1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đặc điểm trí tuệ cảm xúc của học sinh tiểu học trường kim đồng, huyện phú ninh, tỉnh quảng nam

62 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

iả thuyết khoa học: - Đặc điểm trí tuệ cảm xúc của học sinh tiểu học trường Kim Đồng, Huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam biểu hiện qua ba mặt: Sự quan tâm đến trạng thái tình cảm con người

Trang 1

ỌC N N

ỌC SƯ P M KHOA TÂM LÝ – ÁO DỤC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP I HỌC

ặc điểm Trí tuệ cảm xúc của học sinh tiểu học Trường Kim ồng, uyện Phú Ninh, Tỉnh Quảng Nam

Sinh viên thực hiện : Phan Thị Trà My

Chuyên ngành: Tâm lý iáo dục Người hướng dẫn : Nguyễn Thị Trâm Anh

Trang 2

Trong những năm gần đây, trí tuệ cảm xúc được nhiều nhà nghiên cứu đặc biệt chú ý Người ta nhận thấy trí thông minh (IQ) là quá trình chật hẹp khi nói đến trí tuệ con người IQ chưa chắc đã đảm bảo cho sự thành đạt của mỗi con người mà muốn thành công trong cuộc sống rất cần một hệ số cảm xúc cao Muốn phát triển nguồn lực con người để đáp ứng yêu cầu CNH – HĐH đất nước thì bên cạnh việc phát triển bồi dưỡng nâng cao trí tuệ thì việc phát triển trí tuệ cảm xúc cũng đóng vai trò hết sức quan trọng

Mặc dù mục tiêu giáo dục của nước ta là phát triển toàn diện nhân cách học sinh, nhưng chương trình giáo dục hầu như chỉ tập trung phát triển các năng lực học tập, cung cấp kiến thức mà ít chú trọng đến vấn đề giáo dục trí tuệ cảm xúc cho học sinh Do vậy, để đáp ứng yêu cầu của xã hội, giáo dục cần phải có những thay đổi để

có thể đào tạo ra những công dân không những vừa có đức vừa có tài mà còn có khả năng giải quyết hiệu quả các mối quan hệ xã hội Trong đó, giáo dục phát triển trí tuệ cảm xúc cho trẻ là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên sự thành đạt của những công dân tương lai

Trẻ em luôn là mối quan tâm hàng đầu của xã hội, vì vậy nuôi dưỡng đào tạo để trẻ phát triển các tính cách là việc vô cùng quan trọng đối với các bậc làm cha, làm mẹ Rất nhiều trẻ em Việt Nam học giỏi, nhưng khi bước vào đời thì lại không phát huy được bởi thiếu những tính cách, kỹ năng cần thiết để thành công,các em khó thích nghi khi hoàn cảnh hay môi trường thay đổi, điều này bắt nguồn từ việc trí tuệ xúc cảm thấp,…Trẻ được giáo dục trí tuệ xúc cảm tốt thì khả năng thích nghi và thành công

Trang 3

trong cuộc sống sẽ dễ dàng hơn, vì vậy việc phát triển các kỹ năng liên quan đến chỉ số xúc cảm của trẻ là mối quan tâm của xã hội hiện tại

Vấn đề trí tuệ cảm xúc còn khá mới mẻ đối với tâm lý học hiện đại nhưng với tính chất phức tạp và vài trò to lớn của nó trong sự thành công của con người đã mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới Vì vậy chúng ta cần phải tiếp tục nghiên cứu trí tuệ cảm xúc cả trên diện rộng và chiều sâu góp phần làm phong phú về trí tuệ cảm xúc Vấn đề trí tuệ cảm xúc do vậy, được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm gần đây và đưa được những vấn đề trọng tâm: Khái niệm, đặc điểm, các thành phần cấu thành, các yếu tố ảnh hưởng… Đặc biệt vấn đề nghiên cứu trí tuệ cảm xúc ở học sinh tiểu học còn chưa được khai thác nhiều trên bình diện các khía cạnh hình thành trí tuệ cảm xúc cũng như các đặc điểm của trí tuệ cảm xúc ở học sinh tiểu học Từ lý do trên, chúng tôi tiến hành

nghiên cứu đề tài “Đặc điểm Trí tuệ cảm xúc của học sinh tiểu học Trường Kim Đồng, Huyện Phú Ninh, Tỉnh Quảng Nam”

2. Mục đích nghiên cứu:

Nghiên cứu đặc điểm trí tuệ cảm xúc của học sinh tiểu học trường Kim Đồng, Huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam biểu hiện qua ba mặt: Sự quan tâm đến trạng thái tình cảm con người, sự quan tâm đến mọi người xung quanh, động cơ hành vi ( mức

độ cư xử theo trí tuệ cảm xúc) Trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao mức độ trí tuệ cảm xúc của học sinh tiểu hoc

3 Khách thể, đối tƣợng nghiên cứu:

3.1 Khách thể nghiên cứu

Học sinh tiểu học trường Kim Đồng, Huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam

3.2 Đối tượng nghiên cứu: Đặc điểm trí tuệ cảm xúc của học sinh tiểu học trường Kim Đồng, Huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam

4 iả thuyết khoa học:

- Đặc điểm trí tuệ cảm xúc của học sinh tiểu học trường Kim Đồng, Huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam biểu hiện qua ba mặt: Sự quan tâm đến trạng thái tình cảm con người, sự quan tâm đến mọi người xung quanh, động cơ hành vi ( mức độ cư xử theo trí tuệ cảm xúc) với mức độ trung bình và thấp

5 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quan đến đề tài

Trang 4

- Khảo sát đặc điểm trí tuệ cảm xúc của học sinh tiểu học trường Kim Đồng, Huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam biểu hiện qua ba mặt: Sự quan tâm đến trạng thái tình cảm con người, sự quan tâm đến mọi người xung quanh, động cơ hành vi ( mức

độ cư xử theo trí tuệ cảm xúc)

- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao trí tuệ cảm xúc cho học sinh tiểu học trường Kim Đồng, Huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam

6 iới hạn phạm vi nghiên cứu:

6.1 Giới hạn đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu đặc điểm trí tuệ cảm xúc của học sinh tiểu học trường Kim Đồng, Huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam biểu hiện qua ba mặt: Sự quan tâm đến trạng thái tình cảm con người, sự quan tâm đến mọi người xung quanh, động cơ hành vi ( mức

độ cư xử theo trí tuệ cảm xúc)

-Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao trí tuệ cảm xúc của học sinh tiểu học trường Kim Đồng, Huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam

6.2 Giới hạn khách thể nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu trên phạm vi 150 học sinh tiểu học ở 2 khối lớp: khối lớp 1,

và lớp 2 trường Kim Đồng, Huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam

7 Phương pháp nghiên cứu:

Trong đề tài này sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp nghiên cứu lý luận: (Phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa lý thuyết…) để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

 Phương pháp quan sát

 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi

- Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học

8 óng góp mới của đề tài:

- Xác định mức độ trí tuệ cảm xúc của học sinh tiểu học trường Kim Đồng, Huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam biểu hiện qua ba mặt: Sự quan tâm đến trạng thái tình cảm con người, sự quan tâm đến mọi người xung quanh, động cơ hành vi ( mức

độ cư xử theo trí tuệ cảm xúc)

- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao trí tuệ cảm xúc cho học sinh tiểu học

Trang 5

9 Cấu trúc đề tài:

Đề tài gồm có các phần như sau:

Mở đầu

Nội dung nghiên cứu

Chương 1: Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu

1.1 Lịch sử nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc

1.1.1 Trên thế giới

1.1.2 Ở Việt Nam

1.2 Lý luận chung về trí tuệ cảm xúc

1.2.1 Các quan điểm nghiên cứu

1.2.2 Khái niệm trí tuệ cảm xúc

1.2.2.1 Khái niệm về trí tuệ

1.2.2.2 Khái niệm về cảm xúc

1.2.2.3 Khái niệm về trí tuệ cảm xúc

1.2.3 Cấu trúc trí tuệ cảm xúc

1.2.4 Vai trò của trí tuệ cảm xúc với đời sống con người

1.3 Trí tuệ cảm xúc của học sinh tiểu học

1.3.1 Đặc điểm tâm lý học sinh tiểu học

1.3.2 Trí tuệ cảm xúc của học sinh tiểu học

Chương 2: Phương pháp và quy trình tổ chức nghiên cứu

2.1 Phương pháp điều tra nghiên cứu:

2.2 Qui trình tổ chức nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

3.1 Mức độ trí tuệ cảm xúc của học sinh tiểu học trường Kim Đồng, Huyện Phú Ninh, Tỉnh Quảng Nam

3.2 Các thành phần cấu thành trí tuệ cảm xúc của học sinh tiểu học trường Kim Đồng, Huyện Phú Ninh, Tỉnh Quảng Nam

3.2.1 Trí tuệ cảm xúc xúc của học sinh tiểu học trường Kim Đồng, Huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam qua hai khối lớp thể hiện ở mức độ quan tâm đến trạng thái tình cảm con người

Trang 6

3.2.2 Trí tuệ cảm xúc xúc của học sinh tiểu học trường Kim Đồng, Huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam qua hai khối lớp thể hiện ở mức độ quan tâm đến mọi người xung quanh

3.2.3 Trí tuệ cảm xúc xúc của học sinh tiểu học trường Kim Đồng, Huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam qua hai khối lớp thể hiện ở mức độ cư xử

3.3.3 So sánh các mặt của trí tuệ cảm xúc của học sinh tiểu học trường Kim Đồng, Huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam qua hai khối lớp

