1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá hiện trạng thu gom, vận chuyển rác thải và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý rác thải tại khu vực chợ cồn – thành phố đà nẵng

64 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá hiện trạng thu gom, vận chuyển rác thải và đề xuất các giải pháp nâng cao công tác quản lý rác thải tại chợ Cồn – thành phố Đà Nẵng
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Vân
Người hướng dẫn ThS. Phạm Thị Hà
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Khoa học môi trường
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2013
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lượng rác thải tại chợ qua các năm ngày một tăng, môi trường trong chợ vẫn không được sạch sẽ, rác thải hiện nay vẫn chưa được phân loại gây lãng phí tài nguyên, vẫn còn rất nhiều bất cậ

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA HÓA

NGUYỄN THỊ THANH VÂN

ĐÁNH GÍA HIỆN TRẠNG THU GOM, VẬN CHUYỂN VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CÔNG TÁC QUẢN LÝ RÁC THẢI TẠI CHỢ CỒN –TP ĐÀ NẴNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN KHOA HỌC

Đà Nẵng , tháng 05 năm 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA HÓA

ĐÁNH GÍA HIỆN TRẠNG THU GOM, VẬN CHUYỂN VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CÔNG TÁC QUẢN LÝ RÁC THẢI TẠI CHỢ CỒN –TP ĐÀ NẴNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN KHOA HỌC

SVTH : Nguyễn Thị Thanh Vân Lớp : 09 CQM

GVHD: ThS Phạm Thị Hà

Đà Nẵng, tháng 05 năm 2013

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

~~¤~~

Trong suốt quá trình thực hiện đề tài, ngoài sự nỗ lực của bản thân, em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của cô hướng dẫn – Th.S Phạm Thị Hà; các thầy (cô) giáo trong khoa Hóa, trường Đại Học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, các cán

bộ Công ty Quản lý Hội chợ Triển lãm và các chợ Đà Nẵng, các cô chú Ban quản

lý chợ Cồn và các tiểu thương của chợ Cồn

Trước hết em xin chân thành gửi lời cảm ơn đến cô Phạm Thị Hà đã hướng dẫn tận tình, tạo điều kiện và giúp đỡ em trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp Và em xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô hiện đang công tác và giảng dạy tại khoa Hóa, trường Đại Học Sư phạm - ĐHĐN đã tận tâm dạy bảo và truyền đạt những kiến thức quý báu cho em trong suốt 4 năm qua

Em chân thành cảm ơn các cô chú đang công tác tại phòng Bảo vệ Môi trường – Phòng cháy chữa cháy thuộc Công ty Quản lý Hội chợ Triển lãm và các chợ Đà Nẵng, các cô chú Ban quản lý chợ Cồn đã tạo điều kiện thuận lợi, cung cấp những tài liệu, số liệu xác thực để em hoàn thành được bài khóa luận tốt nghiệp này

Cuối cùng, em muốn chuyển lời cảm ơn chân thành đến gia đình và bạn bè đã luôn động viên và giúp đỡ em trong quá trình làm khóa luận tốt nghiệp

Tuy đã có nhiều cố gắng nhưng cũng không thể tránh những thiếu sót và những giới hạn về kiến thức Vì vậy, em rất mong được sự chỉ bảo và đóng góp ý kiến của quý thầy cô

Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên thực hiện

Trang 4

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG CỘNG HOÀ XÃ HỘi CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG ĐHSP Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

KHOA HOÁ -

-

NHIỆM VỤ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Họ và tên sinh viên: NGUYỄN THỊ THANH VÂN

Lớp: 09CQM

1 Tên đề tài: Đánh giá hiện trạng thu gom, vận chuyển rác thải và đề xuất các giải pháp nâng cao công tác quản lý rác thải tại chợ Cồn – TP Đà Nẵng

2 Nội dung nghiên cứu:

- Thu thập các tài liệu, thông tin liên quan đến quản lý rác thải tại khu vực chợ

3 Giáo viên hướng dẫn: ThS Phạm Thị Hà

4 Ngày giao đề tài: 21/01/2013

5 Ngày hoàn thành: 20/05/2013

Chủ nhiệm Khoa Giáo viên hướng dẫn

(Ký và ghi rõ họ, tên) (Ký và ghi rõ họ, tên)

Sinh viên đã hoàn thành và nộp báo cáo cho Khoa ngày 20 tháng 05 năm 2013

Kết quả điểm đánh giá:

Ngày…tháng…năm 2013

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

(Ký và ghi rõ họ tên)

Trang 5

Bảng 3.4 Trang phục lao động phục vụ thu gom rác của công nhân vệ sinh 37

Bảng 3.7 Đánh giá của các hộ kinh doanh về thời gian thu gom rác 42 Bảng 3.8 Đánh giá của các hộ kinh doanh về cách bố trí thùng rác công

Bảng 3.9 Đánh giá của các hộ kinh doanh về mức thu phí vệ sinh tại chợ 45

Trang 6

PHỤ LỤC B

Một số hình ảnh

MỞ ĐẦU

Trang 7

Lý do chọn đề tài

Rác thải là sản phẩm tất yếu của cuộc sống Cùng với mức sống của người dân ngày càng cao và công cuộc công nghiệp hóa ngày càng phát triển sâu rộng, rác thải không những gia tăng về khối lượng mà còn tăng tính phức tạp, sự nguy hại về tính chất của các loại chất thải Tác động tiêu cực của rác thải nói chung là rất rõ nếu chúng không được quản lý thu gom và xử lý đúng kỹ thuật môi trường

Thành phố Đà Nẵng là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội và du lịch của Miền trung và Tây Nguyên Hàng loạt các cơ sở hạ tầng thương mại của thành phố Đà Nẵng được đầu tư đồng bộ, hiện đại với 24 trung tâm thương mại, siêu thị và 88 chợ Điều đó đã tạo nên sự cạnh tranh gay gắt giữa các siêu thị mới mở và các chợ truyền thống đã tồn tại bao lâu nay Do hình thức của các chợ vẫn giữ thói quen cũ, không thay đổi kịp với xu thế hiện đại nên lượng khách đến chợ cũng ít hơn so với những năm trước Một sự khác biệt thấy rõ giữa siêu thị và các chợ là không gian mua sắm, đối với siêu thị là một không gian thoáng đãng, lịch sự và sạch sẽ thì chợ lại không đem lại cho người mua sắm cảm giác đó Khi đi mua sắm tại chợ ta vẫn thường xuyên nhìn thấy những cảnh tượng người người chen chúc, rác vương vãi khắp nơi, nước thải hòa trộn với rác thải gây mùi hôi Đây chính là do sự quản lý không chặt chẽ, thiếu khoa học, chính diện mạo này đang khiến các chợ truyền thống phải mất khách

Chợ Cồn cũng không ngoại lệ, là một chợ lớn, nằm ở trung tâm của thành phố Đà Nẵng, lưu lượng khách tham quan, mua sắm lên đến 10.000 lượt người mỗi ngày, tuy nhiên tình hình vệ sinh tại chợ vẫn chưa được nâng cao, nhận thức của các hộ kinh doanh về giữ gìn vệ sinh môi trường chung vẫn còn kém Lượng rác thải tại chợ qua các năm ngày một tăng, môi trường trong chợ vẫn không được sạch sẽ, rác thải hiện nay vẫn chưa được phân loại gây lãng phí tài nguyên, vẫn còn rất nhiều bất cập trong công tác thu gom và quản lý rác thải tại chợ Để tạo môi trường kinh doanh sạch sẽ, văn minh, lịch sự phù hợp với xu thế hiện nay, tôi quyết định nghiên cứu đề tài:

