1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Địa chủ phong kiến việt nam qua hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân pháp

63 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 788,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

chính sách thâm độc của Pháp đối với nhân dân ta, thấy được tình hình ruộng đất và đời sống nông dân để từ đó dẫn đến việc xuất hiện các giai cấp, tầng lớp mới trong xã hội… Ngoài ra ngh

Trang 1

ỌC N N

ỌC SƯ P M

K OA LỊC SỬ

K ÓA LUẬN TỐT N ỆP ỌC

ịa chủ phong kiến Việt Nam qua hai cuộc khai thác

thuộc địa của thực dân Pháp

Sinh viên thực hiện : Lê Thị Thúy Người hướng dẫn : Nguyễn Hữu Giang

Đà Nẵng, tháng 5/ 2013

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Bước vào thời cận đại, khi sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ngày càng cao

và trở thành một hệ thống ở phương Tây thì đồng thời nó cũng đòi hỏi vốn, nguyên liệu, nhân công và thị trường để phát triển Để đáp ứng nhu cầu này, các nước phương Tây đã hướng sang các nước Phương Đông và bắt đầu chính sách xâm lược của mình trong đó Việt Nam Việt Nam cũng nằm trong sự nhòm ngó của các nước phương Tây như Pháp, Tây Ban Nha, Anh Thực tế lịch sử đã diễn ra vào ngày 1/9/1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam sau một thời gian dài chuẩn

bị Sau gần 30 năm chiến tranh với điều ước Pa-tơ-nốt (1884) thực dân Pháp đã buộc triều đình nhà Nguyễn đầu hàng và thừa nhận nền bảo hộ của chúng ở Việt Nam Nhưng trước sự kháng cự quyết liệt của nhân dân ta, phải đến năm 1897, công cuộc bình định về quân sự của chúng mới kết thúc Như vậy sau hơn 40 năm thực dân Pháp mới hoàn thành việc xâm lược và bình định nước ta Từ đây, thực dân Pháp mới thực sự bắt tay vào tổ chức việc cai trị và khai thác thuộc địa với 2 cuộc khai thác từ 1897 – 1929

Trong quá trình đó đã làm cho nền chính trị - kinh tế - xã hội Việt Nam có những chuyển biến to lớn Bên cạnh các giai cấp cũ trong xã hội bị phân hóa sâu thì các giai cấp mới ra đời Trong đó phải nói đến giai cấp địa chủ phong kiến Việt Nam đây vốn dĩ là một giai cấp ra đời sớm trong lịch sử Việt Nam trãi qua hàng ngàn năm nhưng nay dưới tác động của chính sách khai thác thuộc địa của Pháp mà giai cấp này cũng có những chuyển biến mạnh mẽ theo những hướng khác nhau Giai cấp địa chủ phong kiến Việt Nam dưới chế độ thuộc địa không những không

bị thanh toán mất đi mà ngược lại thế lục của chúng ngày càng được củng cố với số lượng tăng lên, diện tích sở hữu ruộng đất ngày càng mở rộng Tuy nhiên vẫn có một bộ phận nhỏ đứng trước cảnh chèn ép của thực dân Pháp đã tham gia vào phong trào dân tộc chống Pháp đó là điểm mới của giai cấp địa chủ phong kiến Việt Nam giai đoạn này Do vậy khi nghiên cứu địa chủ phong kiến Việt Nam đặc biệt là địa chủ phong kiến Việt Nam qua hai cuộc khai thác thuộc địa giúp chúng ta

đi sâu tìm hiểu lịch sử của cả quá trình từ khi thực dân Pháp xâm lược cho đến khi cuộc khai thác thuộc địa lần thừ hai kết thúc Nó sẽ giúp chúng ta thấy được những

Trang 3

chính sách thâm độc của Pháp đối với nhân dân ta, thấy được tình hình ruộng đất và đời sống nông dân để từ đó dẫn đến việc xuất hiện các giai cấp, tầng lớp mới trong

xã hội…

Ngoài ra nghiên cứu vấn đề địa chủ phong kiến giúp làm sáng tỏ một số vấn

đề trong lịch sử Việt Nam thời cận đại đặc biệt là cuộc xâm lược và thống trị của thực dân Pháp Mặt khác ta cũng thấy được những tác động từ chính sách đó của Pháp đối với xã hội Việt Nam giai đoạn này Trong đó có một vai trò không nhỏ là của giai cấp địa chủ phong kiến đã tác động đến tình hình ruộng đất, đời sống nông dân và phong trào yêu nước chống Pháp lúc bấy giờ Nghiên cứu đề tài này giúp chúng ta có một cái nhìn khách quan về sự phân hóa của bộ phận giai cấp này cũng như vai trò của họ đối toàn bộ cuộc khai thác thuộc địa ở Việt Nam mà Pháp thực hiện Bên cạnh đó nó còn giúp chúng ta có những đánh giá khách quan về những công tội của giai cấp địa chủ phong kiến đối với cuộc kháng chiến chống Pháp cứu nước Với việc nghiên cứu đề tài này còn giúp cho bản thân tôi tìm hiểu sâu hơn về lịch sử lịch sử việt nam thời cận đại, giúp tôi có thể nắm vững kiến thức để giảng dạy và phương pháp nghiên cứu trong những đề tài sau này

Thông qua việc nghiên cứu đề tài này chúng ta có những đánh giá khách quan

về giai cấp địa chủ phong kiến cũng như chế độ sở hữu ruộng đất hiện nay để có những chính sách đúng đắn nhất là tránh hiện tượng quy nạp “địa chủ” vào một số thành phần kinh tế hiện nay.Xuất phát từ những nguyên nhân trên đây nên tôi chọn

đề tài: “Địa chủ phong kiến Việt Nam qua hai cuộc khai thác thuộc địa của thực

dân Pháp” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề ruộng đất và giai cấp là một trong những vấn đề lớn trong lịch sử Việt Nam trung - cận đại Nghiên cứu về địa chủ Việt Nam nói chung và địa chủ phong kiến Việt Nam cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu trong đó một số tác phẩm đã được xuất bản công bố Chúng ta có thể nói đến một số tác phẩm như:

Trong cuốn “Cơ cấu kinh tế xã hội Việt Nam thời thuộc địa 1858 – 1945”, của

Nguyễn Văn Khánh xuất bản năm 2004 của nhà xuất bản sự thật Trong tác phẩm

Trang 4

này tác giả đã có đề cập đến vấn đề cơ cấu kinh tế và xã hội Việt Nam giai đoạn từ

1858 đến 1945 trong đó có trình bày về giai cấp địa chủ phong kiến qua hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp Tuy nhiên, tác giả chỉ mới trình bày về tình hình phân hóa của bộ phận giai cấp này chứ chưa đi sâu nghiên cứu trình bày đặc điểm và vai trò của họ đối với cuộc khai thác thuộc địa của Pháp cũng như tác động đối với xã hội và phong trào yêu nước giai đoạn này

Trong tác phẩm “ Vấn đề ruộng đất ở Việt Nam” cuả tác giả Lâm Quang

Huyên xuất bản năm 2002, nhà xuất bản khoa học xã hội tác gỉa đã trình bày một cách có hệ thống về chế độ sở hữu ruộng đất ở Việt Nam Từ chế độ sở hữu ruộng đất tư nhất là gia đoạn cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX thì tác giả đã trình bày về các phương thức bóc lột của giai cấp địa chủ đối với nông dân qua đó tối cáo tội ác bóc lột của giai cấp địa chủ phong kiến Tuy có trình bày về tình hình giai cấp địa chủ cũng như tối cáo chính sách bóc lột của giai cấp đị chủ mà ở đây là địa chủ phong kiến nhưng tác giả chưa có một cái nhìn đúng đắn, đánh giá khách quan chưa thấy được những đặc điểm cũng như vai trò của giai cấp địa chủ phong kiến

Trong bài nghiên cứu “ Nông thôn Việt Nam thời cận đại” của tác giả Đinh

Xuân Lâm đăng trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 232 – 233, năm 1987 Trong bài nghiên cứu này tác giả đã đi sâu nghiên cứu phân tích làm rõ về chuyển biến của nông thôn Việt Namthời Pháp thuộc Trong đó tác giả có nêu lên tác động của cuộc khai thác thuộc địa đến sự phân hóa giai cấp ở nông thôn mà ở đây là giai cấp nông dân và địa chủ phong kiến Bộ phận giai cấp này đã được Pháp dung dưỡng và trở thành tay sai đắc lực của Pháp ở nông thôn Nhưng tác giả cũng chưa đi sâu đi sâu phân tích về đặc điểm cũng như đánh giá vai trò của giai cấp này

Trong cuốn “Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ” của tác giả Nguyễn Thế Anh đã

dành cả một phần để nói về chế độ thuộc địa của thực dân Pháp ở Việt Nam đó là chính sách đầu tư khai thác thuộc địa và những tác động của nó đến tình hình kinh

tế - xã hội Việt Nam dẫn đến sự phân hóa của các giai cấp trong xã hội Việt Nam trong đó có giai cấp địa chủ phong kiến Tuy nhiên việc đi sâu tìm hiểu về giai cấp này lại chưa được tác giả chú ý đề cập nhiều ngoài những số liệu cho chúng ta biết

về tình hình phân hóa của giai cấp này

Trang 5

Nhìn chung, các tác phẩm của các tác giả đi trước trên chỉ mới đề cập tới một

số khía cạnh về sự phân hóa giai cấp trong đó có giai cấp địa chủ dưới tác động của chính sách khai thác thuộc địa của Pháp tại Việt Nam chứ chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu để thấy được sự chuyển biến của giai cấp địa chủ phong kiến nhất

là về vai trò, tác động của họ Đặc biệt chưa có tác phẩm nào đánh giá đúng , khách quan về vai trò của giai cấp địa chủ phong kiến trong cuộc kháng chiến chống Pháp Tuy nhiên trên đây là những nguồn tài liệu tham khảo quý để chúng tôi có

thể đi sâu nghiên cứu đề tài “Địa chủ phong kiến Việt Nam qua hai cuộc khai thác

thuộc địa của thực dân Pháp” một cách đầy đủ và hệ thống hơn

3 Mục đích, đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Đối với đề tài này mục đích khi nghiên cứu là làm rõ được những chuyển biến cũng như bản chất của giai cấp địa chủ phong kiến Việt Nam nửa sau thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX trước những tác động của bên ngoài cũng như từ 2 cuộc khai thác thuộc địa của Pháp Từ sự phân hóa của giai cấp địa chủ phong kiến theo những hướng khác nhau đó để đánh giá một cách khách quan về vai trò của họ trong 2 cuộc khai thuộc địa của Pháp ở Việt Nam đồng thời thấy được vai trò của giai cấp này trong cuộc kháng chiến chống Pháp