3.3 Đề xuất

III Kết luận và kiến nghị

1 Khái quát các kết luận chính

2 Ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu

3 Khuyến nghị

3.1 Đối với cá nhân học sinh

3.2 Đối với nhà trường

3.3 Đối với gia đình

4 Triển vọng nghiên cứu tiếp theo

Trang 7

B NỘ DUN

C ƯƠN CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA Ề T

1.1 Lịch sử nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc

1.1.1 Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến đề tài

Trí tuệ của con người là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, đặc biệt

là TLH Trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trí tuệ của con người với

sự đa dạng của các lý thuyết khác nhau về trí tuệ Có thể khái quát thành các thuyết đơn trí tuệ, các thuyết đa trí tuệ

Trong những năm gần đây, TTCX được nhiều nhà nghiên cứu đặc biệt chú ý Người ta nhận thấy trí thông minh (IQ) là quá trình chật hẹp khi nói đến trí tuệ con người IQ chưa chắc đã đảm bảo cho sự thành đạt của mỗi con người mà muốn thành công trong cuộc sống rất cần một hệ số cảm xúc cao

Howard Garden (1983), trong học thuyết đa trí tuệ của mình đã từng đề cập đến loại trí tuệ về ngừơi khác (Interpersonal Intelligence), bao gồm các năng lực nhận thức

rõ ràng và đáp ứng lại các tâm trạng, khí chất, động cơ và các nhu cầu của người khác một cách thích hợp Người có trí tuệ loại này có khả năng khích lệ và nâng đỡ người khác Như vậy, mặc dù Gardener đã không dùng thuật ngữ TTCX nhưng quan niệm của ông về trí tuệ (TT) của mình và TT về người khác là sự thừa nhận tầm quan trọng của việc hiểu biết và áp dụng có kỹ năng đời sống xúc cảm trong hoạt động thích ứng

và trí tuệ

Nhưng phải đến năm 1990, thuật ngữ TTCX mới thực sự xuất hiện lần đầu tiên trong một bài báo của 2 tác giả người Mỹ: Peter Salovey và John Mayer Hai ông cho rằng TTCX là khả năng làm chủ, điều khiển, kiểm soát tình cảm, cảm xúc của mình và của người khác, và khả năng sử dụng các thông tin này để dẫn dắt, định hướng cách suy nghĩ và hành động của một cá nhân

Sau một thời gian nghiên cứu Mayer và Salovey đã chính thức định nghĩa TTCX: IE là khả năng nhận biết, bày tỏ xúc cảm, hoà xúc cảm vào suy nghĩ, hiểu, suy luận với xúc cảm, điều khiển, kiểm soát xúc cảm của mình và của người khác” [9, 9]

Năm 1995, tiến sĩ TLH người Mỹ D Goleman đã xuất bản cuốn “Trí tuệ cảm xúc”gây được tiếng vang lớn ở Mỹ và thế giới Goleman khẳng định rằng: “Chúng ta

có hai hình thức khác nhau của trí tuệ: trí tuệ lý trí và trí tuệ cảm xúc Cách chúng ta

Trang 8

hướng dẫn cuộc sống của mình được quyết định bởi hai thứ trí tuệ ấy Trí tuệ cảm xúc cũng quan trọng như IQ Trên thực tế không có TT cảm xúc thì trí tuệ lý trí không thể hoạt động một cách thích đáng” [7 ; 28] Quan niệm này không phải là sự giải thoát khỏi các xúc cảm và thay thế chúng bằng lý trí mà là tìm được sự cân bằng giữa hai mặt đó

Năm 1998, Daniel Goleman lại tiếp tục xuất bản cuốn “Làm việc với trí tuệ cảm xúc” (Working with Emotional Intelligence) So với mô hình và định nghĩa đầu tiên về TTCX của Salovey và Mayer, ông đã bổ sung thêm 5 năng lực cảm xúc và xã hội cơ bản là: năng lực ý thức, năng lực tự điều chỉnh, năng lực thúc đẩy, năng lực đồng cảm và các kỹ năng xã hội

Cùng với những công trình nghiên cứu lý luận về TTCX là một loạt các công cụ

đo lường Năm 1985, Ruwen Bar-on đã tạo ra thuật ngữ (EQ) và xuất bản tập EQ-I (Emotional Quotient Inventory; 1997) – Đây là trắc nghiệm đầu tiên về TTCX Với quan niệm rằng trí thông minh thể hiện qua một tập hợp các năng lực chung, các năng lực cụ thể và các kỹ năng Ông không cho rằng EQ không thể thay thế IQ nhưng chúng

ta cần phải quan tâm cả hai phép đo để hiểu hết hơn con người và tiềm năng của họ đối với sự thành công trong các mặt khác nhau của cuộc sống Ông đã nhận diện được 5 khu vực bao quát về mặt chức năng phù hợp với thành công trong cuộc sống bao gồm các kỹ năng làm chủ xúc cảm của mình, các kỹ năng điều khiển xúc cảm liên cá nhân; tính thích ứng; kiểm soát strees; tâm trạng chung

Năm 1996-1997, một thang đo khác cũng được thiết kế theo kiểu tự đánh giá là

EQ Map của Cooper

Tóm lại, trên thế giới hiện nay việc hoàn thiện về lý thuyết và phương pháp đo TTCX đang được thực hiện mạnh mẽ

1.1.2 Những công trình nghiên cứu trong nước có liên quan đến đề tài

TTCX là một vấn đề còn khá mới mẻ đối với các nhà TLH Việt Nam Tài liệu

về TTCX chủ yếu được dịch từ của các tác giả nước ngoài Nhưng khoảng 5-6 năm gần đây đã bắt đầu có những công trình nghiên cứu về TTCX với các cấp độ khác nhau và đạt được những bước tiến nhất định

Trên các tạp chí TLH và giáo dục những năm gần đây đã đăng tải nhiều bài viết

về TTCX của các tác giả: Nguyễn Huy Tú, Nguyễn Công Khanh và nhiều tác giả khác

Và đã có những công trình nghiên cứu cụ thể như: Đề tài KX 05-06 các nhà khoa học

Trang 9

đã tiến hành đo lường cả 3 chỉ số trí tuệ: trí thông minh, TTCX, và chỉ số sáng tạo Trong đó TTCX được xem là một trong ba thành tố của trí tuệ [14]

Tiếp đó là những công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Dung (2002) đã tiến hành đo đạc TTCX của giáo viên tiểu học để xem IQ hay EQ đóng vai trò quan trọng hơn trong công tác chủ nhiệm

Năm 2004, tác giả Dương Thị Hoàng Yến của trường Cao Đẳng Sư Phạm Hà Nội tiếp tục nghiên cứu mảng TTCX của giáo viên tiểu học [25]

Năm 2005, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của trường Đại học Sư Phạm Hà Nội do PGS Trần Trọng Thuỷ chủ nhiệm đã sử dụng công cụ trắc nghiệm để đo chỉ số TTCX của sinh viên hai trường Đại học: Sư phạm HN và Sư phạm Thái Nguyên [20]

1.2 Lý luận chung về trí tuệ cảm xúc

1.2.1 Khái niệm trí tuệ

Có nhiều định nghĩa khác nhau về trí tuệ:

- Từ điển Anh - Việt: Trí tuệ - Intellect: Là khả năng của trí óc lập luận để có được kiến thức (trái ngược với cảm xúc và bản năng), khả năng hiểu biết rộng và khả năng lập luận tốt

- Từ điển Tiếng việt: Trí tuệ được định nghĩa là khả năng nhận thức lý tính đạt đến một trình độ nhất định

- Từ điển Tâm lý (Nguyễn Khắc Viện chủ biên): Trí tuệ là khả năng hành động thích nghi với biến đổi của hoàn cảnh thiên về tư duy trừu tượng

- Theo nhà Tâm lý học Nga B.G Ananhev: Trí tuệ là đặc điểm tâm lý phức tạp của con người mà kết quả của công việc học tập và lao động phụ thuộc vào nó

- D Wechsler (1958) định nghĩa: “Trí tuệ là khả năng tổng thể hoặc năng lực chung của cá nhân để hành động có mục đích, để suy nghĩ hợp lý và để ứng phó có hiệu quả với môi trường của mình”

Trang 10

- Terman (1921) phát biểu: “Một cá nhân thông minh tương ứng với người đó

có khả năng thực hiện tư duy trừu tượng”

- F Raynal, A Rieunier lại cho rằng: Trí tuệ là khả năng xử lý thông tin để giải quyết vấn đề và nhanh chóng thích nghi với tình huống mới

- Nhà nghiên cứu N Sillamy lại có khái niệm: Trí tuệ là khả năng hiểu các mối quan hệ sẵn có giữa các yếu tố của tình huống và thích nghi để thực hiện cho lợi ích bản thân

- J Piaget nhấn mạnh: Trí tuệ là một hình thức của trạng thái cân bằng mà toàn

bộ các sơ đồ nhận thức hướng tới Trí tuệ là một dạng thích nghi của cơ thể

- R Sterberg với quan niệm trí tuệ là kết quả tương tác của con người với môi trường sống, đồng thời là tiền đề cho sự tương tác ấy đã được định nghĩa: “Trí tuệ là

sự thích ứng có mục đích với môi trường, có ý nghĩa quan trọng với điều kiện của cá nhân cũng như sự tạo ra và liên kết có chọn lọc của môi trường ấy”

- Theo H Gordner, trí tuệ phải được định nghĩa như là “Tiềm năng tâm sinh lý

để xử lý thông tin và những tiềm năng được kích hoạt trong môi trường văn hoá nhằm giải quyết vấn đề hoặc tạo ra những sản phẩm có giá trị cho một nền văn hoá”

Một cách chung nhất, có thể nói có hai xu hướng giải thích trí tuệ Thứ nhất, coi trí tuệ quá rộng như là một sự thích ứng nói chung Xu hướng thứ hai thu hẹp khái niệm trí tuệ vào các quá trình tư duy