“Đánh giá hiện trạng thu gom, vận chuyển rác thải và đề xuất các giải pháp nhằm

nâng cao công tác quản lý rác thải tại khu vực chợ Cồn – thành phố Đà Nẵng”

Nội dung nghiên cứu

Trang 8

- Thu thập các tài liệu, thông tin liên quan đến quản lý rác thải tại khu vực chợ

1.1 Khái niệm về chất thải rắn sinh hoạt [4], [5], [8], [11]

1.1.1 Định nghĩa chất thải rắn sinh hoạt

Trang 9

Chất thải rắn là toàn bộ các loại vật chất được con người loại bỏ trong các hoạt động kinh tế - xã hội của mình (bao gồm hoạt động sản xuất, các hoạt động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng, ) Trong đó quan trọng nhất là các loại chất thải sinh

ra từ các hoạt động sản xuất và các hoạt động sống

Chất thải rắn đô thị (gọi chung là rác thải đô thị) được định nghĩa là: Vật chất mà người tạo ra ban đầu vứt bỏ đi trong khu vực đô thị mà không được đòi hỏi bồi thường cho sự vứt bỏ đó Thêm vào đó, chất thải được coi là chất thải rắn đô thị nếu chúng được

xã hội nhìn nhận như một thứ mà thành phố phải có trách nhiệm thu gom và tiêu hủy Chất thải rắn sinh hoạt là chất thải rắn phát sinh từ hộ gia đình, chung cư, khu công cộng, công sở, trường học, bệnh viện, khu thương mại, chợ và chất thải rắn từ hoạt động sinh hoạt của con người trong các khu công nghiệp

Rác là thuật ngữ dùng để chỉ chất thải rắn có hình dạng tương đối ổn định, bị vứt

bỏ từ hoạt động của con người Rác sinh hoạt hay chất thải rắn sinh hoạt là một bộ phận của chất thải rắn, được hiểu là các chất thải rắn phát sinh từ các hoạt động sinh hoạt thường ngày của con người

1.1.2 Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn sinh hoạt

Chất thải rắn sinh hoạt được phát thải từ nhiều nguồn khác nhau: từ sinh hoạt hằng ngày của người dân, từ các tụ điểm buôn bán, cơ quan, trường học và các viện nghiên cứu Bảng 1.1 dưới đây liệt kê các nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt

Bảng 1.1 Nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt

Rác từ sinh hoạt của dân cư,

khách vãng lai

Rau, củ, quả hỏng, thức ăn thừa, giấy, carton, nhựa, vải, nilon, rác vườn, gỗ, đồ điện tử, thủy tinh, lon đồ hộp, móp xốp và các chất độc hại( bột giặt, chất tẩy), thuốc diệt côn trùng, nước xịt phòng

Rác từ các chợ, tụ điểm buôn bán,

nhà hàng, khách sạn, khu vui chơi,

Rau, củ, quả hỏng, thức ăn thừa, ruột và đầu của tôm, cá, giấy carton, nilon, nhựa

Trang 10

giải trí, khu văn hóa

Rác thải từ viện nghiên cứu, cơ

quan, trường học

Thực phẩm thừa, bao bì, giấy, đồ dùng văn phòng, dụng cụ học tập, nhựa, hóa chất phòng thí nghiệm

Rác thải từ các công trình xây

dựng, cải tạo và nâng cấp

Gỗ, sắt, thép, bê tông, thạch cao, sành sứ, gạch, bụi, xà bần

Thông tin về thành phần chất thải rắn đóng vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá và lựa chọn những thiết bị thích hợp để xử lý, các quy trình xử lý cũng như việc hoạch định các hệ thống, chương trình và kế hoạch quản lý chất thải rắn

Thông thường chất thải rắn đô thị, chất thải rắn từ các khu dân cư và thương mại chiếm tỉ lệ cao nhất 50-70 % Tỉ lệ của mỗi thành phần chất thải sẽ thay đổi tùy thuộc vào loại hình hoạt động: xây dựng, sữa chữa, dịch vụ đô thị

Thành phần và khối lượng rác thải thay đổi theo các yếu tố như: vị trí, theo mùa, dân số, thói quen và thái độ xã hội, chính sách của nhà nước về chất thải, điều kiện kinh tế - xã hội và các yếu tố khác Thành phần của chất thải rắn đô thị có thể phân loại như ở bảng 1.2

Trang 11

Những tính chất vật lý quan trọng của chất thải rắn đô thị bao gồm: khối lượng riêng, độ ẩm, kích thước phân loại và độ xốp Trong đó, khối lượng riêng và độ ẩm là hai tính chất được quan tâm nhất trong công tác quản lý chất thải rắn đô thị (CTRĐT) ở Việt Nam

Khối lượng riêng được định nghĩa là khối lượng riêng trên một đơn vị thể tích, tính bằng kg/m3 Khối lượng riêng của CTRĐT sẽ rất khác nhau tuỳ theo phương pháp lưu trữ: (1) để tự nhiên không chứa trong thùng, (2) chứa trong thùng và không nén, (3) chứa trong thùng và nén

Khối lượng riêng của CTRĐT sẽ khác nhau tuỳ theo vị trí địa lý, mùa trong năm, thời gian lưu trữ,… Khối lượng riêng của CTRĐT lấy từ các xe ép rác thường dao động trong khoảng từ 200kg/m3 đến 500kg/m3 và giá trị đặc trưng thường vào khoảng

Trang 12

297kg/m3 Khối lượng riêng của các thành phần trong CTRĐT được thể hiện ở bảng 1.3

Độ ẩm của CTR thường được biểu diễn theo một trong hai cách: tính theo thành phần phần trăm khối lượng ướt và thành phần phần trăm khối lượng khô Trong lĩnh vực quản lý CTR, phương pháp khối lượng ướt thông dụng hơn

Bảng 1.3 Khối lượng riêng và độ ẩm của các chất thải trong rác sinh hoạt

3) Khoảng giá trị Trung bình Khoảng giá trị Trung bình Chất thải thực phẩm

 Chất tro là phần còn lại sau khi nung - tức là các chất trơ dư hay chất vô cơ

Trang 13

 Hàm lượng cacbon cố định là lượng cacbon còn lại sau khi đã loại các chất vô

cơ khác không phải là cacbon trong tro, hàm lượng này thường chiếm khoảng 5 - 12%, trung bình là 7% Các chất vô cơ khác trong tro bao gồm thủy tinh, kim loại,… Đối với chất thải rắn đô thị, các chất này có trong khoảng 15 - 30%, trung bình là 20%

 Nhiệt trị: gía trị nhiệt được tạo thành sau khi đốt chất thải rắn

Bảng 1.4 thể hiện thành phần hóa học các hợp phần cháy được của chất thải rắn sinh hoạt