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là: giai cấp địa chủ phong kiến Việt Nam trong 2 cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp trong quá trình phân hóa và vai trò của họ trong 2 cuộc khai thác thuộc địa

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài này là trong 2 cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp giai đoạn từ 1897 - 1929

3.4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Khi nghiên cứu đề tài này nhiệm vụ đặt ra là làm rõ được những tác động của

2 cuộc khai thác thuộc địa đối với sự phân hóa của bộ phận giai cấp địa chủ phong kiến Từ sự phân hóa đó để làm sáng tỏ vai trò của một bộ phận giai cấp địa chủ có tinh thần dân tộc tham gia phong trào chống Pháp Mặt khác thấy được vai trò của

Trang 6

giai cấp này đối với cuộc khai thác thuộc địa của Pháp và tình hình xã hội Việt Nam

4 Nguồn tư liệu

Để nghiên cứu đề tài: “Địa chủ phong kiến Việt Nam qua hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp” tôi đã dự vào các nguồn tài liệu sau đây

- Các sách chuyên khảo về lịch sử Việt Nam trung - cận đại

- Các bài viết trên các tạp chí như: tạp chí lịch sử, tạp chí xưa và nay…

- Các công trình nghiên cứu khoa học, các luận văn, khóa luận tốt nghiệp

- Các website có liên quan đến lịch sử Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Với đề tài này tôi sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu dựa trên quan điểm chủ nghĩa Mac – Lênin và quan điểm đường lối của Đảng

Từ các công trình của các tác giả đi trước đã nghiên cứu từ đó tôi tập hợp, phân tích, so sánh, và đi đến tổng hợp hệ thống hóa các tài liệu theo phương pháp logic lịch sử

Từ thu thập và xử lý các nguồn tài liệu dựa trên các nguồn tài liệu khác nhau như: sách, báo, website….để đi đến những kết luận đánh giá về vấn đề

6 óng góp của khóa luận

Nghiên cứu đề tài: “Địa chủ phong kiến qua hai cuộc khai thác thuộc địa của

thực dân Pháp” tác giả mong muốn có một số đóng góp nhỏ khi nghiên cứu về một

giai cấp trong lịch sử xã hội Việt Nam

Thứ nhất, khóa luận này có thể góp phần khôi phục lại một mảng bức tranh về

xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX và nửa đầu thế kỉ XX từ đó giúp người chúng

ta thấy được sự khác biệt của xã hội Việt Nam dưới chế độ phong kiến và dưới chế

độ thực dân nửa phong kiến

Thứ hai, thông qua việc tìm hiểu, khai thác nguồn tư liệu gốc và tư liệu tham

khảo người viết cố gắng dựng lại một cách cụ thể, đầy đủ và toàn diện tình hình đất nước Việt Nam về chính trị, kinh tế, văn hóa – giáo dục dưới chính sách thống trị

và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, trong đó có giai cấp địa chủ phong kiến

Trang 7

phân hóa ra sao và có vai trò như thế nào trong xã hội cũng như trong phong trào dân tộc

Thứ ba, thông qua việc nghiên cứu đề tài này chúng ta có những đánh giá

khách quan về giai cấp địa chủ phong kiến cũng như chế độ sở hữu ruộng đất hiện nay để có những chính sách đúng đắn nhất là tránh hiện tượng quy nạp “địa chủ” vào một số tầng lớp thành phần kinh tế hiện nay

Ngoài ra, đề tài cũng là nguồn tài liệu bổ ích phục vụ cho quá trình học tập, giảng dạy và nghiên cứu lịch sử Việt Nam trung đại nói chung và về tình hình Việt Nam dưới thời đô hộ của thực dân Pháp

Trang 8

P ẦN NỘ DUN Chương 1: Tổng quan về giai cấp địa chủ phong kiến và hai cuộc khai

thác thuộc địa của thực dân Pháp 1.1 ịa chủ phong kiến - Một số thuật ngữ liên quan

1.1.1 ịa chủ

Theo từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông thì “địa chủ là người chiếm hữu

ruộng đất rất lớn sống bằng phát canh thu tô, bóc lột nông dân dưới chế dộ phong

kiến, thực dân.” [17; tr: 170]

Xét về tên gọi ta thấy “địa chủ” là những người chủ đất họ nắm giữ trong tay mình một số lượng diện tích đất rất lớn và sống nhờ bằng biệc phát canh thu tô Nguồn gốc đất đai của địa chủ thường có hai hướng đó là nhờ đất đai mình tự khai

hoang mà có hoặc là do nhà nước ban cấp Như vậy họ chỉ “ngồi mát ăn bát vàng”

họ hưởng hoa lợi từ ruộng đất của mình và do người nông dân một nông dân một nắng hai sương cày cấy mà có Về hình thức bóc lột thì họ bóc lột nhân dân mà chủ yếu là nông dân lĩnh canh ruộng đất của địa chủ theo hai hình thức là tô và thuế Về

tô thì bao gồm tô tiền, tô hiện vật và tô lao công

Ngoài tô thì địa chủ còn bóc lột về thuế mà cụ thể ở đây là thuế điền (thuế ruộng đất)

Như vậy, chúng ta thấy khi nhắc đến địa chủ thì ta thường hay nói về người sở hữu một diện tích ruộng đất lớn do đó họ bóc lột giai cấp nông dân lĩnh canh trên mãnh đất đó chủ yếu là về kinh tế

1.1.2 Phong kiến

Đây là một chế độ xã hội được “xây dựng trên cơ sở quan hệ sản xuất phong

kiến và thượng tầng kiến trúc Nhà nước phong kiến, trong đó giai cấp địa quý tộc, chủ chiếm hữu đất đai bóc lột nông dân bằng nhiều hình thức phát canh thu tô, chúng nắm toàn bộ chính quyền và thống trị toàn xã hội” [17; tr: 326]

Nếu tính về chế độ phong kiến Việt Nam thì từ thời Ngô Quyền khởi nghĩa đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938 cho đến khi vị vua cuối

Trang 9

cùng của triều Nguyễn là Bảo Đại thoái vị trước cổng Ngọ Môn năm 1945 đã tồn tại trong khoảng 1000 năm Cùng với quá trình phát triển của chế độ phong kiến là quá trình phong kiến hóa về ruộng đất với việc qui định vè ruộng đất trong cả nước cũng như việc ban cấp phân chia ruộng đất Do đó với vai trò của mình giai cấp thống trị chiếm hữu một diện tích đất đai đủ lớn để phát canh thu tô bóc lột nhân dân và tách ra khỏi sản xuất từ đó hình thành nên giai cấp địa chủ phong kiến Hoặc

có khi giai cấp địa chủ hình thành trước khi nhà nước phog kiến ra đời do vậy để đảm bảo lợi ích của giai cấp mình họ đã dựng nên bộ máy nhà nước phong kiến mà đại diện là vua quan, là giai cấp thống trị trong xã hội Từ đó họ nắm quyền cai trị nhân dân trong cả nước Như vậy nhà nước phong kiến về thực chất nó đại diện cho giai cấp địa chủ thống trị nhân dân về mặt chính trị để đảm bảo lợi ích kinh tế của mình cũng như quyền lợi của mình không bị ai xâm phạm

1.1.3 ịa chủ phong kiến

Từ hai khái niệm “địa chủ” và “phong kiến” như đã trình bày ở phần trên thì chúng ta có thể hiểu phần nào về giai cấp địa chủ phong kiến - là giai cấp vừa có thế lực về kinh tế trong xã hội vừa có thế lực và chính trị trong bộ máy nhà nước

Và tất nhiên họ sẽ dùng quyền lực chính trị để bảo vệ quyền lực kinh tế của mình như trong việc bóc lột nông dân hay cai trị nhân dân đàn áp những người có tư tưởng nổi dậy chống lại họ Hoặc để bảo vệ quyền chiếm hữu ruộng đất của mình đồng thời để đảm bảo sự bóc lột nông dân về mặt kinh tế thì giai cấp địa chủ đã đặt

ra bộ máy nhà nước phong kiến chuyên chế với quyền hành tập trung vào trong tay bọn đại diện cho giai cấp địa chủ mà cao nhất là vua, dưới vua là hệ thống quan lại

và dưới cùng là cường hào

Qua đó chúng ta phần nào hiểu về giai cấp địa chủ phong kiến, nói nôm na địa chủ phong kiến là một giai cấp tồn tại cùng với chế độ phong kiến Để giai cấp địa chủ phong kiến khi chiếm hữu ruộng đất của nông dân sẽ biến ruộng đất từ sở hữu của nhà nước sang sở hữu tư nhân và họ sẽ trở thành người chủ trên mãnh đất đó Giai cấp địa chủ phong kiến là địa chủ quan lại làm quan trong triều đình được nhà nước phong cấp ruộng đất và cho chuyển thành ruộng đất thế nghiệp hay còn gọi là

Trang 10

ruộng tư Mặt khác họ cũng có thể bỏ tiền mua thêm ruộng hoặc dùng quyền lực của mình để cướp đoạt chấp chiếm thêm ruộng đất của người khác

Tóm lại, giai cấp địa chủ phong kiến là những người vừa có quyền lực về chính trị nắm quyền cai trị nhân dân trong cả nước nhưng lại vừa sở hữu một lượng ruộng đất lớn trong tay bao gồm cả sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân Qua đó chúng tiến hành cai trị nhân dân bằng chính trị pháp luật đồng thời bóc lột nhân dân bằng nhiều thứ tô thuế khác nhau

1.2 Khái quát về giai cấp địa chủ phong kiến Việt nam qua các thời kỳ đến cuối thế kỷ X X

1.2.1 iai cấp địa chủ phong kiến Việt Nam đến trước khi thực dân Pháp xâm lược

Chế độ phong kiến Việt Nam trước khi thực dân Pháp xâm lược đã tồn tại hơn

1000 năm lịch sử đi liền với chế độ phong kiến là một bộ phận không nhỏ là giai cấp địa chủ Về cơ bản đây là giai cấp thống trị trong xã hội do vậy chúng luôn tìm cách để bóc lột và đàn áp các giai cấp khác mà ở đây cụ thể là giai cấp nông dân