Trong vô số các định nghĩa về trí tuệ có thể thấy có 3 loại:

1 Coi trí tuệ là năng lực học tập

2 Coi trí tuệ là năng lực tư duy trừu tượng

3 Coi trí tuệ là năng lực thích ứng

Tuy nhiên, nhiều công trình nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra rằng: có một mối liên hệ giữa trí tuệ và sự học tập nhưng chúng không đồng nhất với nhau Chẳng hạn những công trình nghiên cứu trên sinh viên trường Đại học tổng hợp Kiev cho thấy rằng: Trong số những sinh viên học yếu có cả những người có chỉ số cao về mức độ trí tuệ Điều này có thể giải thích bằng sự thiếu động cơ học tập

Kiểu định nghĩa thứ hai hiểu trí tuệ là năng lực phát triển tư duy trừu tượng (Terman-1973) Theo cách hiểu như vậy thì chức năng của trí tuệ là sử dụng có hiệu quả các khái niệm và tượng trưng (ký hiệu) Quan điểm này đã thu hẹp cả khái niệm, lẫn phạm vi thể hiện của trí tuệ

Trang 11

Kiểu định nghĩa trí tuệ thông qua hoạt động thích nghi là kiểu định nghĩa phổ biến nhất và được nhiều nhà nghiên cứu tán thành nhất Tuy nhiên, sự tác động qua lại

đó phải được xem xét như là sự thích ứng tích cực,có hiệu quả, chứ không như sự thích nghi đơn giản

Các quan điểm cơ bản trên đối với việc định nghĩa trí tuệ không loại trừ lẫn nhau Mỗi quan điểm trên đều xuất phát từ một dấu hiệu nào đó được coi là quan trọng nhất Rõ ràng là không định nghĩa nào trong các định nghĩa trên chứa đựng được hết bản chất của các hiện tượng phức tạp như trí tuệ của con người

Đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, khi nghiên cứu trí thông minh, các nhà tâm lý học Xô viết đã chú ý những vấn đề:

1 Tính độc lập tương đối của trí tuệ đối với các thuộc tính khác của nhân cách

2 Sự hình thành và thể hiện của trí tuệ trong hoạt động

3 Tính quy định (chế ước) của những điều kiện văn hoá lịch sử đối với những thể hiện của trí tuệ

4 Chức năng thích ứng tích cực của trí tuệ

Theo lập trường trên, Blaykhe V.M và Burolachuc L.F (1978) đã đưa ra định nghĩa: “Trí tuệ - đó là một cấu trúc động, tương đối độc lập của các thuộc tính nhận thức của nhân cách, được hình thành và thể hiện trong hoạt động, do những điều kiện văn hoá - lịch sử quy định và chủ yếu bảo đảm cho sự tác động qua lại phù hợp với hiện thực xung quanh, cho sự cải tạo có mục đích hiện thực ấy

Từ khi người ta bắt đầu nói đến loại trí tuệ mới “trí tuệ cảm xúc” thì ra là, lâu nay chúng ta đã cường điệu giá trị và tầm quan trọng của lý trí thuần tuý được đo bằng

IQ trong đời sống con người Khuôn mẫu mới bắt chúng ta phải hoà hợp cái đầu và trái tim với nhau Do vậy, đến đây các nhà tâm lý học đã đi đến một định nghĩa để làm

việc đầy đủ và hiện đại hơn: “ Trí tuệ đó là một cấu trúc tương đối độc lập của những

năng lực nhận thức và xúc cảm của cá nhân, được hình thành và thể hiện trong hoạt động, do những điều kiện văn hoá - lịch sử quy định và chủ yếu đảm bảo cho sự tác động qua lại phù hợp với hiện thực xung quanh, cho sự cải tạo có mục đích hiện thực

ấy, nhằm đạt được các mục tiêu quan trọng trong cuộc sống của cá nhân và xã hội.”

Trang 12

* Trí tuệ theo quan niệm truyền thống:

Vấn đề trí tuệ (hay trí thông minh) hiện đang là vấn đề được tranh luận sôi nổi trong TLH Cho đến nay đang tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về trí tuệ Tựu chung

lại có 3 nhóm quan điểm cơ bản về trí tuệ, cụ thể là:

- Nhóm quan niệm thứ nhất: Coi trí tuệ là năng lực học tập Đại diện cho nhóm quan điểm này có thể kể đến các tác giả: B.G Ananhiev, V.V Bogolopxki,

Nhìn chung các quan điểm trên đều thống nhất trí tuệ với trí thông minh Những quan điểm trên đây về trí tuệ làm nền tảng cho sự ra đời của quan niệm hiện đại về trí tuệ

* Trí tuệ theo quan điểm hiện đại:

Trí tuệ theo quan niệm mới bao hàm nghĩa rộng hơn, gồm cả trí tuệ sáng tạo, trí tuệ xã hội, trong đó có trí tuệ cảm xúc là hạt nhân Vì vậy có thể hiểu khái niệm trí tuệ theo nghĩa rộng hơn như là “năng lực tổng thể hoặc một loạt các năng lực nhận thức, xúc cảm và sự hiểu biết để học, để giải quyết vấn đề và để đạt các mục đích có giá trị hoặc để sáng tạo ra các sản phẩm có giá trị trong những điều kiện văn hoá - lịch sử cụ thể [15, 97]

Từ những năm 90 người ta bắt đầu chú ý đến loại trí tuệ mới – trí tuệ cảm xúc

Từ những kết quả thu được qua việc nghiên cứu đo lường loại trí tuệ này, các nhà TLH

đã thừa nhận vai trò quan trọng của TTCX đối với đời sống của con người Vì vậy chúng ta có thể đi đến một định nghĩa được xem là đầy đủ và hiện đại hơn về trí tuệ như sau: “Trí tuệ - đó là một cấu trúc động, tương đối độc lập của những năng lực nhận thức và xúc cảm của cá nhân, được hình thành và thể hiện trong hoạt động, do những điều kiện văn hoá - lịch sử quy định và chủ yếu bảo đảm cho sự tác động qua lại phù hợp với hiện thực xung quanh, cho sự cải tạo có mục đích hiện thực ấy nhằm đạt được các mục đích quan trọng trong cuộc sống của con người [14; 8]

Trang 13

1.2.1.2 Các loại trí tuệ:

* Trí thông minh:

Hiện nay các nhà TLH đã đưa ra rất nhiều định nghĩa khác nhau về trí thông minh Theo tác giả Nguyễn Công Khanh: trí thông minh là năng lực tổng thể hoặc một loạt các năng lực giúp cá nhân áp dụng các kỹ năng nhận thức, xúc cảm và sự hiểu biết

để học, để giải quyết vấn đề và để đạt các mục đích có giá trị hoặc để sáng tạo ra các sản phẩm có giá trị trong những điều kiện văn hoá lịch sử cụ thể [15; 39] Đây là định

nghĩa được nhiều người tán thành nhất

Khi nói đến trí thông minh, các nhà TLH thường đề cập đên 3 nhóm năng lực

cơ bản, đó là: năng lực phân tích, năng lực thực hành và năng lực sáng tạo.Trí thông minh là một loại năng lực tinh thần đặc biệt nằm trong bản thân mỗi con người, nó giúp cho chúng ta có những hành vi ứng xử thông minh vì vậy nó luôn mang tính chủ thể và chịu sự chế ước của môi trường xã hội, do đó mà ta có thể kích thích tính tích cực của chủ thể và thay đổi môi trường, đặc biệt là những thay đổi chương trình giáo

dục để làm phát triển trí thông minh của mỗi người

* Trí tuệ cảm xúc:

Theo Daniel Goleman: “TTCX là năng lực nhận biết các cảm xúc của mình và người khác, năng lực tự thúc đẩy và năng lực quản lý tốt các cảm xúc trong bản thân

mình và trong các mối liên hệ với người khác [14;18]

Trí tuệ cảm xúc mang bản chất xã hội và được hình thành trong quá trình cá nhân tham gia vào các hoạt động xã hội khác nhau và chịu sự ảnh hưởng rất lớn của môi trường xã hội Nhưng khác với trí thông minh, những năng lực của TTCX của mỗi người có thể dễ dàng thay đổi nhờ việc luyện tập, tính chất này mở ra một khả năng vô cùng quan trọng đối với mỗi người là có thể tích cực tập luyện để thay đổi TTCX của

mình, tạo tiền đề cho sự thành công trong cuộc sống

Trang 14

Cũng giống như TTCX, trí sáng tạo được xem như thành phần của cấu trúc trí tuệ và gắn liền với các thành phần khác của nhân cách, nó phụ thuộc vào tác động của giáo dục, tính tích cực hoạt động của cá nhân Và được hiểu là trí tuệ trải nghiệm để đạt đến cái mới lạ thực sự, đấy là năng lực tạo ra sự phù hợp tối ưu giữa kỹ năng của

cá nhân và môi trường bên ngoài của người đó

1.2.2 Lý luận về cảm xúc

Xúc cảm của con người cũng là loại hiện tượng được quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học khác nhau Trong tâm lý học có nhiều cách giải thích khác nhau về khái niệm, nguồn gốc, kiểu loại của cảm xúc, quan hệ của nó với các quá trình tâm lý khác và vai trò của nó đối với hành động của con người

- Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên - 1997): Xúc cảm là rung động trong lòng do tiếp xúc với sự việc gì đó

- Từ điển Oxford English Dictionary định nghĩa: Xúc cảm là một kích động hay một rối loạn tinh thần, tình cảm, đam mê, mọi trạng thái mãnh liệt hay kích thích

- Từ điển Tâm lý (Nguyễn khắc viện chủ biên - 1991): Cảm xúc - phản ứng rung chuyển của con người trước một kích động vật chất hoặc một sự việc gồm hai mặt:

+ Những phản ứng sinh lý do thần kinh thực vật như tim đập nhanh, toát mồ hôi, hoặc run rẩy, rối loạn tiêu hoá

+ Phản ứng tâm lý, qua những thái độ, lời nói, hành vi và cảm giác dễ chịu, khó chịu, vui sướng, buồn khổ có tính tự phát, chủ thể kiềm chế khó khăn

Lúc phản ứng chưa phân định gọi là cảm xúc, lúc phân định rõ nét gọi là cảm động, lúc biểu hiện với cường độ cao gọi là cảm kích

- Từ điển Tâm lý học (Vũ Dũng chủ biên - 2000): Cảm xúc - sự phản ánh tâm

lý về mặt ý nghĩa sống động của các hiện tượng và hoàn cảnh, tức mối quan hệ giữa các thuộc tính khách quan của chúng với nhu cầu của chủ thể, dưới hình thức những rung động trực tiếp

Trong tâm lý học xúc cảm thường được quan niệm là thái độ phản ánh ý nghĩa của sự vật, hiện tượng với nhu cầu của cá thể có tính chất tình huống

Schachtel (1959) khẳng định: không có các hoạt động và các hành vi nếu

không có các xúc động mạnh

Trang 15

Tomkins (1962) và Izard (1971) khẳng định rằng: các xúc cảm tạo nên một hệ

thống động cơ sơ cấp của con người, chính xúc cảm đóng vai trò quan trọng trong sự

tổ chức, sự tạo động cơ và sự củng cố hành vi

X.L.Rubinstein, nhà tâm lý học Xô Viết định nhĩa: “xúc cảm là một sự trải

nghiệm đặc biệt được đặc trưng bởi phẩm chất tính cách của nó như vui, buồn, giận

dữ, khùng ” Ông cho rằng: “Về mặt nội dung, các xúc cảm được xác định bởi các mối quan hệ xã hội của con người, bởi tập quán và thói quen trong từng hoàn cảnh xã hội, tư tưởng của nó” Qua việc phân tích nguồn gốc, sự nảy sinh và biểu hiện dưới góc độ lý thuyết hoạt động, ông khẳng định: xúc cảm của người, xét về nguồn gốc, chức năng hay sự biểu hiện luôn mang tính xã hội

Nguyễn uy Tú nhằm làm rõ sự nảy sinh xúc cảm, đã định nghĩa: “Xúc cảm

của con người là những rung động khác nhau của chúng ta nảy sinh do sự thoả mãn hay không thoả mãn những nhu cầu nào đó, do sự phù hợp hay không phù hợp của các biến cố, hoàn cảnh cũng như trạng thái bên trong cơ thể với mong muốn, hứng thú, khuynh hướng, niềm tin và thói quen của chúng ta” [21, 49]

Trần Trọng Thuỷ quan niệm: xúc cảm là một quá trình tâm lý, biểu thị thái độ

của con người hay con vật với sự vật, hiện tượng có liên quan đến nhu cầu của cá thể

đó, gắn liền với phản xạ không điều kiện, với bản năng Carroll E.Izard, nhà tâm lý

học Mỹ với quan điểm: những xúc cảm tạo nên hệ thống động cơ chính của con người, ông đã không nêu một định nghĩa cụ thể về xúc cảm mà chỉ nêu ba yếu tố đặc trưng của định nghĩa xúc cảm, đó là:

- Cảm giác được thể nghiệm hay là được ý thức về cảm xúc

- Các quá trình diễn ra trong các hệ thần kinh, hệ nội tiết, hô hấp, tiêu hoá và các hệ khác trong cơ thể

- Các phức hợp biểu cảm cảm xúc được đưa ra quan sát, đặc biệt là những phức hợp phản ánh trên bộ mặt [3, 17]

Daniel Goleman, dưới góc độ nghiên cứu xúc cảm và mối quan hệ giữa xúc

cảm và trí tuệ, đã định nghĩa “xúc cảm vừa là một tình cảm và các ý nghĩ, các trạng thái tâm lý và sinh lý đặc biệt, vừa là thang của các xu hướng hành động do nó gây ra” [10, 622] Ông cho rằng số lượng các xúc cảm rất phong phú do không chỉ có các xúc cảm đơn lẻ mà còn có sự kết hợp, sự biến thể và biến đổi của các xúc cảm tạo ra

Trang 16

J.Mayer, P.Salovey và D Caruso cho rằng: “xúc cảm là một hệ thống đáp lại

của cơ thể giúp điều phối những thay đổi về sinh lý, tri giác, kinh nghiệm, nhận thức

và các thay đổi khác thành những trải nghiệm mạch lạc về tâm trạng và tình cảm, chẳng hạn như hạnh phúc, tức giận, buồn chán, ngạc nhiên ”[10, 4]

Daniel Goleman trong cuốn “Trí tuệ xúc cảm: làm thế nào để biến những xúc

cảm của mình thành trí tuệ" xuất bản năm 1997, trích dẫn từ điển Oxford English Dictionary định nghĩa “xúc cảm như một kích động hay một rối loạn tinh thần, tình

cảm, đam mê mọi trạng thái kích thích" Ông hiểu xúc cảm vừa là một tình cảm và các

ý nghĩ, các trạng thái tâm lý và sinh lý đặc biệt vừa là thang của các xu hướng hành động do nó gây ra

Tóm lại, khi bàn đến khái niệm xúc cảm, các nhà tâm lý học đều nhất trí rằng:

1 Xúc cảm phản ánh ý nghĩa của mối quan hệ giữa sự vật hiện tượng với nhu cầu của chủ thể

2 Xúc cảm bao gồm quá trình sinh lý - thần kinh và quá trình tâm lý của cá thể

3 Các cơ chế thần kinh cơ của bộ mặt thực hiện những biểu hiện xúc cảm

4 Xúc cảm người rất phong phú, mang bản chất xã hội

5 Xúc cảm là phương thức thích nghi của con người với môi trường

1.2.3 Lý luận về trí tuệ cảm xúc

1.2.3.1 Quan niệm mới về mối quan hệ giữa trí tuệ và xúc cảm

Theo quan niệm truyền thống của các nhà triết học duy lý luôn đề cao lý trí (trí tuệ) và đối lập trí tuệ với xúc cảm Họ cho rằng con người cần vươn tới khuôn mẫu lý tưởng bằng cách giải thoát mình khỏi các xúc cảm và thay thế chúng bằng lý trí Tuy nhiên cách nhìn hiện tại cho rằng xúc cảm và trí thông minh có thể hoạt động nương tựa vào nhau Các xúc cảm phản ánh các mối quan hệ giữa một người với bạn bè, gia đình, tình huống xã hội hoặc mang tính nội tâm hơn là phản ánh mối quan hệ giữa mọi người với sự suy nghĩ hoặc trí nhớ của người đó

Qua những kết quả nghiên cứu về cơ sở sinh lý thần kinh của hoạt động xúc cảm, các nhà khoa học đã khẳng định rằng: “Những sự liên lạc giữa vùng trán trước và rìa đóng một vai trò quyết định trong đời sống tinh thần và những sự liên lạc ấy là cần thiết

để hướng dẫn chúng ta khi chúng ta có những quyết định lớn trong cuộc đời mình” Cụ thể hơn, “ Những sự liên lạc giữa hạnh nhân (và những cấu trúc rìa gắn nối với nó) và

vỏ não mới nằm ở trung tâm những “chiến trận” hay những “hiệp ước hợp tác” giữa đầu

Trang 17

và tim, giữa tư duy và các xúc cảm Sự tồn tại của vòng mạch này giải thích tại sao các xúc cảm là cần thiết cho tư duy, khi cần những quyết định khôn ngoan hay khi chỉ là để suy nghĩ một cách sáng rõ” [4, 73- 74] Như vậy các chứng cứ khoa học đã làm đảo lộn quan niệm truyền thống về sự đối kháng giữa lý trí và tình cảm

Daniel Goleman đã đưa ra quan niệm mới về mối quan hệ giữa xúc cảm và tư duy: “Theo một nghĩa nào đó, chúng ta có hai bộ não, hai tinh thần và hai hình thứ khác nhau của trí tuệ, trí tuệ lý trí và trí tuệ cảm xúc Cách chúng ta hướng dẫn cuộc sống của mình được quyết điịnh bởi hai thứ trí tuệ ấy Trí tuệ cảm xúc cũng quan trọng như IQ Trên thực tế, không có trí tuệ cảm xúc thì trí tuệ không thể hoạt động một cách thích đáng” [7, 78]

Tóm lại, ngày nay khuôn mẫu con người lý tưởng phải đạt được sự hoà hợp giữa cái đầu và trái tim tức là giữ lý trí và tình cảm Để đạt được điều này Daniel Goleman và các nhà tâm lý học thế hệ mới của Mỹ đã chỉ ra rằng: con người phải có trí tuệ cảm xúc, phải suy nghĩ thông minh với xúc cảm của mình và ngược lại những xúc cảm đó giúp tăng cường trí thông minh

1.2.3.2 ịnh nghĩa về trí tuệ cảm xúc

Những nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc (Emotion Intelligence- EI) thoạt đầu xuất hiện trong những bài báo mang tính học thuật vào đầu những năm 90 Khái niệm EI thu hút sự chú ý của rất nhiều người và người ta đã nói nhiều về tầm quan trọng của EI cho sự dự ðoán thành công cá nhân EI là một loạt các nãng lực giúp ngýời ta giải thích một cách chính xác xúc cảm của mình thay đổi như thế nào và làm thế nào hiểu

rõ hơn những xúc cảm để giải quyết vấn đề tốt hơn trong đời sống phức tạp của cá nhân