Bảng 1.4 Thành phần hóa học các hợp phần cháy được của chất thải rắn sinh hoạt

Hợp phần % Trọng lượng theo trạng thái khô

60

55

78

60 47,8 49,5 26,3

6,4

6 5,9 7,2 6,6

38 42,7

2

2,6 0,3 0,3 Không xđ 4,6

2

10 3,4 0,2 0,5

0,4 0,2 0,2 Không xđ 0,15 Không xđ 0,4

0,3 0,1 0,2

5

6

5

10 2,45

10

10 4,5 1,5

68

1.1.4.3 Tính chất sinh học

Tính chất sinh học quan trọng nhất của chất thải rắn đô thị là hầu hết các thành phần hữu cơ có thể được chuyển hóa sinh học thành khí, các chất hữu cơ trơ và các chất vô cơ Sự tạo mùi hôi và phát sinh ruồi cũng liên quan đến tính dễ phân hủy của các thành phần hữu cơ trong chất thải thải rắn đô thị chẳng hạn như rác thực phẩm

1.1.5 Phân loại chất thải rắn sinh hoạt

Việc phân loại chất thải rắn sẽ giúp xác định các loại khác nhau của chất thải rắn Khi thực hiện việc phân loại chất thải rắn sẽ giúp chúng ta tăng khả năng tái chế và tái

Trang 14

sử dụng lại các vật liệu trong chất thải, đem lại hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường Chất thải rắn đa dạng vì vậy có nhiều cách phân loại khác nhau

1.1.5.1 Phân loại theo tính chất

Phân loại chất thải rắn theo dạng này người ta chia làm: các chất cháy được, các chất không cháy được, các chất hỗn hợp

- Các chất cháy được gồm : giấy, hàng dệt, rác thải, cỏ, gỗ củi, rơm, chất dẻo, da

1.1.5.2 Phân loại theo nguồn phát sinh

Chất thải sinh hoạt: là những chất thải liên quan đến các hoạt động của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung tâm dịch vụ, thương mại Chất thải rắn sinh hoạt có thành phần bao gồm kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất đá, cao su, chất dẻo, thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, xương động vật, tre, gỗ, lông gà vịt, vải, giấy, rơm rạ, xác động vật, vỏ rau quả,… Theo phương diện khoa học, có thể phân biệt các loại chất thải rắn sau:

- Chất thải thực phẩm: bao gồm thức ăn thừa, rau, quả… loại chất thải này mang bản chất dễ bị phân hủy sinh học, quá trình phân hủy tạo ra các mùi khó chịu, đặc biệt trong thời tiết nóng ẩm Ngoài các loại thức ăn dư thừa từ gia đình còn có thức ăn thừa

Trang 15

- Tro và các chất dư thừa thải bỏ khác bao gồm: các loại vật liệu sau đốt cháy, các sản phẩm sau khi đun nấu bằng than, củi và các chất thải dễ cháy khác trong gia đình, trong kho của các công sở, cơ quan, xí nghiệp, các loại xỉ than

Chất thải rắn công nghiệp: là những chất thải phát sinh từ các hoạt động sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

Chất thải xây dựng: là các phế thải như đất, đá, gạch ngói, bê tông vỡ do các hoạt động phá dỡ, xây dựng công trình…

Chất thải nông nghiệp: là những chất thải và mẫu thừa thải ra từ các hoạt động nông nghiệp như: trồng trọt, thu hoạch các loại cây trồng, các sản phẩm thải ra từ việc chế biến sữa, các lò giết mổ…

1.1.5.3 Phân loại theo mức độ nguy hại

Chất thải nguy hại: bao gồm các loại hóa chất dễ gây phản ứng, độc hại, chất thải sinh học thối rữa, các chất dễ cháy, nổ hoặc các chất thải phóng xạ, các chất thải nhiễm khuẩn, lây lan… có nguy cơ đe dọa tới sức khỏe con người, động vật, cây cỏ Nguồn phát sinh chất thải nguy hại chủ yếu từ các hoạt động y tế, công nghiệp, nông nghiệp

- Chất thải y tế nguy hại: là chất thải có chứa các chất hoặc hợp chất có một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại tới môi trường và sức khỏe cộng đồng

- Các chất nguy hại do các cơ sở công nghiệp hóa chất thải ra có tính độc hại cao, tác động xấu đến sức khỏe, do đó việc xử lý chúng phải có những giải pháp kỹ thuật để hạn chế tác động đó

- Chất thải nguy hại từ hoạt động nông nghiệp chủ yếu là các loại phân bón hóa học, các loại thuốc bảo vệ thực vật

Chất thải không nguy hại: là những loại chất thải không chứa các chất và các hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc tương tác thành phần

1.2 Ô nhiễm môi trường do chất thải rắn sinh hoạt [5], [8]

1.2.1 Ô nhiễm đến môi trường nước

Chất thải rắn đặc biệt là chất hữu cơ trong môi trường nước sẽ bị phân hủy nhanh chóng Tại các bãi rác, nước có trong rác sẽ được tách ra kết hợp với các nguồn nước

Trang 16

khác như: nước mưa, nước ngầm, nước mặt sẽ làm tăng khả năng phân hủy sinh học trong rác cũng như quá trình vận chuyển các chất gây ô nhiễm ra môi trường xung quanh

Các chất ô nhiễm trong nước rò rỉ gồm các chất được hình thành trong quá trình phân hủy sinh học, hóa học… nhìn chung, mức độ ô nhiễm trong nước rò rỉ rất cao: COD: từ 3000 -45.000 mg/l; N-NH3 : từ 10-800 mg/l; BOD5 : từ 20.000-30.000 mg/l;

TOC (cacbon hữu cơ tổng cộng): 1.500-20.000 mg/l; …

Đối với bãi rác thông thường (đáy bãi rác không có lớp chống thấm, sụt lún hoặc lớp chống thấm bị thủng…) các chất ô nhiễm sẽ thấm sâu vào nước ngầm gây ô nhiễm cho tầng nước ngầm và sẽ rất nguy hiểm khi con người sử dụng tầng nước này phục vụ cho ăn uống, sinh hoạt Ngoài ra, chúng còn có khả năng di chuyển theo phương ngang, rỉ ra bên ngoài bãi rác gây ô nhiễm nguồn nước mặt

Nếu rác thải có chứa kim loại nặng, nồng độ kim loại nặng trong giai đoạn lên men axit sẽ cao hơn với giai đoạn lên men metan Đó là do các axit béo mới hình thành tác dụng với kim loại tạo thành phức kim loại Các hợp chất hidrocacbon vòng thơm, axit humic và axit fulvic có thể tạo thành phức với Fe, Pb, Cu, Mn, Zn… hoạt động của các

vi khuẩn kị khí khử sắt có hóa trị 3 thành sắt có hóa trị 2 sẽ kéo theo sự hòa tan của các kim loại như: Ni, Pb, Cd, Zn Vì vậy, khi kiểm soát chất lượng nước ngầm trong khu vực bãi rác phải kiểm tra xác định nồng độ kim loại nặng trong thành phần nước ngầm Ngoài ra, nước rò rỉ có thể chứa các hợp chất hữu cơ độc hại như: chất hữu cơ bị halogen hóa, các hydrocacbon đa vòng thơm… chúng có thể gây đột biến gen, gây ung thư Các chất này nếu thấm vào tầng nước ngầm hoặc nước mặt sẽ xâm nhập vào chuỗi thức ăn và gây hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe, sinh mạng của con người hiện tại

và cả thế hệ con cái mai sau

1.2.2 Ô nhiễm đến môi trường đất

Rác sau khi chôn lấp sẽ sinh ra khí CH4, trong điều kiện hiếu khí làm xuất hiện thêm chất độc cho môi trường đất và sau đó, nếu không sử dụng chất khí vừa thoát ra này, nó sẽ bốc lên và tăng hiệu ứng nhà kính Sự phân giải rác hữu cơ cũng gây ô

Trang 17

nhiễm, do các sản phẩm trung gian hoặc vi khuẩn gây bệnh cho đất nếu chôn rác không đúng kỹ thuật

Đối với rác không phân hủy (nhựa, cao su…) nếu không có giải pháp xử lý thích hợp sẽ là nguy cơ gây thoái hóa và giảm độ phì nhiêu của đất

Ô nhiễm từ các bãi rác sẽ tạo mùi hôi thối khiến cho không khí trong đất ngột ngạt, ảnh hưởng đến động vật trong đất, ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân xung quanh Hàm lượng các kim loại nặng như Al, Zn, Cu, Cr… trong bùn cống rãnh theo nước thấm vào đất Nó có thể tích lũy cao trong đất và là một trong những nguyên nhân gây

ô nhiễm nặng môi trường đất và nguy hiểm cho tất cả vi sinh vật trong môi trường

1.2.3 Ô nhiễm đến môi trường không khí

Các chất thải rắn thường có một phần có thể bay hơi và mang theo mùi làm ô nhiễm không khí Cũng có những chất thải có khả năng thăng hoa phát tán vào không khí gây ô nhiễm trực tiếp, cũng có loại rác thải dễ phân hủy (thực phẩm, trái cây hỏng,…) trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm thích hợp sẽ được các vi sinh vật phân hủy tạo mùi hôi và nhiều loại khí ô nhiễm có tác động xấu đến môi trường đô thị, sức khỏe

và khả năng hoạt động của con người Kết quả quá trình là gây ô nhiễm không khí Bảng 1.5 dưới đây là thành phần một số chất khí cơ bản trong khí thải ở bãi rác

Bảng 1.5 Thành phần một số chất khí cơ bản trong khí thải ở bãi rác

45-60 40-60 2-5 0,1-1,0 0,1-1,0 0-1,0 0-0,2 0-0,2 0,01-0,6

Trang 18

1.2.4 Ảnh hưởng đến cảnh quan và sức khỏe con người

Chất thải rắn phát sinh từ các khu đô thị, nếu không được thu gom và xử lý đúng cách sẽ gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng dân cư và làm mất mỹ quan đô thị

Thành phần chất thải rắn phức tạp, trong đó có chứa các mầm bệnh từ người hoặc gia súc, các chất hữu cơ, xác súc vật chết… tạo điều kiện tốt cho muỗi, chuột, ruồi… sinh sản và lây lan mầm bệnh cho người, nhiều lúc trở thành dịch

Một số vi khuẩn, siêu vi khuẩn, ký sinh trùng… tồn tại trong rác có thể gây bệnh cho con người như: sốt rét, bệnh ngoài da, dịch hạch, thương hàn, tiêu chảy, giun sán, lao…

Phân loại, thu gom, xử lý rác không đúng quy định là nguy cơ gây bệnh nguy hiểm cho công nhân vệ sinh, người bới rác, nhất là khi gặp phải các chất thải rắn nguy hại từ

y tế, công nghiệp như: kim tiêm, ống chích, mầm bệnh…

Tại các bãi rác lộ thiên, nếu không được quản lý tốt sẽ gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng cho bãi rác và cộng đồng dân cư trong khu vực: gây ô nhiễm không khí, nguồn nước, ô nhiễm đất và là nơi nuôi dưỡng các vật chủ trung gian truyền bệnh cho con người

Rác thải nếu không được thu gom tốt cũng là một trong những yếu tố gây cản trở dòng chảy, làm giảm khả năng thoát nước của các sông rạch và hệ thống thoát nước

1.3 Những nguyên tắc kỹ thuật trong quản lý chất thải rắn [5], [8], [11]

1.3.1 Quản lý chất thải rắn đô thị

Quản lý chất thải rắn là sự kết hợp kiểm soát nguồn thải, tồn trữ, thu gom, trung chuyển và vận chuyển, xử lý và đổ chất thải rắn theo phương thức tốt nhất cho sức khỏe cộng đồng, kinh tế, kỹ thuật, bảo tồn, cảm quan và các vấn đề môi trường khác Quản lý thống nhất chất thải rắn là việc lựa chọn và áp dụng kỹ thuật, công nghệ và chương trình quản lý thích hợp nhằm hoàn thành mục tiêu đặc biệt quản lý chất thải rắn Một cách tổng quát, sơ đồ hệ thống kỹ thuật quản lý chất thải rắn đô thị được trình bày tóm tắt trong Hình 1.1

Trang 19

Hình 1.1. Sơ đồ tổng quát hệ thống quản lý chất thải rắn đô thị

1.3.2 Lưu trữ, thu gom và vận chuyển chất thải rắn đô thị

1.3.2.1 Lưu giữ chất thải rắn đô thị

Lưu giữ chất thải rắn là việc giữ chất thải rắn trong một khoảng thời gian nhất định

ở nơi được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận trước khi vận chuyển đến cơ sở xử lý Các loại thùng rác có thiết kế khác nhau có thể được sử dụng để chứa rác tại các khu nhà ở hay những khu có mật độ dân cư cao như những khu chung cư Cũng có thể thiết kế những điểm thu gom công cộng mà rác thải được đổ trực tiếp vào những thùng công-tơ-nơ được đặt bên trong điểm thu gom, mọi gia đình đều đổ những thùng rác của

họ vào điểm thu gom này Việc này tạo điều kiện thuận lợi cho bốc trực tiếp rác thải vào những xe thu gom thứ cấp, giúp cho giảm bớt bốc dỡ bằng thủ công

Nhìn chung, các phương tiện thu chứa rác phải thỏa mãn các tiêu chuẩn sau:

Tồn trữ tại nguồn

Thu gom Nguồn phát sinh

Tái sinh, tái chế và

xử lý

Trung chuyển và

vận chuyển

Bãi chôn lấp

Trang 20

- Chống sự xâm nhập của súc vật, côn trùng

- Bền, chắc, đẹp và không bị hư hỏng do thời tiết

- Dễ cọ rửa

Dung tích trung bình của phương tiện thu chứa được quyết định bởi số người trong gia đình, số lượng nhà được phục vụ và tần suất thu gom rác thải Có các loại phương tiện thu chứa sau:

Túi đựng rác không thu hồi: Túi được làm bằng giấy hoặc bằng chất dẻo, những túi

làm bằng chất dẻo còn có các khung đỡ kim loại để đỡ túi khi đổ rác vào, còn túi bằng giấy thì cứng hơn Kích thước và màu sắc của túi được tiêu chuẩn hóa để tránh sử dụng túi đựng rác vào mục đích khác

Thùng đựng rác: thùng đựng rác thông dụng thường làm bằng chất dẻo, dung tích

loại thùng trong nhà 5 - 10 lít; loại dùng tại cơ quan, văn phòng … thường 30 - 75 lít, đôi khi 90 lít Thùng phải có nắp đậy Thùng rác công cộng hay dùng để thu gom rác trên đường phố thường có dung tích là: 140l, 240l, 280l, 660l,… Nhìn chung kích thước của các loại thùng rác có thể được lựa chọn theo quy mô và vị trí đặt thùng chứa