Do vậy trước khi thực dân Pháp xâm lược quan hệ xã hội của Việt Nam bao trùm

và chi phối là quan hệ giữa giai cấp địa chủ phong kiến và nông dân Vậy giai cấp địa chủ hình thành như thế nào? Họ là chủ đất là người chiếm hữu một số lượng ruộng đất trong xã hội nhất định nhưng họ lại không trực tiếp lao động sản xuất mà sống nhờ vào việc phát canh thu tô Và để bảo vệ quyền lợi của mình họ đã dựng lên bộ máy chính quyền chuyên chế mà chúng ta gọi là nhà nước phong kiến Trong hơn 1000 năm tồn tại của mình thì nhà nước phong kiến đã trãi qua nhiều triều đại khác nhau như: Lý, Trần, Hồ, Lê Sơ, Trịnh – Nguyễn, Triều Nguyễn với hơn 10 thế kỉ qua đó thì giai cấp địa chủ phong kiến cũng có những đặc điểm khác

nhau

Thế kỷ X- XV: Chế độ sở hữu lớn về ruộng đất ở nước ta xuất hiện rất sơm ngay từ trước thời Lý – Trần với những danh thừ nhân xưng “hào hữu” để chỉ về những người này Trong thời kì chịu 1000 năm đô hộ của các triều đại phong kiến phương Bắc một số địa chủ giàu có đã bỏ tiền xây dựng chùa chiền, cho con đi học Sau khi đất nước giành được độc lập vào thế kỉ X thì giai cấp địa chủ đã đưa

Trang 11

con em họ vào hàng ngũ quan lại phục vụ cho đất nước Kể từ đây trãi qua các triều đại Ngô - Đinh- Tiền Lê – Lý – Trần – Hồ - Lê Sơ nhà nước phong kiến ngày một hoàn thiện và phát triển Đặc biệt với đặc điểm của một quốc gia được hình thành trên nền văn minh lúa nước – văn minh sông Hồng do đó việc chăm lo cho phát triển nền kinh tế nông nghiệp rất được quan tâm mà cụ thể là qua chính sách của các triều đại như: ngay từ khi mới xác lập thì nhà Lý - Trần đã có những chính sách khuyến khích các thân vương, quý tộc khai hoang và cho biến thành đất tư như thực ấp, thái ấp, thang mộc ấp đã tạo ra một tầng lớp là các điền chủ lớn quý tộc và quan lại Cũng như căn cứ vào các tài liệu ruộng đất đang có chúng ta hoàn toàn có thể khẳng định rằng việc sở hữu ruộng đất tư và biến mình thành tầng lớp nông dân tiểu tư hữu hay là địa chủ bình dân đã xuất hiện từ dưới thời Trần với qui định cho bán ruộng công của nhà nước, của quan lại bị tịch thu cho dân mua làm ruộng với giá rẻ đã tạo điều kiện cho nhiều người mua ruộng và trở thành tầng lớp nông dân tiểu tư hữu Theo cuốn chế độ ruộng đất Việt Nam từ thế kỉ X- XV của

Trương Hữu Quýnh cho biết “Ở thời Lý - Trần chế độ sở hữu lớn về ruộng đất phát

triển lên một bước cao hơn Một số quan lại cao cấp cấp nhà Lý đã trở thành địa

chủ” [30; tr: 144] Cụ thể là việc cúng ruộng cho nhà chùa trong thời kỳ Lý – Trần

rất phát triển như ngự sử Bùi Quốc Khái sau khi đỗ Thái Học sinh dưới thời vua Lý Anh Tông do nhà có nhiều ruộng nên hai người con gái đã đem cúng cho chùa

Thiên Niên 5 mẫu Hoặc “Theo bia Thần Quang tự bi, công chúa tiểu Quân thời

Trần đã cúng cho chùa trên 50 mẫu ruộng ở các huyện Đại An, Mỹ Lộc (Hà Nam Ninh)” [30; tr: 146] Như vậy chúng ta có thể thấy rằng giai cấp địa chủ phong kiến

thời kỳ này đã rất phát triển với việc sở hữu một lượng lớn ruộng đất trong tay Tuy nhiên mâu thuẫn xã hội giữa nông dân với địa chủ phong kiến thời lỳ vẫn chưa gay gắt như ở các thế kỷ sau sở dĩ có được điều đó là do đâu Thứ nhất, để có được như vậy là vì ở giai đoạn này do tiềm năng đất đai chưa được khai phá hết do đó đất thì ruộng nhưng dân số thì ít cho nên vẫn đảm bảo quỹ đất phục vụ cho việc sản xuất nuôi sống bản thân, hay nói cách khác lúc này ruộng công vẫn còn chiếm ưu thế trong cả nước do vậy sự lệ thuộc của người nông dân vào ruộng đất còn khiêm tốn

Do vậy giai cấp địa chủ phong kiến chưa bóc lột và cai trị nông dân một cách tàn

Trang 12

bạo được Mặt khác với quy định đẳng cấp của nhà nước thời Lý – Trần thì những người không phải là con em quan lại được tập ấm thì dù có giàu, tài sản đến bao nhiêu đi nữa cũng chỉ là lính mà thôi Do vậy giữa địa chủ - tá điền vẫn có sự bình đẳng và nương tựa vào nhau để chống lại địa chủ quan lại Thứ 3, lúc này ngoài việc chăm lo xây dựng đất nước thì toàn thể nhân dân ta cùng nhau chống giặc ngoại xâm để bảo vệ Tổ quốc như chống Tống năm 1075 hay 3 lần thắng quân Nguyên – Mông dưới thời Trần Như vậy ở đây chúng ta thấy mâu thuẫn giữa tầng lớp với nông dân vẫn chưa xảy ra gay gắt quyết liệt như ở giai đoạn sau này bởi các

lý do trên Có được kết quả như vừa phân tích trên chúng ta phải ghi nhận những mặt tiến bộ của địa chủ vẫn có những điểm tích cực vì đất nước vì nhân dân mà chống giặc ngoại xâm hay chăm lo phát triển đất nước

Thời nhà Hồ có cuộc cải cách của Hồ quý Ly năm 1396 với chính sách hạn điền nhằm thu hẹp diện tích chiếm giữ đất đai của quý tộc Trần và giải quyết vấn

đề đất đai cho nông dân đồng thời tăng nguồn kinh tế cho nhà nước Với chính sách này đã hạn chế việc chiếm hữu đất đai của các quý tộc Trần thì cũng đồng thời xóa

bỏ ách áp bức nặng nề của tầng lớp này đối với giai cấp nông dân từ đây chế độ nông nô cũng bị xóa bỏ Với chính sách này nó đánh mạnh vào giai cấp địa chủ qúy tộc Trần đang lên do đó nó hạn chế bớt giai cấp địa chủ phong kiến lũng đoạn cuối thời nhà Trần Tuy nhiên hiện nay chúng ta vẫn chưa có số liệu chính xác cho việc

Hồ Qúy Ly đã thu hồi đất của địa chủ, quý tộc Trần là bao nhiêu để sung công và việc làm đó đã đưa lại những tác dụng tích cực gì Nhưng một tác dụng tích cực mà chúng ta có thể nhận thấy với cuộc cải cách này đã hạn chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất khôi phục lại vai trò sở hữu ruộng đất của nhà nước đảm bảo cho nông dân có ruộng đất cày cấy sản xuất để chống lại quân Minh đang nhòm ngó nước ta

Ở triều Lê sơ, điều đầu tiên mà chúng ta có thể ghi nhận tính tích cực của một

bộ phận giai cấp địa chủ thời kỳ này là việc họ đứng ra tập hợp lực lượng lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống quân Minh mà nhân vật tiêu biểu là Lê Lợi do đó sau khi thắng lợi đã tạo ra một lượng lực địa chủ phong kiến đông đảo Ông vốn là một địa chủ binh dân sống trong cảnh mất nước, bị bọn quan lại nhà Minh chèn ép, bóc lột không chịu được đã đứng ra lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa Tuy nhiên bên cạnh

Trang 13

đó vẫn có một bộ phận địa chủ phương, cường hào nhân cơ hội chiến tranh, ly tán

đã tăng cường cướp đoạt xâm chiếm ruộng đất của nhân dân do vậy trong 20 năm chiến tranh đã hình thành nên một tầng lớp địa chủ đông đảo Do đó nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề ruộng đất đối với nông dân nên ngay trong thời kỳ chống ngoại xâm cũng như sau khi giành lại được độc lập triều Lê Sơ đã có nhiều chính sách về vấn đề ruộng đất Mà cụ thể ở đây với hai chính sách lớn là ban cấp ruộng đất cho công thần và lộc điền được ban hành dưới triều vua Lê Thánh Tông Với chính sách lộc điền bên cạnh các tác dụng của nó như góp phần khôi phục sản xuất trên một khoảng đất hoang không có người sản xuất, ổn định đời sống nhân dân thì

nó cũng góp phần tích cực vào việc mở rộng thêm số lượng địa chủ kiêm quan lại

mà trước đây đã bị Hồ Qúy Ly hạn chế Cùng với xu thế phát triển của chế độ tư hữu về đất đai cùng với chính sách lộc điền đã biến một bộ phận quan liêu quý tộc thành địa chủ với số lượng ruộng đất chiếm hữu ngày càng lớn bao gồm hai loại: một loại là sở hữu tư nhân và loại kia là thu tô thuế theo quy định của nhà nước Từ đây quan hệ bóc lột địa chủ -tá điền và chế độ bóc lột địa tô được xác lập và tầng lớp địa chủ này sử dụng hai hình thức bóc lột là vừa bóc lột theo kiểu tá điền – địa chủ vừa bóc lột theo kiểu thu tô thuế theo quy định của nhà nước điều này đã làm cho đời sống người nông dân nhận ruộng ngày một khó khăn còn giai cấp địa chủ ngày một giàu có thêm Do đó hai bộ phận là địa chủ quý tộc và địa chủ quan lại cùng nhau hòa làm một và trở thành giai cấp địa chủ phong kiến đồng thời phương thức sản xuất phong kiến được xác lập Tuy nhiên là triều đại do giai cấp địa chủ phong kiến xây dựng nên cho nên nó không tránh khỏi những hạn chế bởi vì vào lúc này giai cấp địa chủ phong kiến đã bộc lộ những mặt tiêu cực của mình và mâu thuẫn với giai cấp nông dân cũng đã gay gắt hơn Do đó một số chính sách của triều đại không thể đi ngược hay chống lại lợi ích của giai cấp địa chủ điều đó cũng đã góp phần làm cho địa chủ thâu tóm ruộng đất vào trong tay mình ngày càng nhiều

và phong trào đấu tranh của nông dân vào các thế kỉ sau

Thế kỉ XVI – XVIII: Thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh thế kỉ XVII đây là thời kỳ giai cấp địa chủ phong kiến phát triển mạnh mẽ nhất bởi chế độ chiếm hữu

tư nhân về ruộng đất do đó thời kì này giai cấp địa chủ phong kiến phát triển về số