Đến nay, khái niệm mang tính học thuật này đã được phát triển qua một số công trình nghiên cứu lý thuyết Không lâu sau những công bố có tính học thuật này, một cuốn sách nổi tiếng về chủ đề này đã xuất hiện “Trí tuệ cảm xúc: Tại sao nó lại có thể quan trọng hơn IQ đối với tính cách, sức khoẻ và sự thành công trong suốt cuộc đời?” (Daniel Goleman,1995) Cuốn sách này đã xem xét rất nhiều những số liệu được công

bố trước đó đồng thời bổ sung khá nhiều những số liệu nghiên cứu về xúc cảm và bộ não, xúc cảm và hành vi xã hội và những chương trình ở trường phổ thông được phác thảo để giúp trẻ em phát triển các kỹ năng xúc cảm và kỹ năng xã hội

Trang 18

Đến nay có ba cách tiếp cận trí tuệ cảm xúc:

*Trí tuệ cảm xúc theo quan niệm của Rewven Bar- on:

Lý thuyết của ông kết hợp những đặc tính được xem là năng lực tâm lý (như tự nhận biết cảm xúc của mình) với các đặc tính khác được xem là khác biệt với năng lực tâm lý, chẳg hạn như tính độc lập, tính tự trọng và tâm trạng Điều này đã tạo ra mô hình trí tuệ cảm xúc kiểu hỗn hợp Bar- on đã xem xét lại những nghiên cứu tâm lý về các đặc tính của nhân cách có liên quan đáng kể đến sự thành công trong cuộc sống và ông

đã nhận diện được 5 khu vực bao quát về mặt chức năng phù hợp cho sự thành công trong cuộc sống Năm khu vực này gồm :

1) Kỹ năng làm chủ xúc cảm của mình, thể hiện ở sự tự nhận ra xúc cảm bản thân, ở tính chủ động, tự trọng, tự lập và sự tự hiện thực hoá

2) Kỹ năng điều khiển cảm xúc bên ngoài cá nhân mình, thể hiện trong các quan hệ cá nhân, trong trách nhiệm xã hội và ở sự đồng cảm với người khác

3) Khả năng thích ứng thể hiện trong giải quyết vấn đề trong kiểm tra xúc cảm qua thực tiễn và trong tính mềm dẻo của tư duy kiềm chế các stress

4) Khả năng tiết chế stress, thể hiện ở sự chịu đựng các stress (cú sốc) gặp phải,

ở khả năng kiểm soát được tính bốc đồng, xung tính

5) Khả năng giữ tâm trạng chung cân bằng thể hiện ở sự hạnh phúc, tinh thần lạc quan [7;30]

Mỗi khu vực trên lại được chia ra nhỏ hơn Ví dụ, khu vực các kỹ năng làm chủ cảm xúc gồm: Tự nhận biết xúc cảm của mình; chủ động, tự trọng; tự hiện thực hoá và độc lập Bar- On đã sử dụng thuật ngữ trí tuệ cảm xúc theo nghĩa: Trí tuệ thể hiện qua một tập hợp các năng lực chung, các năng lực cụ thể và các kỹ năng…nó đặc trưng cho sự tích tụ những hiểu biết được dùng để đương đầu với cuộc sống một cách có hiệu quả Tính từ xúc cảm được dùng để nhấn mạnh rằng đây là kiểu trí tuệ cụ thể khác với trí thông minh nhận thức (Bar- On, 1997)

Từ đó R Bar- On đã định nghĩa: “Trí tuệ cảm xúc như là một dãy các năng lực

phi nhận thức và những kỹ năng ảnh hưởng đến năng lực một người thành công trong việc đương đầu với những đòi hỏi và sức ép từ môi trường”

* Trí tuệ cảm xúc theo quan niệm của Daniel oleman

Cách nhìn thứ hai về EI được biết đến khá rộng rãi do Daniel Goleman (1995)

đề xướng Daniel Goleman cho rằng “Trí tuệ cảm xúc bao gồm năng lực tự kiềm chế,

Trang 19

kiểm soát nhiệt tình, kiên trì và năng lực tự thôi thúc bản thân mình” Trí tuệ cảm xúc được quan niệm như vậy bao gồm các năng lực sau đây:

1) Biết xúc cảm của mình, thể hiện ở sự nhận diện được xúc cảm của mình khi

nó xảy ra và kiểm soát được các xúc cảm của bản thân ở mọi lúc

2) Quản lý xúc cảm, thể hiện ở việc xử lý xúc cảm để tập trung chú ý, ở năng lực an ủi động viên con người và năng lực loại bỏ xúc cảm lo âu, trạng thái u sầu hoặc

sự nổi giận

3) Động cơ hoá Thể hiện ở năng lực điều khiển xúc cảm hướng vào mục đích hành động; khả năng biết trì hoãn sự thoả mãn nhu cầu bản thân, dập tắt sự bốc xung tính và khả năng hoà vào tâm trạng hứng khởi

4) Nhận biết cảm xúc của người khác, thể hiện ở khả năng đồng cảm với người khác, làm cho mình phù hợp với điều người khác cần và mong muốn

5) Xử lý các quan hệ, thể hiện ở khả năng điều khiển xúc cảm ở người khác và biết phối hợp hành động hài hoà với người khác [6;57]

D Goleman nhận thức được rằng ông đang đi từ trí tuệ cảm xúc sang một cái gì

đó rộng hơn khi cho rằng: sự linh hoạt của cái tôi…là hoàn toàn tương tự như mô hình này về trí tuệ cảm xúc, trong đó có cả các năng lực xã hội và năng lực xúc cảm Ông

đã đi khá xa khi cho rằng: “Có một từ có vẻ mỗi thời cho một “cơ thể” các kỹ năng mà

trí tuệ cảm xúc được xem là đại diện cho các kỹ năng này là: tính nết ( Daniel

Goleman, 1995)

* Trí tuệ cảm xúc theo quan niệm của Peter Salovey và John Mayer:

Howard Gardner đã đề xướng quan niệm về sự tồn tại của một dạng trí tuệ cá nhân gồm trí tuệ về quan hệ giữa các cá nhân và trí tuệ cá nhân hướng nội “Trí tuệ về quan hệ cá nhân là năng lực hiểu biết người khác”, còn “ Trí tuệ cá nhân hướng nội là năng lực tạo ra được một mô hình cụ thể và chân thật về bản thân mình và sử dụng nó

để tự hướng dẫn cuộc đời mình” (H Gardner, 1983)

Trên cơ sở quan niệm của H Gardner về trí tuệ cá nhân, năm 1990, hai nhà tâm

lý học Mỹ thế hệ mới là Peter Salovey (Đại học yale) và John Mayer (Đại học Hampshire) đã phát biểu chính thức quan điểm của họ về hiện tượng trí tuệ mới phát

hiện này “ Trí tuệ cảm xúc được quan niệm là khả năng hiểu rõ cảm xúc bản thân,

thấu hiểu cảm xúc của người khác, phân biệt được chúng và sử dụng những thông tin

ấy để hướng dẫn suy nghĩ và hành động của mình”

Trang 20

Định nghĩa của Salovey và Mayer đã nêu năm 1990 chỉ mới đê cập đến việc tiếp nhận cảm xúc chứ không đề cập đến quản lý cảm xúc Vì vậy đến năm 1997, hai

ông xem xét và nêu ra định nghĩa mới, theo đó “Trí tụê cảm xúc bao gồm khả năng

tiếp nhận đánh giá và biểu hiện xúc cảm, khả năng đánh giá và phân loại các xúc cảm khi định hướng suy nghĩ, khả năng hiểu xúc cảm và nhận biết xúc cảm, khả năng điều khiển định hướng xúc cảm nhằm mục đích phát triển xúc cảm và trí tuệ” [22;80]

Theo quan niệm của hai nhà tâm lý học này “Trí tuệ cảm xúc nói gọn là năng

lực nhận biết xúc cảm của mình và người khác, năng lực bày tỏ xúc cảm của mình hoà xúc cảm vào suy nghĩ, hiểu và phân tích bằng xúc cảm , điều khiển và kiểm soát xúc cảm của bản thân và người khác” Trí tuệ cảm xúc được quan niệm như vậy bao gồm

các năng lực sau đây: Các năng lực xúc cảm này có thể phân thành 4 lớp hoặc thành 4 nhánh

1) Sự nhận thức, bày tỏ xúc cảm, thể hiện ở năng lực nhận ra và bày tỏ xúc cảm của mình ở trạng thái sinh lý, tình cảm, suy nghĩ và nhận ra và cảm nhận được sự bày

tỏ xúc cảm của người khác qua biểu cảm nét mặt, thân thể, ngôn ngữ, nghệ thuật,… dẫn đến sự đồng cảm, thấu cảm Các kỹ năng cơ bản nhất nàyliên quan đến nhận thức

và nhận biết về xúc cảm Ví dụ, trẻ sơ sinh học cách biểu lộ xúc cảm qua khuôn mặt, trẻ này quan sát tiếng khóc của nó hoặc niềm vui thể hiện trên khuôn mặt bố, mẹ khi

họ biểu lộ đồng cảm với những tình cảm của trẻ Khi trẻ lớn lên, nó ngày càng phân biệt một cách tinh tế hơn sự khác biệt giữa người chân thật hay chỉ là những nụ cười

xã giao, lịch sự và thay đổi từ từ của sự biểu lộ cảm xúc Cũng quan trọng khi người ta khái quát hoá kinh nghiệm xúc cảm với đồ vật như “phiên dịch” được tính chan hoà của phòng ăn

2) Hoà xúc cảm vào suy nghĩ của mình, thể hiện ở việc xúc cảm hỗ trợ tư duy một cách có hiệu quả và xúc cảm giúp đỡ cho óc phán đoán, cho trí nhớ Loại kỹ năng thứ hai này liên quan đến việc hoà hợp kinh nghiệm xúc cảm vào trong đời sống tâm

lý, gồm cân nhắc để phân biệt xúc cảm với ý nghĩ và làm cho xúc cảm định hướng có chủ ý Ví dụ, chúng ta có thể giữ một trạng thái xúc cảm trong ý thức để so sánh nó với một cảm giác tương tự về âm thanh, màu sắc hay mùi vị