1.3.2.2 Thu gom chất thải rắn đô thị

Rác thải phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau Chính vì vậy, việc thu gom rác thải tại nguồn đóng vai trò hết sức quan trọng để đạt được hiệu quả thu gom Từ các nguồn phát sinh chất thải, bằng các hình thức thu gom bằng thùng rác, túi nilon, xe đẩy tay của công nhân… rác được thu gom lại và đưa đến nơi xử lý

Thu gom chất thải là quá trình thu nhặt rác thải từ các nhà dân, các công sở hay từ những điểm thu gom, chất chúng lên xe và chở đến địa điểm xử lý, chuyển tiếp, trung chuyển hay chôn lấp

Dịch vụ thu gom rác thải thường có thể chia ra thành các dịch vụ "sơ cấp" và "thứ cấp" Sự khác biệt này phản ánh yếu tố là ở nhiều khu vực, việc thu gom phải đi qua một quá trình hai giai đoạn: thu gom rác từ các nhà ở và thu gom tập trung về chỗ chứa

trung gian rồi từ đó lại chuyển tiếp về trạm trung chuyển hay bãi chôn lấp

Thu gom sơ cấp (thu gom ban đầu) là cách mà theo đó rác thải được thu gom từ nguồn phát sinh ra nó (nhà ở hay những cơ sở thương mại) và chở đến các bãi chứa

Trang 21

chung, các địa điểm hoặc bãi chuyển tiếp Thường thì các hệ thống thu gom sơ cấp ở các nước đang phát triển bao gồm những xe chở rác nhỏ, xe hai bánh kéo bằng tay để thu gom rác và chở đến các bãi chứa chung hay những điểm chuyển tiếp

Thu gom thứ cấp bao hàm không chỉ việc thu gom nhặt các chất thải rắn từ những nguồn khác nhau mà còn cả việc chuyên chở các chất thải đó tới địa điểm tiêu hủy Việc dỡ đổ các xe rác cũng được coi như là một phần của hoạt động thu gom thứ cấp Như vậy thu gom thứ cấp là cách thu gom các loại chất thải rắn từ các điểm thu gom chung (điểm cẩu rác) trước khi vận chuyển chúng theo từng phần hoặc cả tuyến thu gom đến một trạm trung chuyển, một cơ sở xử lý hay bãi chôn lấp bằng các loại phương tiện chuyên dụng có động cơ

Khi thu gom rác thải từ các nhà ở hay công sở thường ít chi phí hơn so với việc quét dọn chúng từ đường phố đồng thời cần phải có những điểm chứa ở khoảng cách thuận tiện cho những người có rác và chúng cần được quy hoạch, thiết kế sao cho rác thải được đưa vào thùng chứa đựng đúng vị trí tạo điều kiện thuận lợi cho thu gom thứ cấp

1.3.2.3 Trạm trung chuyển (TTC), vận chuyển chất thải rắn đô thị

Trạm trung chuyển được sử dụng để trung chuyển chất thải rắn từ xe thu gom và những xe vận chuyển nhỏ sang các xe vận chuyển lớn hơn Các trạm trung chuyển được sử dụng để tối ưu hóa năng suất lao động của đội thu gom và đội xe

Hoạt động của mỗi trạm trung chuyển bao gồm:

- Tiếp nhận các xe thu gom rác

- Xác định tải trọng rác đưa về trạm

- Hướng dẫn các xe đến điểm đổ rác

- Đưa xe thu gom ra khỏi trạm

- Chuyển rác bằng hệ thống vận chuyển để đưa đến bãi chôn lấp (BCL)

Vận chuyển chất thải rắn là quá trình chuyên chở chất thải rắn từ nơi phát sinh, thu gom, lưu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc bãi chôn lấp cuối cùng

Trang 22

Ở những nơi có thể vận chuyển chất thải từ TTC đến BCL cuối cùng bằng xe vận tải thì các loại xe có toa moóc, xe có toa kéo một đầu và xe ép được dùng để vận chuyển Tất cả các loại xe này có thể sử dụng ở bất cứ loại TTC nào Một cách tổng quát, các xe vận chuyển phải thoả mãn những yêu cầu sau:

- Chi phí vận chuyển thấp nhất

- Chất thải phải được phủ kín trong suốt thời gian vận chuyển

- Xe phải được thiết kế vận chuyển trên đường cao tốc

- Không vượt quá giới hạn khối lượng cho phép

- Phương pháp tháo dỡ chất thải phải đơn giản và có khả năng thực hiện độc lập

1.3.2.4 Tái sinh, tái chế và xử lý chất thải rắn

Rất nhiều thành phần chất thải rắn trong rác thải có khả năng tái sinh, tái chế như: giấy, carton, túi nilon, nhựa, cao su, da, gỗ, thủy tinh, kim loại, … Các thành phần còn lại, tùy theo phương tiện kỹ thuật hiện có sẽ được xử lý bằng các phương pháp khác nhau như: (1) sản xuất phân compost, (2) đốt thu hồi năng lượng hay (3) đổ ra bãi chôn lấp

Bãi chôn lấp là phương pháp xử lý và tiêu hủy chất thải rắn kinh tế nhất và chấp nhận được về mặt môi trường Ngay cả khi áp dụng các biện pháp giảm lượng chất thải, tái sinh, tái sử dụng và cả các kỹ thuật chuyển hóa chất thải, việc thải bỏ phần chất thải còn lại ra bãi chôn lấp vẫn là một khâu quan trọng trong chiến lược quản lý thống nhất chất thải rắn Một bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt được gọi là bãi chôn lấp hợp

vệ sinh khi được thiết kế và vận hành sao cho giảm đến mức thấp nhất các tác động đến sức khỏe cộng đồng và môi trường Bãi chôn lấp hợp vệ sinh được thiết kế và vận hành

có lớp lót đáy, các lớp che phủ hàng ngày và che phủ trung, có hệ thống thu gom và xử

lý nước rò rỉ, hệ thống thu gom và xử lý khí thải, được che phủ cuối cùng và duy tu, bảo trì sau khi đóng bãi chôn lấp

1.4 Một số nét về tình hình quản lý chất thải rắn tại Việt Nam và trên thế giới [7], [9]

Trang 23

1.4.1 Tình hình quản lý chất thải rắn trên thế giới

1.4.1.1 Thu gom rác thải tại Singapore

Tại Singapore, nhiều năm qua đã hình thành một cơ chế thu gom rác rất hiệu quả Việc thu gom rác được tổ chức đấu thầu công khai cho các nhà thầu Công ty trúng thầu sẽ thực hiện công việc thu gom rác trên một địa bàn cụ thể trong thời hạn 7 năm Singapore có 9 khu vực thu gom rác Rác thải sinh hoạt được đưa về một khu vực bãi chứa lớn Công ty thu gom rác sẽ cung cấp dịch vụ “từ cửa đến cửa”, rác thải tái chế được thu gom và xử lý theo chương trình Tái chế Quốc gia Trong số các nhà thầu thu gom rác hiện nay tại Singapore, có bốn nhà thầu thuộc khu vực công, còn lại thuộc khu vực tư nhân Các nhà thầu tư nhân đã có những đóng góp quan trọng trong việc thu gom rác thải, khoảng 50% lượng rác thải phát sinh do tư nhân thu gom, chủ yếu là rác của các cơ sở thương mại, công nghiệp và xây dựng Chất thải của khu vực này đều thuộc loại vô cơ nên không cần thu gom hàng ngày Nhà nước quản lý các hoạt động này theo luật pháp Cụ thể, từ năm 1989, chính phủ ban hành các qui định y tế công cộng và môi trường để kiểm soát các nhà thầu tư nhân thông qua việc xét cấp giấy phép Theo qui định, các nhà thầu tư nhân phải sử dụng xe máy và trang thiết bị không gây ảnh hưởng đến sức khỏe của nhân dân, phải tuân thủ các qui định về phân loại rác

