đang hình thành, việc hình thành nhân cách không thể diễn ra một sớm một chiều, với học sinh tiểu học còn đang trong quá trình phát triển toàn diện về mọi mặt vì thế mà nhân cách của các em sẽ được hoàn thiện dần cùng với tiến trình phát triển của mình

1.1.3.3 Đặc điểm về tình cảm của học sinh tiểu học

Tình cảm của học sinh Tiểu học mang tính cụ thể trực tiếp và luôn gắn liền

với các sự vật hiện tượng sinh động, rực rỡ, Lúc này, khả năng kiềm chế cảm xúc

của trẻ còn non nớt, trẻ dễ xúc động và cũng dễ nổi giận , biểu hiện cụ thể là trẻ dễ

khóc mà cũng nhanh cười, rất hồn nhiên, vô tư

Vì thế có thể nói tình cảm của trẻ chưa bền vững, dễ thay đổi Tuy vậy so với

tuổi mầm non thì tình cảm của trẻ tiểu học đã "người lớn" hơn rất nhiều

Quá trình hình thành và phát triển tình cảm của học sinh Tiểu học luôn luôn kèm theo sự phát triển năng khiếu: Trẻ nhi đồng có thể xuất hiện các năng khiếu như thơ, ca, hội họa, kĩ thuật, khoa học, khi đó cần phát hiện và bồi dưỡng kịp thời cho trẻ sao cho vẫn đảm bảo kết quả học tập mà không làm “thui chột” năng khiếu của trẻ

Chính vì vậy, việc giáo dục tình cảm cho học sinh Tiểu học cần ở nhà giáo dục sự khéo léo, tế nhị khi tác động đến các em; nên dẫn dắt các em đi từ hình ảnh trực quan sinh động, hấp dẫn và đặc biệt phải luôn chú ý củng cố tình cảm cho các

em thông qua các hoạt động cụ thể như trò chơi nhập vai, đóng các tình huống cụ thể, các hoạt động tập thể ở trường lớp…

Trang 30

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.2.1 Thực tiễn dạy học

Trong các trường Tiểu học hiện nay, giáo viên sử dụng phong phú các hình thức và biện pháp để giáo dục môi trường trong dạy học môn Kĩ thuật Tuy nhiên mức độ sử dụng các hình thức và biện pháp khác nhau Đồng thời, phần lớn giáo viên được hỏi đều mới chỉ chú ý đến các hoạt động giáo dục trên lớp như: xây dựng tình huống có vấn đề, khuyến khích HS tham gia vào bài giảng, tổ chức trò chơi, cho thảo luận nhóm, lớp, về các vấn đề nội dung bài học

Việc vận dụng trò chơi học tập trên thực tế để giáo dục môi trường chưa được

sử dụng thường xuyên trong dạy học môn Kĩ thuật lớp 4, 5 Chỉ có số ít giáo viên là chú trọng đến việc sử dụng hình thức này Số còn lại chủ yếu là sử dụng trong những tiết thao giảng, thi giáo viên dạy giỏi Nhiều giáo viên chưa thật sự quan tâm đến vấn

đề giáo dục môi trường, chỉ cho học sinh nắm những kiến thức trong sách giáo khoa

mà không quan tâm xem học sinh có thích thú với nội dung đó hay không, cũng như không quan tâm đến kết quả đó Vì vậy nội dung về môi trường trở nên tẻ nhạt, các

em cảm thấy mệt mỏi, nặng nề và không quan tâm đến chúng nữa

1.2.2 Tìm hiểu thực tế giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh thông qua trò chơi học tập trong dạy học môn Kĩ thuật lớp 4, 5

1.2.2.1 Đối tượng điều tra

Đối tượng điều tra là 20 giáo viên Tiểu học đang công tác tại trường tiểu học Trần Cao Vân – Thành phố Đà Nẵng (trong đó có 10 giáo viên lớp 4 và 10 giáo viên lớp 5) và 135 học sinh Tiểu học đang học tại trường tiểu học Trần Cao Vân (trong đó có 65 học sinh lớp 4 và 70 học sinh lớp 5)