3) Sự thấu hiểu và phân tích xúc cảm, bao gồm năng lực gọi tên xúc cảm của mình và người khác và năng lực hiểu các mối quan hệ dẫn đến những thay đổi của xúc cảm Mức độ thứ ba này liên quan đến hiểu và suy luận về xúc cảm Sự trải nghiệm

Trang 21

các xúc cảm cụ thể như: hạnh phúc, tức giận, sợ hãi và thích thú- trên cơ sở có tính đến quy luật xúc cảm được kiểm soát Tức giận nói chung tăng lên khi sự công bằng bị bác

bỏ, sợ hãi thường làm dịu bớt sự căng thẳng, sự buồn chán có thể làm người ta không muốn tiếp xúc với người khác Sự buồn rầu và tức giận vận động theo những quy luật đặc trưng riêng của chúng Trí tuệ cảm xúc liên quan đến năng lực nhận biết các xúc cảm, biết chúng bộc lộ như thế nào và suy luận về xúc cảm

4) Điều khiển các xúc cảm một cách có suy nghĩ có tính toán bao gồm năng lực điều khiển xúc cảm và kiểm soát xúc cảm một cách có suy nghĩ để kích thích phát triển tuệ và xúc cảm [22;80] Mức độ thứ tư - mức độ cao nhất của trí tuệ cảm xúc liên quan đến sự quản lý và điều hành các xúc cảm của mình và của người khác Chẳng hạn, biết làm thế nào để giữ bình tĩnh khi cảm thấy tức giận hoặc có thể làm giảm lo âu

ở người khác

J Mayer, P Salovey và D Caruso khẳng định: “Chúng tôi cho rằng trí thông minh tốt nhất nên được đo lường theo cách tiếp cận năng lực hoặc đánh giá kết quả thực hiện Lý thuyết của chúng tôi về EI, chia EI thành 4 khu vực năng lực: Nhận biết xúc cảm, nuôi dưỡng tư duy bằng xúc cảm, hiểu xúc cảm và quản lý xúc cảm Các trắc nghiệm năng lực của chúng tôi MEIS và MSCEIT do 4 miền đo vừa nêu Mặc dù những thang đo năng lực đầu tiên về EI có độ tin cậy alpha thấp, nhưng những thang

đo mới đây của chúng tôi về EI có độ tin cậy đảm bảo Những nghiên cứu tiến hành với các thang đo này chỉ ra rằng EI được định nghĩa và được đo như là một năng lực liên quan đến các loại trí thông minh khác nhưng nó lại có tính độc lập [9, 17]

1.2.3.3 Mô hình về trí tuệ cảm xúc

Có 3 cách tiếp cận trí tuệ cảm xúc nhưng thực chất chỉ có 2 quan niệm về mô hình của trí tuệ cảm xúc: mô hình năng lực tâm lý thuần nhất và mô hình hỗn hợp Mô hình năng lực tâm lý thuần nhất tập trung vào chính các xúc cảm và tương tác giữa xúc cảm với ý nghĩ (J Mayer và P Salovey, 1997) Mô hình hỗn hợp trí tuệ cảm xúc như là

sự kết hợp các năng lực tâm lý với các đặc tính khác như động cơ, các trạng thái ý thức

và hoạt động xã hội như là một thực thể duy nhất (Bar- On, 1997; Goleman, 1995)

Mô hình năng lực tâm lý có khả năng dự đoán về cấu trúc bên trong của trí tuệ cảm xúc và những ứng dụng của nó trong cuộc sống Lý thuyết này dự đoán rằng EI là một loại trí thông minh giống như các loại trí thông minh khác, trong đó nó sẽ đáp ứng

ba tiêu chuẩn thực nghiệm:

Trang 22

1 Những vấn đề về tâm lý với câu trả lời đúng hoặc sai, có tính hội tụ khi được đánh giá bằng những phương pháp cho điểm khác nhau

2 Các kỹ năng được đo lường có tương quan với các phép đo năng lực tâm lý (vì các năng lực tâm lý có xu hướng tương quan với nhau), đồng thời các kỹ năng được đo lường có tương quan với sự đồng cảm

3 Trình độ năng lực tăng lên cùng với độ tuổi

Các nghiên cứu hiện thời gợi ý rằng mô hình năng lực tâm lý của trí tuệ cảm xúc có thể được mô tả là một loại trí thông minh chuẩn về mặt thực nghiệm và đáp ứng tiêu chuẩn của một trí thông minh chuẩn điều này có nghĩa rằng những người được gọi là có trí tuệ cảm xúc cao có thể là những người có khả năng tiến hành xử lý thông tin xúc cảm một cách tinh tế Trí tuệ cảm xúc được xem xét một cách cẩn thận, cũng soi sáng biên giới giữa trí thông minh nhận thức và phẩm chất phi trí tuệ Tuy nhiên cả hai loại mô hình này có thể đều có lợi trong việc nghiên cứu tính hữu hiệu của con người và sự thành công trong cuộc sống

Các mô hình về cấu trúc của TTCX

* Mô hình thuần năng lực:

Peter Salovey và John Mayer (1990) là những người đã đưa ra mô hình EI thuần năng lực Các tác giả này cho rằng một mô hình thuộc về trí tuệ phải đáp ứng 3 tiêu chuẩn được xác định là: Phải là một mô hình phù hợp về mặt khái niệm, phải có tương quan (tức là nó phải có điểm giống nhưng vẫn có sự khác biệt với các loại trí tuệ

đã được thành lập Nó phải mang tính phát triển (tức là những năng lực đặc trưng cho trí tuệ phải phát triển cùng với sự tích luỹ kinh nghiệm và tuổi tác của cá nhân) Nhưng

mô hình EI mà hai tác giả này công bố năm 1990 còn những điểm chưa sáng tỏ về nội dung và chưa có công cụ đo lường khách quan Chính vì vậy, năm 1997 họ đã công bố

mô hình EI được chỉnh sửa và tinh lọc (EI 97) Trong mô hình EI 97, các tác giả định nghĩa EI như một tổ hợp những năng lực xúc cảm có thể chia thành bốn loại hay bốn

nhánh Mỗi một nhánh có bao gồm 4 năng lực tiêu biểu

Nhánh I: Nhận thức, đánh giá và biểu hiện xúc cảm

Nhánh II: Tạo điều kiện xúc cảm cho suy nghĩ

Nhánh III: Hiểu và phân tích xúc cảm, sử dụng những tri thức xúc cảm

Nhánh IV: Điều chỉnh xúc cảm một cách có suy nghĩ nhằm tăng cường sự phát

triển xúc cảm và trí tuệ

Trang 23

* Mô hình hỗn hợp về TTCX [15, 102-104]

Reuven Bar-On (1997) đã đưa ra mô hình hỗn hợp, tiếp cận mô hình TTCX dưới góc độ nhân cách Reuven Bar- On cho rằng cấu trúc TTCX bao gồm có 5 kỹ năng:

- Kỹ năng hiểu mình, thể hiện khả năng làm chủ cảm xúc của mình, thể hiện ở

sự nhận thức ra cảm xúc ở bản thân ở tính chủ động, tự trọng, tự lập và sự hiện thực hoá

- Kỹ năng hiểu người khác, thể hiện ở trong các quan hệ cá nhân trong trách nhiệm XH và ở sự đồng cảm với người khác

- Kỹ năng thích ứng, thể hiện khả năng giải quyết vấn đề trong công việc kiểm tra xúc cảm qua thực tiễn và trong tính mềm dẻo của tư duy

- Kỹ năng kiểm soát stress, thể hiện ở khả năng chịu đựng các stress gặp phải, khả năng kiểm soát được các bốc đồng xung tính

- Kỹ năng giữ tâm trạng cân bằng, thể hiện ở sự hạnh phúc, tinh thần lạc quan Còn theo tác giả Daniel Goleman, cấu trúc của TTCX gồm có hai nhóm năng lực: nhóm năng lực cá nhân và nhóm năng lực XH [15, 104]

Cấu trúc của TTCX theo Daniel oleman

Tự kiểm soát, quản lý mình

- Kiểm soát xúc cảm của mình

- Kiểm soát xung đột

- Lãnh đạo có tầm nhìn, khôn ngoan

- Xúc tác để thay đổi

- Tinh thần đồng đội và sự hợp tác

Trang 24

thích, muốn cư xử như vậy hay vì hiểu được cảm giác của người khác nên

cố g ng cư xử sao cho người khác hài lòng và mang lại ích lợi cho cả hai bên)