Trang 14

lượng và chất lượng Nhân cơ hội chiến tranh liên tiếp giữa các phe phái đã làm cho chính quyền trung ương suy yếu đến mức không thể kiểm soát được vấn đề ruộng đất giai cấp địa chủ phong kiến đã tăng cường bao chiếm cướp đoạt ruộng đất trong

cả nước từ các nguồn như ruộng bỏ hoang không người cày cấy, ruộng của người tuyệt tự Hay là người nông dân có ruộng sản xuất cũng bị bọn địa chủ cường hào

o ép để phải bán ruộng hay bỏ ruộng mà đi xiêu tán Chính sự quản lý lỏng lẻo của nhà nước đã tạo điều kiện cho giai cấp địa chủ phong kiến ra sức chiếm đoạt ruộng đất của nông dân, chấp chiếm ruộng đất công để làm giàu thêm cho mình với các hình thức như lấn chiếm ruộng đất sông hồ, đường sá của chung, hay ruộng đất công để phụng sự lăng mộ các vị đế vương thời trước Do vậy các điền trang được hình thành dưới thời Trần nay lại có cơ hội tái lập ở các vùng xa xôi hẻo lánh và những khu vực mà Nhà nước không kiểm soát được Với những việc làm đó đã chứng tỏ rằng quyền hành của bọn địa chủ phong kiến ở địa phương trong từng làng là rất lớn và chứng tỏ rằng phương thức sản xuất phong kiến ra đời từ thời Lê

sơ đến nay đã thống trị vững chắc ở nông thôn

Nếu chúng ta cho ruộng đất tư nhân thời kỳ này là 100% thì: “ruộng đất thuộc

cung vua phủ chúa chiếm 42%, quan lại (kể cả hoạn quan) chiếm 42 % còn ruộng đất tư của giai cấp địa chủ chiếm 16%” [31; tr: 67] Như vậy qua số liệu đó chúng

ta thấy giai cấp địa chủ ở Đàng Ngoài thế kỉ XVI – XVIII chiếm một vai trò cực lớn trong xã hội phong kiến Việt Nam họ không chỉ là những người có số lượng ruộng đất lớn mà ở trong các làng xã vốn mang tính tự trị cao thì quyền hành của

họ cũng rất lớn Tuy nhiên bên cạnh việc ra sức chiếm đoạt ruộng đất của giai cấp địa chủ nói chung thì vẫn có một bộ phận nhỏ trong số họ có đem ruộng cúng cho làng và cho chùa nhưng con số thì rất hạn chế

Còn ở Đàng Trong sau năm 1558 Nguyễn Hoàng vào trấn giữ đất Thuận Hóa vào phân chia ranh giới thành Đàng Trong và Đàng Ngoài năm 1672 thì giai cấp địa chủ Đàng Trong cũng bắt đầu hình thành và phát triển Lúc này ở Đàng Trong đất rộng mà cư vẫn còn thưa thớt ngoài ra các chúa Nguyễn cũng đã có những chính sách khuyến khích khai hoang và cho biến đất đó thành đất thuộc sở hữu tư nhân do đó thời kỳ này hình thức sở hữu địa chủ vừa và nhỏ chiếm vai trò thống trị

Trang 15

trong toàn bộ ruộng đất Theo như Lê Qúy Đôn trong phủ biên tạp lục khi miêu tả

về đời sống nhân dân ở Nam Kỳ lúc “Bấy giờ người giàu ở địa phương hoặc 40 -

50 nhà, hoặc 20 – 30 nhà mỗi nhà đều nuôi 50 – 60 điền nô, trâu bò 300 – 400 con,

cày bừa gặt hái rộn ràng không lúc nào rỗi” [7; tr: 345] Vào cuối thế kỷ XVIII,

chính lực lượng địa chủ này đã giúp Nguyễn Ánh đánh bại quân Tây Sơn thành lập nên vương triều Nguyễn năm 1802 và cũng chính bộ máy phận này sau này làm

việc cho triều đình trỏe thành giai cấp địa chủ phong kiến Tuy nhiên do chịu ảnh

hưởng của quan hệ sản xuất phong kiến ở Đàng Ngoài nên giai cấp địa chủ ở Đàng Trong vẫn còn bộc lộ những tính chất bảo thủ, lỗi thời do đó sễ dần đi vào con đường suy vong như ở Đàng Ngoài

Triều Nguyễn cuối thế kỉ XVIII giai cấp địa chủ đã phát triển mạnh và bành trướng thế lực của mình và đã giúp đỡ Nguyễn Ánh xây dựng căn cứ chuẩn bị hậu cần để chống lại nhà Tây Sơn Với sự giúp đỡ của địa chủ miền Nam và cầu cứu các thế lực bên ngoài đã thành lập nên một vương triều Nguyễn vào năm 1802 Tuy nhiên sau khi thành lập nhà Nguyễn thấy được cái hại của địa chủ, cường hào

và việc cấp thiết trong việc giải quyết vấn đề ruộng đất cho giai cấp nông dân do đó triều Nguyễn đã ban hành chính sách nhằm hạn chế thế lực của địa chủ nhưng nhìn chung không có kết quả gì đáng kể Do đó và đầu thế kỉ XIX chế độ sở hữu lớn về ruộng đất của nhà nước không còn là bao nhiêu chỉ chiếm khoảng 17,08% còn lại là

sở hữu tư nhân về ruộng đất Trong khi đó chế độ sở hữu vừa và nhỏ của địa chủ lại tiếp tục được mở rộng Tuy nhiên, việc chiếm hữu tư nhân về ruộng đất giữa các vùng có sự khác nhau trong khi ở miền Bắc và miền Trung diễn ra chậm và muộn hơn so với ở miền Nam Có thể nói rằng giai cấp địa chủ phong kiến nửa đầu thế kỉ XIX đã phát triển rất mạnh về cả thế và lực ở cả trung ương cho đến tận làng xã do vậy nhà Nguyễn không thể có được một hành động can thiệp hiệu quả và đôi khi còn gặp phải sự chống trả quyết liệt từ phía các địa chủ Tóm lại đến nửa đầu thế kỷ XIX triều Nguyễn vẫn không hạn chế hay giải quyết được sự phát triển của địa chủ bởi vì: Thứ nhất họ là những người có công đầu tiên trong việc giúp nhà Nguyễn khôi phục lại vương quyền của mình, thứ hai giai cấp địa chủ thời kỳ này nắm trong tay không chỉ thế lục về kinh tế mà còn chi phối đến cả chính trị từ trung

Trang 16

ương cho đến tận làng xã do vậy buộc nhà Nguyễn phải kiêng nể và có các chính sách nhằm né tránh không đụng chạm đến giai cấp này Từ việc tập trung một khối lượng ruộng đất trong tay một số ít người (địa chủ) như vậy còn lại số đông nông dân không có ruộng để sản xuất, sinh hoạt chính nó là nguyên nhân đưa đến các cuộc nổi dậy của nông dân ngay từ khi triều Nguyễn vừa mới thành lập Điều đó nó làm cho triều đình nhà Nguyễn lung lay đến tận gốc và không còn đủ sức chống lại cuộc xâm lược của Pháp để nước ta rơi vào vòng nô lệ hơn 80 năm

Như vậy, trước khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta thì giai cấp địa chủ phong kiến ra đời và tồn tại cách đây hàng ngàn năm song song với sự hình thành của nhà nước phong kiến gắn liền việc bóc lột giai cấp nông dân một cách nặng nề thông qua hệ thống tô thuế gay gắt chính nó đã làm cho mâu thuẫn giữa địa chủ và nông dân ngày thêm sâu sắc, do đó giai cấp địa chủ phong kiến là giai cấp cần phải đánh đổ Tuy nhiên trong lịch sử dân tộc đôi khi giai cấp này cũng đã có những đóng góp to lớn có những lúc một bộ phận giai cấp địa chủ phong kiến đi theo phong trào đấu tranh của nông dân chống phong kiến nước ngoài xâm lược để giành độc lập dân tộc, bảo vệ Tổ quốc như Trần Hưng Đạo, Lê lợi Việc Lê Lợi lãnh đạo nông dân thực hiện cuộc kháng chiến chống quân Minh thắng lợi xây dựng nên một triều đại mới triều Lê Sơ với những đóng góp to lớn trong lịch sử dân tộc là điều không thể phủ nhận Nhưng đến nửa đầu thế kỷ XIX thì địa chủ phong kiến vẫn là giai cấp trung tâm của trong xã hội Việt Nam nó phát triển mạnh từ thế

kỉ X đến nay và có xu hướng mở rộng tuy nhiên thì nó đang bước vào giai đoạn lũng đoạn cần phải đánh đổ

1.2.2 iai cấp địa chủ phong kiến nửa sau thế kỉ X X

Giai cấp địa chủ giai đoạn này trở thành một lực lượng đông đảo trong xã hội vừa có thế trong quan trường vừa có quyền uy ở làng xã, xu thế phát triển của chế

độ ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân thời kỳ này đã tạo ra một tầng lớp địa chủ đông đảo từ Bắc vào Nam “theo Nguyễn Công Tiệp là 2.861.221 mẫu, chiếm tỉ lệ là

82,92% [27;35] Như vậy, nửa đầu thế kỉ XIX hình thức sở hữu của địa chủ vẫn

phát triển mạnh nhất là ở Nam bộ quá trình tập trung ruộng đất này diễn ra một cách nhanh chóng do đó đã hình thành nên tầng lớp địa chủ có trong tay số lượng

Trang 17

ruộng đất lớn như “chủ ruộng Lê Văn Hiệu (ở thôn Bình Xuân, tổng Hòa Lạc,

huyện Tân Hòa, tỉnh Gia Định) có tới 1.841 mẫu 5 sào 12 thước 1 tấc ruộng tư”