1.2.2.2 Nội dung điều tra

- Mức độ liên hệ thực tiễn của các buổi học có nội dung về môi trường

- Nhà trường đã tổ chức những hoạt động ngoài giờ để giáo dục ý thức bảo

Trang 31

- Cách tổ chức trò chơi học tập để giáo dục môi trường của giáo viên trong dạy học môn Kĩ thuật lớp 4, 5

- Nhận thức của giáo viên về những thuận lợi và khó khăn của việc sử dụng phương pháp trò chơi để giáo dục môi trường trong dạy học môn Kĩ thuật lớp 4, 5

1.2.2.3 Phương pháp điều tra

Nội dung mà tôi đưa ra trên đây được thể hiện dưới dạng câu hỏi trong phiếu điều tra anket gởi đến tận tay giáo viên Những số liệu thu được qua phiếu điều tra được tôi xử lí bằng phương pháp thống kê, trên cơ sở đó mà khái quát được thực trạng

Ngoài ra để kết quả điều tra thực trạng đảm bảo tính khách quan và chính xác, tôi còn sử dụng các phương pháp khác đó là phương pháp quan sát và phương pháp phỏng vấn

1.2.2.4 Kết quả điều tra

a Khảo sát trên đối tượng là giáo viên trường tiểu học Trần Cao Vân

Tổng số phiếu phát ra: 20

Tổng số phiếu thu lại: 20

Câu 1: : Theo thầy (cô) việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh ở

trường tiểu học có ý nghĩa như thế nào?

Về ý nghĩa của việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường trong quá trình dạy học Kĩ thuật lớp 4, 5 được thể hiện trong bảng sau:

em biết cách bảo vệ môi trường xung quanh mình mà còn giúp các em hoàn thiện nhân cách của mình

Trang 32

Câu 2: Trong quá trình dạy học môn Kĩ thuật ở trường Tiểu học, thầy (cô) có tích

hợp việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh không?

Nếu có thì mức độ tích hợp như thế nào?

Về mức độ tích hợp việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh được thể hiện ở bảng sau:

Câu 3: Thầy (cô) thường sử dụng những phương pháp dạy học nào để giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh? ( Đánh dấu × vào một trong các cột phù hợp

với mức độ mà thầy cô đã sử dụng)

Thường xuyên

Thỉnh thoảng

Không bao giờ Phương pháp trực quan

Trang 33

2 Phương pháp vấn đáp

Thỉnh thoảng

Không bao giờ

Nhìn vào bảng thống kê, tôi thấy rằng các giáo viên sử dụng tương đối đa dạng các phương pháp dạy học trong dạy học môn Kĩ thuật lớp 4, 5 Các giáo viên cho rằng trong một tiết học không nên sử dụng duy nhất một phương pháp mà nên phối hợp nhiều phương pháp dạy học nhằm giúp tiết học đạt hiệu quả

Mặt khác, bảng thống kê cho chúng ta thấy các phương pháp dạy học được

sử dụng thường xuyên của môn Kĩ thuật lớp 4, 5: phương pháp quan sát(82,14%), phương pháp trực quan (92,86%) được giáo viên sử dụng nhiều Điều đó cho thấy các giáo viên đều thừa nhận vai trò rất lớn của các phương pháp dạy học trong dạy học môn Kĩ thuật lớp 4, 5 Tuy nhiên phương pháp trò chơi chưa được giáo viên sử dụng nhiều Bởi theo các giáo viên thì phương pháp này phải mất thời gian chuẩn bị

mà một tiết học của học sinh tiểu học chỉ có 35 phút và khi tổ chức chơi, lớp học thường lộn xộn, không ổn định

Câu 4: Thầy (cô) nhận thấy học sinh thích được học môn Kĩ thuật theo cách nào

nhất sau đây:

Nghe giảng

Trang 34

Thảo luận nhóm

Tham gia vào trò chơi

Qua thăm dò ý kiến của giáo viên về việc học sinh thích học môn Kĩ thuật theo cách nào, chúng tôi có kết quả như sau:

- Nghe giảng: 25,83%

- Làm việc với sách giáo khoa: 10,14%

- Thảo luận nhóm: 18,35%

- Tham gia vào trò chơi: 45,68%

Với kết quả thu được ở trên, tôi thấy rằng phương pháp trò chơi được học sinh rất thích Phương pháp này tuy không phải là phương pháp đặc trưng của dạy học môn Kĩ thuật nhưng nó rất cần thiết trong dạy học môn này

Câu 5: Thầy(cô) thường tổ chức trò chơi cho học sinh trong môn Kĩ thuật vào hoạt

động nào của tiết học

Giới thiệu bài

Nội dung bài học

Củng cố nội dung bài học

Qua điều tra ý kiến của giáo viên giảng dạy tại trường tiểu học Trần Cao Vân

về việc tổ chức trò chơi trong hoạt động nào của tiết học, các giáo viên đều cho rằng việc trò chơi được tổ chức ở bất kì hoạt động nào của tiết học Trong đó, chúng tôi nhận thấy rằng trò chơi được các giáo viên tổ chức trong hoạt động củng cố nội dung bài học (65,14%), tiếp theo đó là trong hoạt động nội dung bài học(26,32%) Trò chơi ít được sử dụng trong hoạt động giới thiệu bài (8,54%) Như vậy, trò chơi đều được sử dụng trong tất cả các hoạt động Tuy nhiên, giáo viên cần lựa chọn tổ chức ở hoạt động nào là phù hợp với nội dung bài học

Câu 6: Trong quá trình giáo dục ý thức bảo vệ môi trường thông qua trò chơi học

tập cho học sinh trong môn Kĩ thuật, thầy (cô) thường gặp những thuận lợi gì?

Học sinh đã có những hiểu biết cơ bản về môi trường

Học sinh nhận thức được vai trò của môi trường trong cuộc sống

Học sinh thích tham gia trò chơi học tập nên tiếp thu bài rất n hanh và nhớ lâu

Trường tổ chức các hoạt động để bảo vệ môi trường

Các thuận lợi khác: ………

Trang 35

Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh thông qua trò chơi học tập trong dạy học môn Kĩ thuật lớp 4, 5 có nhiều thuận lợi khác nhau Có 45,68% giáo viên cho rằng học sinh thích tham gia trò chơi nên tiếp thu bài rất nhanh và nhớ lâu Ngoài ra còn có các thuận lợi như: nhà trường thường tổ chức các hoạt động để bảo

vệ môi trường và học sinh đã có những hiểu biết về môi trường

Câu 7: Trong quá trình giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh thông qua

trò chơi học tập, thầy (cô) thường gặp những khó khăn gì?

Không có điều kiện cho học sinh tham quan thực tế

- Giáo viên đã xác định và nắm rõ việc sử dụng phương pháp trò chơi để giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh trong dạy học Kĩ thuật lớp 4, 5 Bên cạnh đó, giáo viên đã nhận thấy được những thuận lợi và khó khăn khi sử dụng phương pháp này Từ đó, giáo viên đã biết cách phát huy những thuận lợi và hạn chế những khó khăn khi giáo dục môi trường cho học sinh thông qua trò chơi học tập

b Khảo sát trên đối tượng là học sinh trường tiểu học Trần Cao Vân

- Tổng số phiếu phát ra: 135

- Tổng số phiếu thu lại: 135

Câu 1: Em có thích học môn Kĩ thuật không?

Trang 36

Câu 2: Em thích trong những tiết học Kĩ thuật, thầy (cô) giáo cho chơi trò chơi

Câu 3: Trong những tiết học Kĩ thuật , thầy (cô) giáo liên hệ đến cách bảo vệ môi

Trang 37

thức này rất gần gũi, các em dễ hiểu, dễ thực hiện trong nhà trường hay ở gia đình, địa phương

Câu 4: Khi tham gia vào các trò chơi trong môn Kĩ thuật, em có tiếp thu được

những kiến thức của bài học không?

Câu 5: Tiết học Kĩ thuật có sử dụng trò chơi, em nhận thấy tiết học đó như thế nào?

Câu 6: Em thích được tham gia trò chơi vào hoạt động nào trong dạy học môn Kĩ thuật?

Trang 38

Nhìn vào bảng kết quả, ta nhận thấy một điều rằng hầu như các em thích chơi trò chơi vào hoạt động củng cố bài học (75,56%) Khi được tham gia trò chơi học tập, các em có điều kiện làm việc tập thể nên tinh thần đoàn kết và cùng nhau hợp tác được nâng cao Điều đó cho chúng ta thấy rằng các em rất thích tham gia trò chơi trong khi học môn Kĩ thuật lớp 4, 5

* Kết luận chung

- Phần lớn học sinh đều thích môn Kĩ thuật

- Các em đều thích tham gia vào trò chơi học tập khi học môn Kĩ thuật Khi được tham gia trò chơi các em đều tiếp thu được kiến thức của môn học

- Thông qua trò chơi học tập các em được giáo viên giáo dục ý thức bảo vệ môi trường nên các em nhớ rất lâu

- Các em đều thấy được trò chơi học tập đem lại nhiều lợi ích và hoạt đ ộng trò chơi là hoạt động các em thích nhất trong một tiết học

Tiểu kết chương 1

Qua nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc giáo dục môi trường nói chung và việc vận dụng trò chơi học tập để giáo dục môi trường trong dạy học môn

Kĩ thuật nói riêng, chúng tôi có một số kết luận sau:

+ Hiện nay, nội dung giáo dục môi trường đã được đưa vào nội dung một số môn học như: TNXH, Đạo đức, Khoa học, Địa lí và Lịch sử, Tiếng Việt, Kĩ thuật…Trong đó, môn Kĩ thuật lớp 4, 5 có nội dung gần gũi với học sinh, đồng thời

là một trong những môn học có nhiều khả năng giáo dục môi trường

+ Có nhiều hình thức và biện pháp giáo dục môi trường, trong đó trò chơi học tập rất phù hợp với tâm lí học sinh tiểu học và phù hợp với nội dung môn Kĩ thuật lớp 4, 5, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để đạt được mục tiêu giáo dục môi trường Cho nên việc vận dụng trò chơi học tập để giáo dục môi trường trong dạy học môn Kĩ thuật lớp 4, 5 là điều cần thiết

+ Về kết quả nghiên cứu thực trạng cho thấy giáo viên tiêu học đã có được những nhận thức nhất định về vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường cũng như nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục môi trường qua dạy học môn Kĩ thuật lớp

4, 5 Tuy nhiên, các hình thức giáo dục môi trường thông qua môn Kĩ thuật lớp 4, 5 chưa tương ứng với đặc trưng môn học cũng như hiệu quả chưa cao, đặc biệt là hình thức dạy học bằng trò chơi học tập Do vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu việc vận

Trang 39

CHƯƠNG II : GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC THÔNG QUA TRÒ CHƠI HỌC TẬP TRONG MÔN KĨ THUẬT LỚP 4, 5

2.1 TỔNG QUAN VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở TIỂU HỌC

Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường được tích hợp trong nội dung các môn học Vì vậy các phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường cũng chính là các phương pháp dạy học bộ môn