Đề tài đã lựa chọn mô hình trí tuệ của tiến sĩ Nguyễn Minh Anh để làm cơ sở nghiên cứu trong đề tài

chính xác và tinh tế hơn trí tuệ xã hội

Trí tuệ cảm xúc là sự hiểu biết, tôn trọng và điều khiển được cảm xúc của những người xung quanh Để đạt được điều này đòi hỏi mỗi người cần phải có những năng lực khác nhau như năng lực đọc được cảm xúc của người khác, điều khiển, điều

chỉnh những cảm xúc của người khác theo ý của mình

Trang 25

TTCX mang bản chất xã hội, TTCX được hình thành trong quá trình cá nhân tham gia vào các hoạt động XH khác nhau và chịu ảnh hưởng rất lớn của môi trường

sự thành công lớn khi theo học ở nhà trường chứ nó không đảm bảo một cách chắc chắn sẽ có được thành công trong cuộc đời Những người có chỉ số IQ cao được xem

là những người có năng lực tốt trong các lĩnh vực ngôn ngữ, toán học và tư duy trừu tượng…tất cả những cái này được xem là những năng lực ổn định trong mỗi con

người, để thay đổi nó là điều rất khó

Ngược lại, TTCX cho phép chúng ta có thể tiên đoán chính xác sự thành công của mỗi người trong cuộc sống của họ Những năng lực về việc hiểu, làm chủ được cảm xúc của mình và của người khác sẽ giúp cho mỗi người luôn giữ được trạng thái cân bằng trong tâm lý Có những ứng xử nhẹ nhàng đối với những người xung quanh Điều này giúp cho họ có thể dễ dàng đưa ra những quyết định sáng suốt trong những

tình huống, hoàn cảnh khác nhau

Khác với tri thông minh, những năng lực của TTCX ở mỗi người có thể thay đổi nhờ luyện tập Tính chất này mở ra một khả năng vô cùng quan trọng với mỗi người là tích cực luyện tập để thay đổi TTCX của mình tạo tiền đề cho sự thành công

trong cuộc sống

* TTCX là một dạng siêu trí tuệ, siêu năng lực

Sở dĩ chúng ta có thể nhận định như vậy là bởi vì nó quyết định việc một cá nhân có thể khai thác được những lợi thế (kể cả lợi thế về trí thông minh) của mình Thực tế cho thấy rằng những người hiểu được cảm xúc của mình, nắm được và làm chủ được, đoán được những cảm xúc của người khác và biết hoà vào với họ một cách hữu hiệu thì người này có lợi thế trong các lĩnh vực của cuộc đời và rất thành công trong cuộc sống

Trang 26

1.2.3.5 Vai trò của trí tuệ cảm xúc trong đời sống con người

Trí tuệ cảm xúc có vai trò thực sự quan trọng trong đời sống và hoạt động thực tiễn của cá nhân Nó không chỉ là một yếu tố quan trọng hình thành nên hành động mà

nó còn là yếu tố hướng đạo, dẫn đường cho hành động Sử dụng trí tuệ cảm xúc trong đời sống thường ngày sẽ giúp cho chúng ta giải quyết công việc một cách thuận lợi, nhanh chóng

Phạm vi của trí tuệ xúc cảm vô cùng rộng, nó còn được một số nhà khoa học nói mạnh lên đó là trí tuệ “xã hội” Tuy nhiên, có thể khái quát thành một số vai trò sau đây của trí tuệ cảm xúc trong đời sống con người

Vai trò của trí tuệ cảm xúc trong việc hình thành hành động

Sự tác động qua lại giữa chủ thể với hoàn cảnh mà trong đó cảm xúc là động lực của ứng xử còn tri giác, vận động và trí tuệ là sự cấu trúc hóa của các ứng xử đó

G Piagie quan niệm mỗi ứng xử bao gồm hai mặt, mặt mang năng lượng (do cảm xúc tạo ra) và mặt nhận thức (là kết quả của trí tuệ) Theo L.X Vưgotxki, trong tư duy ngôn ngữ, ý không phải điểm tận cùng của quá trình mà đằng sau nó phải là xu hướng, cảm xúc, nhu cầu

Cảm xúc là nhân tố mang năng lượng cho ứng xử, thể hiện ở điều kiện ban đầu của mỗi ứng xử Bất cứ một ứng xử nào cũng đều bắt nguồn từ cảm xúc Nếu không có cảm xúc chi phối tác động thì sẽ không tồn tại ứng xử Ngay cả những ứng xử theo thói quen thì nó cũng xuất phát từ những cảm xúc khác nhau, nhưng vì chúng ta làm đi làm lại, trở thành “thói quen” nên ta thường không nhận ra Ví dụ như thói quen vào quán kem mỗi khi buồn Trong hành động này, chính cảm giác buồn đã dẫn đường cho bạn bước vào quán kem, thế nhưng vì nó diễn ra nhiều thế nên bạn không để ý và quan tâm đến lí do vì sao mỗi lần cảm thấy buồn mình lại vào quán kem nữa

Cảm xúc là một trong hai nhân tố chủ yếu hình thành nên hành động, chính vì thế, trí tuệ cảm xúc cũng có một vai trò không nhỏ trong việc hành động Nếu cảm xúc

là nhân tố tạo năng lượng thì trí tuệ cảm xúc là nguồn góc của năng lượng đó Sự thấu hiểu cảm xúc của mình hay của người khác sẽ hình thành một cảm xúc nhất định trong mỗi chúng ta, sau đó, phát sinh ra một hành động nhất định Ví dụ, hôm nay bạn cảm thấy rất vui, vì thế, bạn muốn quan tâm đến mọi người.Hoặc như khi bạn thấy cậu bạn trong lớp đột nhiên im lặng, không vui vẻ hoạt bát, một cảm xúc tò mò là quan tâm hình thành và bạn quyết định lại hỏi thăm cậu ấy Trí tuệ cảm xúc không những là

Trang 27

nguồn gốc của việc nảy sinh tình cảm, xuất hiện hành động mà nó còn hướng đạo cho hành động Chúng ta sẽ tìm hiểu rõ hơn vai trò này của trí tuệ cảm xúc ở phần tiếp theo

Trí tuệ cảm xúc có vai trò thúc đẩy hoặc kìm hãm hoạt động nói chung

Cảm xúc ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động thường ngày Theo Daniel Goleman thì các cảm xúc chỉ đạo trí tuệ, thậm chí nó còn mạnh hơn cả khả năng logic – toán Trong thực tiễn, cảm xúc tham gia vào hoạt động trí tuệ ở cả hai phương diện:

Cảm xúc là động lực thúc đẩy hoặc kìm hãm một hành động nào đó

Cảm xúc tích cực có thể là động lực to lớn cho hành động và suy nghĩ của bạn

và ngược lại Mọi hoạt động của chúng ta không đơn thuần chỉ do bộ não điều khiển

mà còn có sự chỉ đạo của cảm xúc Những hoạt động đó hoặc hứng thú, vui vẻ hoặc là chán nản, miễn cưỡng Chính bởi vậy, trí tuệ cảm xúc có vai trò rất lớn đối với hoạt động trong cuộc sống thường ngày Không phải tất cả mọi thứ chúng ta đều muốn làm

và làm tốt, thế nên, có sự điều chỉnh cảm xúc mới có thể giúp chúng ta cân bằng trong việc sinh hoạt nói chung, trong học tập, làm việc, giải trí…Ví dụ như, bạn bị bạn bè trong lớp chê cười vì làm sai một bài tập rất cơ bản, và bạn cảm thấy rất xấu hổ, từ đó bạn quyết tâm phải đứng thứ nhất môn này Cảm giác xấu hổ là động lực để bạn học tập Cảm giác e ngại làm bạn không dám đứng dậy phát biểu trước lớp Sự thúc đẩy hay kìm hãm một hành động của cảm xúc có thể là tích cực hoặc tiêu cực, chính bởi vậy, cần phải có vai trò của trí tuệ cảm xúc Sự thấu hiểu cảm xúc và điều chỉnh nó lẽ giúp bạn rất nhiều trong cuộc sống Không chỉ thấu hiểu cảm xúc của mình, sự đồng cảm với cảm xúc của người khác cũng làm bạn cảm thấy vấn đề trở nên dễ dàng hơn rất nhiều Một người bạn của bạn bỗng nhiên cư xử rất lạ, nhưng bạn có thể hiểu được

lí do và tất nhiên là hiểu lầm giữa hai người sẽ không xảy ra

Cảm xúc hướng đạo cho hành động

Vai trò hướng đạo của cảm xúc thể hiện như cảm xúc là yếu tố bên trong của hành động trí tuệ, cảm xúc là tâm thế theo suốt quá trình hành động và nó chi phối các quyết định hành động Như đã phân tích ở trên, một hành động không đơn thuần chỉ là kết quả hoạt động của trí tuệ mà còn do cảm xúc chi phối Không có bất cứ một hoạt động hay hành động nào mà thiếu vắng cảm xúc Cảm xúc chi phối tới các quyết định hành động Bạn sẽ không bao giờ làm một việc mà không có cảm xúc chi phối cho dù việc đó có hay không có mục đích Ví dụ, bạn muốn đi chơi thì có thể là do cảm giác

Trang 28

hưng phấn, vui vẻ hoặc chán nản cô đơn Khi vui vẻ bạn muốn đi một chỗ nào đấy đông người, cảnh đẹp để ngắm nhìn cuộc sống hoặc đi mua sắm quần áo, khi chán nản bạn chỉ muốn đến một nơi nào yên tĩnh để suy nghĩ…Cảm xúc làm người hướng đạo cho hành động còn thể hiện ở việc nó ảnh hưởng đến phương thức, mức độ, tính chất

và thời gian… của hành động Bạn thấy vui vì kết quả thi của mình nhưng bạn thân của bạn lại có kết quả thấp hơn nhiều so với bạn thì sự đồng cảm với nỗi buồn của cô

ấy làm bạn không thể vui cười trước mặt bạn ấy một cách vô tư được Trí tuệ cảm xúc

có vai trò giúp bạn hành động một cách phù hợp trong từng hoàn cảnh

Vai trò của trí tuệ cảm xúc trong cuộc sống thường ngày

Từ vai trò định hướng cho hành động, có thể nhận thấy rằng trí tuệ cảm xúc quyết định phần lớn tình hình của một hoạt động giao tiếp, đối với tất cả mọi người trong tất cả môi trường giao tiếp Cảm xúc tích cực đóng vai trò vô cùng quan trọng,

đó là yếu tố giúp bạn cảm thấy hứng thú với các hành động trong hoạt động học tập