để đốt hoặc đem chôn để hạn chế lượng rác tại bãi chôn lấp Qui định các xí nghiệp công nghiệp và thương mại chỉ được thuê mướn các dịch vụ từ các nhà thầu được cấp phép

Phí cho dịch vụ thu gom rác được cập nhật trên mạng Internet công khai để dân có thể theo dõi Bộ Môi trường qui định các khoản phí về thu gom rác và đổ rác với mức 6-15 đô la Singapore mỗi tháng tùy theo phương thức phục vụ (15 đô la đối với các dịch vụ thu gom trực tiếp, 6 đô la đối với các hộ được thu gom gián tiếp qua thùng chứa rác công cộng ở các chung cư) Đối với các nguồn thải không phải là hộ gia đình, phí thu gom được tính tùy vào khối lượng rác phát sinh có các mức 30-70-175-235 đô

la Singapore mỗi tháng Các phí đổ rác được thu hàng tháng do ngân hàng PUB đại diện cho Bộ Môi trường thực hiện Thực hiện cơ chế thu nhận ý kiến đóng góp của người dân thông qua đường dây điện thoại nóng cho từng đơn vị thu gom rác để đảm

Trang 24

bảo phát hiện và xử lý kịp thời tình trạng phát sinh rác và góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ

1.4.1.2 Quản lý rác thải ở Indonesia

Vấn đề rác và môi trường ở Indonesia cũng rất được quan tâm và có các biện pháp tích cực để giáo dục mọi người ý thức giữ gìn vệ sinh công cộng, cụ thể:

- Quảng cáo chống xã rác bừa bãi trên các báo, tạp chí, trong rạp chiếu bóng và trên truyền hình Giáo dục người dân bỏ rác vào các bịch nilon nhỏ mà họ nhận được ở nơi công cộng và bỏ chúng vào thùng rác

- Vận động các tài tử phim ảnh và các ca sĩ cổ vũ cho ý thức giữ gìn vệ sinh

- Đặt các thùng đựng rác nhiều màu sắc và dễ nhìn thấy xung quanh TP, ở những nơi thích hợp Ở TP Surabaya, các thùng đựng rác còn được hỗ trợ bằng các quảng cáo của hãng thuốc lá Sampoema

- Tổ chức tốt công tác đổ rác hàng ngày và mua sắm thêm xe chở rác khi cần

- Tăng cường hiệu lực của các qui định về thu nhặt và xử lý rác

- Chính phủ tổ chức các thảo luận chuyên đề về vệ sinh sức khỏe

- Vận động trẻ em vào phong trào cải thiện và giữ gìn môi trường

1.4.1.3 Thu gom và xử lý rác thải ở Pháp

Rác thải tại Pháp được phân loại tại nhà Các nhà sản xuất công nghiệp phải nộp 0,6 xu đối với mỗi bao bì do công ty mình phát hành ra cho công ty Eco – Emballages, công ty này thuộc sự quản lý của nhà nước, có nhiệm vụ giúp các cộng đồng dân cư tổ chức việc phân loại rác tại nhà Công ty này cũng sẽ chịu 40% chi phí cho việc thu gom và phân loại rác, phần còn lại là do các cộng đồng dân cư và người đóng thuế phải chịu Việc thu gom rác được tổ chức theo nhu cầu, tùy theo từng khu vực dân cư, căn

cứ vào địa điểm tập trung các thùng rác Tại Paris, mỗi khu vực dân cư được đặt 2 thùng rác Việc phân loại rác thay đổi tùy theo từng địa phương Tại nhiều thành phố, người ta thu gom vào một thùng các loại chai lọ bằng chất dẻo, các đồ hộp, chai hộp loại nhỏ, bìa các tông Một thùng khác đựng báo, tạp chí, một thùng đựng đồ thuỷ tinh, còn thùng thứ tư dành cho các chất thải dễ bị thối rữa và các loại linh tinh khác Tại

Trang 25

Paris tất cả các chất thải có thể tái chế trừ thuỷ tinh đều được cho vào một thùng màu vàng, trong đó có cả các đồ điện gia dụng loại nhỏ

Tỷ lệ bình quân của rác thải vứt không đúng quy định trong thùng rác để tái chế tại các trung tâm phân loại rác sinh hoạt lên tới 30% năm 2002 so với 22% năm 2000 Để cải thiện tình hình, công ty Eco – Emballages đã tung đi "các đại sứ về phân loại" đến từng gia đình để giải thích cho mọi người biết các quy tắc về phân loại rác Nhưng cho

dù mọi người đều phân loại tốt thì một số loại rác vẫn bị đổ bừa bãi hoặc cho vào lò đốt rác vì thiếu cơ sở tái chế Như vậy có thể thấy rằng, ở Pháp đã rất chú trọng đến biện pháp phân loại rác tại nguồn Tuy nhiên nếu không chú trọng đến giải pháp tái chế thì hiệu quả của việc phân loại cũng bị hạn chế

1.4.2 Tình hình quản lý chất thải rắn ở Việt Nam

1.4.2.1 Tình hình quản lý chất thải rắn tại Đà Nẵng

Đà Nẵng là trung tâm công nghiệp – thương mại – du lịch và dịch vụ của khu vực miền Trung và Tây Nguyên Sự phát triển kinh tế - xã hội cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa với tốc độ cao đã đặt ra cho thành phố một áp lực lớn về mặt môi trường Hằng năm, môi trường thành phố Đà Nẵng phải tiếp nhận một lượng lớn nước thải và chất thải rắn với quy mô năm sau cao hơn năm trước

Tại Đà Nẵng, công ty TNHH MTV Môi trường và Đô thị Đà Nẵng chịu trách nhiệm thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải Thành phần rác thải tại Đà Nẵng có nguồn gốc hữu cơ chiếm tỉ lệ cao nhất, rác có độ ẩm cao cỡ 40-60% khối lượng khô, tỷ trọng 450 kg/m3

Bảng 1.6 Tình hình thu gom và vận chuyển chất thải rắn trên địa bàn TP Đà Nẵng

Năm Tổng lượng rác thải sinh

hoạt phát sinh ( tấn/

năm)

Tỷ lệ thu gom rác thải sinh hoạt (%)

Tổng lượng rác thải sinh hoạt thu gom (tấn/năm)

Trang 26

2012 277.045 92% 252.504

Hiện nay, Công ty Môi trường đô thị thành phố Đà Nẵng thu gom chất thải rắn bình quân được 692 tấn/ngày, tỉ lệ thu gom đạt khoảng 90-92% lượng rác phát sinh trên địa bàn thành phố (gồm 6 quận và 1 huyện) Toàn bộ chất thải rắn thu gom chưa

tiến hành phân loại tại nguồn

Các hình thức thu gom rác thải tại Đà Nẵng:

- Thu gom bằng xe thô sơ, bagac kéo và đạp có trang bị thùng 660l

- Thu gom bằng xe cuốn ép trực tiếp có còi loại xe 3,5 tấn

- Thu gom bằng thùng 240l được đặt dọc trên các đường phố chính và khu dân cư, tái định cư mới mở

Thu gom bằng thùng 660l bằng xe bagac đưa về điểm trung chuyển và tất cả 2 loại thùng 240l và 660l đều được nâng gấp và vận chuyển lên bãi rác Khánh Sơn bằng xe Huyndai 5 tấn và Hino 9 tấn

Hiện nay trên địa bàn quận Cẩm Lệ, quận Thanh Khê, quận Hải Châu đang tiến hành hình thức thu gom mới là hình thức thu gom đặt thùng theo giờ Sau khi thực hiện hình thức này, kết quả đã tạo cho người dân thói quen bỏ rác ban đêm, không vứt rác trên vỉa hè, tạo cảnh quan sạch sẽ trên các tuyến đường của khu dân cư

Hầu như toàn bộ khối lượng và các loại chất thải phát sinh trên địa bàn thành phố đều được xử lý bằng phương pháp chôn lấp Bãi chôn lấp Khánh Sơn là bãi chôn lấp rác duy nhất và đạt tiêu chuẩn bãi chôn lấp chất thải hợp vệ sinh của thành phố

Một số thành tựu thành phố đã đạt được trong công tác quản lý chất thải rắn:

 Thu gom rác thải sinh hoạt qua hệ thống thùng rác công cộng tức là thu gom rác theo phương thức thu gom kín nên đã giảm thiểu ô nhiễm môi trường đảm bảo mỹ quan đường phố Người dân có thể đổ rác bất cứ thời điểm nào trong ngày nên tránh được tình trạng để rác bừa bãi ra đường phố và nơi công cộng Tất cả điều này giúp cho công nhân vệ sinh khỏi lãng phí công vì phải đi thu gom rác đổ bừa bãi và có thời gian chăm sóc con đường mình được phân công nên chất lượng vệ sinh đường phố ngày càng được cải thiện

Trang 27

 Việc ra đời của các trạm trung chuyển khép kín đã góp phần làm giảm chi phí vận chuyển rác, giảm thiểu ô nhiễm môi trường cục bộ do các xe vận chuyển rác gây

ra Đặc biệt là hoạt động của các trạm trung chuyển rác thải đã được xử lý mùi hôi rất hiệu quả, không bị người dân xung quanh phàn nàn gì

 Bãi chôn lấp Khánh Sơn được xây dựng theo tiêu chuẩn bãi chôn lấp hợp vệ sinh nên đảm bảo chất lượng môi trường

Tuy nhiên trong công tác quản lý chất thải rắn vẫn còn tồn tại những vấn đề cần được quan tâm hơn nữa như:

 Công tác tuyên truyền về vệ sinh đô thị chưa được đầu tư thích đáng

 Công tác quản lý chất thải nguy hại và công nghiệp của một số doanh nghiệp chưa tốt

 Hiện tượng phế thải xây dựng đổ bừa bãi còn diễn ra phổ biến gây mất mỹ quan

và tốn kém chi phí khắc phục

 Hiện nay chất thải rắn đô thị của thành phố chưa được phân loại tại nguồn phát sinh

1.4.2.2 Công tác quản lý chất thải rắn tại thủ đô Hà Nội

Công ty Môi trường Đô thị Hà Nội là đơn vị trực tiếp thực hiện công tác quản lý chất thải của TP Hà Nội Công tác quản lý chất thải của Công ty gồm các giai đoạn sau:

- Công tác thu gom: thu gom chất thải sinh hoạt bằng hình thức gõ kẻng thu rác nhà dân, tại các thùng rác vụn, quét và nhặt rác trên đường phố chứa trong các xe gom

- Công tác vận chuyển: chất thải sinh hoạt đã được thu gom sẽ được chuyển từ nội thành Hà Nội lên bãi chôn lấp chất thải cách Hà Nội 50 km ở Nam Sơn (Sóc Sơn) bằng

Trang 28

bới nhặt phế liệu ở địa phương và từ ngoại tỉnh (Thái Bình, Nam Định v.v ) hoặc ngoại thành Hà Nội (Triều Khúc) tiến hành

Ngoài lực lượng chính là Công ty môi trường đô thị, Hà Nội cũng đã có một số mô hình xã hội hóa (XHH) thu gom rác thải, cụ thể hợp tác xã (HTX) Thành Công bắt đầu hoạt động từ năm 2002, phạm vi hoạt động trên địa bàn phường Hạ Đình - quận Thanh Xuân Đến nay đã mở rộng hoạt động ra 12 phường xã thuộc các quận huyện khác Bình quân mỗi ngày HTX thu gom, vận chuyển khoảng 320 tấn rác sinh hoạt và 115 tấn phế thải xây dựng Ưu điểm của mô hình hoạt động này là có sự góp vốn của các xã viên để đầu tư trang thiết bị phục vụ cho hoạt động chung của HTX

1.4.2.3 Tình hình quản lý chất thải rắn tại Thành phố Hồ Chí Minh

Chất thải rắn sinh hoạt của thành phố hiện do rất nhiều đơn vị và cá nhân đảm nhận bao gồm: Công ty môi trường đô thị, các Công ty công ích quận huyện, Hợp tác xã công nông, các hợp tác xã thu gom rác và lực lượng rác dân lập

- Công tác thu gom rác sinh hoạt trên địa bàn thành phố hiện nay do 2 lực lượng chính thực hiện là công lập và dân lập Theo số liệu thống kê của Sở Tài nguyên-Môi trường, tổng số lao động thực hiện thu gom rác trên địa bàn khoảng trên 6.300 người, trong đó công nhân của các công ty công ích trên 2.500 người, chiếm khoảng 40%, đảm nhận thu gom khoảng 30% khối lượng rác thải sinh hoạt và lực lượng dân lập (bao gồm cả Hợp tác xã) thu gom khoảng 70% khối lượng rác thải sinh hoạt

- Công tác vận chuyển: Hiện nay Công ty Môi trường Đô thị đang chịu trách nhiệm vận chuyển 53% khối lượng chất thải rắn đô thị của thành phố, Hợp tác xã Công nông vận chuyển 17%, phần còn lại do các Công ty dịch vụ công ích các quận, huyện vận chuyển (30%)

- Công tác xử lý: Xử lý chất thải rắn do Công ty Môi trường Đô thị thực hiện Công nghệ xử lý chủ yếu bằng phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh

1.5 Đặc điểm chợ Cồn [12], [13]

1.5.1 Giới thiệu chợ Cồn

Trang 29

Chợ Cồn thuộc phường Hải Châu II, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, nằm ở ngã tư đường Hùng Vương - Ông Ích Khiêm và tiếp giáp với những mạch máu giao thông quan trọng

Chợ Cồn ra đời từ những năm 40

của thế kỷ 20, nằm trên một cồn đất

cao giữa lòng thành phố nên người dân

địa phương quen miệng gọi thành tên -

Chợ Cồn Ngay từ ngày mới ra đời,

chợ đã tập trung được số lượng lớn

người tham gia buôn bán, ngoài người

dân địa phương còn có những người từ

các vùng quê của Quảng Nam Tháng

12/1984, chợ được phá bỏ xây dựng

mới hoàn toàn và đúng dịp kỷ niệm 10 năm ngày giải phóng thành phố 29/3/1985, chợ được khánh thành gồm 3 tầng khang trang với diện tích 14.000m² và lấy tên gọi là Trung tâm thương nghiệp Đà Nẵng Hàng hoá ở chợ phong phú, đa dạng với đủ các mặt hàng từ phổ thông đến cao cấp theo phương thức bán sỉ và lẻ

Hộ hàng rong thường xuyên và không thường xuyên khoảng : 597 hộ

Lưu lượng người ra vào chợ khoảng 10.000 lượt người/ ngày, vào các ngày cao điểm như lễ, tết, lưu lượng người có thể tăng đến 15.000 lượt người/ ngày

 Thời gian hoạt động của chợ từ: 6h00 đến 18h00

Chợ Cồn là đơn vị trực thuộc Công ty quản lý Hội chợ triễn lãm và các chợ Đà Nẵng, trực thuộc Sở Công Thương Đà Nẵng

Chợ Cồn

Trang 30

1.5.2 Cơ cấu nhân sự và chức năng của Ban quản lý chợ Cồn

Ban quản lý chợ Cồn được thành lập theo Quyết định số 523/QĐ-Cty ngày 6 tháng

11 năm 2009 của Giám đốc Công ty Quản lý Hội chợ triển lãm và các chợ Đà Nẵng

 Số lượng CBCNV trong Ban quản lý chợ: 47 người

Trong đó: 1 trưởng ban, 2 phó ban, lực lượng bảo vệ: 28 người và còn lại là nhân viên kế toán và thủ quỹ

 Ban Quản lý chợ Cồn có chức năng, nhiệm vụ:

- Quản lý điều hành mọi hoạt động của chợ Cồn

- Quản lý, khai thác cho thuê mặt bằng kinh doanh, mặt bằng quảng cáo tại chợ; đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ, tổ chức chương trình sự kiện trưng bày giới thiệu quảng bá hàng hoá, sản phẩm

- Phối hợp với cơ quan, đơn vị liên quan và chính quyền địa phương làm tốt công tác quản lý thị trường, bảo đảm an ninh trật tự an toàn xã hội, vệ sinh môi trường, văn minh thương mại, phòng chống cháy nổ, thiên tai, an toàn công trình trong phạm vi chợ Cồn

- Tổ chức các hoạt động dịch vụ cung ứng cho tổ chức, cá nhân kinh doanh trong chợ

- Hướng dẫn các tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh dịch vụ tại chợ và khách hàng chấp hành chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nội quy quản lý chợ

- Lưu trữ hồ sơ, văn bản, hợp đồng … theo quy định

- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Ban Giám đốc Công ty giao

Trang 31

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với mục đích vừa nêu trên, trong quá trình nghiên cứu đề tài cần thực hiện một số nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu

- Tìm hiểu thực trạng công tác thu gom, vận chuyển rác thải tại chợ Cồn

- Đưa ra các giải pháp để cải thiện và nâng cao hiệu quả công tác quản lý rác thải tại chợ Cồn

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 32

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Rác thải tại khu vực kinh doanh

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin

Tôi tiến hành điều tra, thu thập số liệu thực tế tại khu vực chợ Cồn, đồng thời tôi có tìm kiếm và tập hợp được các bài viết, các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước, cũng như số liệu thu thập tại Trung tâm Hội chợ triễn lãm và các chợ Đà Nẵng,

Xí nghiệp môi trường Hải Châu I, Công ty TNHH MTV Môi trường Đô thị Đà Nẵng

2.3.2 Phương pháp phân tích tổng hợp

Sau khi tiến hành thu thập tài liệu, số liệu từ các phiếu điều tra, tôi tiến hành thống

kê và xử lý số liệu bằng các phần mềm như: Word, Exel,… kết quả của quá trình này được trình bày trong bài luận

2.3.3 Phương pháp khảo sát thực địa

Tôi đã quan sát và ghi lại thói quen hằng ngày của các tiểu thương về lưu trữ và thải bỏ rác cũng như ý thức của họ về vấn đề vệ sinh môi trường Bên cạnh đó, tôi cũng

đã khảo sát lại cách thức thu gom, vận chuyển rác của đội vệ sinh môi trường cũng như

là kiểm tra lại những số liệu đã thu thập được về rác thải tại chợ

2.3.4 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi

Nhằm đánh giá nhận thức và điều tra khối lượng rác tại chợ Cồn, tôi đã xây dựng bảng câu hỏi phỏng vấn và điều tra 190 hộ Đối tượng được phỏng vấn là những người tham gia kinh doanh tại chợ Ngoài ra, chúng tôi cũng phỏng vấn các thành phần khác như: Ban quản lý chợ Cồn, công nhân vệ sinh tại chợ, khách tham quan mua sắm…

Ngày đăng: 09/05/2021, 16:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Công ty quản lý hội chợ triễn lãm và các chợ Đà Nẵng, “Báo cáo tình hình thực hiện công tác vệ sinh môi trường trong năm 2012” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo tình hình thực hiện công tác vệ sinh môi trường trong năm 2012
3. Công ty quản lý hội chợ triễn lãm và các chợ Đà Nẵng, “Phương án xã hội hóa công tác vệ sinh môi trường tại các chợ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phương án xã hội hóa công tác vệ sinh môi trường tại các chợ
4. Lê Văn Nãi , Bảo vệ môi trường trong xây dựng cơ bản, Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật (1999) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ môi trường trong xây dựng cơ bản
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật (1999)
6. Phòng Công nghệ môi trường, Công ty Môi trường đô thị Đà Nẵng ,“ Báo cáo: Tình hình quản lý chất thải rắn trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo: "Tình hình quản lý chất thải rắn trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
7. Ths.Hoàng Thị Kim Chi, “Các hình thức tổ chức thu gom rác thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh thực trạng và các đề xuất bổ sung” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Các hình thức tổ chức thu gom rác thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh thực trạng và các đề xuất bổ sung
8. Trần Hiếu Nhuệ, Ứng Quốc Dũng và Nguyễn Thị Kim Thái (2001), Quản lý chất thải rắn, Tập 1: Chất thải rắn đô thị, NXB Xây Dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý chất thải rắn, Tập 1: Chất thải rắn đô thị
Tác giả: Trần Hiếu Nhuệ, Ứng Quốc Dũng và Nguyễn Thị Kim Thái
Nhà XB: NXB Xây Dựng
Năm: 2001
9. Xí nghiệp Môi trường Hải Châu I, “Báo cáo Tổng quan quy trình thu gom và vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Tổng quan quy trình thu gom và vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt
2. Công ty quản lý hội chợ triễn lãm và các chợ Đà Nẵng, Đề án vệ sinh môi trường tại các chợ Khác
5. Nguyễn Văn Phước, Giáo trình Quản lý chất thải rắn Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w