[32; tr: 36] Do đó giai cấp địa chủ vừa là cơ sở xã hội của nhà nước triều Nguyễn

vừa là lực lượng hào lý ở địa phương đã lũng đoạn bộ máy nhà nước họ dựa vừa là trung gian giữa nhà nước và làng xã một mặt họ nhân dân về mặt làng xã để bảo vệ lợi ích của giai cấp mình nhưng mặt khác họ lại nhân danh Nhà nước để tăng cường các thủ đoạn vơ vét, bóc lột nhân dân nghèo Cho đến trước khi thực dân Pháp nổ súng chính thức xâm lược nước ta thì trong xã hội giai cấp địa chủ phong kiến chiếm một vị trí vai trò quan trọng – là người đại diện cho nhà nước phong kiến trong cả đối nội và đối ngoại đó là xây dựng và bảo vệ đất nước Do đó khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược chúng ta vào ngày 1/9/1858 tại Đà Nẵng thì giai cấp địa chủ phong kiến cũng đã thực hiện nhiệm vụ của mình là lãnh đạo nhân dân chống lại ngoại xâm mà minh chứng cụ thể ở đây là quân dân ta đã giam chân địch

ở Đà Nẵng, Gia Định cũng như trong các trận chiến đấu sau này ở cả Bắc và Trung

Kỳ làm chúng thất bại trong kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh và buộc phải chuyển sang kế hoạch đánh từng phần trong cuộc chiến xâm lược Việt Nam Tuy nhiên, dưới chính sách xâm lược của thực dân Pháp nhận thấy được sức mạnh quân

sự của Pháp, cũng như để bảo vệ lợi ích của mình thì giai cấp địa chủ Việt Nam lúc này diễn ra sự phận hóa thành các xu hướng khác nhau

Nếu như trước khi Pháp xâm lược nhắc đến giai cấp địa chủ thì ta biết trằng

đó là giai cấp nắm giữ một số lượng ruộng đất lớn trong tay, là giai cấp nằm trong giai cấp thống trị của xã hội nhưng đến nay thì có sự phân hóa như sau: Một bộ phận giai cấp địa chủ do lo sự trước chính sách thực dân, lo sợ quyền lợi của mình

bị tổn hại đã chấp nhận đầu hàng, đồng ý làm tay sai cho Pháp mà ở đây chúng ta nói đên phe chủ hòa trong nội bộ triều đình Bộ phận này được thực dân Pháp ưu đãi về kinh tế và chính trị do đó đã làm tay sai đàn áp nhân dân trong các cuộc nổi dậy chống Pháp, hoặc là đưa ra các ý kiến điều đình với Pháp, nhượng bộ trước thực dân Pháp trong các hiệp ước đầu hàng Do vậy sau khi chiếm được nước ta thực dân Pháp đã duy trì bộ phận này để làm công cụ tay sai đàn áp nhân dân thông qua bộ phận này Đối lập với bộ phận bán nước làm tay sai này là bộ phận yêu

Trang 18

nước thương dân mà đại diện là phái chủ chiến trong triều đình Bộ phận này đi cùng nhân dân trong cuộc kháng chiến ngay từ khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta và tiếp tục cho đến sang thế kỉ XX với các cuộc duy tân đất nước Nhờ đó

mà cuộc chiến tranh do pháp gây ra những tưởng sẽ đánh nhanh thắng nhanh ấy đã phải mất hơn 40 năm mới hoàn thành đó là do gặp phải sự chống cự quyết liệt của nhân dân ta trong đó có một bộ phận không nhỏ là giai cấp địa chủ phong kiến mà

cụ thể ở đây là phái chủ chiến trong triều đình Ngoài ra còn có một bộ phận địa chủ thức thời nhạy bén chuyển hướng đầu tư do đó trở nên giàu có và được gọi là tầng lớp sĩ phu tư sản hóa

Tóm lại, vào cuối thế kỉ XIX do chưa bình định xong nước ta do đó Pháp vẫn chưa có những đầu tư trên qui mô lớn do vậy chưa đưa đến thay đổi lớn gì trong xã

hội mà có thể đoán định rằng “dân số của Việt Nam lúc khoảng 10.500.000 triệu

người” [11; tr: 34] nhưng lúc này xã hội Việt Nam vẫn chưa có những chuyển biến

gì sâu sắc mà vẫn là một xã hội thuần phong kiến giai cấp nông dân vẫn là giai cấp chiếm vai trò chủ đạo trong xã hội còn các giai cấp tầng lớp khác vẫn chưa có điều kiện ra đời Ở đây chỉ mới diễn ra sự phân hóa trong giai cấp địa chủ theo những chiều hướng khác nhau Do đó lúc này chúng ta có thể đoán định được thế lực của

giai cấp địa chủ là “khoảng 3% dân số nhưng lại năm trong tay khoảng 40% ruộng

đất canh tác.” [11; tr: 35] Như vậy, là giai cấp địa chủ lúc này chúng ta có thể ước

tính là khoảng 315.000 địa chủ trong toàn bộ cơ cấu dân số của Việt Nam Với một một con số chỉ có 3% nhưng lại chiếm gần một diện tích đất canh tác trong cả nước

nó đối lập với giai cấp nông dân chiếm 90% dân số nhưng chỉ có chưa đến 20% ruộng đất Điều đó để sau này chúng ta có thể nhận thấy được bước phát triển nhanh chóng của giai cấp địa chủ dưới chính sách khai thác thuộc địa của thực dân

Trang 19

của thực dân Pháp thì giai cấp này phân hóa với cường độ mạnh, tình trạng tập trung ruộng đất diễn ra ngày càng nhiều vào trong tay các đại địa chủ, còn các địa chủ nhỏ dần dần bị thu hẹp lại, có những địa chủ bị phá sản do chính sách cai trị và chèn ép bóc lột của thực dân Pháp

1.3 Xã hội Việt Nam qua hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp 1.3.1 Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp

1.3.1.1 Chính sách khai thác thuộc địa lần thứ nhất

Bước vào thế kỉ XIX việc các nước tư bản phương Tây nói chung trong đó có

cả Pháp đã tìm mọi cách xâm lược và biến các nước phương Đông thành thuộc địa của mình cũng chỉ nằm trong mục đích vơ vét, bóc lột thuộc địa để làm giàu cho chính quốc Do đó việc xâm lược và biến Việt Nam thành thuộc của thực dân Pháp cũng không nhằm ngoài mục đích đó Mặt khác sau hơn 40 năm thực hiện cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam thì Pháp đã phải tiêu tốn một phần rất lớn về kinh

tế do vậy Pháp muốn thực hiện cuộc khai thác thuộc địa để bù lại những phí tổn chiến tranh do đó pháp đã thực hiện cuộc khai thác thứ nhất ngay sau khi dập tắt phong trào Cần Vương vào năm 1897 và kéo dài đến năm 1914

Về chính trị: Trong cuộc khai thác thuộc địa làn thứ nhất, sau khi hoàn thành

việc xâm lược nước ta thực dân Pháp đã nghĩ đến việc xây dựng một hệ thống chính trị thuộc địa để dễ bề cai trị Do đó việc đầu tiên mà thực dân Pháp tiến hành

ở Đông Dương trong đó có Việt Nam là thành lập Liên Bang Đông Dương vào năm

1887 Đứng đầu Liên Bang Đông Dương là một viên chức cao cấp người Pháp mang chức danh toàn quyền mà sau này trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất

là Paul Đume Toàn quyền Đông Dương là người có quyền lực ngày càng lớn “là

người được ủy nhiệm thi hành những quyền lực của nước Cộng hòa Pháp tại Đông Dương” [27] Điều đó có nghĩa là toàn quyền Đông Dương vừa là người đại diện

cho chính phủ Pháp tại Đông Dương thực thi mọi quyền hành lập pháp, hành pháp

và tư pháp đồng thời là người chỉ đạo tối cao, kiểm soát giới tư bản Pháp tại Đông Dương Và mục đích cuối cùng là nhằm ổn định tình hình Đông Dương về chính trị

và thu được những lợi nhuận tối đa về kinh tế Để là được nhiệm vụ của mình thì

Toàn quyền Đông Dương đã thực thi hai chính sách cai trị quan trọng là “ trung

Trang 20

ương tản quyền” và “địa phương phân quyền” Nội dung của hai chính sách đó là

trên địa bàn Đông Dương của mình bị chia làm 5 xứ theo những chế độ chính trị khác nhau Xứ Nam Kỳ do viên Thống đốc đứng đầu; còn ở Bắc Kỳ là do viên Thống sứ đứng đầu; các xứ khác bao gồm Trung Kỳ, Lào và Campuchia tuy là xứ bảo hộ nhưng mỗi xứ đều do một viên Khâm sứ đứng đầu Toàn quyền Đông Dương chỉ cần nắm lấy năm viên quan này Còn ở dưới các viên quan mỗi xứ này

là mạng lưới các quan cai trị thực dân và chính quyền vua quan bù nhìn Do đó thực dân Pháp không tìm cách lật đổ hay tiêu diệt chế độ phong kiến mà chúng từng bước tìm cách khuất phục để sử dụng làm công cụ cho sự thống trị của chúng

ở Việt Nam Đó là chúng tìm cách vô hiệu cũng như tước bỏ mọi quyền lực của vua quan nhà Nguyễn biến nó thành một thứ bù nhìn, còn quan lại địa phương từ cấp tỉnh trở xuống thì được sử dụng làm công cụ tay sai thực hiện dưới sự chỉ đạo của chính quyền thực dân Để thực hiện được mục đích trên thực dân Pháp tìm mọi cách để thay đổi dần dần hệ thống quan lại phong kiến và thay thế bằng hệ thống quan lại gần gũi với chính quyền thực dân hơn với hàng loạt cuộc quy chế cải tạo tầng lớp trí thức cũ thành tầng lớp trí thức tây học hay là để nắm được và can thiệp đến tân làng xã mà toàn quyền Đông Dương đã ban hành nghị định về việc tổ chức lại bộ máy hành chính làng xã thường được gọi là cuộc cải lương hương chính làng

xã Thông qua việc làm này thực dân Pháp muốn từng bước đưa giai cấp địa chủ mới được tiếp thu chế độ giáo dục thực dân lên để thay thế cho tầng lớp địa chủ cũ chịu ảnh hưởng của giáo dục phong kiến Với việc làm này nó cho thấy âm mưu và thủ đoạn của Pháp là nhằm tăng cường và củng cố mối dây liên hệ và hợp tác giữa chính quyền thực dân với tầng lớp tay sai người bản xứ ở nông thôn

Còn đối với các tầng lớp nhân dân lao động thì chúng thi hành chính sách cai trị cực kì dã man với các chính sách cai trị khắt khe, tàn bạo thông qua hệ thống quan lại và mật thám với hàng loạt các chính sách về kinh tế - xã hội riêng Ngoài

ra chúng triệt để thi hành chính sách “chia để trị” chúng gây chia rẽ và thù hận giữa

Bắc, Trung, Nam, giữa các tôn giáo, các dân tộc, các địa phương, thậm chí là giữa các dòng họ; giữa dân tộc Việt Nam với các dân tộc trên bán đảo Đông Dương

Về kinh tế:

Trang 21

Đối với chủ nghĩa thực dân, việc chiếm thuộc địa để khai thác bóc lột về kinh

tế là mục tiêu hàng đầu Tất cả những chính sách trong các lĩnh vực chính trị, văn hoá, xã hội …cũng chỉ nhằm mục đích phục vụ cho mục tiêu bóc lột về kinh tế Do vậy suốt cả thời kì thống trị, mục tiêu căn bản thực dân Pháp là biến Việt Nam thành một xứ thuộc địa phụ thuộc hoàn toàn vào nước Pháp Việt Nam phải là nơi cung cấp nguồn nguyên liệu béo bở, nguồn nhân công ngcông rẻ mạt cho tư bản Pháp, là nơi Pháp độc quyền mua rẻ hàng nông sản, xuất cảng bán lời và bán đắt hàng công nghiệp, là mảnh đất tự do cho những nhà tư bản tài chính tha hồ cho vay

nặng lãi

Ngày 22-3-1897, Toàn quyền Đông Dương Pôn Đume (Paul Doumer) gửi cho

Bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp dự án chương trình hoạt động Chương trình khai thác

do Đume vạch ra để thi hành ở Đông Dương (chủ yếu ở Việt Nam) từ những năm đầu thế kỉ XX có mục đích tối thượng là biến gấp Đông Dương thành một thuộc địa bậc nhất, bảo đảm siêu lợi nhuận cao nhất cho nước Pháp Về đầu tư khai thác thuộc địa lần thứ nhất này số vốn đầu tư còn khiêm tốn với 426 triệu France của nhà nước trong thời gian (1896 – 1914), còn về tư bản tư nhân thì vốn đầu tư của họ có khoảng 500 triệu (1888 – 1920) và nguồn vốn đó được đầu tư theo tỷ lệ như sau: Đầu tư khai mỏ : 249 triệu

Đầu tư vào giao thông : 128 triệu

Đầu tư vào nông nghiệp : 40 triệu

Cùng với việc đầu tư khai thác thì hàng loạt các công ty khai mỏ được thành lập như: Công ty than Hồng Gai (1883) và đến năm 1913 thì đã thu về 2,5 triệu France tiền lãi Rồi Pháp còn chiếm thêm các mỏ khoáng sản như: Đông Triều và Phấn Mễ ở Thái Nguyên, Nông Sơn ở Quảng Nam, mỏ thiếc ở Tĩnh Túc (Cao Bằng) Ngoài ra tư bản Pháp còn chiếm mỏ Đông Triều, Phấn Mễ (Thái Nguyên), Nông Sơn (Quảng Nam) Ngoài than, từ năm 1904, tư bản Pháp cũng đã khai thác các mỏ thiếc ở Tĩnh Túc (Cao Bằng), kẽm ở Bắc Kạn, vàng ở Cao Bằng, Tuyên Quang…

Việc đầu tư vào giao thông và xây dựng đô thị cũng rất lớn Tính đến năm

1919, đường sắt xuyên Đông Dương đã xong một số loại quan trọng, đã hoàn tất 21

Trang 22

tuyến “đường thuộc địa”, trong đó có con đường xuyên Việt và đặc biệt là hệ thống cảng và các cây cầu quan trọng

Việt Nam là một nước nông nghiệp Ngay sau khi thực dân Pháp chiếm được Sài Gòn, một trong những biện pháp đầu tiên chúng ban hành là bỏ lệ cấm xuất cảng gạo ở Nam kì mà trước đây triều đình Huế ban hành, gắn thị trường lúa gạo, mặt hàng quan trọng nhất của Nam Kì với thị trường thế giới Ngoài ra thực dân Pháp còn ban hành nhiều nghị định quy định về việc chiếm đoạt ruộng ruộng đất lập đồn điền như các nghi định : ngày 6/10/1889 và nghị định ngày 15/10/ 1890 Với các nghị định này thì Pháp đã chiếm đoạt một số ruộng đất quy mô lớn của chúng ta Chính nó đã tạo điều kiện để thực dân Pháp yên tâm bỏ vốn đầu tư Ngay sau đó tư bản Pháp và những đại địa chủ Việt Nam đã mở rộng diện tích canh tác ở những vùng đất hoang

Như vậy, với cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất thì phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã từng bước du nhập vào Việt Nam tuy nhiên với đặc điểm là một nước thuần nông nghiệp cùng với việc Pháp vẫn còn duy trì chế độ phong kiến làm tay sai do đó lúc này ở Việt Nam tồn tại hai phương thức sản xuất là tư bản chủ nghĩa và phương thức sản xuất phong kiến Việc pháp duy trì hai phương thức bóc lột này đã đưa lại một lợi nhuận rất lớn là siêu lợi nhuận Đồng thời nó còn kìm hãm

sự phát triển của nước ta

Về văn hóa - giáo dục: Để đánh lừa dư luận Pháp và thế giới và có thể cai trị

thuộc địa một cách êm thấm các nhà cầm quyền Pháp đã đưa ra hàng loạt các chính sách “văn minh” để khai hóa cho nhân dân thuộc địa bằng rượu, thuốc phiện và

chính sách ngu dân

Theo đó thì năm 1898 Pháp ban hành sắc lệnh về báo chí bản xứ muốn xuất bản thì phải chịu sự kiểm duyệt trước khi in và đều có thể bị cấm bởi quan Toàn quyền Hoặc là thực dân Pháp cho xuất bản một số tờ báo nhưng nó phải làm công

cụ tuyên truyền cho chính sách xâm lược, bình định và bóc lột của Pháp.Còn trong tác phẩm bản án chế độ thực dân Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần những tội ác của những người đi khai hóa văn minh cho dân tộc khác như thế nào Trong khi nhân dân khẩn khoản đòi chính phủ mở thêm trường học để phục vụ nhu cầu học

Trang 23

tập của con em bản xứ thì các quan chức cầm quyền lại lờ đi Vì sao lại như vậy?

Họ bảo là không đủ kinh phí nhưng thực chất đâu phải như vậy một năm ngân sách Nam Kỳ chi cho việc mở trường học là 12 triệu đồng nhưng 10 triệu đã tìm cách chui vào túi của mấy viên quan chức rồi thì bảo làm sao mà đủ kinh phí Với lại với chính sách ngu dân thì họ dễ bề cai trị hơn, họ mở trường học cốt chỉ đào tạo nên một bộ phận tay sia trung thành có thể giúp ích cho công cuộc cai trị mà thôi Và

họ cũng tìm mọi cách để ngăn chặn không cho thanh niên Việt Nam du học nước

ngoài vì họ sợ nhiễm phải chủ nghĩa cộng sản Do đó, “làm cho ngu dân để dễ trị

đó là chính sách mà các nhà cầm quyền ở các thuộc địa của chúng ta ưa dùng nhất.” [26; tr: 123]

Để truyền bá tiếng Pháp phục vụ cho mục đích đào tạo nên tầng lớp tay sai trí thức tây học họ cho mở một số trường làng vừa học chữ quốc ngữ vừa học tiếng Pháp và do chính quyền địa phương trực tiếp quản lí Năm 1898 Pháp đưa thêm vào chương trình thi hương hai môn là tiếng Pháp và chữ Quốc ngữ đồng hời xúc tiến thêm cho việc cải cách giáo dục Năm 1905, pháp thành lậ Hội đồng cải cách giáo dục toàn Đông Dương và ấn định chính thức ba bậc học phổ thông là ấu học, tiểu hoc, và trung học từ đây nền giáo dục của việt Nam bước vào quy cũ Cho đến năm 1913 các trường Pháp – Việt theo kiểu này đã đào tạo khoảng 10 vạn học sinh

Và “đến năm 1889 đã thành lập được 200 trường kiểu này” [22;104] Ngoài ra, tại

các tỉnh và thị trấn lớn thực dân Pháp còn cho mở một số trường tiểu học còn ở khu vực Sài Gòn – Chợ Lớn có 3 trường trung học Tuy nhiên thì hệ thống giáo dục Pháp - Việt chỉ mới phát triển mạnh ở Nam kỳ còn ở Bắc và Trung kỳ thì chỉ mới ở giai đoạn thể nghiệm

Như vậy, để ổn định tình hình trong nước thực dân Pháp đã thi hành chính sách văn hóa nô dịch nhằm gây tâm lý tự ti trong nhân dân đồng thời chúng còn dùng các thủ đoạn khác nhằm làm mất đi tinh thần dân tộc trong tầng lớp thanh niên bằng rượu, thuốc phiện Bên cạnh những việc làm đó thì chúng chỉ mở các trường học một cách nhỏ giọt nhằm đào tạo nên tầng lớp tay sai phục vụ cho chính quốc

Trang 24

1.3.1.2 Chính sách khai thác thuộc địa lần thứ hai của Pháp

Về chính trị: Trong khi cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất đang diễn ra thì

nước Pháp bị lôi cuốn vào cuộc chiến tranh đế quốc do vậy Pháp tạm thời không thể trực tiếp tam gia vào các hoạt động cai trị ở thuộc địa như trước đây Do đó để phục vụ cho mục đích duy trì an ninh trật tự ở thuộc địa và đảm bảo guồng máy chính trị kinh tế cũng như đóng góp nhân tài vật lực cho cuộc chiến tranh phi nghĩa của mình thực dân Pháp đã lợi dụng, nới lỏng quyền lợi cho bộ máy tay sai của mình Trước tiên thực dân Pháp nới rộng quyền hạn cho chính phủ Nam Kỳ, đưa

Khải Định lên ngôi vao năm 1916 Hay là ban hành bộ luật mới gọi là Hoàng Việt

tân luật với một số điều sử đổi về xử án còn các phần còn lại thì chép lại của bộ

luật Gia Long trước đó nhằm bảo vệ lợi ích của thực dân và địa chủ phong kiến Thực dân Pháp còn mở rộng các cơ quan chuyên môn cao cấp cho người Việt tham gia để mua chuộc sử dụng họ để ổn định bộ máy chính trị thuộc địa thực hiện những yêu cầu của chúng trong thời chiến Như vậy những cải cách chính trị của thực dân Pháp ở thuộc địa trong thời gian thế chiến thứ nhất là nhằm ổn định tình hình chính trị, huy động mọi tìm năng để phục vụ cho cuộc chiến tranh phi nghĩ của chúng ở châu Âu Để thực hiện được mục đích đó chúng đã mua chuộc tầng lớp quan lại tay sai người bản xứ xây dựng hệ thống cơ cấu xã hội vững chắc đến tận làng xã Ngoài chính sách về chính trị thì Pháp còn thay đổi, điều chỉnh chính sách về kinh tế nhằm đảm bảo nguồn cung cấp nhân lực cho cuộc chiến tranh của

Pháp đồng thời duy trì mối quan hệ buôn bán giữa chính quốc và thuộc địa

Bước ra khỏi cuộc chiến tranh thế giới, Pháp quay trở lại thống trị nước ta thì các chính sách cai trị của Pháp so với thời kì trước chiến tranh cũng không có gì thay đổi Về chính trị mọi quyền hành đều bị thâu tóm trong tay người Pháp, vua quan thì bù nhìn, nhân dân không được hưởng chút quyền tự do dân chủ nào, mọi hành động yêu nước đều bị chúng thẳng tay đàn áp, khủng bố Bộ máy cường hào của giai cấp địa chủ phong kiến ở nông thôn bị triệt để lợi dụng vào việc củng cố

uy quyền và bảo vệ sự thống trị của bọn thực dân

Tuy nhiên để đối phó với một số biến động có thể xảy ra và hỗ trợ cho việc tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai ở Đông Dương cũng như ở Việt Nam

Trang 25

thực dân Pháp đã thay đổi một số chính sách cai trị như: thành lập các viện dân biểu ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ cho người Việt tham gia vào các phòng canh nông và phòng thương mại ở các thành phố lớn Ở nông thôn, thực dân Pháp tiến hành công cuộc cải lương hương chính nhằm từng bước can thiệp từng bước vào công việc nội

bộ của làng xã cũng như phá vỡ một phần nào đó tính tự trị của nó để kiểm soát về mặt tài chính cũng như nhân sự

Tóm lại, chính sách của thực dân Pháp trong những năm thế kỷ 20 là nới rộng một số quyền lực chính trị cho các tầng lớp trên, tạo ra mảnh đất tốt cho chủ nghĩa Pháp-Việt đề huề tạo sự ổn định chính trị để thu hút vốn đầu tư vào Đông Dương nhằm thực hiện có hiệu quả chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai 2

Về kinh tế

Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, đế quốc Pháp tuy là nước thắng trận nhưng lại bị tàn phá nặng nề nền kinh tế thì kiệt quệ Mặt khác, Pháp muốn biến Đông Dương thành bàn đạp để làm chủ khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, đồng thời đứng trước nguy cơ đe dọa của các nước đế quốc mà tiêu biểu là Mỹ và Nhật

Do đó Pháp đã chọn một hướng có lợi nhất là đẩy mạnh công cuộc khai thác thuộc địa mà trong đó có Đông Dương

Để tiến hành công cuộc khai thác thuộc địa làn thứ hai ở Việt Nam thực dân Pháp đã tăng cường vốn đầu tư với qui mô lớn và tốc độ nhanh gấp nhiều lần so với thời kì trước chiến tranh Với số vốn đầu tư vào Việt Nam tăng lên qua các năm chỉ tính riêng vào năm 1920 số vốn mà tư bản Pháp đầu tư vào Việt Nam là khoảng đạt

255 triệu Fr Trong khi đó nếu tính từ năm 1888 đến 1918 thì Pháp đã đầu tư vào Đông Dương khoảng 1 tỷ Frace thì chỉ riêng trong 6 năm từ năm 1924 – 1930 số vốn đó đã tăng lên 4000 triệu Frace Nổi bật là sự tăng cường vốn đầu tư và đẩy mạnh khai thác vào các ngành nông nghiệp và khai mỏ Trong nông nghiệp thì Pháp tiến hành cướp đoạt ruộng đất để phát triển các đồn điền cao su còn trong khai mỏ chủ yếu là mỏ than Ngoài ra, Pháp còn bóc lột bằng thuế khóa

Nếu như ở giai đoạn trước, số vốn đầu tư mang tính chất rời rạc thì trong cuộc khai thác thuộc địa lần hai này hình thành những tổ chức tài chính và các công

Trang 26

ty tư bản như Công ty tài chính thuộc địa, Công ty thương mại- Nông nghiệp và Tài chính Đông Dương Như vậy thực chất số vốn được nêu trên chủ yếu lại là vốn của các công ty độc quyền thông qua hệ thống ngân hàng và tổ chức tài chính Trong số này thì gần 1/3 số vốn đầu tư là của các công ty mới lập còn lại 2/3 là của các công

ty cũ

Từ sự đẩy mạnh việc đầu tư vào Việt Nam nó đã làm cho các chỉ số của nền kinh tế đều tăng rõ rệt mà cụ thể ở đây ta thấy là sản lượng xuất khẩu các mặt hàng đều tăng qua các năm

Cuộc khai thác lần thứ hai này của người Pháp ở Đông Dương được triển khai trên quy mô lớn qua các kế hoạch của Albert Sarraut Chỉ trong một thời gian ngắn, chừng 10 năm cuộc khai thác đó đã tạo ra sự bứt phá quan trọng trong nền kinh tế thuộc địa, chấm dứt tình trạng nhỏ giọt về đầu tư, tình trạng chần chừ của tư nhân Pháp trong việc kinh doanh khai thác xứ thuộc địa này, tạo ra một cơ hội cho sự vươn lên dù là rất yếu ớt trong cuộc cạnh tranh với thế lực tư bản chính quốc, của giai cấp tư bản “bản xứ”

Về văn hóa – giáo dục

Về văn hóa – giáo dục chúng triệt để thi hành chính sách văn hóa nô dịch với chính sách ngu dân gây tâm lí tự ti, đồng thời ra sức khuyến khích hoạt động mê tín

dị đoan, các tệ nạn xã hội như cờ bạc, ma túy, rượu chè Còn trường học thì được mở rất hạn chế chủ yếu là các trường tiểu học, còn các trường trung học thì chủ yếu là ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn

Sách, báo được xuất bản công khai chủ yếu nhằm mục đích phục vụ cho việc tuyên truyền chính sách “khai hóa” của thực dân và gieo rắc ảo tưởng hòa bình hợp tác giữa chính quyền thực dân và vua quan bù nhìn

Đầu thế kỉ XX song song với việc thực thi các chính sách kinh tế thực dân Pháp bắt đầu xúc tiến quá trình “Pháp hóa” nền giáo dục ở Việt Nam Và để làm được việc đó thực dân Pháp ngay cành thu hẹp hệ thống giáo dục Nho học và đến năm 1919 thì khoa thi Nho học cuối cùng kết thúc chấm dứt nền giáo dục Nho học tồn tại gần 1000 năm Đồng thời với đó thực dân Pháp đã sử dụng mọi biên pháp để

mở rộng và bành trướng hệ thống giáo dục Pháp – Việt đưa nó lên vị trí hàng đầu

Trang 27

và chiếm vai trò chi phối toàn bộ nền giáo dục nước ta Tính đến cuối những năm

1920, Pháp đã thành lập được khoảng 6 trường trung học, hàng ngàn trường tiểu học và cao đẳng tiểu học với hơn 400.000 học sinh theo học và mở rộng thêm các trường chuyên nghiệp, đại học, cao đẳng

Cùng với quá trình hiện đại hóa giáo dục theo kiểu phương Tây đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc cũng có những chuyển biến nhanh chóng Các phương tiện thông tin đại chúng và truyền thông phát triển mạnh mẽ với hàng loạt các tờ

báo, tạp chí cả bằng tiếng Việt và tiếng Pháp đã ra đời “ Nếu như năm 1865 rờ báo

đầu tiên ở Nam Kỳ ra đời thì đến năm 1922 cả nước có 96 tờ báo, tạp chí, tập san được xuất bản và đến năm 1929 số lượng báo chí xuất bản đã lên đến 153 tờ” [11;

tr: 161]

Tóm lại, những chính sách về văn hóa – giáo dục của thực dân Pháp thời kỳ này phát triển rất nhỏ giọt mà chủ yếu là phát triển nhằm mục đích ca ngợi cho

công cuộc “khai hóa văn minh” của Pháp ở Đông Dương đồng thời nhằm đào tạo ra

một tầng lớp có kiến thức Tây học làm tay sai cho Pháp trong quá trình tiến cai trị đất nước ta

1.3.2 Những chuyển biến của xã hội Việt Nam qua hai cuộc khai thác thộc địa của thực dân Pháp

1.3.2.1 Sự phân hóa của các giai cấp cũ trong xã hội

Xã hội Việt Nam trước khi thực dân Pháp xâm lược là một xã hội phong kiến thuần nông với hai giai cấp cơ bản là giai cấp thống trị (bao gồm vua, quan lại, địa chủ, cường hào) và giai cấp bị trị là nông dân, thợ thủ công nhưng tiêu biểu nhất

là hai giai cấp địa chủ phong kiến và nông dân Tuy nhiên, khi thực dân Pháp xâm lược nước ta và nhất là thực hiện hai cuộc khai thác thuộc địa vào những thập niên đầu của thế kỷ XX đã làm cho bộ phận giai cấp này có sự chuyển biến rõ rệt tính chất xã hội

Giai cấp địa chủ phong kiến: Sau khi triều đình nhà Nguyễn ký hiệp ước đầu

hàng Patơnốt(1884) thì bộ phận địa chủ phong kiến đã đầu hàng chấp nhận làm tay sai, làm chổ dựa cho chính sách cai trị của thực dân Pháp Do đó giai cấp địa chủ phong kiến được Pháp nâng đỡ tạo điều kiện để phát triển nên thời kỳ này đã phân

Trang 28

hóa thành đại địa chủ, trung và tiểu địa chủ Bộ phận đại địa chủ thì làm tay sai cho Pháp đàn áp, bóc lột nhân dân ta trở thành kẻ thù trực tiếp của nhân dân ta cần phải đánh đổ Đặc biệt sau hai cuộc khai thác thuộc địa số lượng địa chủ phong kiến được tăng cường về cả thế và lực Bên cạnh bộ phận đại địa chủ chấp nhận làm tay sai cho Pháp thì vẫn còn một bộ phận trung và tiểu địa chủ vẫn còn tinh thần dân tộc họ căm ghét chính sách cai trị của thực dân Pháp do đó họ có tinh thần chống Pháp

