1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Di tích nhà cổ quân thắng ở khu phố cổ hội an

91 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 2,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với hòn non bộ, cuốn thư, hay cách xắp xếp bày trí trong không gian văn hóa sinh hoạt của ngôi nhà đã tạo nên một bức tranh tuyệt đẹp cho ngôi nhà phố ở Hội An.Với kết cấu kiến trúc

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN -

KHÓA LUÂ ̣N TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HÓA HỌC

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Văn hóa truyền thống Việt Nam là một dòng chảy xuyên suốt lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc, kết tinh qua bao thế kỷ Được hình thành từ nền văn minh Văn Lang Âu Lạc, phát triển qua nền văn minh Đại Việt, trải qua nhiều giai đoạn lịch sử với biết bao sóng gió, biến cố của dân tộc để tồn tại đến ngày hôm nay và

trở thành những giá trị vô cùng quý báu Trong tiến trình dựng nước và giữ nước, ở

bất kỳ thời điểm nào, hay bất cứ nơi đâu trên mảnh đất hình chữ S này, chúng ta đều bắt gặp những di tích lịch sử - văn hóa như đình, chùa, đền, miếu, mộ, lăng tẩm, chùa chiền, những khu phố cổ còn sót lại Hay những giá trị văn hóa phi vật thể như: Dân ca quan họ Bắc Ninh, Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên… mà giờ đây tất cả đã trở thành những tài sản vô cùng quý giá của dân tộc, tạo nên một bộ mặt riêng trong cái tổng thể hài hòa của nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc

Di tích lịch sử văn hóa là tài sản vô cùng quý giá của mỗi địa phương, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia và cả nhân loại Di tích lịch sử văn hóa là những bằng chứng xác thực và cụ thể nhất về đặc điểm văn hóa của từng dân tộc, từng quốc gia trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định, nó chứa đựng tất cả những gì thuộc về truyền thống tốt đẹp, về kĩ năng, kĩ xảo, về tâm linh con người Chính vì thế, vấn đề bảo tồn phát huy giá trị của di tích là nhiệm vụ cần thiết của mỗi quốc gia

Nhà cổ Quân Thắng là một trong những công trình kiến trúc dân dụng thuộc loại hình nhà phố đẹp nhất, cổ nhất ở khu phố cổ Hội An, được chủ hiệu buôn người Hoa, hiệu là Quân Thắng xây dựng vào cuối thế kỷ XVII Ngôi nhà là một

bộ phận kiến trúc cấu thành nên quần thể kiến trúc khu phố cổ Hội An Nhà cổ Quân Thắng chứa đựng nhiều đặc trưng của kiến trúc cổ Hội An, như các vì kèo

Trang 3

chồng rường giả thủ, vì vỏ cua, cột trốn kẻ chuyền… với các đồ án được chạm trổ tinh vi sắc sảo Bên cạnh đó, người xưa đã thể hiện óc thẩm mĩ của mình bằng cách trang trí trên các vì kèo, trên tường hay trên vách những bức tranh tứ dân, tứ quý hết sức độc đáo Cùng với hòn non bộ, cuốn thư, hay cách xắp xếp bày trí trong không gian văn hóa sinh hoạt của ngôi nhà đã tạo nên một bức tranh tuyệt đẹp cho ngôi nhà phố ở Hội An.Với kết cấu kiến trúc chạm khắc tinh sảo, chúng ta rất khó

có thể nhận ra đâu là kiến trúc, đâu là chạm khắc, bởi giữa chúng đã có sự hài hòa, trộn lẫn vào nhau để tạo nên những nét riêng trong một thực thể thống nhất của kiến trúc cổ Hội An mà ít nơi nào có được, điều đó đã khẳng định sự phát triển đỉnh cao của các nghệ nhân làng mộc Kim Bồng xưa

Với những giá trị nổi bật của mình, ngày 15/8/1997 nhà cổ Quân Thắng đã được đưa vào danh mục những di tích - danh thắng (loại 1) cần được bảo vệ theo quyết định 1353/QĐ-UD của UBND tỉnh Quảng Nam Nhà cổ Quân Thắng là một

di tích sống chứa đựng nhiều giá trị về lịch sử, văn hóa, cư dân, kinh tế, kiến trúc của khu phố cổ Hội An Nhưng cho đến nay, những công trình nghiên cứu về nhà

cổ Quân Thắng chỉ mang tính khái quát, chung chung chưa có công trình nào nghiên cứu kĩ và chi tiết Vì vây, việc nghiên cứu nhà cổ Quân Thắng một cách có

hệ thống là vấn đề cấp bách và cần thiết, góp phần phục vụ công tác nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị khu phố cổ Hội An Chính vì vậy, tôi chọn đề tài: “Di tích nhà cổ Quân Thắng ở khu phố cổ Hội An” làm khóa luận tốt nghiệp của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nhà cổ Quân Thắng là một công trình kiến trúc dân dụng, bao hàm tất cả các yếu tố tiêu biểu của kiến trúc Hội An, ngôi nhà chịu ảnh hưởng của nhiều nền văn hóa khác nhau như: Việt - Hoa - Nhật - Phương Tây Đây là kết quả của việc giao lưu văn hóa ở Hội An trong quá trình hình thành và phát triển trong nhiều thế kỷ trước Cho đến nay đã có khá nhiều, công trình nghiên cứu về quá trình hình thành

và phát triển của Khu phố cổ Hội An hoặc những vấn đề liên quan đến Khu phố cổ

Trang 4

Hội An Tuy nhiên, việc nghiên cứu nhà cổ Quân Thắng chỉ khởi nguồn trong thời gian gần đây Có một số công trình, bài báo, bài nghiên cứu đề cập đến nhà cổ Quân Thắng, nhưng chỉ là những mảng rất nhỏ như:

 Nguyễn Thị Nhung với tập: “Lý lịch di tích nhà cổ Quân Thắng” lập ngày 5/02/1992

 Nguyễn Quốc Hùng với tác phẩm: “ Phố cổ Hội An và việc giao lưu văn hóa

ở Việt Nam” do Nxb Đà Nẵng xuất bản năm 1995

 Nguyễn Văn Xuân và tác phẩm “Hội An” do Nxb Đà Nẵng, xuất bản năm

 Phạm Hoàng Hải với tác phẩm: “Người bạn đường du lịch văn hóa Hội An”

do Nxb thế giới xuất bản năm 2001

 “Kiến trúc phố cổ Hội An Việt Nam” của Viện Nghiên cứu Văn hóa Quốc tế

- Trường Đại học Nữ Chiêu Hòa, Nhật Bản (2003)

 Trần Ánh với tác phẩm “Nhà gỗ Hội An - Những giá trị và giải pháp bảo tồn” do Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di tích Hội An xuất bản năm 2005

 Tạ Thị Hoàng Vân với “Di tích kiến trúc Hội An Trong tiến trình lịch sử”

Nxb Hà Nội (Đại học Quốc gia Hà Nội) năm 2007

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu chỉ giới thiệu sơ lược về kết cấu kiến trúc của nhà cổ Quân Thắng mà chưa đi sâu vào nghiên cứu một cách có hệ thống những giá trị đích thực vốn có của di tích Vì vậy, với thái độ trân trọng những kết quả nghiên cứu của các học giả đi trước , chúng tôi đã cố gắng tham khảo, kế thừa, chọn lọc những tư liệu có liên quan đến nhà cổ Quân Thắng, đồng thời kết hợp với

Trang 5

hướng tiếp cận mới còn bỏ trống trong quá trình thực hiện đề tài: “Di tích kiến trúc nhà cổ Quân Thắng ở khu phố cổ Hội An”

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng chính của khóa luận là nhà cổ Quân Thắng, số 77 đường Trần Phú, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Với khuôn khổ của một khóa luận tốt nghiệp cho nên tác giả không có tham vọng giải quyết tất cả những vấn đề có liên quan đến di tích Tác giả chỉ muốn đặt viên gạch cho việc tìm hiểu sâu rộng hơn về nhà cổ Quân Thắng Đặc biệt là những giá trị ẩn chứa bên trong di tích như giá trị lịch sử, văn hóa nghệ thuật, việc sử dụng và khai thác du lịch, hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị của nhà cổ trong thời gian qua

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này chúng tôi sử du ̣ng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp điều tra xã hội học, cụ thể:

+ Phương pháp điền dã, quan sát, phỏng vấn

+ Phương pháp miêu tả, phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê.+ Phương pháp luận duy vật lịch sử để nhận định, xem xét, đánh giá và sử dụng tài liệu

- Phương pháp liên ngành: Phương pháp sử học, phương pháp Bảo tàng học, phương pháp khảo cổ học…

5 Những đóng góp của đề tài

Về mặt khoa học: Khóa luận đã tổng hợp và hệ thống hóa các tài liệu về chính sách phát triển và giá trị của di tích Xác định được những giá trị lịch sử, văn hóa nghệ thuật, giá trị sử dụng và khai thác du lịch ở di tích

Về mặt thực tiễn: Khẳng định giá trị của kiến trúc Nhà cổ Nêu lên được thực trạng nhà cổ, từ đó đề xuất những nhận định xây dựng các phương án bảo tồn,

Trang 6

quản lý và khai thác di tích một cách có hiệu quả và tốt nhất Là cơ sở cho các nhà lãnh đạo, các nhà nghiên cứu tham khảo để đưa ra những biện pháp nghiên cứu, khai thác, bảo tồn có hiệu quả về di tích kiến trúc nhà cổ ở Hội An

1.1.1 Vài nét về địa lý tự nhiên

Vị trí địa lý: Thành phố Hội An là một trong 17 huyện thị của tỉnh Quảng

Nam, nằm ở vùng cửa sông ven biển, cuối tả ngạn sông Thu Bồn, ở vị trí 15º 53’ vĩ bắc, 108º 19’ kinh đông, cách thành phố Đà Nẵng 30km về phía Đông Nam và cách thành phố Tam Kỳ chừng 55km về phía Bắc, với diện tích 60,846km2 [44, tr.27] Phía Nam và Đông Nam giáp huyện Duy Xuyên, Tây và Tây Bắc giáp huyện Điện Bàn, Bắc và Đông Bắc giáp Biển Đông với Cù Lao Chàm che chắn

Địa hình địa mạo: Lịch sử tạo thành vùng đất Hội An khá phức tạp, nó gắn

liền với các đợt biển tiến, biển lùi và quá trình bồi tụ của sông biển Theo kết quả nghiên cứu địa chất thì khu vực đô thị cổ Hội An hiện nay được xây dựng trên bề mặt tích tụ có nguồn gốc biển nằm ở độ cao 5 đến 7m và tích tụ sông biển cao 4

Trang 7

đến 6m và 3 đến 4m thời kỳ biển tiến Holoxen trung cách đây 6.000 đến 4.000 năm trước công nguyên, mực nước đạt cực đại 4 đến 5m Ngoài ra còn có các bãi bồi cao 1 đến 1,5m mới được tích tụ khoảng 100 đến 300 năm hoặc muộn hơn là các bãi cát ven lòng sông mới có tuổi dưới 100 năm, nên rất dễ bị thay đổi [70, tr.91-92] Còn phần phía Nam với bề mặt tích tụ 2 đến 4m được hình thành muộn hơn, vào giai đoạn biển lùi cách đây 4.000 đến 2.000 năm trước công nguyên Vào đầu công nguyên, đợt biển tiến đạt cực đại +2m làm cho cửa sông Thu Bồn trở thành một vụng biển, vụng biển này kéo quá về phía Tây, làm cho thành phố cũng kéo về phía tây Đây là một dạng cửa sông vì 2 phía Nam và Bắc cửa sông Thu Bồn, nước biển không tràn ngập quá sâu vào đất liền, sau đó mực nước biển bắt đầu hạ thấp và các dạng địa hình có nguồn gốc khác nhau được tạo thành Cuối thế

kỷ XVIII, quá trình di chuyển dọc bờ của bùn cát từ hai phía cửa sông Thu Bồn làm cho cửa phía Bắc bị lấp lại và biến nó thành cửa Khẩu Từ khi cửa này bị vùi lấp nó đã ép dòng sông Thu Bồn chảy về hướng Nam khiến cho bờ Nam cửa Đại bị phá hủy, các tuyến đường sông luôn thay đổi và bị lấp dần Thế kỷ XIX, quá trình tích tụ ở phần ven biển lẫn trên toàn bộ cửa sông Thu Bồn đã làm cho các vùng đất

và đầm phá ở phía Nam bị bồi lấp mạnh mẽ

Mặc dù diện tích không lớn nhưng Hội An có khá nhiều địa hình với nhiều nguồn gốc khác nhau, chẳng hạn như: địa hình có nguồn gốc sông, sông - đầm lầy, biển, sông - biển, biển - đầm lầy, biển - gió, sông biển - đầm lầy, hồ - dầm lầy, qua các kết quả nghiên cho thấy đô thị cổ Hội An có tính chất là một thành phố sông nước, với đặc điểm vừa hội nhân vừa hội thủy [55, tr.436], vừa cận thị vừa cận giang

Khí hậu: Hội An nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, mỗi năm có 2 mùa rõ

rệt: mùa mưa (từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau) với những đợt gió mùa Đông Bắc

có tốc độ cực đại lên đến 40m/s thường kéo theo mưa, bão, lũ, lạnh Mùa khô (từ

Trang 8

tháng 4 đến thang10) với gió Đông Nam mát mẽ vã có cả gió phơn Tây Nam khô nóng

Nhiệt độ không khí: nhiệt độ trung bình ở Hội An khoảng 25,9ºC và biên độ

trung bình dao động trong khoảng 15-38ºC, lạnh nhất là các tháng 12, tháng một, nóng nhất là các tháng 7, tháng 8 [52] Độ ẩm không khí ở đây khá cao, trung bình 82-85%, mùa hạ giảm còn 70-78% Tổng lượng mưa trung bình năm là 2.087mm, phần lớn tập trung vào mùa đông chiếm 2/3 lượng mưa trung bình cả năm Bão thường bắt đầu tháng 10 - 11 vào mùa đông, tốc độ gió trong bão thường cấp 8 - 9,

có khi lên cấp 12

Môi trường tự nhiên ưu đãi cho Hội An các nguồn tài nguyên dồi dào, phong phú Biển có ngư trường hải sản với nhiều loại tôm tươi ngon nổi tiếng Hải sản có yến sào - một loại thực phẩm và dược liệu siêu Việt Rừng Cù Lao Chàm có nhiều lâm sản, dược liệu, động vật quí hiếm Đất đai phù sa ven sông màu mỡ thích hợp với nhiều loại cây trồng… vì thế mà người xưa đã nhận xét rằng:

“Hội An trăm vật trăm ngon Người thanh cảnh lịch, tiếng đồn chẳng sai”

(Cao dao) Nhìn chung điều kiện địa lý tự nhiên khu vực Hội An khá thuận lợi cho quá trình hình thành và phát triển của đô thị thương cảng cổ Hội An nếu con người biết khai thác, phát huy lợi thế, tiềm năng của nó

1.1.2 Các giai đoạn phát triển

1.1.2.1 Thời kỳ tiền Hội An

1.1.2.1.1 Văn hóa Sa Huỳnh

Văn hóa Sa Huỳnh có cùng thời kỳ với văn hóa Đông Sơn, nó phát triển hưng thịnh từ hàng 100 năm TCN, cho đến thế kỷ thứ II SCN Đó là nền văn hóa trồng lúa và tiền kim khí, di chỉ đầu tiên của văn hóa Sa Huỳnh là phố Sa Huỳnh ở Quảng Ngãi đã bị cát vùi lấp đã được các nhà khảo cổ học người Pháp phát hiện

Trang 9

năm 1937, Madeleine Colani đã chính thức xác nhận đây là một nền văn hóa Đặc trưng của văn hóa này tìm thấy trong các ngôi mộ chùm có chôn kèm những đồ kim khí, vật trang trí bằng mã não, hạt ngọc thủy tinh, khuyên tai có mấu, ngoài ra đôi khi còn thấy cả tiền cổ Trung Quốc Đặc trưng của gốm là những hoa văn trang trí lượn sóng Đặc biệt hơn nữa là khuyên tai có mấu và khuyên tai hình đầu thú cũng được khai quật tìm thấy ở bờ biền phía tây của Philippin, trung bộ Thái Lan, phía bắc bán đảo Malai, điều này chứng tỏ một điều trước và sau công nguyên, ở vùng biển Đông Nam Á đã diễn ra những hoạt động giao lưu nhộn nhịp

Ở Hội An đã phát hiện hơn 50 địa điểm là di tích của văn hóa Sa Huỳnh, phần lớn tập trung chủ yếu ở những cồn cát ở ven sông Thu Bồn cũ Thuộc các địa điểm như: An Bang, Thanh Chiếm, Hậu Xá thuộc địa phận Xã Cẩm Hà

Số di tích đó thuộc hậu kì đá Sa Huỳnh khoảng trước và sau công nguyên, một đặc điểm của khu vực này là không có di tích thuộc thời kỳ đầu và giữa Sưu tập hiện vật của văn hóa Sa Huỳnh ở Hội An thể hiện cơ cấu kinh tế nông - thương

- ngư - lâm nghiệp của cư dân cổ Hội An, đặc trưng riêng của văn hóa này chủ yếu

do tính chất sông biển và vị trí giao lưu văn hóa qua lại của Hội An xưa quyết định

Với vị trí cửa sông ven biển mở ra bên ngoài, cư dân Sa Huỳnh đã “có cái nhìn về biển giao lưu xa và chặt chẽ với miền cao nguyên Thượng Lào - Kòrạt và miền hải đảo Thái Bình Dương, giao lưu với cư dân Đông Sơn (Bắc bộ Việt Nam),

và cư dân Đồng Nai theo cả đường bộ và đường biển” [56, tr.102]

1.1.2.1.2 Văn hóa Chămpa

Tiếp theo nền văn hóa Sa Huỳnh ở Hội An là nền văn hóa Chămpa, từ thế kỷ

II đến thế kỷ XV một dải đất miền Trung Việt Nam nằm dưới sự thống trị của Vương Quốc ChămPa Vương quốc Chămpa là đất nước của dân tộc Chăm thuộc ngữ hệ Mã Lai - Đa Đảo Di tích đặc trưng của văn hóa Chămpa là các nhóm điện thờ của đạo Hindu phân bố theo chiều dài từ Trung đến Nam Bộ

Trang 10

Dưới thời Chămpa nhất là từ thế kỷ IX - X, Lâm Ấp Phố, Hội An đã từng là cảng thị Phát triển thu hút nhiều thương thuyền Arập, Ba Tư, Trung Quốc… đến buôn bán, trao đổi vật phẩm mà hàng hóa xuất khẩu chủ yếu của người Chăm lúc bấy giờ là tơ tằm, ngọc trai, đồi mồi, vàng, trầm hương… Những thư tịch cổ đã ghi nhận, có một thời gian khá dài, Chiêm cảng - Lâm Ấp Phố đóng vai trò quan trọng bậc nhất trong việc tạo nên sự hưng thịnh của Kinh thành Trà Kiệu và Trung tâm tôn giáo tín ngưỡng Mỹ Sơn

Những di tích và di vật của Chămpa xung quanh Hội An gồm có di tích điện thờ Chămpa ở cửa sông Thu Bồn và tượng thần Voi ở Đại Chiêm, tượng Vũ Công Thiên Tiên Gandhara, tượng Nam thần Tài lộc Kubera… Ngoài ra, trên đảo Cù Lao Chàm đã khai quật được những mảnh gốm men xanh Islam và những mảnh sứ được sản xuất ở các lò Việt Châu, Trung Quốc có niên đại khoảng trước sau thế kỷ thứ IX

Tại lưu vực sông Thu Bồn cũng tìm thấy những mảnh sứ xanh, sứ trắng thuộc đời Tống Trung Quốc Đây đã từng là nơi giao lưu giữa Đông - Tây quan trọng được phản ánh qua các di vật khai quật Ngoài ra còn có một số giếng cổ xây dưng theo các hình thức của người Chăm cũng có thể chỉ ra được mối liên hệ với thời kỳ Vương quốc Chămpa Những chứng tích trên cho phép đi đến một nhận xét khái quát: Người Chăm đã từng là chủ nhân khá sớm trên mảnh đất Hôi An

Từ thế kỷ thứ XIV, Vương quốc Chămpa dần dần bị lấn chiếm bởi Đại Việt tràn xuống phía Nam Sau một vài lần chiến tranh, năm 1471 thủ phủ cuối cùng của Vương quốc Chămpa ở Bầu Giá (hiện nay là Bình Định) bị nhà Lê chiếm Vùng đất Hội An bắt đầu trở thành lãnh thổ của Đại Việt từ thời điểm đó, nhưng về sau Hội An mới được phát triển như một khu thương mại Hội An được hình thành dựa trên sự kế thừa cảng của người Chăm và người Việt bắt đầu đến vùng đất này

từ thế kỷ XV đấy chính là bước chuẩn bị trực tiếp cho việc hình thành Hội An

Trang 11

1.1.2.2.1 Hội An từ thế kỷ XV-XIX

Căn cứ vào nội dung bia mộ của một ông tổ tộc Trần lập năm 1498 tại làng Võng Nhi (nay là thôn 6, xã Cẩm Thanh) đã cho chúng ta thấy rằng, muộn nhất là đến năm 1471 người Việt đã đặt chân đến Hội An để thực hiện kế hoạch “Nam chiếm bình Chiêm” và sau đó là khai hoang mở cõi Vốn mang trong mình truyền thống cần cù, lao động sáng tạo, thông minh, linh hoạt trong lao động sản xuất, đồng thời kế thừa và phát huy tối đa những tinh hoa do người Chăm để lại… Người Việt vào đây đã nhanh chóng biến vùng đất này thành nơi rất giàu mạnh về hàng hóa, để rồi tạo một sức hút lớn thu hút các nhà buôn trong và ngoài nước

Với sự kết hợp hài hòa nhuần nhuyễn giữa các yếu tố nội sinh như: “chính sách mở cửa của nhà Nguyễn lúc bấy giờ, cùng với môi trường tự nhiện thuận lợi, nguồn nhân lực dồi dào…” Và các yếu tố ngoại sinh như “xu thế phát triển hàng hải quốc tế với các cuộc Đông tiến tìm kiếm thị trường của các nước phương Tây, chính sách cấm vận của nhà Minh làm cho các thương nhân Trung Hoa, Nhật Bản muốn có một thị trường trung gian để giao thương…” Vì vậy, từ giữa thế kỷ XVI Hội An đã đón nhận các thương thuyền ngoại quốc đến giao lưu trao đổi, buôn bán ngày càng đông Người Bồ Đào Nha đến đặt quan hệ giao thương chính thức với Hội An từ năm 1540, sau đó đến người Trung Hoa từ năm 1577, người Nhật Bản từ năm 1592, người Hà Lan từ năm 1636, người Anh từ năm 1695, người Pháp từ năm 1741… Với việc chúa Nguyễn cho phép các thương nhân Hoa, Nhật được chọn đất lập phố định cư, buôn bán tại Hội An cộng với việc các thương thuyền, thương khách quốc tế đến Hội An ngày càng tăng, quy mô, khối lượng hàng hóa trao đổi càng lớn, đã làm cho thương cảng Hội An nhanh chóng hình thành từ cuối thế kỷ XVI, và phát triển thịnh vượng về sau

Giáo sĩ Cristophoro Borri người Ý khi đến truyền giáo tại Hội An từ năm

1618-1621, trong tác phẩm Xứ Đàng Trong năm 1621 đã nhận xét: “Về một hải

cảng thì thật là lạ lùng, chỉ trong khoảng hơn một trăm dặm một chút mà người ta

Trang 12

đếm được hơn 60 cảng, tất cả đều thuận tiện để cập bến và lên đất liền… Hải cảng lớn nhất, nơi tất cả người ngoại quốc đều tới và cũng là nơi có hội chợ danh tiếng chính là hải cảng thuộc tỉnh Quảng Nam [12, tr.91]

Thế kỷ XVI người Trung Hoa đến Hội An buôn bán rất nhiều, đặc biệt đầu thế kỷ XVII các thương nhân ở ven biển Nam Trung Hoa như: Phúc Kiến, Triều Châu, Quảng Đông, Hải Nam… đến Hội An ngày càng tăng Từ giữa thế kỷ XVII, khi nhà Minh bị người Mãn Châu chinh phục, các vong thần nhà Minh đem theo thuộc hạ xuống lánh lạn ở Đông Nam Á, đặc biệt rất nhiều người Hoa di cư đến Trung bộ Việt Nam và đã xây dựng ở đây cộng đồng Minh Hương xã Ở đây người Hoa cư trú ngày càng nhiều, dần dần thay thế người Nhật và nắm quyền buôn bán

Đã có một vài ghi chép về sự sầm uất thời bấy giờ ở Hội An

Năm 1695, Công ty Đông Ấn Anh đã cử Thomas Bowyear đến đàm phán với chúa Nguyễn về việc xây dựng cơ sở thương mại tại Hội An, cuộc đàm phán thất bại tuy nhiên ông đã ghi chép về Hội An như sau: “Khu phố Faifo này có một con đường nằm sát với sông Hai bên đường có khoảng 100 ngôi nhà xây dựng san sát nhau Ngoại trừ khoảng bốn, năm ngôi nhà là của người Nhật còn lại toàn bộ là của người Hoa Trước kia người Nhật đã từng là dân cư chủ yếu của khu phố này

và là chủ nhân phần lớn của các hoạt động thông thương ở bến cảng Hội An Bây giờ vai trò thương nghiệp phần lớn chuyển sang cho người Hoa So với thời kỳ trước thì không được sầm uất, nhưng hằng năm ít nhất cũng có từ 10 đến 12 tàu của các nước Nhật Bản, Quảng Đông (Trung Quốc), Xiêm (Thái Lan), Campuchia,

Manila và có cả tàu của Indonesia cũng đến cảng thị này” [22, tr.219]

Đến thế kỷ XVIII, ở Hội An có khoảng 6.000 người Hoa sinh sống, gồm 2 cộng đồng: Hoa Ngũ Bang cư trú theo chế độ Hoa kiều và Hoa Minh Hương được chúa Nguyễn cho phép nhập vào quốc tịch Đại Việt Chủ yếu là các thương nhân, lái buôn giàu có, vừa giao thương buôn bán, vừa môi giới các mặt hàng cho người phương Tây, giữ các chức vụ trong các tàu ti [62, tr.374] Những người Trung

Trang 13

Quốc đến định cư tại đây để buôn bán hầu như kết hôn với phụ nữ bản địa Cuối thế kỷ XVIII, khi các thương nhân ngoại quốc dần dần rút đi thì người Hoa hầu như làm chủ thị trường Hội An

Đầu thế kỷ XVII, đô thị Hội An có quy mô khá lớn gồm 2 khu phố: Phố khách của người Hoa và phố Nhật của người Nhật Trong thời gian này người Nhật đóng vai trò chủ đạo tại thương cảng Hội An, có mối quan hệ mật thiết gần gũi với các chúa Nguyễn Vào cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII, tướng quân Tokugawa thiết lập chế độ Mạc Phủ ở Edo, chính phủ Nhật bấy giờ thực hiện chính sách mở mang giao thương bằng đường biển Các tàu Nhật xuất dương phải được phép của chính phủ, có đóng dấu của triều đình gọi là Châu Ấn

Trong 30 năm dười thời Mạc Phủ, số thương thuyền Nhật Bản (Châu Ấn Thuyền) được cấp giấy phép đến buôn bán tại 19 cảng ở Đông Nam Á là 331 chiếc, trong đó đến Việt Nam là 131 chiếc (chiếm 39,27%) mà chủ yếu là đến Hội

An (86 chiếc, chiếm 66,15% tổng số thuyền đến Việt Nam) [68, tr.207] Trong 19 cảng thuộc các nước Đông Nam Á thì Nhật thương chỉ chọn 4 địa điểm lý tưởng để xây dựng phố phường và cư trú, buôn bán Ngoài Hội An của Việt Nam, còn có Manila của Philippines, Phnôm Pênh của Campuchia và Auytthaya của Thái Lan Chỉ riêng ở Hội An, họ đã có đến hơn 1.000 người Trong bức tranh “Giao chỉ quốc mậu dịch độ hải đồ” do thương nhân Nhật Bản nổi tiếng Chaya Shinrokuro vẽ năm 1624, phố Nhật ở Hội An được vẽ làm 2 dãy, dài hơn 3 đinh (khoảng 3.000m) [41, tr.194] và cơ bản trùng với đường Trần Phú ngày nay

Việc đi biển chủ yếu bằng thuyền buồm, vì phải phụ thuộc vào chế độ gió nên họ phải lưu trú lại Hội An hơn gần nửa năm, vì thế đây là giai đoạn họ đẩy mạnh việc giao tiếp với người Việt, nhiều người đã lấy vợ là người Việt và ở hẳn lại Hội An [68, tr.209] Đến giữa thế kỷ XVII, người Nhật buộc phải về nước theo lệnh của chính phủ Nhật, việc buôn bán của người Nhật ở Hội An thưa dần chỉ còn

Trang 14

lại một số ít người “phiêu lưu” đã ở lại Hội An sinh sống Vào năm 1766, số người Nhật ở Hội An giảm còn khoảng bốn đến năm gia đình

Viết về người Nhật và người Trung Hoa, từ năm 1621 đến năm 1622 Christoforo Borri (giáo sỹ người Ý đạo Kito) đã đặt chân đến Đà Nẵng và ghé vào Hội An Ông và các giáo sỹ trên thuyền Châu Ấn, đã viết quyển sách đầu tiên về Việt Nam “Ký sự về đoàn người truyền đạo Kito giáo ở Vương quốc Giao Chỉ - China” xuất bản bằng tiếng Latinh, trong đó có viết về phố Nhật Bản như sau: chúa Nguyễn đã ban cho người Nhật và người Trung Hoa đặc quyền được xây dựng tương ứng với số ngoại kiều tại đây Do đó ở đây đóng vai trò như một chợ lớn có điều kiện để xây dựng một thành phố Thành phố này được gọi là Faifo Thành phố khá lớn và được chia thành hai khu riêng biệt, đó là khu phố của người Nhật và của người Hoa Họ sinh hoạt độc lập với nhau có một thể chế chính trị riêng và sinh hoạt theo phong cách tập quán riêng của mỗi nước”

Những thương nhân phương Tây đến Hội An cũng khá sớm, sự hiện diện của họ ở Hội An có thể trước cả thương nhân người Trung Hoa, Nhật Bản Nhưng

họ chỉ đặt các thương điếm mà không lập các phố xá bởi mối quan hệ không được thường xuyên Vào đầu thế kỷ thứ XVI, người Bồ Đào Nha đã đến Hội An để mua

tổ yến, nấm hương, vải lụa… Sang thế kỷ XVII, người Bồ Đào Nha và người Nhật

là thương nhân nước ngoài chủ yếu ở thị trường thương cảng Hội An Họ mang theo các đồ sành, sứ, bạc, chì, kẽm… từ Ma Cao đến Đến thế kỷ thứ XVII, thương nhân Hà Lan đặt mối quan hệ với chúa Nguyễn ở Đàng Trong, được chúa Nguyễn chấp nhận và gửi thư mời thương nhân Hà Lan đến buôn bán Năm 1636, thương điếm Hà Lan được thiết lập ở Hội An do Abraham Dujeker phụ trách [28, tr.293] Nhưng về sau, người Hà Lan mở rộng thị trường ra Đàng Ngoài buôn bán vũ khí cho chúa Trịnh để hai chúa đánh nhau, trước tình hình đó chúa Nguyễn đã hạ lệnh tịch thu hàng hóa và đóng cửa thương điếm Hà Lan ở Hội An

Trang 15

Người Anh theo chân người Bồ Đào Nha đến Hội An vào những năm 1613

Họ xin chúa Nguyễn được đặt thương điếm tại Hội An Nhưng họ gặp nhiều khó khăn vì bị giới thương nhân tại chỗ cạnh tranh, hành hung, nhất là sự quấy nhiễu của quan lại nên người Anh không dám đến buôn bán ở Hội An [11, tr.73]

Các thương nhân phương Tây đến Hội An khá sớm, Pháp là người đến sau Năm 1742 mới thực sự có thương nhân người Pháp đặt chân đến Hội An đó là Pierre Poivre Nhưng chuyến đi này của ông chỉ mang tính chất thăm dò thị trường, ông chưa đặt được mối quan hệ thương mại ở đây [15, tr.299 -300] Đến năm 1744, một lái buôn khác đến Đàng Trong, được chúa Nguyễn cấp giấy phép cho buôn bán và xây dựng kho ở đây

Về sau, do việc giao dịch gặp nhiều khó khăn vì chính sách của nhà nước, tệ nạn tham ô, nạn nhũng nhiễu của quân lính và sự cạnh tranh của thương nhân nước ngoài và nhiều cuộc đối đầu diễn ra, cho nên Pháp không thể thành công trong việc đặt quan hệ thương mại với Hội An thời kỳ chúa Nguyễn và sau đó Pháp tấn công

Đà Nẵng năm 1858, mở đầu cuộc tấn công xâm lược nước ta

Tuy nhiên, vào nửa cuối thế kỷ thứ XVIII, những biến cố chính trị khôn lường đã xảy ra như “dội gáo nước lạnh” vào bộ mặt kinh tế ngoại thương sáng sủa của Hội An, làm cho Hội An chững lại trên đường phát triển Đó là cuộc giao tranh quyết liệt giữa quân đội Tây Sơn - nhà Trịnh diễn ra vào năm 1775 mà hậu quả của

nó là sự đổ nát hoang tàn Viện ngự y của chúa Nguyễn Phúc Khoát, người Đức tên

là Jean Koffler, lúc này đang ở Phú Xuân, có dịp vào Hội An và nhận xét: “quân Trịnh đã dần phá thành phố Faifo, làm ngưng trệ mọi hoạt động trong một thành phố có thể gọi là một trung tâm lớn của ngoại thương” [66, tr.28]

Ngày 30/8/1778, thương nhân người Anh M.Chapman ghi trong nhật ký:

“thành phố này bị chiến tranh tàn phá gần hết, chỉ còn trơ trọi những mảng tường cháy nham nhở… Hội An xưa là chốn đô hội, nhà cửa bằng gạch ngói san sát, đường đi nát đá nay chỉ còn thấy một sự đổ lát mà không ngăn nổi kinh dị”

Trang 16

Khi chiến thắng, quân Trịnh rút quân về Đàng Ngoài, nhà Tây Sơn phải gắng sức khắc phục hậu quá chiến tranh và dần dần phục hồi kinh tế thương nghiệp Hội

An dần dần được hồi sinh, nhưng không nắm giữ vai trò cốt yếu ở Đàng Trong như trước nữa, nhưng Hội An vẫn được sử dụng làm nơi hội tụ để trao đổi hàng hóa vì nguồn lợi thu được ở đây vẫn rất béo bở

Ngoài việc đô thị bị đổ nát do chiến tranh gây ra trong giai đoạn này, Hội An còn bị một số yếu tố của tự nhiên tác động Đó là sự bồi lấp của sông Cổ Cò làm cho sự thông thương giữa Hội An và Đà Nẵng gặp nhiều trở ngại, ách tắc Đó là sự bồi cạn của sông Cửa Đại, làm cho các thương thuyền lớn khó có thể ra vào Đây chính là những dấu hiệu tiêu cực, kìm hãm sự phát triển của nền ngoại thương thuyền buồm thời kỳ này

Nhưng dù vậy, sức sống mãnh liệt từ quá khứ, cho nên Hội An vẫn chưa hoàn toàn bị tê liệt trước những thử thách dồn dập Đầu thế kỷ XIX, Hội An vẫn mang dáng vẻ một khu thương nghiệp hoạt động nhộn nhịp trên bến dưới thuyền Sách “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn có ghi chép như sau: “nơi Hội An Minh Hương phố xá đông đúc làm chỗ buôn bán đô hội, thực là nơi đô thị lớn và là một tỉnh lớn trong khu Nam Trực vậy… Trên bờ biển phố nhà ngói liên tiếp chừng 2 dặm, dưới sông thuyền đi lại như mắc cửi” [31, tr.30]

Năm 1819, thuyền trưởng Rey của tàu Henry có dịp đến Hội An đã ghi lại trong Nhật ký của ông: “Hội An là một trong những cửa hàng bách hóa lớn… thành phố chỉ có một con đường khá dài… thành phố có đến 6 vạn dân mà 1/3 là người Trung Hoa” [31, tr.31] Các dãy đều xây bằng gạch và chỉ có một tầng, tất cả đều được bố trí đề buôn bán, phía sau là những nhà kho kín đáo [69, tr.42] Con đường khá dài ở đây chạy dọc theo bờ sông Hoài, cơ bản trùng với con đường Trần Phú hiện nay Đến năm 1841 bờ sông được mở rộng thêm về phía Nam nên mở thêm đường Nguyễn Thái Học Đến năm 1886 bờ sông tiếp tục được mở rộng và con đường Bạch Đằng hiện nay được hình thành Cho đến giữa thế kỷ XIX, tỉ lệ cư

Trang 17

dân thành thị ở nước ta chưa đến 1% trên tổng số dân, ngay cả Chợ Lớn cũng chỉ

có 4 đến 5 vạn người, nhưng Hội An đã có đến 6 vạn người, đúng là một đô thị nhộn nhịp, đông đúc…

Cuối thế kỷ XIX, khi con sông Cổ Cò bị bồi lấp nhiều đoạn, cho nên nó chính thức cắt đứt tuyến giao thông đường thủy giữa Hội An và Đà Nẵng Cửa Đại lại càng bị bồi lấp cạn hơn, đô thị Hội An như nằm trong thế cô lập trong khi khối lượng hàng hóa vẫn còn rất phong phú và đa dạng

Trước tình hình đó, phòng Thương mại Đà Nẵng do người Pháp nắm giữ, đã đưa ra hai phương án nhằm duy trì mối quan hệ thông thương với Hội An và các phương án đã được đề ra Phương án thứ nhất là nạo vét sông Cổ Cò và một số tuyến sông khác Phương án hai là xây dựng một con đường sắt nối liền giữa Đà Nẵng với Hội An Và phương án thứ hai đã được thi hành thực hiện Vì vậy, từ năm 1904 tuyến đường sắt Hội An - Đà Nẵng Decauville dài gần 30km đã hoàn thành, góp phần vận chuyển, thông thương hàng hóa, sau đó là khách giữa hai đô thị

Lúc này các con tàu lớn chỉ có thể cập bến được vào cửa sông Hàn Đà Nẵng

để đợi giao nhận hàng, vì vậy tuyến đường sắt đóng vai trò quan trong trong việc trung chuyển hàng hóa từ Hội An ra và ngược lại Đến năm 1916, một cơn bão đã

đổ bộ vào khu vực này, làm nhiều đoạn đường sắt bị vùi lấp, hư hỏng đường ray, một năm sau tuyến đường này đã chấm dứt sau 13 năm hoạt động

Tuy tuyến đường sắt có lịch sử khá ngắn ngủi, nhưng dựa vào quá trình hoạt động của nó cho ta thấy trong giai đoạn này Đà Nẵng vẫn chưa thể thay thế được Hội An, mà phải đợi đến mấy chục năm sau, khi các thương nhân Pháp, Hoa, Việt… có đủ thời gian gây dựng cơ sở vững chắc tại Đà Nẵng thì thành phố Đà Nẵng mới thực sự vươn lên, đóng vai trò quan trọng là một cảng thị quốc tế ở khu vực miền trung thời hiện đại, đồng thời nó đánh dấu sự chấm hết của một Hội An phố cảng vốn một thời phát triển vàng son Vậy là: “Từ một cảng nhộn nhịp và lớn

Trang 18

nhất của Nam Hải ngoài Trung Hoa, Hội An chỉ còn là một Thị Trấn nhỏ nằm im

lìm bên bờ sông Thu Bồn” [19, tr.218]

1.1.2.2.2 Hội An từ đầu thế kỷ XX đến nay

Sau khi kết thúc vai trò là một cảng thị ngoại thương hàng hải quốc tế, Hội

An trở thành một đô thị nội thương của khu vực, các hoạt động kinh doanh, sản xuất, dich vụ…chỉ ở mức độ bình thường Tuy vậy đường phố, nhà cửa vẫn được xây dựng, mở rộng, nâng cấp Bên cạnh khu phố cổ với các dãy phố dọc bờ sông như: Trần Phú, Nguyễn Thái Học, Nguyễn Thị Minh Khai, Bạch Đằng, đã có thêm các đường phố khác của người Việt, người Pháp mọc lên như: Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, Trần Hưng Đạo, Hai Bà Trưng…và các dãy phố cắt ngang như: Lê Lợi, Trần Quý Cáp, Hoàng Diệu…

Hội An ngày nay là thành phố trực thuộc tỉnh Quảng Nam Ngoài phường Minh An ở trung tâm phố cổ còn có các phường nội ô như Cẩm Phô, Sơn Phong và nay có thêm 6 phường 4 xã nữa đó là: Thanh Hà, Tân An, Cẩm Châu, Cẩm An, Cẩm Nam, Cửa Đại, xã Cẩm Hà, Xã Cẩm Kim, xã Cẩm Thanh, Xã Tân Hiệp Những khu dân cư mới đã được quy hoạch về phía Tây và phía Bắc nhằm giảm bớt mật độ dân số trong khu phố cổ nhằm đáp ứng sự phát triển kinh tế xã hội toàn thành phố

Song song với việc phát triển đô thị theo xu thế hiện đại và để đáp ứng nhu cầu kinh tế - xã hội để xứng với vai trò trọng điểm của tỉnh Quảng Nam, Hội An vừa trân trọng, giữ gìn quần thể kiến trúc khu phố cổ Hội An và xem đó như là báu vật đề lại cho các thế hệ sau

Cư dân Hội An ngày nay theo các tôn giáo khác nhau đa số theo đạo Phật, một số theo đạo Thiên Chúa, Tin Lành, Cao Đài…Phần đông dân cư tập chung sống trong vùng nội thị thành phố, sống bằng nghề thủ công truyền thống, thương mại, dịch vụ, du lịch…cư dân nông thôn chủ yếu sông bằng nghề sản xuất nông ngư nghiệp, nuôi trồng thủy sản

Trang 19

Đánh giá về vai trò của khu phố cổ Hội An đối với xứ Đàng Trong, đối với nước ta hay trong khu vực, nhiều học giả đã khẳng định Xét về loại hình đô thị,

GS Lê Văn Lang cho rằng: “các đô thị trung cổ Việt Nam phần lớn được ra đời do một quyết định của một nhà nước quân chủ” gồm 2 từ tố “đô” (thành, trấn, dinh…)

và “thị” (phố, phường…) trong đó “thị” có vai trò phụ thuộc “có lẽ chỉ thấy Hội

An là một trong rất it những trường hợp có vẻ ngoại lệ của mối tương quan và cấu trúc đô thị này” [22, tr.262] GS Trần Quốc Vượng cũng nhận định Hội An là “một

đô thị thuần thương nghiệp, một thương cảng cửa sông, ven biển mà chức năng chủ yếu là ngoại thương” [56]

Lịch sử đã đi qua, thịnh - suy, thăng - trầm đã trở thành quy luật tất yếu của bất cứ quốc gia, dân tộc, vùng đất nào trong quá trình phát triển, Hội An cũng là trường hợp không ngoại lệ Hội An không phải là đô thị cổ xưa nhất, tuổi thọ cũng không phải lâu đời nhất, quy mô cũng không phải to nhất ở Việt Nam, nhưng lại có vai trò, vị trí quan trọng , hình thành nên những giá trị lịch sử, văn hóa độc đáo mà

ít nơi nào có được Điều đặc biệt và quan trọng hơn cả là cho đến nay đô thị cổ Hội

An vẫn hiện tồn gần như nguyên trạng, trong khi đã trải qua rất nhiều biến cố của dân tộc, như chiến tranh, xu thế hiện đại hóa kiến trúc, đặc biệt là sự khắc nghiệt của thiên nhiên “Di tích đô thị cổ Hội An vẫn còn được bảo tồn đến nay là trường hợp duy nhất của Việt Nam và cũng là trường hợp hiếm có trên thế giới” [17, tr.16]

Chợ Hội An là nơi trao đổi hàng hóa, sản phẩm nông nghiệp, thủ công

nghiệp, ngư nghiệp Khi kinh tế hàng hóa phát triển, có dịp tiếp cận với thương nhân phương Tây, việc buôn bán được mở rộng ra cả khu vực dân cư trong phố Vì vậy ở giai đoạn đầu, chợ Hội An chỉ là nơi trao đổi hàng hóa có tính chất đơn thuần

tự cung, tự cấp Đến thời kỳ có khách nước ngoài đến, hàng hóa hội tập nhiều, cả thương cảng Hội An là một chợ lớn Nếu phố có hiệu buôn, kho hàng của thương

Trang 20

nhân thì chợ trước sau vẫn là nơi tụ hội của dân tứ xứ trong địa phương, buôn bán

cơ động, vốn ít nhưng hàng hóa lại đa dạng, dồi dào Trong cuốn “người Châu Âu

ở An Nam”, đoạn viết về Hội An, C.May Bon đã có nhận xét: “thổ dân có thói quen mang đến những sản phẩm trong vùng như tơ lụa sống, tơ đã dệt, gỗ đóng đồ đạc, gỗ trầm hương, đồng, xạ hương, quế, hạt tiêu, gạo và các tàu Trung Quốc ” Trong ký ức con người Hội An ngày nay vẫn còn vang vọng nhiều câu ca dao dí dỏm ghi nhận hoạt động của Chợ Hội An:

“Hàng trầu, hàng cau là hàng con giá Hàng bánh hàng trái là hàng bà già Hàng Bông hàng Hoa là hàng Nhật Bản”

Chợ Hội An hiện nay vẫn phản ảnh bóng dáng xa xôi của chợ xưa và cả sự phồn thịnh của một đô thị thương cảng từng nổi tiếng một thời Đây là nơi thu hút hàng hóa ở cả mặt đường thủy và đường bộ, xa và gần Ở thời kỳ trước, nếu chợ Hội An là nơi thu hút giao dịch và là bộ mặt thể hiện mức độ cung - cầu lớn của một thương cảng có ý nghĩa quốc tế, thì ở thời kỳ sau và hiện nay, chợ Hội An vẫn

có ý nghĩa giao dịch chung cho cả một vùng không riêng ở thị xã Hội An và cả một

số xã của các huyện bạn như Duy Xuyên, Điện Bàn…

Hội An có nhiều Làng nghề thủ công truyền thống được kế thừa từ người

Việt ở đồng bằng bắc bộ, song lại thích nghi trong điều kiện của vùng đất mới Đó

là làng mộc Kim Bồng với nhiều thế hệ nghệ nhân đã từng tạo dựng đô thị Hội An

từ cuối thế kỷ XVI, góp phần xây dựng cung điện, lăng tẩm Huế vào thế kỷ XIX và thường xuyên tu bổ, tôn tạo di tích kiến trúc phố cổ, đóng sửa tàu thuyền, làm hàng

mỹ nghệ cho đến ngày nay Đó là làng gốm Thanh Hà với những sản phẩm gạch, ngói và đồ dùng sinh hoạt phục vụ nhu cầu đời sống hàng ngày của nhân dân địa phương và góp phần kiến thiết, tu bổ phố cổ Đó là làng yến Thanh Châu đã có gần bốn thế kỷ kinh nghiệm bảo dưỡng, khai thác yến sào - một loại siêu đặc sản được thiên nhiên ban tặng hết sức giá trị về dinh dưỡng, dược liệu Đó là làng rau Trà

Trang 21

Quế quanh năm xanh ngát, tỏa hương, cung cấp nguồn rau xanh thơm ngon nổi tiếng cho cả vùng Đó là những làng chài như: Võng Nhi, Đế Võng, Phước Trạch, Đại An, Tân Hiệp, ngày đêm đánh bắt, chế biến các loại thủy hải sản cung ứng cho nhu cầu nội địa và xuất khẩu sang các thị trường Âu - Á, đó là các làng buôn Hội An, Minh Hương, Cẩm Phô từng góp phần đắc lực, trực tiếp vào sự phát triển vàng son của cảng thị ngoại thương Hội An trong lịch sử

Lăng ở Hội An hiện tồn dưới nhiều quy mô, kích cỡ tùy theo đối tượng thờ

tự và sự khác nhau về hình tượng của đức tin Chính vì thế, mỗi công trình đều toát lên những đặc thù kiến trúc riêng biệt, thể hiện tính sáng tạo, phong phú của con người Đặc biệt, đáng lưu ý là tín ngưỡng thờ Quan Công (Trung - Tín - Thiết - Nghĩa), thờ các vị Tổ nghề, thờ Thánh sư - các bậc nho học, Thần biển (cá Ông) đều biểu trưng cho tinh thần trọng nghĩa, tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc (giống như miếu) Lăng thường có quy mô nhỏ, mặt bằng hình chữ đinh tạo thành tiền đình, hậu tẩm và thiên về chiều sâu và đa số có niên đại thế kỷ XIX, chủ yếu xây bằng tường xây gạch, cuốn vòm thấp, nhưng hệ thống mái vẫn lợp ngói âm dương

và trang trí rất độc đáo

Miếu hiện tồn dưới nhiều quy mô kích cỡ tùy theo đối tượng thờ tự và sự

khác nhau về hình tượng của đức tin Nhóm công trình này có hai dạng mặt bằng phổ biến là hình chữ quốc và hình chữ nhật Quan Công miếu với dáng vẻ kiến trúc

uy nghiêm, bề thế từng một thời là trung tâm tín ngưỡng của cộng đồng dân cư Hội

An Ngoài ra ở Hội An còn có Khổng Tử miếu, Văn Thánh miếu, Ngũ Hành miếu, Yến Nghệ tổ miếu… ngoài sự khác nhau về sự đức tin, mỗi công trình đều toát lên những đặc thù kiến trúc riêng biệt, thể hiện tính sáng tạo, phong phú của con người Đặc biệt, đáng lưu ý là tín ngưỡng thờ Quan Công (Trung - Tín - Thiết - Nghĩa), thờ các vị Tổ nghề, thờ Thánh sư - các bậc nho học, Thần biển (cá Ông) đều biểu trưng cho tinh thần trọng nghĩa, tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc

Trang 22

Đình làng truyền thống là trung tâm văn hóa tín ngưỡng của cư dân Việt hay

cộng đồng Việt gốc Hoa ở Hội An Đình làng là nơi sinh hoạt các hoạt động văn hóa - xã hội, đình làng được dùng làm nơi hội họp, tổ chức những lễ cúng và các

sự kiện đặc biệt Ngày nay các đình làng ở Hội An vẫn còn được sử dụng Mỗi làng đều có 1 ngôi đình và từ cuối thế kỷ XIX khi dân cư phát triển đông thì dưới làng

là các ấp cũng có ngôi đình riêng - gọi là Đình Ấp Ðình làng thường được xây dựng ở vị trí trung tâm, đầu mối quy tụ giao thông, đặc biệt phía trước đều nhìn về một dòng chảy (sông, lạch ) Ðình ở Hội An tuy có niên đại khác nhau nhưng niên đại hiện trạng của các công trình ở đây đều phổ biến vào thế kỷ XIX

Chùa là công trình kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng được trang trí khá lộng lẫy

so với các loại kiến trúc khác ở Hội An Các công trình này được phân bố khắp nơi

ở khu phố cổ Hội An hay các vùng ven Chùa Hội An là sự kết hợp hài hòa giữa các yếu tố dân tộc và quốc tế, truyền thống và hiện đại, điều đó tạo nên sự đột phá bất ngờ về phong cách nghệ thuật Lời kinh, câu kệ đệm trong những hồi chuông, tiếng mõ như là điệp khúc tôn kính của giới tu hành ngày đêm nguyện cầu cho quốc thái dân an và rót vào lòng người đức từ bi, bác ái, hướng con người vươn đến những giá trị đích thực vĩnh hằng của cuộc sống “chân - thiện - mỹ” Một trong những công trình kiến trúc tôn giáo tiêu biểu là Chùa Phước Lâm, tọa lạc ở

xã Cẩm Hà, cách Hội An khoảng 3 km, do Hòa thượng Minh Giác xây dựng vào giữa thế kỷ XVIII Chùa Phước Lâm cùng chùa tổ Chúc Thánh (Phường Tân An) là các di tích minh chứng việc phát triển của Phật Giáo ở Đàng Trong Việt Nam

Hội Quán ở Hội An được xây dựng để phục vụ cho cộng đồng người Hoa,

các công trình kiến trúc tuyệt vời này đã được các thế hệ cư dân gốc Hoa lần lượt xây dựng từ thế kỷ XVII Các hội quán có sự kết hợp các yếu tố kiến trúc (phong thủy) và tôn giáo tín ngưỡng của người Hoa, nhưng cũng mang phong cách kiến trúc xây dựng truyền thống của người Việt Tại Hội An ngày nay tồn tại năm hội quán tương ứng với năm bộ phận dân cư Hoa kiều lớn ở đây: Phúc Kiến, Trung

Trang 23

Hoa, Triều Châu, Quỳnh Phủ và Quảng Đông Các hội quán này có quy mô khá lớn, đều nằm trên trục phố Trần Phú Các công trình Kiến trúc đều xây dựng theo hướng thông thoáng, mặt quay về phía dòng sông Thu Bồn Cũng giống như chức năng của các Đình làng, hội quán cũng còn là nơi trao đổi, bàn bạc việc buôn bán

Nhà ở Hội An là các ngôi nhà cổ có sự đan quyện tài tình, sự hội nhập hài

hòa của các phong cách kiến trúc Việt - Hoa - Nhật - Pháp Phố cổ Hội An rộng khoảng 2km², gồm các phố cổ hẹp, ngắn, chia cắt nhau như bàn cờ, bao gồm hàng trăm ngôi nhà cổ, một hoặc hai tầng, mái lợp ngói cổ, tường hồi sát mái, cao thấp

lô nhô, đứng tựa vào nhau hai bên phố Nhà ở đây chủ yếu làm bằng gỗ có chạm trổ hoa lá, chim thú Trong nhà trang trí hoành phi câu đối, cuốn thư Vì kèo với sự

đa dạng về kiểu dáng như vì chồng rường giả thủ, vì vỏ cua, bẩy hiên hình cá chép , mặt trước là cửa hiệu Lòng nhà hình ống khá sâu, nhưng thông thoáng, mát mẻ nhờ có sân trời ở giữa Tiêu biểu như một số nhà như: nhà cổ Tấn Ký, nhà

cổ Phùng Hưng, nhà cổ Quân Thắng

Nhà thờ tộc là một loại hình kiến trúc tín ngưỡng phục vụ nhu cầu thờ tự tổ

tiên, sinh hoạt huyết thống của từng dòng họ Từ tấm lòng thành và đầu tư công sức của con cháu, nhà thờ tộc là sự nâng cao về quy mô, trình độ kiến trúc nghệ thuật, về công năng sử dụng so với nhà ở thông thường Thông qua các dịp giỗ tổ hàng năm, thông qua tộc ước thành văn hoặc bất thành văn, thông qua các dịp sinh hoạt dòng họ, nhà thờ tộc chính là nơi giáo dục con người về sự biết ơn, kính trọng

tổ tiên, nương náu, đùm bọc, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, không ngừng củng cố tình huyết thống Trong khu phố cổ Hội An phần lớn nhà thờ tộc tập trung xung quanh đường Lê Lợi, một số ít nằm rải rác ở đường Nguyễn Thị Minh Khai hay nằm ngay sau những ngôi nhà phố trên đường Trần Phú Các nhà thờ tộc có niên đại sớm nhất hầu hết của người Hoa kiều, vào đầu thế kỷ XVII, số có niên đại thế

kỷ XVIII chỉ chiếm một phần nhỏ Vì là nơi thờ tự nên nhà thờ tộc được xây dựng theo dạng khuôn viên, có bố cục và kết cấu chặt chẽ, bao gồm cả sân vườn, cổng,

Trang 24

tường rào, nhà phụ Nhiều nhà thờ tộc ở đây có quy mô và kiến trúc rất đẹp, như nhà thờ tộc Trần, nhà thờ tộc Trương, nhà thờ tộc Nguyễn hay nhà thờ Tiền hiền Minh Hương

Chùa Cầu: Chùa Cầu còn có tên gọi là Cầu Nhật Bản, Lai Viễn Kiều, cây

cầu này dài khoảng 18 mét, bắc qua một lạch nước nhỏ chảy ra sông Thu Bồn, nối liền đường Trần Phú với đường Nguyễn Thị Minh Khai, tương truyền do người Nhật xây vào đầu thế kỷ XVII và đã qua ít nhất sáu lần tu bổ Cầu có mái che khá độc đáo, ở giữa là lối qua lại kiểu cầu vồng, hai bên có hành lang hẹp để làm nơi bày bán hàng, nghỉ mát với bảy gian bằng gỗ bắc ngang qua một lạch nước nhỏ Các kết cấu, họa tiết trang trí thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa các phong cách kiến trúc Việt, Hoa, Nhật, phương Tây Cùng với chức năng giao thông, cầu còn là nơi sinh hoạt tín ngưỡng liên quan đến truyền thuyết về việc trấn yểm thủy quái, thủy tai giữ gìn sự yên bình cho phố xá và cộng đồng cư dân Hội An

Giếng cổ phân bố trong và ngoài khu phố cổ Hội An Hầu hết giếng được

xây dựng bằng gạch để giúp lọc nước (một số được xây bằng đá) có hình "vành khăn" hay còn gọi là hình "cổ áo" Ở đáy giếng có bốn thanh đà gỗ lim ghép lại thành hình vuông, thành giếng xây theo hai dạng: hình vuông hoặc hình tròn Những giếng cổ nhất được phát hiện cho đến bây giờ là do người Chămpa đào, có dạng hình vuông Tiêu biểu là giếng chăm ở Trà Quế, xã Cẩm Hà, có đường kính một mét, thành giếng được xây bằng đá dày khoảng 10cm, nằm trên khuôn viên hình chữ nhật, xung quanh bốn góc có bốn cột đá Hiện nay các giếng

cổ này vẫn được cư dân Hội An sử dụng vì nước giếng rất trong, sạch, ngọt

Mộ cổ ở Hội An khá phong phú về chủ nhân, niên đại và số lượng Những

ngôi mộ Sa Huỳnh, Chăm, Việt, Hoa, Nhật, Bồ, Tây…vẫn tồn tại thầm lặng cùng với thời gian và vẫn được người Hội An trân trọng bảo vệ, giữ gìn Mộ được xây dựng ở những nơi gần và đều hướng về phía dòng nước chảy (sông, lạch…) Mộ

cổ phổ biến ở Hội An là loại mộ được cấu thành bởi chất liệu vôi tam hợp: (vôi hàu

Trang 25

- cát mịn - ngâm mật mía hoặc nước từ một số loại cây có chất keo như: bời lời, lưỡi long ) Nhìn chung, loại hình mộ cổ ở Hội An thể hiện rất rõ tính hoà nhập của các cộng đồng cư dân trong một kiểu thức chung Bằng kiểu thức mộ, chúng ta khó có thể phân biệt được đâu là mộ người Nhật, đâu là mộ người Hoa, hay mộ người Việt, phải chăng là sự khác nhau về quy mô của mộ người giàu, quan lại hay người thuộc tầng lớp bình dân Tuy nhiên cũng có nhiều bia mộ vẫn còn khắc ghi những thông tin lịch sử rất quý giá, giúp cho các nhà khoa học tìm về dấu vết cư dân, giúp cho thế hệ con cháu tìm về cội nguồn tổ tiên

1.3 Quần thể di tích khu phố cổ Hội An những giá trị văn hóa

1.3.1 Giá trị văn hóa vật thể

Cùng với các đô thị khác của Việt Nam, Hội An có những đặc điểm lịch sử

và địa lý nhân văn rất riêng biệt Mảnh đất nơi đây có một lịch sử lâu đời và là nơi gặp gỡ, giao thoa của nhiều nền văn hóa Đặc điểm đầu tiên có thể nhận thấy ở văn hóa Hội An chính là tính đa dạng Khi Hội An trở thành thương cảng quốc tế sầm uất, nơi đây đã tiếp nhận nhiều cư dân mới đến từ nhiều nền văn hóa khác nhau Điều này giúp cho Hội An có được một nền văn hóa nhiều tầng, nhiều lớp và đa dạng, văn hóa vật thể vẫn đang sống và tương thích với hình thái văn hóa phi vật thể

Quần thể kiến trúc khu phố cổ là biểu hiện vật thể nổi bật về sự giao lưu giữa các nền văn hóa của một cảng thị nội thương quốc tế thời trung - cận đại, nó hàm chứa hầu hết các loại hình kiến trúc cổ Việt Nam, nó hội tụ được các yếu tố nghệ thuật dân tộc truyền thống và làm phong phú thêm bằng sự giao lưu có chọn lọc nhưng rất tương thích của nghệ thuật nước ngoài Tuy nhiên nhìn một cách khách quan và chính xác, có thể thấy lịch sự cảng thị Hội An tính đến nay đã trải qua quá trình gần hai ngàn năm chứ không chỉ đơn thuần trong vài thế kỷ của thời trung - cận đại Tuy nhiên chúng ta không thể phủ nhận, về sự giao lưu kinh tế văn

Trang 26

hóa mạnh mẽ dưới thời Việt cảng từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XX (thời trung-cận đại), đã tạo nên bộ mặt, diện mạo cho Hội An ngày nay

Đánh giá về tầm vóc và những giá trị của khu phố cổ Hội An Kazimierz Kwiatkowski kiến trúc sư người Ba Lan đã nhận xét: “…vẻ đẹp không trùng lặp chứa đựng trong các phố phường lịch sử sự phong phú trong các thể dạng kiến trúc, sự hoàn hảo của nghệ thuật chạm khắc trong nội thất, các di tích kiến trúc tạo nên cho khu phố cổ Hội An những đặc điểm nổi bật trong một không gian riêng biệt Những đặc điểm này đưa phố cổ lên vị trí hàng đầu trong danh mục các di tích văn hóa của Việt Nam và cả trong kho tàng di sản văn hóa nhân loại…” [53, tr.305]

Trong chuyến công tác điều tra khảo cổ về khu phố cổ hội An, chủ tịch Hội Khảo cổ học Nhật Bản, GSVS Sakurai Kiyohiko cũng phải thốt lên: “những kiến trúc cổ của Hội An không chỉ là tài sản văn hóa của riêng các bạn, nó còn là tài sản văn hóa của thế giới, của cả nhân loại nữa” [17]

Sự kết hợp hài hòa giữa không gian, bố cục kiến trúc và sự đan quyện tài tình giữa các phong cách kiến trúc khác nhau như Việt - Hoa - Nhật - phương Tây

ở khu phố cổ Hội An đã tạo cho Hội An một bộ mặt kiến trúc rất đắc biệt, hiếm nơi nào có được: “Trên lãnh thổ Việt Nam trong lịch sử chưa từng có một chốn đô thị giao lưu văn hóa đa phương như Hội An [23, tr.446] Đó là một quần thể kiến trúc

di tích độc đáo, đa dạng, thể hiện trí tuệ tài năng và sức sáng tạo của cha ông ta trong lịch sử Tuy có sự giao lưu du nhập giữa các nền văn hóa khác nhau nhưng vẫn đậm đà bản sắc dân tộc

Dưới con mắt của danh họa Lưu Công Nhân thì “toàn bộ đô thị cổ Hội An

là những bức tranh đã vẽ sẵn” và nó trở thành đề tài sáng tác nghệ thuật vô cùng lí tưởng, khiến ông ngây ngất rồi phải thốt lên “Tôi đến Hội An một ngày mưa trút nước Định chỉ ở lại trong một tuần rồi đi, thế mà vì mê vẻ đẹp Hội An, tôi đã sống trọn một năm Tết cũng không về nhà” [13, tr.411]

Trang 27

Những bức tường so le trầm mặc, những mái ngói nhấp nhô phủ chút rêu phong cổ kính, những bờ nóc, bờ hồi uốn cong mềm mại, những đôi mắt cửa cầu kì thâm nghiêm, huyền bí, những đường nét hoa văn chạm trổ tuyệt vời, tất cả đã làm cho hồn phố có sức hấp dẫn kì lạ Đây là một quần thể kiến trúc mang dáng dấp điển hình cho kiến trúc đô thị của một cảng thị phồn thịnh xa xưa

Đối với xứ Quảng, Hội An luôn giữ vị trí hạt nhân nòng cốt và có sức lan tỏa chi phối về nhiều khía cạnh cho sự phát triển văn hóa kinh tế xã hội “khả năng sáng tạo của người xứ Quảng thể hiện rõ nét nhất trong các công trình kiến trúc ở

đô thị cổ” [39, tr.566] Rõ ràng trong nhiều năm trở lại đây thành phố Hội An luôn

là gương mặt tiêu biểu cho sự phát triển kinh tế - văn hóa của vùng đất Quảng Nam “địa linh nhân kiệt” Chắc chắn sẽ thiếu đi sự hấp dẫn, thiếu đi sức sống và sức sáng tạo nếu đề cập đến xứ Quảng mà không nhắc đến Hội An mỗi khi chúng

ta đánh giá về các giá trị văn hóa của vùng đất miền trung đặc trưng này Ngày nay cho dù Đã Nẵng thành phố trực thuộc TW, đang phát triển ngày càng to lớn, hiện đại, nhưng dù thế nào cũng không thể so sánh và đánh giá về chiều sâu và bề dày văn hóa như Hội An Với một cái nhìn tinh tế đầy mẫn cảm nhà văn nổi tiếng Nguyên Ngọc đã khảng định: “trung tâm văn hóa của Quảng Nam từ xưa và cho đên bấy giờ có lẽ cũng vậy, là Hội An chứ không phải Đà Nẵng” [30, tr.597]

Đường phố Hội An ngắn, cong và hẹp, bố cục theo kiểu bàn cờ và mỗi con đường đều có một cái tên đầy ý nghĩa, không phải ngẫu nhiên mà từ đầu thế kỷ

XX, đường Hội An (nay là đường Lê lợi) lại bắt đầu từ đường Quảng Nam (Trần Hưng Đạo), như một huyết mạch giao thông, xuyên nối các đường Minh Hương (Phan Châu Trinh, đường Cầu Nhật Bản (Trần Phú), đường Quảng Đông (Nguyễn Thái Học), đường Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam (Bạch Đằng) Chúng ta có thể

dễ dàng nhận ra ngay cả việc đặt tên cũng hòa quyện với các yếu tố Việt - Hoa - Nhật

Trang 28

Quần thể di tích khu phố cổ là sự kết hợp hài hòa giữa không gian, bố cục kiến trúc và sự hòa quyện tài tình giữa các phong cách kiến trúc Việt – Hoa - Nhật

- phương Tây Có thể nói hiếm có nơi nào tập chung kiến trúc với số lượng và mật

độ dày đặc như Hội An Theo số liệu điều tra, kiểm kê của Trung tâm Quản lý Bảo tồn di tích Hội An (tính đến cuối năm 2001), trên địa bàn thành phố có 1.352 di tích, trong đó có 1.268 di tích kiến trúc nghệ thuật thuộc các công trình dân dụng (nhà ở, cầu, giếng, chợ), công trình tín ngưỡng (đình, chùa, lăng, miếu, hội quán, nhà thờ tộc) và công trình đặc thù (mộ) Mỗi công trình kiến trúc ở đây đều mang những đặc điểm và sắc thái riêng và đều góp phần tăng thêm tính phong phú, đa dạng về văn hóa của khu đô thị cổ Hội An

Một điều rất đặc biệt là cho đến tận ngày nay, khu phố cổ Hội An vẫn là môi trường sinh sống của hàng ngàn người, đã trở thành một bảo tàng sống về kiến trúc, về lối sống đô thị Nhưng hoạt động dịch vụ, bán buôn càng rộn ràng, tấp nập hơn xưa Chủ nhân của những ngôi nhà cổ vẫn tham gia hòa nhập vào cuộc sống đời thường Ngay trong lòng phố cổ, một khối lượng khổng lồ cổ vật hết sức giá trị vẫn được con người bảo lưu, gìn giữ như những báu vật của tiền thân Những cổ vật độc đáo này đã chứng minh tính giao lưu quốc tế mạnh mẽ của cảng thị Hội An trong những thể kỉ trước, vì thế nó tạo cho bộ mặt khu phố cổ Hội An trở nên đặc sắc cùng với những giá trị văn hóa đặc biệt mà hiếm nơi nào có được

1.3.2 Giá trị văn hóa phi vật thể

Ngoài những giá trị văn hóa vật thể, di sản văn hóa phi vật thể của khu phố

cổ cũng hết sức phong phú và đa dạng Hội An chính là cái nôi truyền bá đạo ở Đàng Trong Đồng thời cúng với mảnh đất Kinh Kỳ (Hà Nội) là cái nôi ra đời chữ Quốc ngữ vào thế kỷ XVII, là điểm gặp gỡ giao lưu giữa các nền văn minh Chăm – Việt – Nhật – Hoa - Ấn Độ - phương Tây Những yếu tố văn hóa đã trải qua quá trình giao lưu tiếp biến một cách có chọn lọc, để rồi định hình một sắc thái riêng độc đáo nhưng rất Hội An

Trang 29

Ở Hội An tồn tại nhiều tôn giáo khác nhau như Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Tin Lành, Cao Đài nhưng Phật giáo vẫn chiếm đa số Một điểm khác biệt trong tín ngưỡng ở Hội An là tục thờ Quan Công, tuy ít gặp ở nông thôn nhưng đặc biệt phổ biến ở thành thị Miếu thờ Quan Công được xây dựng ngay trong trung tâm khu phố cổ, trở thành một trung tâm tín ngưỡng thiêng liêng, quanh năm hương khói nghi ngút

Trong các di tích của người Hoa, đặc biệt là các hội quán, những vị thần thánh được thờ tùy thuộc vào tín ngưỡng riêng của cộng đồng Tại hội quán Phước Kiến, những người Hoa thờ Thiên Hậu Thánh mẫu, vị thần có nguồn gốc Phước Kiến, cùng Lục tánh Vương gia, sáu vị trung thần của nhà Minh Những người Hải Nam lập Hội quán Quỳnh Phủ thờ 108 vị Chiêu Ứng là 108 người dân Hải Nam đi buôn bán trên biển, không may bị nạn, sau được triều Nguyễn sắc phong làm Chiêu Ứng Công và ban thờ cúng Người Triều Châu có hội quán Triều Châu thờ vị thần chém sóng cứu nạn thuyền buôn trên biển Phục Ba Tướng quân Ở Hội An còn có những hình thức tín ngưỡng khác như thờ bà cô, ông mãnh, vô danh vô vị, thờ đá bùa, đá thạch cảm đương

Lễ hội văn hóa truyền thống của cư dân Hội An rất phong phú và đặc sắc Ở Hội An hiện nay vẫn gìn giữ được nhiều loại hình lễ hội truyền thống, như lễ hội tính ngưỡng thành hoàng làng, lễ hội tưởng niệm những vị tổ sư ngành nghề, lễ hội

kỷ niệm các bậc thánh nhân, lễ hội tín ngưỡng tôn giáo Đặc biệt là các lễ hội của

cư dân sông nước như lễ hội cầu ngư - tế cá ông - đua thuyền, các cư dân thương nghiệp thì có lễ hội vía Thiên Hậu Thánh Mẫu, Quan Thánh Đế Quân, Tài Thần…

Cư dân nông nghiệp thì có lễ như: tết Nguyên Đán, tết Nguyên Tiêu, tết Đoan Ngọ, tết Trung Thu, lễ Cầu Bông, lễ rước Long Chu… ở đó có sự đan xen, hòa quyện các yếu tố văn hóa như Việt - Hoa, Chăm - Việt, Hoa - Việt Ngoài ra còn có các lễ

tế Xuân, tế Thu, tế Tổ nghề, giỗ chạp…đã thu hút sự tham gia đông đảo, nồng nhiệt của nhân dân Lễ hội ở Hội An không to, không bề thế, thậm chí phần hội rất

Trang 30

nhỏ nhưng lại diễn ra thường xuyên, phản ánh chân thực sắc thái văn hóa dân gian của một cảng thị thương nghiệp và rất giàu tính nhân văn, nhân bản

Ngoài các lễ hội, các trò chơi dân gian, diễn xướng âm nhạc cũng rất phong

phú đa dạng, Hội An trước đây đã nổi tiếng với thú đá gà, thả diều, chơi cây cảnh,

câu cá, bài chòi, bài kiệu, hò khoan đối đáp Những hình thức diễn xướng, trò chơi dân gian ở Hội An kết tinh từ quá trình lao động của cư dân địa phương, ngày nay vẫn được gìn giữ và là một phần quan trọng trong đời sống tinh thần nơi đây

Có thể kể đến những điệu hát hò khoan, các điệu hò giựt chì, hò kéo neo, những điệu lý, vè, các hình thức hát tuồng, bả trạo, hô thai, hô bài chòi Hội An còn có truyền thống về diễn tấu cổ nhạc trong các dịp hội hè, tang ma hiếu hỉ và truyền thống ca nhạc tài tử với những nghệ nhân khá nổi tiếng Những người dân ở đây cũng có rất nhiều thú chơi, tiêu biểu có thể kể đến trò bài tới, trò đỗ xăm hường, trò thai đề xổ cử nhân, trò thả thơ, trò chơi thư pháp

Hội An còn có nhiều làng nghề thủ công truyền thống được kế thừa từ người Việt ở đồng bằng Bắc bộ, song nó lại thích nghi trong điều kiên một vùng đất mới,

đó là các làng nghề: làng mộc Kim Bồng, làng gốm Thanh Hà, làng rau Trà Quế, làng yến Thanh Châu, làng chài Võng Nhi, Đại An, Tân Hiệp, Phước Trạch…

Không dừng lại ở đó Hội An giờ đây chính là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa ẩm thưc rất phong phú Với vị trí vùng cửa sông ven biển, Hội An có được một nền ẩm thực đa dạng và mang những sắc thái riêng biệt Cá là một món ăn không thể thiếu trong khẩu phần hàng ngày của dân cư Hội An Ngày nay tại Hội An vẫn lưu truyền một số thói quen, tập quán ẩm thực của một số gia đình người Hoa Vào những dịp lễ tết, các dịp hôn hỉ, họ thường nấu một số món ăn riêng như bún xào Phúc Kiến, cơm Dương Châu, kim tiền kê, phạch xồi để cùng nhau thưởng thức, cũng là dịp nhớ lại nguồn gốc dân tộc Một trong những món ăn tiêu biểu và nổi tiếng nhất của ẩm thực Hội An là món cao lầu, cao lầu gần như là món ăn tiêu biểu khi nhắc đến Hội An Bên cạnh những món đặc sản mang tính phố thị như cao

Trang 31

lầu, hoành thánh, bánh bao, bánh vạc Hội An còn có nhiều món ăn dân dã hấp dẫn như bánh bèo, hến trộn, bánh xèo, bánh tráng đặc biệt là mì quảng

Hội An là vùng đất thể hiện mạnh mẽ tính giao lưu và tiếp biến văn hóa, vì thế cũng như mọi cư dân khác, con người Hội An vừa có những đức tính chung của con người Việt Nam, con người xứ Quảng, nhưng lại vừa thể hiện bằng những sắc thái, cốt cách riêng của mình: giàu lòng yêu nước và cách mạng, có nhiều người tham gia nắm giữ các cương vị quan trọng của quốc gia và có những đóng góp nhất định trong lịch sử dân tộc, có ý chí độc lập, tự chủ cao, có tinh thần đoàn kết cộng đồng, cần cù sáng tạo trong lao động, khá nhạy bén trong giao tiếp, ứng xử, quan

hệ thị dân rất gần gũi, đùm bọc, có ý thức yêu quý, trân trọng di sản văn hóa của tổ tiên [70, tr.51]

Công nhận là di sản văn hóa: Ngày 2 tháng 12 năm 1999, tại thành phố Marakech-Morocco, hội nghị lần thứ 23 của Ủy ban di sản thế giới (thuộc UNESSCO) đã chính thức ghi đô thị cổ Hội An vào vào danh mục di sản văn hóa thế giới do đáp ứng hai tiêu chí:

- Hội An là biểu hiện vật thể nổi bật của sự kết hợp các nền văn hóa qua các thời kỳ trong một thương cảng quốc tế

- Hội An là một điển hình tiêu biểu về một cảng thị châu Á truyền thống được bảo tồn một cách hoàn hảo

CHƯƠNG II: NHÀ CỔ QUÂN THẮNG

2.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Thế kỷ XVII, Hội An là nơi tập trung buôn bán sầm uất của nhiều thương nhân trong nước và quốc tế, nhiều nhất là các thương nhân đến từ: Nhật Bản, Trung Hoa, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp… Thương cảng Hội

An lúc này được gọi với cái tên Faifo, đã được cha cố Antonio De Faria biết đến khoảng năm 1576 khi tàu của ông vào Touran (Đà Nẵng) Tên Faifo còn được Cristophoro Borri khẳng định thêm một lần nữa qua hồi ký của ông viết vào năm

Trang 32

1618 như sau: “thành phố ấy gọi là Faifo (Hội An), một thành phố lớn đến độ có thể nói là có đến hai thành phố, một thành phố của người Tàu, một thành phố của người Nhật Mỗi phố có khu vực riêng và sống theo tập tục riêng Người Tàu có luật lệ và phong tục của người Tàu, người Nhật cũng như vậy” [4, tr.92]

Người Hoa đến Hội An từ rất sớm với nhiều lý do khác nhau, nhưng chủ yếu

là giao thương buôn bán Cuối triều Nguyên Minh, chính quyền nhà Minh đã ra sức tìm cách kiểm soát phần phía Nam Trung Hoa, đây chính là nguyên nhân dẫn đến việc cấm vận hàng hải của triều Minh vào năm 1371 - đời Hồng Võ thứ 4 Việc cấm vận của nhà Minh đối với các nước Đông Nam Á, Nhật Bản đã tạo nên nạn hải tặc trên biển Nhiều thương nhân Trung Hoa đôi khi không được trở về quê nhà

mà phải cư trú vĩnh viễn ở nước ngoài Điều đó dẫn đến hàng loạt thương nhân Trung Hoa đã đổ xuống khu vực Đông Nam Á để giao thương buôn bán với nhiều nước trong khu vực, trong đó Hội An lúc bấy giờ là điểm dừng chân khá lí tưởng của họ Vì Hội An là mảnh đất nhân hòa, địa lợi, mặt khác do nhu cầu về nhân lực

để mở mang phát triển Quảng Nam, chúa Nguyễn đã thu phục và biến người Hoa trở thành một bộ phận dân cư của mình Bên cạnh đó chế độ gió mùa cũng là một yếu tố thuận lợi để cho các thương nhân Trung Hoa phải “lưu đông” lấy vợ người Việt làm cơ sở cư trú buôn bán lâu dài Từ các yếu tố trên đã tạo điều kiện cho việc tạo nên những thành viên đầu tiên của cộng đồng người Hoa ở Hội An từ cuối thế

kỷ thứ XVI

Được sự cho phép của chúa Nguyễn ở Đàng Trong, người Hoa đã tụ cư lập nên “Đường Nhân phố”, cùng với “Nhật Bản phố” của thương nhân Nhật Bản vào những năm đầu thế kỷ XVII Cùng thời gian trên nhà Minh bên Trung Quốc đang suy yếu, loạn lạc diễn ra khắp nơi, nạn quan lại đua nhau nhũng nhiễu dân lành, các phong trào khởi nghĩa của nông dân liên tiếp xảy ra Trước tình hình đó, nông dân, thợ thủ công, thương nhân Hoa ồ ạt tìm đường tha phương cầu thực trong đó

có Hội An vì nơi đây đã có người Hoa cư trú Năm 1644, nhà Minh thất bại trước

Trang 33

sự xâm chiếm của người Mãn Thanh, dân nhà Minh rời bỏ quê hương tìm cách ra nước ngoài gây nên một làn sóng di dân ồ ạt của người Trung Hoa đến các nước Đông Nam Á, trong đó có Đại Việt vào những năm 1645 – 1682 Hội An cũng là điểm dừng chân lý tưởng của đoàn di cư lánh nạn này Dưới sự phát triển mạnh mẽ

về dân số người Hoa, từ năm 1654 -1661, tổ chức “Minh Hương Xã” đã thay thế tổ chức “Đường Nhân phố” trước kia

Năm 1618, khi Cristophoro Borri đến Hội An, theo ông ở đây có hai phố, một phố của người Hoa và một phố của người Nhật Theo những khảo sát gần đây thì phố Nhật xưa trùng với đường Trần Phú ngày nay cụ thể hơn là dãy nhà phía Nam của khu phố cổ Còn dãy phố từ Cồn Sạn đến Duy Vinh (Duy Xuyên) quần tụ

từ bởi phía Đông đến doi cát phía Tây của đầm Trà Nhiêu (Duy Xuyên), đó là phố khách (phố người Hoa) Tuy nhiên, trong nhiều cuộc khai quật khảo cổ học tại khu phố người Nhật, các nhà nghiên cứu không tìm thấy các di chỉ đồ Nhật Còn ngay

ở ngã ba Tin Lành mà người ta cho là khu phố Khách trước đây thì có khai quật được các đồ Nhật

Năm 1635 theo lệnh của tướng quân Tookugawa, người Nhật ở nước ngoài bắt buộc phải về nước Trước tình hình đó người Hoa đã tràn sang phố Nhật làm ăn buôn bán Đến Hội An ngày 18/8/1695, Thomas Bowyear một thương nhân người Anh đã phát thảo diện mạo phố xá Hội An như sau: Cách biển 3 dặm, có một đường phố chạy dọc theo bờ sông, hai bên có hai dãy nhà chừng 100 nóc, toàn là người Hoa ở [40, tr.42] Cùng năm đó, Thích Đại Sán đã miêu tả khu phố cổ chi tiết hơn: “thẳng bờ sông, một con đường dài ba đến bốn dặm gọi là Đại Đường cái, hai bên đường hàng phố ở liền nhau khít rịt, chủ phố thảy đều người Phúc Kiến, vẫn ăn mặc theo lối tiền triều (nhà Minh) [67, tr.154]

Đến thế kỷ XIX kiến trúc Hội An vẫn chưa có sự thay đổi nhiều Năm 1819, Rey đã mô tả Hội An cũng chỉ là một thành phố có con đường khá dài (đường Trần Phú) dãy phố đều xây bằng gạch và chỉ có một tầng, tất cả đều bố trí để buôn bán,

Trang 34

phía sau là những nhà kho kín đáo[40, tr.42] Trong thế kỷ XIX những bãi đất bồi

do dòng sông Thu Bồn đã rộng hơn 1 mẫu, 3 sào, 9 thước tạo điều kiện cho Minh Hương xã mở thêm một con đường mới, lấy tên là đường Tân Lộ, sau này gọi là đường Quảng Đông, đường Rue de contronnaise, nay gọi là đường Nguyễn Thái Học Năm 1878, đất bồi của sông Thu Bồn ở phía Nam Hội An lại rộng thêm 1 mẫu, 1 sào và 14 thước Tám năm sau, 1886, lại mở thêm đường Bạch Đằng chạy song song với đường Tân Lộ, sau này trở thành bến tàu [61, tr.330]

Cũng thời gian này, trung tâm phát triển thịnh vượng Hội An chuyển từ đường Trần Phú sang đường Nguyễn Thái Học và con đường này trở thành trung tâm buôn bán sầm uất Con đường này phần lớn do người Hoa sinh sống và họ đã gọi con đường này bằng cái tên không chính thức là đường Quảng Đông Cho đến năm 1886, khi con đường Bạch Đằng hình thành và trở nên náo nhiệt khi các thuyên buôn tấp nập cập bến Bạch Đằng Như vậy, từ cuối thế kỷ XIX diện mạo kiến trúc của đô thị thương cảng Hội An đã được hình thành Nhu cầu xây dựng những ngôi nhà để làm nơi giao dịch, buôn bán, thờ tự, chứa hàng, ăn, ở… là việc rất cần thiết đối với cộng đồng cư dân nơi đây Nhà cổ Quân Thắng cũng được hình thành từ những nhu cầu thực tế này

trải qua thời gian với nhiều biến động của lịch sử nên đến nay gia đình không giữ được gia phả, nhưng trong nhà vẫn còn một bức hoành phi ghi niên đại “Quang Tự Ngũ Niên” tức năm 1879 Như vậy, ngôi nhà này phải có trước đó một thời gian Ngôi nhà này trước đây vừa là nơi thờ tự tổ tiên, nơi ở, vừa là nơi mở hiệu buôn Quân Thắng Hiện nay, bức hoành phi ghi tên hiệu buôn Quân Thắng vẫn còn

Theo bà Thái Thị Sâm, chủ nhân đời thứ năm của ngôi nhà cho biết: gia đình

bà đã kế tiếp sinh sống ở đây đã gần 300 năm Bà không nhớ rõ kíp thợ nào đã làm

ra ngôi nhà, nhưng xét về kết cấu kiến trúc hiện tồn ta có thể xác định được ngôi nhà này cùng một dạng kết cấu kiến trúc như các ngôi nhà phố khác, đã tạo nên

Trang 35

quần thể kiến trúc đô thị thương cảng Hội An Đời bà Sâm chưa có tu sửa lớn, năm

1948 chỉ có láng lại nền bằng ciment, thay gạch bát giác bị hư

2.2 Khảo tả di tích

2.2.1 Vị trí tọa lạc của nhà cổ Quân Thắng

Dưới thời Pháp thuộc, nhà cổ Quân Thắng mang số 143 Rue du Rond de Japonaise Trước năm 1975 là 79 đường Cường Để Hiện nay di tích nhà cổ Quân Thắng nằm ở số 77 Trần Phú, thuộc khu vực I, phường Minh An, thành phố Hội

An, tỉnh Quảng Nam Ngôi nhà cách chợ Hội An khoảng 150m về phía Đông, cách Chùa Cầu khoảng 250m về phía Tây Chúng ta có thể đi đến di tích với nhiều con đường khác nhau Chẳng hạn, từ bến xe Hội An đi vào trung tâm thành phố theo đường Huỳnh Thúc Kháng, tiếp Nguyễn Thị Minh Khai qua Chùa Cầu, đến đường Trần Phú, đến ngã tư Lê Lợi cắt ngang đi tiếp khoảng 40m, di tích mang số 77 nằm bên trái Có thể đi đến di tích bằng mọi phương tiện giao thông đường bộ

2.2.2 Hiện trạng kiến trúc

Kiến trúc ngôi nhà theo dạng hình ống (hay còn được gọi là hình ruột ngựa), gồm nhiều nếp nhà nối với nhau chạy dài thông từ đường Trần Phú qua đường Nguyễn Thái Học Mặt quay về hướng Bắc có chiều dài 32m, rộng 5,5m Tuy cùng chung một kết cấu nhà khung gỗ với ván đố lụa và tường gạch bao quanh, mái lợp ngói âm dương được xây thành hai tầng mái, bờ hồi đều uốn cong hình lượn sóng, nhưng các nếp nhà có công dụng khác nhau, nên kết cấu vì trang trí cũng khác nhau

Nếp ngoài nằm sát đường Trần Phú Nhìn từ bên ngoài ta thấy đây là kiểu mái một tầng với hai lớp mái, được che bởi lớp mái ngói âm dương phủ rêu, giữa hai lớp mái có xây một bức tường nhỏ rất khéo léo Trước là cửa hiệu buôn bán, trang trí tập trung ở cửa ra vào, trên khung cửa lớn vào nhà có đôi chốt bằng gỗ, gọi là “mắt cửa” Mắt cửa bao gồm hai chiếc có khắc chạm hình lá đề bông cúc tám cánh, mắt cửa được gắn với các ô vuông vải điều, từ xa xưa mắt cửa được phát

Trang 36

triển thành một vật có ý nghĩa: ngoài tạo nên vẻ đẹp tự nhiên như một vật trang trí cho ngôi nhà, thì nó còn có ý nghĩa trừ tà ma cầu phúc và có vị trí đặc biệt trong tín ngưỡng người Trung Hoa ở Hội An Trên đôi mắt cửa có đặt một tấm bảng màu đen ghi ba chữ hán “Hiệu Quân Thắng” Ở hai bên cửa lớn, mặt trước nếp nhà được che kín bởi nhiều tấm ván vách dài nằm ngang, xếp chồng lên nhau từ dưới lên trên thành một bức vách gỗ Khi cần người ta có thể tháo chúng ra và lắp chúng lại một cách dễ dàng

Ở nếp nhà này gồm 4 hàng cột với 16 cây cột lớn dựng trên các tảng đá hình tròn chạm hình hoa sen và văn kỷ hà rất trau truốt, các cột hiên hình vuông, xoi chỉ tròn bốn cạnh Các cột quân và các cột cái hình tròn, có kích thước đường kính 30cm Mỗi hàng cột cách nhau từ 2 đến 2,5m Gian thứ nhất và gian thứ 3 có chiều rộng 2m, gian giữa rộng 1,5m Vì nóc sát hiên được kiên trúc theo kiểu “cột trốn kẻ chuyền” gồm ba hàng cột cõng hàng cột hiên phía dưới tạo thành Trên cao chính giữa của gian này có bàn thờ Quan Công mặt quay về hướng Nam Hai gian 2 bên

có những bức ván đố lụa tạo thành 2 căn phòng hai bên Nếp giữa được tiếp nối với hàng cột thứ 3 Hàng cột thứ 3 cách hàng cột thứ tư gần 4m Trước kia, nếp nhà này dùng để làm nơi giao dịch tiếp xúc với khách hàng, nay là nơi đặt bàn thờ tổ tiên, thờ phật và là phòng khách của gia đình Bộ vì kèo thiết kế theo kiểu “chồng rường giả thủ” các vì dưới dài hơn các vì trên, được đỡ bởi các đoạn gỗ hình trụ ngắn gọi là: “giả thủ” (tay giả) Phía trên cao các cột, người ta thấy các bộ phận phụ bằng gỗ, gọi là “tai cột” dùng để nâng đỡ các xà ngang của bộ khung, giả thủ phía dưới phình ra giống hình quả bí tròn trịa Từ cột hiên, chiếc bẩy hiên giữ cây hoành ngoài cũng được cách điệu hình con cá chép rất nghệ thuật

Loại gỗ được sử dụng làm bộ khung chịu lực là gỗ lim, đây là một trong bốn loại gỗ thiết mộc, các loại cột lớn nhỏ của ngôi nhà đều được làm bằng loại gỗ quý này, nên rất bền chắc, có thể chống chịu được mối mọt và các loại côn trùng phá hoại, chúng được đặt trên các hòn đá bằng cẩm thạch lấy từ núi Ngũ Hành Sơn -

Trang 37

Đà Nẵng, được đẽo gọt và trang trí rất tinh tế sắc sảo theo hình hoa sen Ngày xưa, nền của nếp nhà được lát bằng loại gạch bát giác có nguồn gốc từ Thanh Hóa (năm

1948 đã láng lại bằng nền ciment) Tường của nếp nhà này gồm hai lớp: lớp ngoài xây bằng gạch, lớp trong được làm bằng gỗ, vì vậy không gian của ngôi nhà mát

mẻ vào mùa hè và ấm áp về mùa đông

Tiếp theo nếp nhà thứ nhất là nếp nhà thứ hai, gồm sân trời nằm bên phải và nhà cầu nằm bên trái chạy dọc theo sân trời, nối nếp nhà thứ nhất với nếp nhà thứ

ba Nhà cầu có hai tầng, ban công khắc con tiện, vì “chồng rường giả thủ”, bức ván của nhà cầu khắc chạm một mảng nghệ thuật tuyệt mỹ theo đồ án ngư tiều canh độc, đông bình tây quả, con triện, cá, tôm, cua, các tai cột khắc hình dơi

Đặc biệt ở sân trời có một mảng tường xây nhưng đã được nghệ nhân Hội

An tạo thành một bức bình phong được khảm bằng gốm và có gắn các bình sứ tạo hình thành các ô hộc, bình hoa, cây trúc…

Nối tiếp nhà cầu là nếp nhà sau tạo thành nhà ngang hai tầng, nếp nhà này ít chạm trổ hơn, kết cấu vì theo kiểu “cột trốn kẻ chuyền”, gồm ba hàng cột tròn tạo thành, khung cửa sổ cạnh sân trời khắc chạm hình cây trúc cách điệu, xung quanh

là các ô hộc, trang trí hoa lá rất sinh động Còn ván gió năm dưới con son của ban công tầng hai về phía sân trong của nhà sau được trang trí môtíp hình hươu

Nhin chung, các kết cấu kiến trúc ở mỗi chiếc rường cột đều phủ kín hoa văn, ngay các kèo, xà cũng được kẻ chỉ và đầu các cây cột đều khắc chạm, tạo nên không gian của ngôi nhà thoáng, đẹp và không nặng nề Toàn bộ mái lợp ngói âm dương, nền tráng ciment, trước kia ốp gạch bát giác

2.2.3 Hiện trạng trang trí nội thất không gian sinh hoạt văn hóa

Qua bao năm tháng, nhà cổ Quân Thắng hiện nay vẫn được bảo tồn khá nguyên vẹn về kiểu dáng kiến trúc hay cách bài trí nội thất Điều đó giúp chúng ta

có thể hình dung được về kiểu cách, hình thức cũng như lối sống sinh hoạt của các

Trang 38

thế hệ trong ngôi nhà Nhà cổ Quân Thắng hiện nay là một trong những ngôi nhà

cổ có các hình thức trang trí đa dạng và sinh động nhất ở khu phố cổ Hội An

Trang trí điêu khắc kiến trúc của nhà cổ Quân Thắng tập trung chủ yếu ở bộ chồng rường giả thủ, vì vỏ cua, nhà trước, nhà cầu và một phần nhà sau hướng về phía sân trời, trong các motif trang trí nổi bật nhất là điêu khắc trang trí hình dơi, hình hươu và cá chép ở những tấm ván gió (bẩy hiên) phía dưới các chi tiết kết cấu

Những tấm ván gió có hình dơi được đặt ở những nơi có sự liên kết của dầm,

vì chồng rường với cột, điều đó được thể hiện rất rõ ở dưới thanh dầm của ban công nhà cầu, cho dù đặt chúng ở vị trí nào thì nó cũng đặt theo phương nằm ngang nhà Những tấm ván gió trang trí hình cá chép thì nằm ở gần vị trí với diềm mái phía sau của nếp nhà thứ nhất và đặt theo phương dọc của ngôi nhà với mục đích để đỡ thanh hoành dưới cùng Ở ban công của nếp nhà thứ ba, môtíp trang trí của tấm ván gió được trang trí theo môtíp hình hươu

Bộ chồng rường giả thủ của ngôi nhà cũng rất đặc biệt ngoài ý nghĩa là bộ khung chịu lực chính của nếp nhà, nó còn được chạm khắc rất tinh vi, tỉ mỉ, đẹp mắt như giả thủ phình ra giống như quả bí tròn trịa, cùng với các đồ án trang trí: bông gỗ, hoa lá, mây xoắn, tứ quý

Bốn vì vỏ cua được chạm lồng mây cuộn nối cột hiên với cột quân và được chạm theo kiểu bát bửu lồng Với những đồ án trang trí như hòm sách, bầu rượu, bút lông và các dải dây uốn lượn

Đặc biệt ở nhà cầu và nhà sau, mảng tường hướng về phía sân trời của ngôi nhà (kể cả cửa sổ) đều được trang trí điêu khắc rất công phu, dày đặc, môtíp trang trí ở đây không tập trung vào động vật mà chủ yếu là: cỏ, cây, hoa, quả, vật vô tri như “tứ hữu, tứ quý, bát quả” Từ đó cho ta thấy, phần trang trí điêu khắc của ngôi nhà tập trung chủ yếu vào những khoảng không gian mang tính sinh hoạt chung như phòng khách và sân trong Mỗi môtíp trang trí đều mang những sắc thái, giá trị

Trang 39

biểu đạt khác nhau, nhưng tất cả đều được kết hợp với nhau để tạo nên một mảng trang trí điêu khắc có tính chủ định cho ngôi nhà

Cũng giống như các ngôi nhà khác ở Hội An, phần trang trí nội thất của ngôi nhà cổ Quân Thắng tập trung chủ yếu ở nếp nhà thứ nhất, tuy nhiên so với các ngôi nhà khác thì phần trang trí nội thất của ngôi nhà có phần đơn giản bớt cầu kì hơn Hiện nay ngôi nhà vẫn giữ được hai bức hoành phi bằng chữ Hán rất có giá trị, hai bức hoành phi này có kích thước, kiểu dáng cũng như hình thức trang trí khác nhau Một bức hoành có ba chữ “Hiệu Quân Thắng”, kích thước 1,22 x 55cm nền

đỏ chữ vàng, được treo ở ngay giữa lối đi cửa chính mặt tiền trên cao sát trần Một bức hoành có hai chữ “Quân Thắng” cỡ 60x50cm, chữ vàng nền đen có nghi niên đại 1879 được treo ở trên cao chính giữa nếp nhà, mặt quay về phía bàn thờ Quan Công, bên trên bức hoàng phi còn đặt thêm một tấm vải lụa (ở giữa kết thành chùm hoa) màu đỏ trông rất hài hòa, đẹp mắt Theo bà Thái Thị Sâm chủ nhân đời thứ năm của ngôi nhà cho biết hai bức hoàng phi này có cùng niên đại với ngôi nhà

Ở bức tường bên phải gian nhà này có treo hai bức ảnh chân dung của hai cha con họ Thái người phúc kiến (chủ nhân đầu tiên cho xây dựng ngôi nhà) Đối diện bức tường bên trái cũng treo một khung ảnh lớn bao gồm đầy đủ các thế hệ của ngôi nhà Trên những tấm ván tường bên trái, có viết bốn chữ Hán cỡ to: Phước - Lộc -Thọ - Toàn, nghĩa là “Hạnh Phúc”, “Tài Lộc”, “Trường Thọ”

Ở hai góc nhà có treo hai chiếc đèn lồng rất to và đẹp, hình dáng tròn trịa, có màu đỏ thẫm Đây là sản phẩm có nguồn ngốc từ Trung Hoa, được bày bán rất nhiều tại cảng thị Hội An trong các hội chợ quốc tế vào những thế kỷ trước đây, giờ đây đèn lồng vẫn được bày bán khá nhiều ở Hội An Đôi đèn lồng này tuy không có giá trị về lịch sử, nhưng nó là vật trang trí dường như không thế thiếu trong tổng thể bố cục không gian của ngôi nhà

Gian trái nếp nhà này có đặt một bộ bàn ghế bằng gỗ mít rất đẹp, dùng để tiếp khách, bộ bàn ghế này mới chỉ được sử dụng vào năm 2008, chính vì vậy mà

Trang 40

nó không có giá trị lịch sử, mà chỉ co mục đích trang trí và công năng sử dung cho ngôi nhà Ở giữa lối đi có đặt một chiếc ghế “Trường kỷ” màu đen bằng gỗ Lim, được chạm khắc rất tỉ mỉ và được trang trí cách điệu bằng những họa tiết như: con vật, bình hoa, chùm nho, chiếc gương soi, chiếc lư hương… trông rất cầu kì và đẹp mắt Hiện nay chiếc ghế đã tồn tại được gần 300 năm

Không gian sinh hoạt tín ngưỡng của ngôi nhà cũng rất quy mô và hợp lý Nếp nhà thứ nhất, trên cao sát trần ngay giữa lối đi ngôi nhà đặt một am thờ Quan Công mặt quay về hường Nam (Quan Công là một vị quan vũ, một trong tam đại thần được nói đến trong tam quốc chí), từ xa xưa ở Hội An việc thờ tự Quan Công với mong muốn cầu may mắn, làm ăn buôn bán phát đạt, thịnh vượng Ở gian trái nếp nhà đặt một bàn thờ tổ tiên mặt quay về phía sân trong cùng hướng với bàn thờ Quan Công Cũng giống như những ngôi nhà khác ở Hội An, ban thờ tổ tiên của ngôi nhà là bàn thờ được coi trọng nhất Đây là bàn thờ chung của gia đình, sở dĩ gọi là bàn thờ chung bởi vì trên bàn thờ có nhiều thế hệ từ nhiều đời khác nhau Tuy nhiên một điều đặc biệt, đối với những người mới qua đời, trong ba năm đầu tiên họ không được đặt và thờ tự trên bàn thờ tổ tiên này, mà phải đợi sau ba năm

Ở dưới đất góc bên trái nếp nhà, ngôi nhà có đặt một am thờ gọi là thờ ông Tài Chủ Giữa khoảng không gian nối nếp nhà thứ nhất với nhà cầu, ở trên cao ngang tầm mắt, ngôi nhà đặt một am thờ “Thần nhà”, đối diện với am thờ thần nhà, ở bức tường bên kia (cạnh sân trời), cũng ở trên cao ngang tầm mắt, gia đình đặt am thờ

“Trời” Gian giữa của nếp nhà thứ ba ngôi nhà có đặt một bàn thờ nhỏ của những người mới qua đời Ở gian bếp ngôi nhà đặt một am thờ “Thần Lửa”

Hiện nay cách xắp xếp, bố trí không gian sinh hoạt của gia đình có sự khác biệt so lớn so với ngày xưa Theo bà Thái Thị Sâm trước kia nếp nhà trước sử dụng làm nơi bán hàng, nhà sau dùng cho sinh hoạt, nhà cầu là nơi giao dịch buôn bán, thu tiền Nhưng hiện nay toàn bộ không gian ngôi nhà ngoài dùng làm nơi thờ tự

và tiếp khách, hai gian phong hai bên được sử dùng làm phòng ngủ Nhà cầu hiện

Ngày đăng: 09/05/2021, 16:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w