2.1.1 Phương pháp điều tra

Phương pháp điều tra là phương pháp, trong đó giáo viên tổ chức và hướng dẫn học sinh tìm hiểu một vấn đề (không chỉ thông qua quan sát mà còn có thể phỏng vấn, thu thập và sưu tầm thêm các tài liệu, sách báo, hiện vật, ) và sau đó dựa trên các thông tin thu thập được tiến hành phân tích, so sánh, khái quát để rút

ra kết luận, nêu ra các giải pháp hoặc kiến nghị

Trong giáo dục bảo vệ môi trường, phương pháp điều tra được sử dụng nhằm giúp học sinh vừa tìm hiểu được thực trạng môi trường địa phương, vừa phát triển

kĩ năng điều tra thực trạng cho các em

Ví dụ khi dạy bài Nuôi dưỡng gà (lớp 5), giáo viên có thể tổ chức cho học sinh tham quan trại gà ở Giáo viên sẽ tổ chức cho học sinh điều tra một số vấn đề

về cách nuôi dưỡng gà theo hệ thống câu hỏi gợi ý như sau:

1 Cách cho gà ăn ở đó như thế nào? Có hợp vệ sinh không?

2 Cách cho gà uống ở đó ra sao? Có hợp vệ sinh không?

3 Nguồn thức ăn của gà chủ yếu là gì?

4 Nguồn nước uống của gà được lấy từ đâu? Có hợp vệ sinh không?

Khi học sinh đến tham quan trại gà, các em sẽ điều tra về vấn đề nuôi dưỡng thông qua trả lời các câu hỏi gợi ý và rút ra được những kiến thức về môi trường cần thiết trong bài học Các em sẽ dễ dàng nhận biết được khi nuôi dưỡng gà hợp

vệ sinh ( thức ăn, nước uống, nơi ở của gà hợp vệ sinh) thì gà sẽ khỏe mạnh, cho năng suất cao Vì vậy các em phải bảo vệ nguồn nước và nguồn thức ăn để góp phần làm môi trường xanh – sạch – đẹp

Trang 40

2.1.2 Phương pháp thí nghiệm

Phương pháp thí nghiệm là phương pháp, trong đó giáo viên hoặc học sinh (khuyến khích học sinh) sử dụng các dụng cụ thí nghiệm để tái tạo lại các hiện tượng đã xảy ra trong thực tế Qua quan sát những hiện tượng, biến đổi xảy ra trong thí nghiệm, học sinh sẽ rút ra kết luận

Trong giáo dục môi trường, các giáo viên hoặc học sinh có thể tiến hành nhiều thí nghiệm Việc tận mắt chứng kiến những thay đổi, diễn biến hay kết quả

về các tính chất được biểu thị qua thí nghiệm là cơ sở vững chắc cho việc hình thành ở học sinh mong muốn tìm cách hạn chế sự ô nhiễm đó

Ví dụ: khi dạy bài Điều kiện ngoại cảnh của cây rau, hoa (lớp 4), giáo viên tổ chức cho học sinh tự làm thí nghiệm để nhận biết sự quan trọng của điều kiện ngoại cảnh đối với sự phát triển của cây rau, hoa Giáo viên cho học sinh làm thí nghiệm như sau: Yêu cầu học sinh trồng 2 cây từ 2 hạt đậu, một cây các em sẽ để ở nơi có ánh sáng và tưới nước cho cây, một cây các em sẽ để trong bóng tối và tưới nước cho cây Sau 1 tuần chăm sóc, các em sẽ mô tả lại tình trạng của 2 cây Các em sẽ rút ra được kiến thức thông qua việc thí nghiệm: cây được để nới ánh sáng, tưới nước sẽ phát triển tốt và cây để nơi bóng tối, tưới nước sẽ phát triển không tốt, không xanh tốt và cằn cỗi hơn so với cây để ở nơi có ánh sáng Từ đây các em nhận thức rõ được việc cần phải bảo vệ nguồn nước cũng như môi trường để cây xanh luôn phát triển tốt bởi cây xanh chính là lá phổi của nhân loại

Ngày đăng: 09/05/2021, 16:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w