Giai cấp nông dân: Cho đến trước khi thực dân Pháp tiến hành hai cuộc khai

thác thuộc địa ở nước ta thì giai cấp nông dân vẫn là một giai cấp đông đảo trong

xã hội chiếm tới 90% dân số, tuy nhiên với chính sách cướp đoạt ruộng đất đẻ lập đồn điền của thực dân Pháp thì sau hai cuộc khai thác thuộc địa thì số lượng ngày càng tăng nhanh Chính sự bần cùng hóa của giai cấp nông dân này đã trở thành một lực lượng đông đảo tạo thành giai cấp công nhân sau này và thực dân Pháp đã

lợi dụng sự thừa thải của nhân công để bóc lột

Tuy nhiên sau hai cuộc khai thác thuộc địa thì giai cấp nông dân cũng có sự phân hóa rõ ràng đó là: Phú nông, trung nông, và bần nông - cố nông

Về phú nông: Đây là giai cấp khá giả nhất trong toàn thể giai cấp nông dân họ chiếm giữ một lượng đất đai khá lớn nhưng chưa đủ điều kiện để trở thành giai cấp địa chủ bởi vì mặc dù họ có bóc lột nhân công bằng việc cho thuê ruộng đất nhưng bản thân họ vẫn chưa thoát khỏi lao động sản xuất

Thứ hai là tầng lớp trung nông: Đây là giai cấp vừa có ruộng đất trong tay vừa

có công cụ lao động do vậy họ không phải đi lao động làm thuê cho giai cấp khác cũng như không tham gia vào việc bóc lột

Thứ ba là bần nông: họ vừa thiếu ruộng đất cnah tác vừa thiếu công cụ sản xuất do đó để nuôi sống gia đình và bản thân họ phải nhận đất của địa chủ để canh tác Ngoài lĩnh canh ruộng đất thì họ còn phải thuê công cụ lao động, tiền vốn để mua giống hay phân bón và đến khi thu hoach phải trả lại cho người cho vay Do vậy cuộc sống của họ cũng không có gì là dư giả có khi nợ mùa này sang mùa khác

Trang 29

Thứ tư là cố nông: Đây là tầng lớp cùng cực nhất trong giai cấp nông dân họ không có lấy một mảnh đất cắm dùi Nguồn sống chủ yếu của họ là lĩnh canh ruộng đất hay đi làm thuê làm, đi ở nhà giàu

Tóm lại, giai cấp nông dân là giai cấp bị bóc lột và áp bức nặng nề nhất bởi thuế khóa và phu phen tạp dịch do đó cuộc sống của họ rất bấp bênh Do đó họ trở thành giai cấp vô sản phải ra thành thị bán sức lao động và trở thành công nhân trong các nhà máy, xí nghiệp Đối lập với họ là giai cấp địa chủ phong kiến ngày càng phát triển cả về thế và lực chấp nhận làm tay sai cho Pháp để bóc lột nhân dân

ta

1.3.2.2 Sự xuất hiện của các giai cấp, tầng lớp mới trong xã hội

Sự biến đổi của tình hình kinh tế và chính trị thời kỳ này đã tác động trực tiếp đến xã hội Việt Nam mà cụ thể ở đay là bên cạnh sự phân hóa của giai cấp cũ thì đã làm xuất hiện thêm các giai cấp tầng lớp mới

Giai cấp công nhân: Đầu tiên, cùng với sự xuất hiện của giới tư bản Pháp

cũng như công cuộ đầu tư khai thác thuộc địa đã làm cho xã hội Việt Nam xuất hiện giai cấp mới là giai cấp công nhân ngày càng trưởng thành nhanh chóng cả về

số lượng và chất lượng Nếu như trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1896 – 1914) số lượng công nhân chỉ mới khoảng 10 vạn thì đến khi kết thúc đợt khai thác thuộc địa lần thứ hai (1920 – 1929) con số này đã lên tới 22 vạn người Vốn xuất thân từ giai cấp nông dân ở một nước thuộc địa bị áp bức bóc lột đến mức bần cùng do vậy họ vừa có trong mình mối thù dân tộc và mối thù giai cấp Mặt khác

họ được làm việc trong môi trường có kỷ luật cao nên sớm đi vào nề nếp, được sống tập trung với nhau họ nảy sinh tình cảm đoàn kết do đó chính họ là giai cấp sớm giác ngộ lý tưởng cách mạng nhanh chóng trở thành giai cấp nắm ngọn cờ lãnh

đạo cách mạng

Giai cấp tư sản: Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, tư sản Việt nam mới có

điều kiện phát triển để hình thành giai cấp thực sự Về nguồn gốc xuất thân của giai cấp tư sản chủ yếu là từ những nhà buôn và một bộ phận nhỏ có xuất thân từ giai cấp các địa chủ trước đây làm thầu khoán hoặc làm các địa lý cho người Pháp Tuy nhiên cả hai địa diện của nền kinh tế tư bản ở Việt Nam trong hai cuộc khai thác

Trang 30

thuộc địa của thực dân Pháp nói riêng cũng như trong toàn bộ lịch sử pháp thuộc nói chung họ đều có cảnh ngộ như nhau là dân của một nước thuộc địa do vậy họ luôn bị chèn ép Trước tác động của hai cuộc khai thác thuộc địa giai cấp tư sản lúc

này bị phân hóa thành hai bộ phận: tư sản dân tộc và tư sản mại bản

Về tư sản dân tộc: trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai có những bước phát triển cả về số lượng và thế lực kinh tế Bên cạnh những cơ sở đã có trước đó như xưởng sơn của Nguyễn Sơn Hà, xưởng sữa chữa tàu của Bach Thái Bưởi thì trong cuộc khai thác thuộc địa lần thư hai còn có thêm nhiều xưởng về gạch ngói, dệt vải Tuy nhiên so với tư bản nước ngoài thì địa vị kinh tế của tư bản Việt Nam còn rất hạn chế với tổng số vốn đầu tư chỉ chiếm 5% so với vốn của tư bản Pháp và chỉ chiếm 0,1% dân số với khoảng 20.000 người vào cuối cuộc khai thác thứ hai Nhưng đây lại là bộ phận có tinh thần dân tộc họ tự cường giúp nhau làm ăn và đấu tranh cho quyền lợi của mình với các cuộc chấn hưng hàng nội, hay xuất bản các tờ báo như: Thực nghiệp dân báo (1920), Khai hóa nhật báo để đấu tranh vì quyền lợi kinh tế của mình Từ đó họ bước lên vũ đài chính trị và góp phần vào phong trào dân tộc nhưng do những hạn chế của giai cấp nên thái độ chính trị của họ dần đi vào con đường thỏa hiệp bằng lòng khi Pháp đáp ứng một số quyền lợi

Còn bộ phận tư sản mại bản thì có quyền lợi gắn liền với người Pháp họ chủ yếu làm trung gian đại lý cho tư bản Pháp, riêng một số khác thì chung vốn làm ăn với Pháp Do quyền lợi của họ gắn liền với giới tư bản Pháp cho nên họ không tìm cách đánh đuổi Pháp

Giai cấp tiểu tư sản

Cùng với quá trình đầu tư và phát triển về giáo dục cũng như việc hình thành các đô thị ở nước ta thì bộ phận tiểu trí thức – học sinh ngày một đông đảo hơn Giai cấp tiểu tư sản này được kết hợp từ ba bộ phận là: trí thức, tiểu thương và thợ thủ công, tài sản mà họ có được là một ít vốn liếng và chất xám Về trí thức bao gồm: học sinh, sinh viên và giáo viên (đây là bộ phận quan trọng nhất trong giai cấp tiểu tư sản) với số lượng khoảng 40 vạn người vào năm 1929 Còn bộ phận tiểu thương khoảng 130.000 người chuyên buôn bán nhỏ và làm đại lí cho Pháp nhưng bản thân họ chưa đạt đến độ để hình thành giai cấp tư sản Ngoài ra còn có bộ phận

Trang 31

thợ thủ công với khoảng 21,6 vạn người vào năm 1930 Nhìn chung đời sống của giai cấp này cũng không hơn gì mấy so với giai cấp công nhân và nông dân

Như vậy, qua hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã làm tác động sâu sắc đến các giai tầng trong xã hội Việt Nam từ sự chuyển biến này nó cũng đã làm cho các phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX có những điểm mới hơn

Tiểu kết chương 1

Như vậy, ta thấy giai cấp địa chủ phong kiến ra đời và tồn tại song song cùng nhà nước phong kiến Việt Nam sau khi chúng ta thoát khỏi 1000 năm đô hộ của các triều đại phong kiến phương Bắc Giai cấp này nắm quyền thống trị trong bộ bộ máy nhà nước, đây cũng là giai cấp nắm quyền sở hữu ruộng đất rất lớn bao gồm cả ruộng công và ruộng tư và họ bóc lột những người nông dân có ruộng hay không có ruộng bằng nhiều thứ tô thuế khác nhau Trãi qua các triều đại trong lịch sử mở đầu

là triều Lý (thế kỉ X) và kết thúc vào triều Nguyễn (thế kỉ XIX) giai cấp địa chủ phong kiến không ngừng phát triển trở thành giai cấp đối kháng với giai cấp nông dân Tuy nhiên, trong thời gian không phải lúc nào giai cấp địa chủ phong kiến cũng bộ lộ những điểm tiêu cực cần đánh đổ mà đôi lúc họ cũng vì dân tộc mà đứng lên đấu tranh giành lại độc lập Trên con đường phát triển của chế độ phong kiến nói chung và chế độ phong kiến ở Việt Nam nói riêng nó cũng sẽ rơi vào một quỹ đạo đó là sự khủng hoảng sâu sắc và phải thay thế bằng một thể chế khác văn minh hơn, tiến bộ hơn Và lịch sử Việt Nam cũng vậy khi chế độ phong kiến đang trên bước đường suy thoái trì trệ, nó không thể chống lại nền văn minh súng ống hiện đại của các nước tư bản phương Tây Và nhất là khi giai cấp nắm vai trò lãnh đạo lại là địa chủ phong kiến - người nắm quyền thống trị lại vì lợi ích của bản thân giai cấp mình đã đầu hàng thực dân Từ đó đã biến nước ta thành một nước thuộc địa nửa phong kiến Với tính chất và đặc điểm của một nhà nước mới – nhà nước thuộc địa nửa phong kiến nhân dân dân Việt Nam lúc này phải gánh chịu cảnh một

cổ hai tròng Với việc duy trì bộ máy nhà nước phong kiến bên cạnh chính quyền thực dân chính phủ Pháp có hai mục đích: Thứ nhất là duy trì phương thức bóc lột phong kiến bên cạnh phương thức bóc lột tư bản để thu được lợi nhuận cao nhất – siêu lợi nhuận, còn mục đích thứ hai là duy trì một bộ máy tay sai có thể đàn áp và

Ngày đăng: 09/05/2021, 16:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w