Ví dụ như khi bạn cảm thấy môn học Kinh tế vĩ mô rất khó hiểu, bạn thấy chán nản và không muốn học, tuy nhiên, cô giáo dạy môn ấy là người rất vui tính và bạn cảm thấy

có thiện cảm Nếu bạn biết cảm xúc tích cực của mình với cô giáo, nếu biết dùng cảm xúc ấy làm động lực để học tập thì lúc đó bạn đã có trí tuệ cảm xúc

Với bạn bè, việc bạn làm chủ cảm xúc của mình như thế nào cũng quyết định không chỉ số lượng mà còn có cả chất lượng các mối quan hệ đó Những mối quan hệ bền vững thường được xây dựng trên một nền tảng hiểu biết lẫn nhau của hai bên Ví

dụ như trong những mối quan hệ mới, bạn nhận thấy bạn của mình là người rất tốt, bạn

có thể học tập nhiều điều từ người ấy Tuy nhiên, sự thể hiện cảm xúc như thế nào để

họ không nghĩ rằng mình đang bị lợi dụng hoặc dựa dẫm Trong gia đình, dù mọi người đều hiểu nhau nhưng không phải ai cũng thân thiết với nhau, chính sự quan tâm của bạn, sự biểu lộ cảm xúc của bạn với những người anh em là nhân tố quan trọng để gắn chặt tình cảm gia đình Sự thấu hiểu cảm xúc của người khác cho phép bạn có thể làm được nhiều hơn việc nói chuyện một cách hời hợt với những người bạn quan tâm Trí tuệ cảm xúc của bố mẹ, anh chị và người lớn có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ nhỏ Có rất nhiều nghiên cứu cho biết, trong gia đình, nếu những ông bố bà mẹ luôn quát nạt và nóng nảy thì trẻ nhỏ trong gia đình luôn sống trong cảm giác sợ sệt, lo lắng, không an toàn trong chính gia đình của mình

Trang 29

Trong công việc, trí tuệ cảm xúc thực sự vô cùng cần thiết, đặc biệt hiện nay,

xu hướng làm việc đều dựa trên sự thương lượng và con đường đối ngoại của toàn nhân loại đều trên cơ sở hòa bình, đàm phán Những người có trí tuệ cảm xúc biết cách thể hiện tình cảm của mình phù hợp với hoàn cảnh, có khả năng điều khiển nó Khả năng thích nghi của họ cho phép họ hoạt động tốt hơn Sự phân biệt được cảm xúc của người khác là điều cơ bản trong mối quan hệ với mọi người, mà người nắm bắt được cảm xúc của mình đồng thời biết kiềm chế nó, sẽ hiểu được cảm xúc của người khác tốt hơn Khả năng này được gọi là sự đồng cảm Một tính chất quan trọng nữa của trí tuệ cảm xúc là khả năng tập trung tình cảm vào những mục đích mà họ muốn đạt được Tình cảm và sự đồng cảm giúp họ nhưng không có nghĩa là bỏ qua lý trí Người

có trí tuệ cảm xúc biết giữ sự cân bằng giữa tình cảm và lý trí Trí tuệ cảm xúc giúp bạn làm chủ cảm xúc của mình, trong hoàn cảnh nào thì bộc lộ cảm xúc và bộc lộ ở những mức độ như thế nào; khi nào thì phải kìm giữ nó trong lòng…Ví dụ, bạn là

“lính mới”, trẻ tuổi nhưng được sắp xếp ở một vị trí tương đối mà nhiều người lớn tuổi hơn không được; và bạn biết có nhưng lời xì xào về điều đó Người có chi số trí tuệ cao sẽ biết làm chủ được cảm xúc nóng giận và cố gắng tìm hiểu cảm xúc ở những người còn lại Và việc giải quyết đàm tiếu một cách thông minh không chỉ giúp bạn thấy vui vẻ, quan hệ thuận lợi với đồng nghiệp mà còn giải thích vì sao bạn lại có vị trí cao khi trẻ tuổi…

Vai trò của trí tuệ cảm xúc đối với một số yếu tố khác:

Đối với suy nghĩ

Trí tuệ cảm xúc dẫn đường cho suy nghĩ Vai trò cảm xúc dẫn đường cho chúng ta trong những tình huống gay go, như khi sự sống còn được quyết định Đó là những lúc bạn không có một điều kiện hay một yếu tố nào để suy nghĩ như khi thời gian quá gấp hoặc tình thế mà bạn chưa từng trải qua trong đời Mỗi xúc cảm căn bản

có một dấu ấn sinh học đặc trưng; nó chi phối bằng việc đưa tới một loạt các biến đổi căn bản trong thân thể và thân thể lúc đó phát ra một tập hợp tín hiệu một cách tự động Ví dụ như bạn bị lạc đường ở một khu vực vô cùng vắng vẻ Lúc này, mọi sự suy nghĩ đều vô ích, thì hãy nhắm mắt lại và nghe theo cảm xúc Chắc chắn rằng bạn

sẽ thoát khỏi nơi đó Một người kể lại rằng: Hôm ấy anh ta đang đi trên đường thì gặp bão tuyết, mọi thứ trở nên mờ mịt trước mắt Vì quá sợ hãi, anh ta đã dừng xe lại và đứng yên tại đó Một lúc sau, khi bão tan thì anh ta thấy có một xe cứu hộ đang đến để

Trang 30

giúp đỡ hai chiếc xe phía đâm vào nhau Nếu như không vì cảm giác sợ hãi mà dừng lại, nếu anh ta tiếp tục đi thì chắc chắn sẽ đâm hai chiếc xe kia Hoặc khi bạn bất ngờ

bị một người lạ tấn công Ngay lập tức bạn sẽ nghiêng người để né tránh và hô hoán người xung quanh nhằm tìm kiếm sự giúp đỡ

Đối với sức khỏe

Trí tuệ cảm xúc còn có vai trò đối với sức khỏe của mỗi cá nhân Việc kìm chế cảm xúc làm cho bạn bình tĩnh hơn và tránh được một số bệnh do xúc động quá mạnh

Ví dụ như nóng giận quá mức dễ dẫn đến tai biến mạch mãu não, buồn phiền quá mức ảnh hưởng đến dạ dày…Việc nhận biết cảm xúc của mình và điều chỉnh chúng một cách hợp lý trong cuộc sống sẽ giúp bạn cảm thấy thoải mái hơn và trên hết là tránh được bệnh tật

1.3 Trí tuệ cảm xúc của học sinh tiểu học

1.3.1 ặc điểm tâm lý học sinh tiểu học

1.3.1.1 Khái niệm học sinh tiểu học:

Học sinh Tiểu học là học sinh từ sáu tuổi đến mười bốn tuổi; được thực hiện trong năm năm học, từ lớp một đến lớp năm Tuổi của học sinh tiểu học được xác định

từ 6 đến 11 tuổi

1.3.1.2 ặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học

Nhận thức cảm tính

Các cơ quan cảm giác: Thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác đều phát

triển và đang hoàn thiện

 Tri giác

Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết và mang tính không chủ động , do đó các em phân biệt những đối tượng còn chưa chính xác, dễ mắc sai lầm, có khi còn lẫn lộn Ở đầu bậc tiểu học, tri giác của trẻ thường gắn với hành động, với hoạt động thực tiễn của trẻ

Tính cảm xúc thể hiện rất rõ khi các em tri giác Tri giác trước hết là những sự vật, những dấu hiệu, những đặc điểm nào trực tiếp gây cho các em những xúc cảm Vì thế cái trực quan, cái rực rỡ, cái sinh động được các em tri giác tốt hơn, dễ gây ấn tượng tích cực cho chúng

Trang 31

Tri giác và đánh giá vào không gian của học sinh tiểu học còn hạn chế Về tri giác độ lớn, các em gặp khó khăn khi phải quan sát các vật có kích thước quá lớn hoặc quá nhỏ Về tri giác thời gian các em thấy khó hình dung “ ngày xưa”, “thế kỷ” Tri giác không tự bản thân nó phát triển được Trong quá trình học tập, khi tri giác trở thành hoạt động có mục đích đặc biệt, trở nên phức tạp và sâu sắc, trở thành hoạt động có phân tích, có phân hóa hơn thì tri giác mang tính chất của sự quan sát có

Trong lứa tuổi tiểu học, chú ý không chủ định được phát triển Những gì mang tính mới mẻ,bất ngờ, rực rỡ thường dễ lôi cuốn sự chú ý của các em, không có sự nổ lực của ý chí

Sự tập trung của chú ý của học sinh lớp 1, lớp 2 còn yếu, thiếu bền vững

Khả năng phát triển của chú ý có chủ định, bền vững tập trung của học sinh tiểu học trong quá trình học tập là rất cao Bản thân quá trình học tập đòi hỏi các em phải rèn luyện thường xuyên sự chú ý có chủ định, rèn luyện ý chí

 Trí nhớ

Trong lứa tuổi học sinh tiểu học, hệ thống tín hiệu thứ nhất chiếm ưu thế nên trí nhớ trực quan-hình tượng được phát triển hơn từ ngữ logic.Các em nhớ và gìn giữ chính xác sự vật, hiện tượng cụ thể nhanh hơn và tốt hơn những định nghĩa, những lời giải thích dài dòng Học sinh lớp 1 và lớp 2 có khuynh hướng ghi nhớ máy móc bằng cách lặp đi lặp lại nhiều lần, có khi chưa hiểu những mối liên hệ, ý nghĩa của tài liệu học tập Các em chưa hiểu cụ thể mình cần ghi nhớ cái gì, bao lâu, trong khi giáo viên lại ít quan tâm hướng dẫn các em nhớ theo điểm tựa

 Tư duy

Tư duy của trẻ em mới đến trường là tư duy cụ thể, mang tính hình thức bằng cách dựa vào những đặc điểm trực quan của những đối tượng và hiện tượng cụ thể

Ngày đăng: 09/05/2021, 16:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm