1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Câu văn nguyễn ngọc tư từ góc nhìn phong cách học qua gáy người thì lạnh và bánh trái mùa xưa

79 81 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy, những nhận xét về câu văn trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư cũng ít nhiều phác họa được phong cách của chị ở tản văn.. Qua quá trình tìm hiểu, sưu tầm, chúng tôi đã thu được

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN -

CÂU VĂN NGUYỄN NGỌC TƯ TỪ GÓC NHÌN PHONG CÁCH HỌC QUA “GÁY NGƯỜI THÌ LẠNH”

VÀ “BÁNH TRÁI MÙA XƯA”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi Nguyễn Thị Mẫn Vy , sinh viên lớp 09CVH2,

khoa Ngữ Văn, trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng,

xin cam đoan công trình “Câu văn Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn phong cách học qua “Gáy người thì lạnh” và “Bánh trái mùa xưa”” là công trình do chính tôi thực hiện dưới sự

hướng dẫn của Giảng viên chính – Tiến sĩ Bùi Trọng Ngoãn

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nội dung khoa học trong công trình này

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2013

NGUYỄN THỊ MẪN VY

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau khi hoàn thành khoá luận tốt nghiệp, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn, trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng, đã trang bị cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập tại trường Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo Bùi Trọng Ngoãn, người đã tận tình tận tâm hướng dẫn, động viên tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành khoá luận Tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân, bạn bè, đã luôn bên cạnh an ủi, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua Một lần nữa xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2013

Tác giả

NGUYỄN THỊ MẪN VY

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Nếu ngôn từ là chất liệu để nhà văn xây nên những tượng đài văn chương bất diệt thì cấu trúc câu cũng giống như bộ khung xương để công trình đó vững chãi cùng năm tháng Nguyễn Ngọc Tư xuất hiện như một vệt sao lạ Văn của chị nhẹ nhàng, giản dị, câu từ mủ mỉ, hồn hậu như ngàn cánh bèo nổi nênh trên những dòng sông hai mùa nước lũ, nhưng lại có độ

âm vang và thấm đẫm chất thơ Qua “Gáy người thì lạnh” và

“Bánh trái mùa xưa”, ta nhận ra, hơi văn độc đáo mà bấy lâu chị

phả vào trang viết đã định hình thành những câu, những chữ đậm giá trị nghệ thuật Đó là ẩn số mà chúng tôi muốn kiếm tìm

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2013

Tác giả

NGUYỄN THỊ MẪN VY

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4 Phương pháp nghiên cứu 6

5 Dự kiến đóng góp của đề tài 7

6 Bố cục của đề tài 7

NỘI DUNG 8

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN 8

1.1 Các kiểu câu phân chia theo cấu tạo ngữ pháp 8

1.2 Các kiểu câu có giá trị tu từ 9

1.3 Nguyễn Ngọc Tư – con người và sự nghiệp 11

1.4 Vài nét về thể tản văn và các tập “Gáy người thì lạnh” - “Bánh trái mùa xưa” 12 CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT CÁC KIỂU CÂU TRONG “GÁY NGƯỜI THÌ LẠNH” VÀ “BÁNH TRÁI MÙA XƯA” CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ 15

2.1 Các kiểu câu văn Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn phương tiện tu từ cú pháp 15

2.1.1 Kiểu câu thu gọn cấu trúc 16

2.1.2 Kiểu câu mở rộng cấu trúc 22

2.1.3 Câu có giá trị tu từ nổi bật 28

2.1.4 Đảo cấu trúc 31

2.2 Các kiểu câu văn Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn biện pháp tu từ cú pháp 34

2.2.1 Tỉnh lược 35

Trang 6

2.2.2 Im lặng 37

2.2.3 Phép điệp 40

CHƯƠNG 3: TẦM TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC CÂU VĂN ĐỐI VỚI VĂN CHƯƠNG NGUYỄN NGỌC TƯ 43

3.1 Vai trò của câu văn Nguyễn Ngọc Tư đối với nội dung thể hiện trong tác phẩm 43

3.1.1 Phác họa rõ nét bức tranh đất và người miệt vườn Nam Bộ 43

3.1.2 Thể hiện những cách nhìn mới giàu tính phát hiện về cuộc sống đương đại 49

3.1.3 Tả chân “ những điều trông thấy” giữa đời 51

3.2 Vai trò của câu văn Nguyễn Ngọc Tư đối với cảm xúc trữ tình của tác giả 54

3.2.1 Đong đầy nỗi nhớ niềm thương về đất và người Nam Bộ 55

3.2.2 Bày tỏ niềm hẫng hụt, nuối tiếc những chân giá trị đang bị đánh mất 56

3.2.3 Bộc lộ chân thật sự trăn trở, day dứt trước “trần thế” ngổn ngang 58

3.3 Vai trò của câu văn Nguyễn Ngọc Tư đối với phong cách ngôn ngữ của tác giả trong thể tản văn 60

3.3.1 Thể hiện một lối viết đậm chất khẩu ngữ và đối thoại 60

3.3.2 Tạo nên những dòng văn đậm chất nhạc và thơ 62

3.3.3 In đậm dấu ấn một Nguyễn Ngọc Tư đa tính cách, đa giọng điệu 63

KẾT LUẬN 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Như một miền sông nước mênh mang, chảy bất tận nơi cánh đồng văn chương xanh tốt, những câu văn “như vắt ra từ thương yêu” của Nguyễn Ngọc Tư đã lay động hàng triệu trái tim ngay từ những ngày đầu xuất hiện Giữa chốn thị thành xô bồ với bao bon chen vật chất tầm thường, những dòng văn mộc mạc, giản dị, phả vào hồn người hơi gió sông rười rượi, mùi cây trái thơm ngát miệt vườn cùng những cảnh sống dân dã, nghĩa tình đã trở thành một cơn mưa rào tẩy sạch bụi trần Trong khi nền văn học trẻ đương đại bắt đầu làm người ta bội thực vì những vấn đề nóng bỏng mang tầm cỡ thời đại với một lối viết quẫy đạp, bứt phá, cố sức đập tan cái bóng lớn của thế hệ đi trước thì Nguyễn Ngọc Tư xuất hiện như một vệt sao lạ Văn của chị nhẹ nhàng, giản dị, câu từ mủ mỉ, hồn hậu, đặc quánh chất Nam Bộ, đọc lên nghe âm vang đậm chất thơ như ngàn cánh bèo nổi nênh đang đuổi nhau trên những dòng sông hai mùa nước nổi Tất cả chảy tràn trên đầu ngọn bút, lênh láng những trang văn in đậm phong cách Nguyễn Ngọc Tư Vì vậy, không lâu sau khi khẳng định mình bằng những giải thưởng uy tín và xuất bản hàng loạt tác phẩm xuất sắc, cái tên Nguyễn Ngọc Tư nổi lên như một hiện tượng văn học khiến dư luận bấn loạn với những dòng

ý kiến trái chiều Lẫn lộn giữa yêu mến, cảm phục, hứng thú, tò mò, ngợi ca với lên

án, bài xích, chối bỏ… nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về những sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư đã nối nhau ra đời giữa lúc dư luận vẫn đang nóng hổi và xôn xao

Trong thực tiễn, hiện tượng sáng tác rất phong phú và đa dạng nhưng nghiên cứu văn học chưa bao giờ theo kịp Điều đó cũng khá dễ hiểu, bởi vì độ lùi thời gian

là cơ sở trung thực nhất để một tác phẩm xác định được chỗ đứng và khẳng định được giá trị của mình Tần số xuất bản sách đáng nể phục cùng tài năng viết văn độc đáo của Nguyễn Ngọc Tư vừa là cơ hội vừa là thách thức lớn cho người nghiên cứu Mặc

dù đã khuấy động giới nghiên cứu bằng một niềm hào hứng đáng trân trọng song, nhịp độ nghiên cứu khoa học về câu văn trong các tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư nói riêng và văn học hiện đại nói chung vẫn còn chịu một sức nặng vô hình làm chậm

Trang 8

bước tiến Số lượng các công trình nghiên cứu nghiêm túc mang tính khoa học vẫn còn rất khiêm tốn Với một lượng sáng tác khá đồ sộ so với tuổi đời, tuổi nghề của chị, yêu cầu bức thiết được đặt ra là cần có nhiều hơn nữa, những công trình nghiên cứu chuyên sâu nhằm khai thác triệt để vùng đất màu mỡ do chính Nguyễn Ngọc Tư khai hoang

Là một sinh viên Cử nhân Văn học, mọi nghiên cứu về thế giới văn chương hay những vấn đề về ngôn ngữ đều có tác dụng cụ thể đối với chúng tôi Khác với khối Sư phạm Ngữ văn, công việc trong tương lai của chúng tôi rất đa dạng và đòi hỏi sự năng động rất lớn Dù trở thành giáo viên, nhà báo, biên tập viên, nhân viên thư viện hay ai đi chăng nữa thì điều quan trọng nhất vẫn là tìm một chỗ đứng vững vàng trong xã hội Vì vậy, quá trình thực hiện đề tài là cơ hội để chúng tôi được trau dồi thêm nhiều kiến thức và kĩ năng Đây là một điểm rất quan trọng, làm nền tảng

và cung cấp kinh nghiệm để chúng tôi hoàn thành tốt những công việc có liên quan đến văn học trong tương lai

Hai tác phẩm mới nhất của Nguyễn Ngọc Tư là “Gáy người thì lạnh” và

“Bánh trái mùa xưa” đã mở ra cho chị một hướng đi mới trong địa hạt tản văn Những

truyện ngắn đượm buồn, được kể bằng một giọng đậm mùi sông nước đã nhường chỗ cho các tản văn giàu suy tư, chiêm nghiệm, được thể hiện bằng những kiểu câu độc đáo với chất giọng triết lý rất Nguyễn Ngọc Tư Nếu tản văn của chị là một miền đất mới để ngòi bút nghiên cứu văn học cày xới thì vấn đề về phong cách học là một

mảnh đất tươi tốt còn quá hoang vu và bí ẩn Đặc biệt, câu văn Nguyễn Ngọc Tư dưới

ánh sáng phong cách học là một vấn đề chưa ai chạm tới Có chăng là những phê bình, đánh giá chung chung về văn chương Nguyễn Ngọc Tư Xuất phát từ tất cả

những lí do trên, chúng tôi chọn thực hiện đề tài “Câu văn Nguyễn Ngọc Tư từ góc

nhìn phong cách học qua tản văn Gáy người thì lạnh và Bánh trái mùa xưa” với

nhiều đam mê và hi vọng lớn Đề tài này rẽ hướng hoàn toàn so với những công trình nghiên cứu tập trung đi sâu vào nội dung và nghệ thuật, hứa hẹn sẽ mang lại nhiều khám phá mới lạ và độc đáo

Trang 9

2 Lịch sử vấn đề

“Gáy người thì lạnh” và “Bánh trái mùa xưa” là hai tập tản văn mới nhất của

Nguyễn Ngọc Tư, được xuất bản cách đây không lâu Tính đến thời điểm khóa luận tốt nghiệp này được công bố, chúng tôi chưa tìm thấy một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về hai tác phẩm nêu trên Tuy nhiên, dù là tản văn hay truyện ngắn thì những đứa con tinh thần của Nguyễn Ngọc Tư cũng có nhiều nét tương đồng cùng chung “huyết thống” Chính vì vậy, những nhận xét về câu văn trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư cũng ít nhiều phác họa được phong cách của chị ở tản văn Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư xuất hiện như một cơn lũ ào ạt chảy qua văn đàn hiện đại, để lại những lớp phù sa trĩu nặng màu mỡ cho giới nghiên cứu mặc sức tung hoành Lượng tác phẩm khá lớn, lại mới mẻ, tươi non của chị đã mở ra rất nhiều hướng đi hấp dẫn Qua quá trình tìm hiểu, sưu tầm, chúng tôi đã thu được những bài viết, công trình nghiên cứu về câu văn Nguyễn Ngọc Tư như sau:

Đoàn Nhã Văn trong “Nắng, gió, vịt và đàn bà giữa những Cánh Đồng Bất

Tận” cho rằng sự ngắn gọn của câu văn Nguyễn Ngọc Tư đã tạo ra một sức hấp dẫn

như “thôi miên” người đọc “Câu văn của Nguyễn Ngọc Tư, qua Cánh Đồng Bất Tận,

thường ngắn, gãy gọn, không lê thê theo lối kể thường tình Ngắn, nhưng không gầy… Cái duyên thầm, ở đây, là biết dừng lại ở những chỗ cần dừng, để mở ra những liên tưởng ngút ngàn Xuyên suốt bản văn, Nguyễn Ngọc Tư không hề sa đà trong tả cảnh, không lắm lời trong gợi tình Nói ít mà thấm Viết ngắn mà xoáy vào lòng người”

[40] Cùng chung quan điểm, Hoàng Thiên Nga trong “Đọc Nguyễn Ngọc Tư qua

cánh đồng bất tận” (Văn Nghệ, số 39 – 24/9/2005) cũng đưa ra những nhận xét tương

tự “Truyện dài mà dung lượng vẫn dồn nén vì câu văn ngắn gọn, chuyển cảnh dứt

khoát lạnh lùng, bỏ lại phía sau lớp lớp ngữ nghĩa ẩn chứa đầy mùi vị cay đắng… Suốt câu chuyện dài mười bảy ngàn chữ chị không để thừa chi tiết hay câu văn nào non tay” [39] Nhấn mạnh về chất Nam Bộ đặc sệt thấm đẫm trong từng câu văn, con

chữ Nguyễn Ngọc Tư, nhà văn Nguyễn Quang Sáng trong “Đặc trưng ngôn ngữ

truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư” của Nguyễn Trọng Bình cho rằng: “Cổ có phong cách riêng Mà phong cách đó, bắt nguồn từ vốn sống độc đáo, do chính cổ tìm được…

Trang 10

Thoại trong văn Tư không hề bị lai, rặt Nam bộ mà người ta đọc vẫn hiểu và cảm thấu trọn vẹn” [33] Tác giả Trần Phỏng Diều trong “Thị hiếu thẩm mỹ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư” (Văn Nghệ Quân Đội, số 6/2006) lại đề cao cái chân chất,

hồn hậu trong mỗi câu văn của Nguyễn Ngọc Tư “Câu văn giản dị, mộc mạc, chân

tình, đọc truyện chị tưởng như đang trò chuyện với chị vậy Phong cách Nguyễn Ngọc

Tư là như thế” [34] Nhà văn Chu Lai phát biểu trong bài viết “Chia sẻ cùng Nguyễn Ngọc Tư và “Cánh đồng bất tận”” do Hà Linh thực hiện rằng: “Cốt truyện mang tính chất cổ điển không có gì mới nhưng tác giả viết bằng thứ ngôn ngữ và hơi văn

lạ, tạo được sức rung chuyển thẩm mỹ” [38] Khác với những tác giả trên, Văn Công

Hùng trong “Bất tận với Nguyễn Ngọc Tư” lại đi sâu tìm hiểu riêng về các câu thoại đậm chất Nam Bộ của Nguyễn Ngọc Tư Nhờ vậy mà, những tác phẩm của chị “đầy

bất ngờ và lý thú, đậm đặc bản sắc Nam bộ Đậm đặc đến mức dẫu chưa một lần tới Nam bộ cũng thấy rõ nó hiện ra mồn một khi đọc văn Nguyễn Ngọc Tư” [37] Trần

Hữu Dũng trong “Nguyễn Ngọc Tư – đặc sản miền Nam” lại chú ý nhiều đến nhạc điệu mà những câu văn Nguyễn Ngọc Tư mang lại “Văn của Nguyễn Ngọc Tư nghe

như nhạc Nhiều câu trong trẻo và buồn (nhưng không nghẹn ngào) như một bản vọng cổ hoài lang… Văn Nguyễn Ngọc Tư là văn của lời nói Cách ngắt câu của cô

là cách ngắt của âm điệu” [35] Trong bài phỏng vấn “Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư:

“Là phụ nữ, rất dễ nuôi cô đơn để viết”” của Lê Thị Thái Hòa, chính tác giả Cánh

đồng bất tận cũng tự nhận xét về câu văn của mình là “như vắt ra từ thương yêu”

Ngoài ra, sau một thời gian ngắn, những công trình nghiên cứu văn học thực

sự cũng đã ra đời, đáp ứng được phần nào hiện thực sáng tác mau lẹ của cây bút trẻ Những công trình nghiêm túc và có chất lượng cao mà chúng tôi tìm hiểu được bao

Trang 11

gồm: luận văn thạc sỹ khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Đà Nẵng - “Đặc trưng

truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư” (2009) của Võ Thị Anh Đào [20]; “Yếu tố phân tâm học trong truyện ngắn Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ và Nguyễn Ngọc Tư”

(2008) của Nguyễn Thị Quỳnh Hương [24]… và luận văn tốt nghiệp “Nét đặc sắc

của tạp văn Nguyễn Ngọc Tư” (2009) của Nguyễn Thị Dung [19]; “Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư” (2011) của Nguyễn Thị Hạnh [21]; “Từ địa phương trong văn Nguyễn Ngọc Tư” (2007) của Đặng Thị Minh Hoa [22]; “Nhân vật người cha trong hai tác phẩm Mùa hoa cái ven sông của Nguyễn Quang Thiều và Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ phương diện tiếp cận văn học”

(2011) của Hoàng Thị Huệ [23]; “Nét đặc sắc trong tản văn Yêu người ngóng núi

của Nguyễn Ngọc Tư” (2011) của Trần Thị Hương [25]; “Thế giới nhân vật trong tập truyện ngắn Gió lẻ và 9 câu chuyện khác của Nguyễn Ngọc Tư” (2010) của

Nguyễn Thị Ngọ [26]; “Những yếu tố ngoài cốt truyện trong văn xuôi Nguyễn Ngọc

Tư” (2007) của Trần Thị Ái Nhi [27]; “Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư qua Cánh đồng bất tận” (2007) của Phạm Thị Mỹ Trang [32]… Đặc biệt, các luận văn

“Phương ngữ Nam Bộ trong tập truyện ngắn “Khói trời lộng lẫy” của Nguyễn Ngọc Tư” (2011) của Phan Thị Ngọc Quý [28]; “Đặc điểm ngôn ngữ và giọng điệu Nguyễn Ngọc Tư trong tập tạp văn “Ngày mai của những ngày mai”” (2011) của Võ Thị

Thoả [30]; “Phong cách ngôn ngữ Nguyễn Ngọc Tư qua truyện ngắn “Cánh đồng

bất tận”” (2009) của Nguyễn Thị Thu Trang [31] đã đề cập trực tiếp đến các kiểu

câu văn giàu tính nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư cũng như bước đầu khái quát được những thành công và đóng góp của chị

Điểm lại những bài viết, công trình nghiên cứu có liên quan đến truyện ngắn -

tản văn Nguyễn Ngọc Tư, chúng tôi nhận thấy rằng đề tài “Câu văn Nguyễn Ngọc Tư

từ góc nhìn phong cách học qua Gáy người thì lạnh và Bánh trái mùa xưa” là một

vấn đề còn bỏ ngỏ Các nhận xét về câu văn Nguyễn Ngọc Tư còn rất chung chung

và chưa được soi chiếu dưới ánh sáng phong cách học Cho đến nay, vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào tìm hiểu chuyên sâu về câu văn Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ góc độ phong cách học, có chăng là những bài viết nhỏ lẻ, chưa đạt đến cái đích cuối

Trang 12

cùng trong việc chinh phục tri thức Mặc dù vậy, đó vẫn là nguồn tài liệu hữu ích cho chúng tôi tham khảo để hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp Hi vọng rằng, công trình của chúng tôi sẽ đạt được những thành công như mong muốn và góp phần nêu bật được giá trị nghệ thuật của tác phẩm cũng như đóng góp của Nguyễn Ngọc Tư cho nền văn học trẻ Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các kiểu câu trong những tản văn của Nguyễn Ngọc Tư dưới góc nhìn phong cách học

Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn trong hai tập “Gáy người thì

lạnh” (2012, NXB Trẻ) và “Bánh trái mùa xưa” (2012, NXB Phương Nam) của

Nguyễn Ngọc Tư

4 Phương pháp nghiên cứu

Tuỳ thuộc vào mục đích và nội dung của từng chương, từng mục, từng vấn đề

mà chúng tôi vận dụng linh hoạt nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau Với đề tài này, chúng tôi kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ với phương pháp nghiên cứu văn học Cụ thể như sau:

- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại: giúp chúng tôi khảo sát, thống

kê tần số xuất hiện của các kiểu câu trong tản văn “Gáy người thì lạnh” và “Bánh

trái mùa xưa” của Nguyễn Ngọc Tư

- Phương pháp cải biến: giúp chúng tôi đưa ra các giả định về cách dùng từ, đặt câu trong một ngữ cảnh cụ thể Từ những giả định đó, chúng tôi đi đến nhận xét

về hiệu lực biểu đạt của câu văn trong tản văn Nguyễn Ngọc Tư

- Phương pháp phân tích, chứng minh: giúp chúng tôi chỉ ra được ý nghĩa và làm rõ giá trị của các kiểu câu giàu sắc thái tu từ trong tản văn Nguyễn Ngọc Tư

- Phương pháp tổng hợp, khái quát: sau khi phát triển vấn đề, phương pháp này giúp chúng tôi đưa ra cái nhìn toàn cảnh và bao quát nhất về những kiểu câu nổi bật trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư sau khi thống kê và phân tích Từ đó, tô đậm tài năng về mặt vận dụng, sáng tạo những kiểu câu mới cũng như nghệ thuật viết văn đặc sắc trong sáng tác của chị

Trang 13

- Phương pháp tiếp cận hệ thống và so sánh, đối chiếu: giúp chúng tôi thực hiện công việc nghiên cứu một cách khoa học, chính xác với một chỉnh thể hệ thống

rõ ràng Bên cạnh đó, phương pháp này còn giúp chúng tôi nhận ra được những nét nổi bật trong phong cách tản văn Nguyễn Ngọc Tư khi đem sáng tác của chị so sánh với tác phẩm của những nhà văn trẻ cùng thời

5 Dự kiến đóng góp của đề tài

Về mặt lí luận, đây là một công trình nghiên cứu có hệ thống về câu văn Nguyễn Ngọc Tư dưới góc nhìn phong cách học Qua đó làm nổi bật những đóng góp quan trọng về mặt ngôn ngữ, cụ thể là về các kiểu câu giàu sắc thái tu từ trong sáng tác của chị

Về mặt thực tiễn, công trình là một tài liệu hữu ích tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu nghiêm túc về ngôn ngữ tản văn của Nguyễn Ngọc Tư Mặt khác, công trình góp phần định hướng, gợi mở những vấn đề chuyên sâu hơn, là nguồn đề tài phong phú còn bỏ ngỏ cho những ai quan tâm và muôn khám phá

6 Bố cục của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và thư mục Tài liệu tham khảo, khóa luận của chúng tôi bao gồm ba chương chính sau:

- Chương 1: Những vấn đề lí luận

- Chương 2: Khảo sát các kiểu câu trong “Gáy người thì lạnh” và “Bánh trái

mùa xưa” của Nguyễn Ngọc Tư

- Chương 3: Tầm tác động của cấu trúc câu văn đối với văn chương Nguyễn Ngọc Tư

Trang 14

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN

1.1 Các kiểu câu phân chia theo cấu tạo ngữ pháp

Trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt - Câu” (2008, NXB Đại học Quốc Gia Hà

Nội), Hoàng Trọng Phiến chia câu tiếng Việt thành các loại sau: Phân loại câu theo

tổ chức cú pháp: Tổ chức cú pháp câu đơn Phân loại: Theo tiêu chuẩn từ loại làm vị

ngữ, bao gồm: câu định danh, câu quá trình, câu hành động, câu quan hệ, câu tính chất, câu tồn tại… Theo thói quen sử dụng, bao gồm: câu bình thường với nòng cốt chủ - vị và câu đặc biệt không đủ nòng cốt chủ - vị Theo cơ sở cấu tạo, bao gồm: câu hai thành phần được cấu tạo trên cơ sở kết cấu chủ - vị, câu một thành phần được cấu tạo trên cơ sở từ và cụm từ hoặc một ngữ Theo ngữ nghĩa, bao gồm: Câu sự kiện, sự tình gồm một thành phần và hai thành phần; Câu định danh gồm câu một thành phần

Tổ chức cú pháp câu ghép Phân loại: Câu ghép qua lại (Câu ghép qua lại một chiều

và Câu ghép qua lại hai chiều) Câu ghép đẳng lập (Câu biểu thị quan hệ lựa chọn; Câu biểu thị quan hệ liên hợp; Câu biểu thị quan hệ tương phản) Phân loại câu theo mục đích phát ngôn: Câu kể (Câu kể khẳng định có công thức chủ - vị; Câu kể phủ định có kèm theo các từ phủ định; Câu kể không xác định) Câu hỏi (Hỏi trống và Hỏi có dự kiến chọn lựa để trả lời) Câu cầu khiến (Mời mọc, yêu cầu; Mệnh lệnh, cấm đoán; Kêu gọi, chúc tụng) Câu than – gọi (Câu than; Câu gọi)

Trong cuốn “Câu tiếng Việt và các bình diện nghiên cứu câu” (2000, NXB

Giáo Dục), Diệp Quang Ban chia câu tiếng Việt thành các loại sau: Câu đơn đặc biệt Bao gồm: Câu đơn đặc biệt – danh từ; Câu đơn đặc biệt – vị từ Câu phức Bao gồm:

Câu phức có chủ ngữ là kết cấu chủ - vị; Câu phức có vị ngữ là kết cấu chủ - vị; Câu phức có bổ ngữ là kết cấu chủ - vị; Câu phức có bổ ngữ là câu ghép; Câu phức có đề ngữ là kết cấu chủ - vị; Câu phức có yếu tố phụ miêu tả của danh từ là kết cấu chủ -

vị; Câu phức có trạng ngữ là kết cấu chủ - vị; Câu phức là câu bị động Câu ghép

Bao gồm: Câu ghép chính phụ Câu ghép liên hợp

Trang 15

Trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt” (1999, NXB Giáo Dục Hà Nội), Đỗ Thị

Kim Liên chia câu tiếng Việt thành các loại như sau: Câu đơn, gồm: Câu đơn bình thường; Câu đơn đặc biệt Câu ghép, gồm: Câu ghép có quan hệ từ liên kết (Câu ghép

đẳng lập và Câu ghép chính phụ); Câu ghép không có quan hệ từ liên kết (Câu ghép

có cặp phó từ liên kết và Câu ghép có ngữ điệu liên kết)

Trong cuốn “Nhập môn ngôn ngữ học” (2007, NXB Giáo Dục), ở phần “Ngữ

Pháp học”, nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ và cộng sự chia câu tiếng Việt thành các loại

sau: Câu đơn giản, gồm: Câu hai thành phần (câu bình thường: câu mở rộng và câu không mở rộng); Câu một thành phần (câu đặc biệt: câu danh từ và câu vị từ) Câu

phức hợp, gồm: Câu phức hợp liên hợp và Câu phức hợp chính phụ hoặc Câu phức

hợp có liên từ và Câu phức hợp không có liên từ

Mặc dù nghiên cứu câu văn Nguyễn Ngọc tư dưới góc nhìn phong cách học nhưng chúng tôi vẫn tham khảo và dựa theo cách chia của Diệp Quang Ban để công trình được chuẩn xác và hoàn thiện hơn về mặt lí thuyết

1.2 Các kiểu câu có giá trị tu từ

Trong cuốn “Phong cách học tiếng Việt” (1982, NXB Giáo Dục, Hà Nội),

nhóm tác giả Võ Bình – Lê Anh Hiền – Cù Đình Tú – Nguyễn Thái Hòa chia câu

tiếng Việt thành các loại sau: Câu trong ngôn ngữ khoa học: viết câu ngắn, viết theo lối “móc xích”, sử dụng các dấu chấm câu và các từ quan hệ Câu thường gặp trong

khẩu ngữ và ngôn ngữ nghệ thuật: Kiểu câu không phân định thành phần; kiểu câu

giảm lược thành phần; kiểu câu đẳng thức hoá Câu chuyển đổi tình thái : Câu nghi

vấn – khẳng định; câu nghi vấn – cảm thán; câu nghi vấn – phủ định; câu khẳng định

– nghi vấn Câu ghép: Câu điều kiện và cặp liên từ “nếu…thì…”; câu tương phản với

liên từ “mà”

Trong cuốn “Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt” (1983, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp), Cù Đình Tú chia câu tiếng Việt thành các loại sau:

Kết cấu cú pháp của câu đơn mang màu sắc đa phong cách và các biến thể đơn phong

cách: Biến thể trật tự sắp xếp của kết cấu “chủ - vị”; biến thể lược bớt thành tố của kết cấu “chủ - vị”; biến thể xen thêm thành tố của kết cấu “chủ - vị” Kết cấu cú pháp

Trang 16

của câu ghép mang màu sắc đa phong cách và các biến thể đơn phong cách: Kết cấu

cú pháp câu ghép có dùng từ nối; kết cấu cú pháp câu ghép không dùng từ nối

Trong cuốn “Phong cách học tiếng Việt” (1995, NXB Giáo Dục), Đinh Trọng

Lạc - Nguyễn Thái Hòa chia câu tiếng Việt thành các loại sau: Câu thường gặp trong

khẩu ngữ và ngôn ngữ nghệ thuật: Câu đơn đặc biệt; câu lược chủ ngữ; câu ẩn chủ

ngữ có màu sắc tu từ; những kiểu câu chuyển đổi tình thái; câu đẳng thức Những

kiểu câu thường gặp trong phong cách khoa học và chính luận, tin tức, báo chí: Câu

tưởng giải; câu miêu tả sự kiện; câu phán đoán

Trong cuốn “99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt” (2003, NXB

Giáo Dục), Đinh Trọng Lạc chia câu tiếng Việt thành các loại sau: Câu chia theo

phương tiện tu từ cú pháp: Tỉnh lược; im lặng; câu đơn đặc biệt; điệp ngữ; liệt kê;

trùng điệp cú pháp; lặp liên từ; biến thể xen thêm tiểu từ; đề ngữ; giải ngữ của câu; trường cú; đảo ngữ; phân cách; biệt lập Câu chia theo biện pháp tu từ cú pháp: Sóng

đôi; đảo đổi; lặp đầu; lặp cuối; câu hỏi tu từ; tách biệt; liên kết tu từ học

Với đề tài này, chúng tôi dựa theo cách chia trong Giáo trình “Bài giảng

phong cách học tiếng Việt” của thầy Bùi Trọng Ngoãn, được tổng hợp một cách

khoa học từ các cách chia nêu trên Bao gồm: Các kiểu câu xét theo phương tiện tu

từ cú pháp: Thu gọn cấu trúc cơ bản: Câu đặc biệt; câu dưới bậc Mở rộng cấu trúc

cơ bản: Câu có tình thái ngữ; câu có thành phần chú thích; câu có khởi ngữ Một số kiểu câu có giá trị tu từ nổi bật: Một số kiểu câu có tác dụng khẳng định: Câu hỏi

khẳng định; câu “danh là danh”; câu đẳng thức; câu nhắc lại chủ ngữ; câu trùng ngôn; câu phủ định của phủ định Một số kiểu câu có tác dụng phủ định: Câu hỏi phủ định;

câu “chủ ngữ - gì mà – vị ngữ” Đảo ngữ: Đảo vị ngữ; đảo bổ ngữ; đảo trạng ngữ

Để có thể chiếm lĩnh được kiến thức và đi sâu hơn vào đề tài, chúng tôi còn

mở rộng, nghiên cứu về các biện pháp tu từ cú pháp, tạo nên những kiểu câu giàu màu sắc phong cách : phép tỉnh lược; phép im lặng; phép điệp, sử dụng “thì”, “mà”,

“là”

Trang 17

1.3 Nguyễn Ngọc Tư – con người và sự nghiệp

Chân dung Nguyễn Ngọc Tư hiện lên sau mỗi trang viết khiến chúng ta dễ hình dung chị giống như một trái sầu riêng, chín thầm lặng nơi miệt vườn miền Nam Sau hơn mười năm sáng tác, trái sầu riêng kia đã chín rộ trên cây với một tài văn không pha tạp, hoà lẫn và mùi hương ấy quyện cả lên từng trang giấy, len lỏi vào sâu tâm hồn và trái tim người

Nguyễn Ngọc Tư tên thật là Nguyễn Bé Tư, sinh năm 1976, quê tại xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau Quê hương Cà Mau nhẹ nhàng đi vào tác phẩm của chị rồi in đậm thành một phong cách khó hoà lẫn Từ nhỏ sống với ông ngoại, gia cảnh nghèo khiến chị sớm biết lo toan, phụ giúp gia đình Vì vậy, Nguyễn Ngọc Tư thấu hiểu nỗi cơ cực của những người dân quê chất phác, hiền lành và thể hiện chúng trên trang văn chân thật như đang kể về câu chuyện của chính đời mình Năm lớp chín, ông ngoại đau nặng, cảnh nhà thêm túng quẫn khiến chị không được đến trường

Có thể nói, những bài học đường đời đã bồi đắp cho chị sự trải nghiệm và vốn sống

sâu sắc Vì vậy, tập truyện đầu tay “Ngọn đèn không tắt” của chị sớm đạt giải cao

Năm 1996, ba truyện ngắn đầu tay của Nguyễn Ngọc Tư viết về đề tài tình bạn chốn đồng quê được đăng trên Tạp chí Văn nghệ Bán đảo Cà Mau Chị được làm văn thư

và học làm phóng viên tại Tạp chí này

Nguyễn Ngọc Tư khiêm tốn nhận rằng chuyện viết văn với chị trước là để trút gánh tâm tư đeo mang trong lòng, sau là để “kiếm cơm” Sự khiêm tốn ấy càng khiến chân dung cô gái quê giản dị, mủ mỉ, hồn hậu thêm phần đáng yêu, đáng mến khi nhìn lại chặng đường đã qua, ta phải choáng ngợp trước hàng loạt tác phẩm và

những đầu sách được xuất bản: Ngọn đèn không tắt (2000), Ông ngoại (2001), Biển

người mênh mông (2003), Giao thừa (2003), Nước chảy mây trôi (2004), Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (2005), Cánh đồng bất tận (2005), Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư (2005), Sống chậm thời @ (2006), Ngày mai của những ngày mai (2007), Gió lẻ và 9 câu chuyện khác (2008), Biển của mỗi người (2008), Yêu người ngóng núi (2010), Khói trời lộng lẫy (2010), Gáy người thì lạnh (2011), Bánh trái mùa xưa (2012), tiểu thuyết

“Sông” (2012)

Trang 18

Bắt đầu bằng giải ba báo chí tỉnh năm 1997 với bài “Ký sự sau cơn bão dữ”,

hàng loạt những thành công đã đến với chị như bù đắp xứng đáng cho tháng ngày day dứt, khổ ải bên trang văn Cái tên Nguyễn Ngọc Tư được ghi nhận với hàng loạt giải thưởng uy tín: Giải nhất Cuộc vận động sáng tác văn học tuổi 20 lần II (2000), tặng thưởng dành cho tác giả trẻ của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các hội Văn học nghệ

thuật Việt Nam (2000), giải B của Hội nhà văn Việt Nam (2001), một trong Mười

nhân vật trẻ xuất sắc tiêu biểu của năm 2002, giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam

(2006) và giải thưởng Văn học Đông Nam Á năm 2008 dành cho tập truyện Cánh

đồng bất tận

Chúng tôi kết thúc phần liệt kê bằng dấu ba chấm để bày tỏ niềm tin và sự yêu mến đối với Nguyễn Ngọc Tư Chắc chắn, với tài năng, niềm đam mê và nỗ lực cố gắng không ngơi nghỉ của mình, chị sẽ còn tiến xa hơn trên con đường nghệ thuật và gặt hái thêm nhiều giải thưởng có giá trị khác

1.4 Vài nét về thể tản văn và các tập “Gáy người thì lạnh” - “Bánh trái mùa xưa”

Hiện nay, khi tản văn lên ngôi, khái niệm về thể loại này không còn quá xa lạ với chúng ta như khi mới xuất hiện ở đầu thế kỉ XX Tuy nhiên, có khá nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này

Trong cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” (2010, NXB Giáo Dục), Lê Bá

Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi cho rằng: “Tản văn là loại văn xuôi ngắn gọn,

hàm súc, có thể trữ tình, tự sự, nghị luận, miêu tả phong cảnh, khắc họa nhân vật Lối thể hiện đời sống của tản văn mang tính chất chấm phá, không nhất thiết đòi hỏi

có cốt truyện phức tạp, nhân vật hoàn chỉnh nhưng có cấu tứ độc đáo, có giọng điệu, cốt cách cá nhân Điều cốt yếu là tản văn tái hiện được nét chính của các hiện tượng giàu ý nghĩa xã hội, bộc lộ trực tiếp tình cảm, ý nghĩa mang đậm bản sắc cá tính của tác giả… Trong văn học hiện đại, tản văn bao gồm các thể ký, tùy bút, văn tiểu phẩm, văn chính luận, tạp văn, chân dung văn học.” [6.293-294] Trong bài nghiên cứu

“Tản văn, một thể loại của văn xuôi hiện đại” (2006,Tạp chí Lí luận, phê bình và

lịch sử văn học), Lê Trà My lại quan niệm rằng: “Tản văn là những tác phẩm văn

Trang 19

xuôi thường có dung lượng không lớn, phổ biến là những bài văn ngắn gọn, hàm súc Cũng có những tác phẩm xen kẽ văn xuôi và vài câu thơ ngắn có vai trò minh họa,

bàn luận hoặc tổng kết vấn đề” [13.53] Trong Luận văn thạc sĩ khoa học xã hội

và nhân văn, Đại học Đà Nẵng, “Đặc sắc của tản văn Vũ Bằng” (2009), Bùi Tiến

Sỹ đã đưa ra cách hiểu cụ thể như sau: “Tản văn là một trong các thể loại văn học có

hình thức đa dạng, thể tài rộng rãi, phong phú Tản văn thường mang tính chấm phá

và được sử dụng để thể hiện về các hiện tượng đời sống, giàu ý nghĩ xã hội, bộc lộ trực tiếp tình cảm, cảm xúc trữ tình chân thành của tác giả qua những ngôn từ đẹp

đẽ, lời lẽ cô đọng, súc tích” [29.1]

Từ các quan niệm nêu trên, chúng tôi rút ra được rằng, tản văn là một thể loại văn học mở, cho phép tác giả tự do và chủ động trong việc lựa chọn đề tài, nội dụng

và cách thể hiện Qua việc phản ánh hiện thực cuộc sống, những vấn đề thời sự trong

xã hội, tác giả vừa thể hiện chính kiến, suy nghĩ vừa bày tỏ xúc cảm, trăn trở, ưu tư Không chỉ chia sẻ và đồng cảm, tản văn còn đưa ra những bài học nhân sinh, những hồi chuông cảnh báo để con người tỉnh ngộ và thay đổi mình cho phù hợp Qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy, tản văn có những đặc điểm cơ bản sau: (1) Những sự kiện

có thật trong cuộc sống là chất liệu chính của tản văn Tản văn vừa dung nạp tính chất của báo chí với văn học, vừa dung nạp tính chất của truyện với phê bình, nghiên cứu (2) Tản văn cho phép tác giả tự do tối đa trong đề tài, nội dung, cách trình bày và lối viết, cho phép mạch văn được phóng túng, tạt ngang, cắt dọc thoải mái trong một cấu

tứ thống nhất (3) Cách viết phải sắc sảo, tinh tế để chạm đến những ý nghĩa và giá trị sâu xa cũng như tạo sự hấp dẫn, khẳng định phong cách của tác giả (4) Tác giả phải tôn trọng sự thật trong khi phản ánh và mạnh dạn trong việc bày tỏ suy nghĩ và cảm xúc, để tô đậm “cái tôi” riêng biệt

Tiếp tục hành trình văn chương với chất giọng độc đáo và sâu sắc, Nguyễn

Ngọc Tư lại cho ra đời tập tản văn mới, mang cái tên kì lạ “Gáy người thì lạnh”,

được nhà xuất bản Trẻ phát hành ngày 12 tháng 11 năm 2011 Thoáng trầm trong hơi

văn, “Gáy người thì lạnh” là những lát cắt về cuộc sống – cách sống, những giá trị

đẹp đẽ đang mai một, những day dứt trước cảnh đời trái ngược, những hoài niệm về

Trang 20

kí ức đã xa Hiện lên trên trang viết là một Nguyễn Ngọc Tư đang trầm mặc hóa, lắng đọng với những trăn trở nhân sinh mang chút âm hưởng Thiền Phật Tập tản văn là chiếc gương để ta soi mình và nhận ra những mảnh sáng tối, chánh tà trong chính bản

thân “Gáy người thì lạnh” giống như một khoảng lặng, một bến nhỏ ven sông, để

neo nghỉ con thuyền ta giữa dòng đời bộn bề lo toan, bươn chải

Kế đó, tản văn “Bánh trái mùa xưa” của Nguyễn Ngọc Tư được nhà xuất bản

Hội Nhà Văn phát hành ngày 30 tháng 9 năm 2012 Nhẹ nhàng, mênh mông, vời vợi hơi gió sông, cay nhòe mắt với khói đốt đồng, những con đường quê đầy rơm rạ và

cỏ lau, những chiếc bánh thảo thơm, nồi canh chua, mẻ kho quẹt, tấm lưng ông ngoại,

dáng đứng bà cụ tốt bụng bên đường , tất cả gởi vào “Bánh trái mùa xưa” một miền

ký ức đẹp để ai đi xa phải quặn lòng nhớ miền Tây tha thiết Những gì giản dị, chân

chất, mộc mạc nhất của tình người, của quê hương, của tuổi thơ đều đi vào “Bánh

trái mùa xưa” một cách nhẹ nhàng, dịu mát, tự nhiên như một câu nói đùa Thế

nhưng, bên cạnh những bồi hồi, xúc động khi được thả hồn về chốn thôn quê yên bình là một cái gì đó chua chát, xót xa khi nhìn những mảng ghép làm nên nền văn hóa sông nước, đồng bãi thơm thảo đang bị mai một

Từng bước trưởng thành với sự nghiệp gây nhiều tiếng vang, nhà văn trẻ Nguyễn Ngọc Tư đã làm được nhiều hơn những ước vọng bình dị mà chị từng chia

sẻ Đặc biệt, qua hai tập tản văn mới nhất của chị, ta nhận ra, hơi văn độc đáo mà bấy lâu chị phả vào trang viết đã định hình thành những câu, những chữ đậm giá trị nghệ thuật Đó là ẩn số mà chúng tôi muốn kiếm tìm

Trang 21

CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT CÁC KIỂU CÂU TRONG “GÁY NGƯỜI THÌ LẠNH” VÀ “BÁNH TRÁI MÙA XƯA” CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ

Về mặt lý thuyết phong cách học, có rất nhiều kiểu câu mang màu sắc tu từ theo góc nhìn phương tiện tu từ cú pháp và biện pháp tu từ cú pháp Tuy nhiên, theo

khảo sát thực tế trên hai tập “Gáy người thì lạnh” và “Bánh trái mùa xưa”, không

phải kiểu câu nào cũng được Nguyễn Ngọc Tư sử dụng và không phải kiểu câu nào được sử dụng cũng mang màu sắc phong cách học Chính vì vậy, chúng tôi chỉ nghiên cứu, khảo sát, thống kê và phân loại những câu văn Nguyễn Ngọc Tư có giá trị nhất

về mặt nội dung và nghệ thuật

2.1 Các kiểu câu văn Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn phương tiện tu từ cú pháp

Sau quá trình khảo sát, thống kê và phân loại, chúng tôi thu được số liệu tổng quát như sau: Mở rộng cấu trúc là phương tiện tu từ cú pháp được Nguyễn Ngọc Tư

sử dụng nhiều nhất trong hai tập tản văn Tổng cộng là 183 lượt dùng Thu gọn cấu

trúc và một số kiểu câu có giá trị tu từ nổi bật tuy không chiếm số lượng cao nhưng vẫn xuất hiện thường xuyên trong tản văn Nguyễn Ngọc Tư Tổng số lần lượt là 51

và 42 lượt dùng Đảo cấu trúc là phương tiện tu từ cú pháp ít được Nguyễn Ngọc Tư

sử dụng trong tác phẩm của mình Tổng cộng là 19 lượt dùng

Các kiểu câu từ góc nhìn phương tiện tu từ cú pháp

Câu có giá trị tu

từ nổi bật

Đảo cấu trúc

Thu gọn cấu trúc

Mở rộng cấu trúc

Câu có giá trị tu

từ nổi bật

Đảo cấu trúc

Trang 22

Hình 1 Biểu đồ các kiểu câu từ góc nhìn biện pháp tu từ cú pháp

2.1.1 Kiểu câu thu gọn cấu trúc

a Câu đặc biệt

Câu đơn đặc biệt là câu đơn có cấu tạo là một trung tâm cú pháp chính (không

hàm ẩn một trung tâm cú pháp thứ hai có quan hệ qua lại như chủ ngữ và vị ngữ) có

ý nghĩa khái quát chỉ sự tồn tại biểu hiện của sự vật hoặc sự kiện [9.90]

Theo cách chia của Diệp Quang Ban, chúng tôi phân câu đặc biệt thành ba loại:

- Câu đặc biệt danh từ, có trung tâm cú pháp chính là danh từ hay danh ngữ

- Câu đặc biệt vị từ, có trung tâm cú pháp chính là động từ hay động ngữ, tính

Trang 23

Câu đặc biệt Tản văn Gáy người thì lạnh Bánh trái mùa xưa

Phân loại CĐB danh từ CĐB vị từ CĐB danh từ CĐB vị từ

So với tổng số câu văn mang màu sắc tu từ cú pháp thì câu đặc biệt chiếm một

phần không lớn Trong“Gáy người thì lạnh”, chúng tôi chỉ thống kê được 12 câu và trong “Bánh trái mùa xưa” được 7 câu Tuy nhiên, sự xuất hiện đúng nơi, đúng lúc

của chúng lại tạo nên những hiệu quả nghệ thuật đầy giá trị

Các loại câu đặc biệt đều xuất hiện đều đặn trong hai tập tản văn Điều này cho thấy, Nguyễn Ngọc Tư không chỉ ý thức được giá trị của câu đặc biệt mà còn cố gắng làm cho nó trở nên phong phú hơn Kéo theo sau những câu đặc biệt của chị là những trường liên tưởng rộng, để tự câu văn mặc sức độc thoại, nói lên nhiều điều

mà bản thân bề mặt ngôn ngữ không chuyển tải hết

Xuất hiện không nhiều, nhưng mỗi câu đặc biệt danh từ là một cột mốc đánh dấu sự cẩn trọng và cân nhắc kĩ lưỡng của ngòi bút Nguyễn Ngọc Tư Câu đặc biệt danh từ trong tản văn của chị giống như những tín hiệu nghệ thuật, gây ấn tượng

mạnh Trong “Mùa bông cháy”, Nguyễn Ngọc tư bắt đầu đoạn cuối bằng một câu đặc biệt danh từ Một câu mà chỉ có ba chữ “mùa hoa cháy” [41.44], làm hiện lên

những bông hoa thắp lửa cháy sáng cả miền kí ức, ngập tràn cả đất trời Cô đặc thành

ba chữ, tác giả như muốn lột tả cho bằng hết cái nóng thiêu đốt khi mùa hoa nở rộ,

nóng tới nỗi “người ta còn héo ngoắc ngoải mà bông giấy trổ thấy ham” [41.44]

“Mùa hoa cháy” “Mùa chạy gạo” Mùa của nắng đổ lửa, của đồng không trơ trụi,

vườn tược lắt lay, ao sông trơ lòng Mùa mắt mẹ thêm nhiều vết chân chim, lưng cha cháy nắng vì phơi mình trên đầm, trên bãi, chắt mót từng con cá kèo ốm nhom, trơn nhẫy Mùa của những đứa trẻ nhà nghèo tất tả đi mua chịu chút dầu hôi, nước mắm

Trang 24

Mùa của những giọt nước mưa được chắt chiu chia nhau cùng đi qua đói kém, bần cùng Chỉ một câu đặc biệt, một hình ảnh, một phác họa mà trường liên tưởng kéo theo sau nó cứ ngút ngất, bất tận cùng miền quê nghèo Và trên cái nền ngập tràn

bông cháy đó, những con người quê hiện lên qua hình ảnh anh bán kem “cháy hết

mình như lửa” [41.45], như loài bông giấy chịu được bao khắc nghiệt Mở đoạn bằng

một nốt nhấn với “mùa hoa cháy”, Nguyễn Ngọc Tư lấy nó làm cấu tứ để tâm hồn

nương theo những ảnh hình trên vạn nẻo đường đầy nắng gió, rồi kết lại cũng bằng

những vầng hoa “Không biết hạn năm sau tôi có được gặp anh đụt nắng dưới hàng

cây này để khoe thằng con đã sắp hết năm hai, hiển nhiên như gặp lại những vầng bông cháy” [41.45]

Một số câu đặc biệt danh từ khác như: “Mùa bới khoai” [41.170]; “Mùa gặt” [42.144]; “Những cây cầu khỉ” [42.122]

Số lượng câu đặc biệt vị từ luôn nhiều hơn các kiểu còn lại trong cả hai tập tản

văn “Gáy người thì lạnh” và “Bánh trái mùa xưa” Điều đó cho thấy, Nguyễn Ngọc

Tư đặc biệt chú trọng đến tả nhiều hơn gợi, đến hành động nhiều hơn tính chất Chị đưa ra những câu đặc biệt vị từ, để nhấn mạnh, khiến độc giả phải tự vận động, tự

suy nghĩ và tưởng tượng, tạo nên nhiều đáp án thú vị Trong “Nhớ đất”, thím đã đi

nhiều nơi, ngắm nhiều cảnh xứ, thăng trầm cùng những bước chân phiêu dạt và lăn lộn giữa đời Nhưng rồi thím bất ngờ quay về, bất ngờ neo chân trên mảnh đất quê hương hai mùa nước nổi, ăn bằng cái nghèo, thở bằng cái nghèo, ngụp lặn trong cái nghèo mà sống Bao nhiêu thắc mắc, bao nhiêu tò mò của mọi người xung quanh dồn

lại, thím chỉ đáp một câu gọn lỏn vì “nhớ đất” [42.196] Câu đặc biệt vị từ đơn giản

mà gói ghém trong thím bao nhiêu trở trăn, day dứt mỗi khi dạt đến một nơi xa Đi ra

từ đất, lớn lên từ đồng bãi nhưng lại sống chung chiêng trên chiếc ghe hàng bông xuôi ngược, nỗi nhớ niềm thương về quê hương cứ cồn cào, da diết trong thím Để rồi, ngày về là một trang hoài niệm vỡ òa trong xúc động và thổn thức, thím như muôn

hét lên hai tiếng thiêng liêng “nhớ đất” Đất ở đây không đơn giản chỉ là cục sình

đông cứng sau mùa nước nổi, dâng phù sa nuôi cây trái chín mọng, nuôi tuổi thơ thím lớn lên trong hương quả vườn nhà Đất ở đây còn là quê hương, mồ mả cha ông, là

Trang 25

vùng trời ấu thơ tươi đẹp, là trăm ngàn nghĩa tình của bà con lối xóm Do đó, câu đặc biệt khuyết đi chủ ngữ như khẳng định rằng, không riêng gì thím mà tất cả những đứa con xa quê rồi sẽ tìm đường trở về nơi chôn nhau cắt rốn, để được đất ôm ấp trong lòng khi trở về với cát bụi Không chỉ vậy, câu văn còn mở ra một trường liên tưởng rộng, là anh, là tôi, là chúng ta, đang mang trong mình một tình yêu quê bao la đang

âm ỉ cháy Chỉ cần một xung động nhỏ, một câu nói vỏn vẹn chỉ hai tiếng “nhớ đất”

mà biết bao trái tim, biết bao ngọn lửa lắt lay phải bùng cháy dữ dội một niềm thương nỗi nhớ khôn nguôi

Một số câu đặc biệt vị từ khác như: “Hiểu chết liền” [41.17]; “Hết duyên rồi” [41.39]; “Mệt phờ” [42.61]; “Thương lắm” [41.180]

- Câu dưới bậc tương đương bổ ngữ Bổ ngữ là yếu tố do ý nghĩa của vị tố ấn định, nhưng theo quan hệ không chuyển tác, vị trí của bổ ngữ là đứng sau vị

tố Bổ ngữ bổ sung ý nghĩa do vị tố đòi hỏi, làm cho vị tố hoạt động được trong câu [2.71]

Sau quá trình khảo sát, thống kê và phân loại, chúng tôi thu được số liệu như sau:

Trang 26

Câu dưới bậc Tản văn Gáy người thì lạnh Bánh trái mùa xưa

Phân loại

CDB tương đương trạng ngữ

CDB tương đương bổ ngữ

CDB tương đương trạng ngữ

CDB tương đương bổ ngữ

Câu dưới bậc tương đương trạng ngữ chiếm số lượng cao khẳng định một nét riêng của Nguyễn Ngọc Tư là thường hay thêm vào sau câu văn một mệnh đề, một cụm từ hoặc đôi khi chỉ là một từ nhưng đầy sức gợi tả Sử dụng kiểu câu dưới bậc, nhà văn đưa vào câu văn thông thường những dấu chấm chiết tách, tạo điểm ngắt, điểm ngừng trong mạch đọc và dòng cảm xúc Các thành phần trạng ngữ giống như một sợi dây cảm xúc vắt qua những câu văn, bồi đắp thêm những yếu tố biểu cảm

giàu giá trị nghệ thuật Trong “Ba đồng một mớ mộng mơ”, cuộc chia tay giữa nhân

vật “chị” và thằng bé tàn tật vì nhiễm chất độc màu da cam diễn ra trong biết bao bịn

rịn, thương xót khiến tim ta ray rứt “Cứ níu lấy, cứ ghì chặt, mắt ầng ậc nước, cổ

họng phát ra những âm thanh gru gru vô nghĩa… thằng bé tỏ ra quyến luyến không rời” [41.106] Thử hỏi, đứng trước một cảnh tượng như thế, ai có thể tránh được nỗi

xót xa, ai có thể kìm được những giọt nước mắt? Chị cũng vậy, chị đau cho nó, chị buồn cho nó và thương nó vô tận Bởi vậy, chân chị bước đi không đành, chị trì níu, chị nán lại để chờ một câu yêu thương hay lời chúc lên đường Chị mơ mộng về một

tình cảm vượt lên trên sự thương hại và ban ơn “Và nó nói bật thành tiếng Bằng tất

Trang 27

cả sức lực” [41.106] Thay vì diễn tả theo một kiểu câu bình thường đầy đủ “trạng -

chủ - vị - bổ”, Nguyễn Ngọc Tư chặt đôi câu văn trong hình thức câu dưới bậc tương

đương trạng ngữ “Bằng tất cả sức lực” Bóc tách để tô đậm sự cố gắng như một mất

một còn, tác giả dồn tất cả sức lực của thằng bé vào câu nói đột ngột thốt ra – “Tiền!” Câu nói làm mọi người bàng hoàng Mặt khác, cắt đôi câu văn bằng một dấu chấm, mạch đọc bị đứt quãng như một sự đuối hơi, hụt chết của chính thằng bé Rõ ràng, sau câu nói bật ra, thằng bé lại rơi tõm vào không gian im lặng của nó, như thể, mọi sức lực đã tuôn xả hết rồi Như vậy, câu dưới bậc tương đương trạng ngữ không chỉ gợi mà còn tả, còn giúp nhân vật tự biểu cảm, tự thể hiện mình Giá trị nghệ thuật không nằm trên những con chữ mà lặn sâu vào sự ám ảnh mà nó mang lại trong tâm trí người đọc

Một số câu dưới bậc tương đương trạng ngữ khác như: “Không có cây Người

sống ở lưng chừng núi chống cái nóng mùa hè cháy trên da thịt bằng cổ tích”

[41.164]; “Bạn quyết định xuống xe Một mình” [42.29]

Bên cạnh đó, trong tản văn Nguyễn Ngọc Tư còn có sự góp mặt của câu dưới bậc tương đương bổ ngữ Không quá nhiều, cũng không quá ít, những câu dưới bậc kiểu này là một món gia vị quan trọng mà nhà văn không quên nêm vào tác phẩm của

mình Trong “Cuộc diễu hành lặng lẽ”, mòn dần theo năm tháng, tấm ván gỗ trên

cánh cửa bạc màu không còn còn đủ sức chứa những cái tên thiếu nợ trong mùa mua chịu Cánh của gỡ đi, thay vào đó là một cuốn tập học sinh dùng để ghi nợ Không phải vì nó mục nát mà là vì, những cái tên, những con số ngày một nhiều, ngày một

chất chồng tràn khỏi giới hạn của bốn mép cửa “Cuốn sổ ngoài bìa ghi: sổ nợ Bằng

mực đỏ Như vết xước” [41.141] Câu dưới bậc tương đương bổ ngữ được sử dụng

trong trường hợp này là một sự chọn lọc hết sức hiệu quả và không ngoan của Nguyễn Ngọc Tư Vết mực đỏ như vết xước cào vào lòng người nỗi ám ảnh dai dẳng về một miền quê khốn khó, bị vây bủa bởi cái nghèo, cái hèn Tách ra khỏi cấu trúc thông thường, câu dưới bậc là một niềm đau có thật của những người dân quê Thay cho những viên phấn là dấu mực đỏ, thay vì xóa đi những món nợ đã trả bằng tay, bằng giẻ, người ta phải dùng bút để gạch bỏ Dấu phấn mờ đục rồi sẽ phai mau nhưng dấu

Trang 28

mực thì còn in mãi mãi trên trang giấy như chứng tích của sự nghèo hèn Sẽ còn mãi hình ảnh một ông cha, một bà mẹ vào ngày ấy, tháng ấy, đã vứt bỏ lòng tự trọng để mua chịu chút gạo cho con cái qua mùa đói kém Thành ra, dấu mực càng thêm rực

đỏ bởi vết thương lòng xước vào tâm hồn những con người hồn hậu, chân chất, chịu chết đứng chứ không sống quỳ Có thể đánh giá rằng, đây là câu dưới bậc hay nhất trong tản văn Nguyễn Ngọc Tư, hằn vào lòng người đọc một vết đỏ chói nhòa, đầy xót xa, thương cảm cho những thân phận nghèo

Một số câu dưới bậc tương đương bổ ngữ khác như: “Và lần đầu tiên kể từ khi

biết nhau, một thằng kỹ sư cơ khí khô khan, héo hắt với cặp kính cận dày như đít chai, tôi mới nghe bạn hát Dở ẹt” [42.43]; “Buổi tối tôi đi qua chỗ đó và em lại hỏi bằng

vẻ câm lặng im lìm Như cái chết” [41.134]

2.1.2 Kiểu câu mở rộng cấu trúc

a Tình thái ngữ

Câu có tình thái ngữ là câu có ngữ tình thái tham gia vào cấu tạo nên câu

“Tình thái ngữ là thành phần phụ của câu, thường nêu lên thái độ, tình cảm của người nói về hiện thực được thể hiện trong câu nói hoặc để gọi đáp” [12.114]

Sau quá trình khảo sát, thống kê và phân loại, chúng tôi thu được số liệu như sau:

Câu có tình thái ngữ Tản văn Gáy người thì lạnh Bánh trái mùa xưa

Phân loại TTN dùng để

cảm thán

TTN dùng để hỏi

TTN dùng để cảm thán

TTN dùng để hỏi

Nếu số lượng câu có tình thái ngữ trong “Bánh trái mùa xưa” đã nhiều thì đến

“Gáy người thì lạnh”, chúng tăng lên gần gấp đôi Tình thái ngữ là một trong những

công cụ đắc lực để chị bày tỏ thái độ, tình cảm và đặc biệt là tô đậm phong cách

Trang 29

Chính kiểu câu này đã góp phần tạo nên những giọng điệu rất đặc biệt, in sâu dấu ấn của Nguyễn Ngọc Tư Xây dựng phong cách và khẳng định cái tôi là khát khao muôn đời của các văn nghệ sĩ, do đó, sự tăng vọt về số lượng câu có tình thái ngữ cho thấy, nhà văn Đất Mũi Cà Mau cũng không hề ngoại lệ

Trong hai tập tản văn, chiếm số lượng áp đảo là những câu có tình thái ngữ dùng để cảm thán Đây là một nét rất riêng tạo nên phong cách Nguyễn Ngọc Tư Hầu như, câu văn nào của chị cũng dạt dào cảm xúc và in đậm dấu ấn của khẩu ngữ Nam Bộ Vì vậy, những tình thái ngữ được chêm xen không đơn giản chỉ phụ họa cho cách viết như nói của chị mà còn giúp lột tả rất nhiều sắc thái, tình cảm của những

nhân vật không tên Cô giúp việc trong “Dời bến” (BTMX) là một con người đầy cá

tính Cốt cách miệt vườn của cô bộc lộ rõ qua những lần “xổ thẳng” vào chủ nhà Không sợ phân biệt cấp bậc, chênh lệch vai vế, cô hồn hậu kể về quê hương, một

sống một chết để bảo vệ cái chân lí mộc mạc “quê cô là nhất” Cứ mở miệng ra là

“phải ở dưới quê”, cô giúp việc đã đảo lộn chuẩn mực sướng khổ của người thành

thị, đánh bay mặc cảm chủ tớ giữa cô và chủ nhà Thành ra, có những lúc họ thấy

mặc cảm vì nằm phòng máy lạnh, nhiều tiền cũng làm họ bẽn lẽn “Bây giờ thì họ

hoang mang, thế giới mơ ước của họ có nguy cơ đổ vỡ trước cô giúp việc ương bướng, bởi cô không nghĩ vậy, gì chớ, quê cô là nhất” [41.22] Thử dùng phép cải biên để

che đi tình thái ngữ “gì chớ”, nội dung chuyển tải của câu văn vẫn không hề thay đổi

Tuy nhiên, về mặt sắc thái biểu cảm, tình thái ngữ này quyết định sự thành vong cho câu văn và cả tản văn Ngay từ đầu, cô gái quê mủ mỉ, thẳng đuột kia đã quả quyết rằng quê cô mới là thiên đường, trong mọi tình huống, cô đều chứng minh được, những thức ăn quê mùa, những cảnh những hình nơi miệt vườn sông nước mới là nhất Cái kiểu bảo vệ ý kiến một cách quyết liệt nhưng hoàn toàn không cay cú, không hằn học và chà đạp nhau của cô là tiêu biểu cho một lớp người quê, sống thiệt thà, chất phác Cô gái không hề ne nép trước thế lực đồng tiền, càng không sợ chủ nhà

quở mắng Nhiều khi, đọc “Dời bến”, không biết ai mới thực là chủ nhà, vì chông

chênh trước lí lẽ của cô giúp việc, gia đình chủ như kẻ sống nhờ trong chính căn nhà mình, xa lạ với hết thảy và không thể cột lòng mình vào những máy móc vô hồn, để

Trang 30

khi đi xa được nhớ, được thương Chính vì vậy mà, tình thái ngữ “gì chớ” chen vào

câu văn, vừa lột tả chân xác tính cách cô gái, vừa áp đảo những lí lẽ bấp bênh của chủ nhà Nhờ một tình thái ngữ dùng để cảm thán mà nội dung thể hiện trong tản văn được tô đậm rõ nét, làm được điều này, chắc hẳn Nguyễn Ngọc Tư đã phải chọn lọc cực kì tinh tế Ẩn sau những tản văn đầy thâm tình là một cây bút tài năng và trách nhiệm với văn chương

Một số câu có tình thái ngữ dùng để cảm thán khác như: “Tô Ánh Nguyệt năm

xưa đau nỗi đau xa con chỉ cần nghẹn ngào bước từng bước run lẩy bẩy, nắm tiền trong tay bay bời bời; Tô Ánh Nguyệt bây giờ vừa gào thét vừa bứt xé hàng khuy áo khoe da thịt, mệt gì đâu” [41.16]; “Bạn ta nhiều anh sẵn sàng bỏ ta ngồi chơ vơ đằng quán để nháo nhào chạy đi đón con đằng nhà trẻ, thấy thương” [41.91]; “Nhưng tới giờ tôi vẫn chưa thả được con diều đó, cũng sáu, bảy năm rồi chớ giỡn…” [41.21],

“Ý thức giai tầng của mình rõ ràng hơn bao giờ hết, mắc cười” [41.32]

Là một trợ thủ đắc lực cho những câu hỏi tu từ, tình thái từ dùng để hỏi không đơn giản chỉ nhấn mạnh điều cần hỏi mà còn góp phần bày tỏ thái độ của chính tác giả Tuy xuất hiện không nhiều nhưng câu có tình thái ngữ dùng để hỏi đã mang lại những hiệu ứng nghệ thuật quan trọng cho các tản văn của Nguyễn Ngọc Tư Trong

“Có còn người không” Đau đáu trước những mảnh đời bé mọn bị quăng quật nơi

lòng đường, vỉa hè, bị đồng loại bỏ rơi và tước đoạt quyền sống, tác giả không thể kìm được dòng cảm xúc xót xa, ngậm ngùi Nhìn cảnh mọi người thờ ơ bước qua chỗ đứa bé ăn xin đang dặt dẹo nằm, thấy nỗi cay đắng dâng lên tràn ứ họng Những con người vô cảm có thể bỏ rơi chúng bên lề đời, nhưng còn những nhà chức trách, tại sao họ không dẹp tan cám cảnh đau lòng này? Dõi theo những thân phận mỏng manh, nhỏ nhoi và cô độc, Nguyễn Ngọc Tư không thể giấu nổi niềm chua chát mà bật lên

thành câu hỏi rát bỏng: “Trẻ con họ không che chở được, thì họ hô hào khẩu hiệu,

tính làm chuyện lớn lao chi hả trời?” [41.136] Tình thái ngữ dùng để hỏi ở đây mang

đậm dấu ấn phương ngữ và giọng điệu Nam Bộ Nhẹ nhàng mà sâu sắc, đánh động vào sâu thẳm lương tri con người, câu hỏi mang tình thái ngữ nêu trên vừa nghiêm khắc nhắc nhở vừa mạnh mẽ phê phán sự thờ ơ của xã hội, sự thiếu xót của những

Trang 31

người chăm lo cho đời sống cộng đồng Không chỉ vậy, tình thái ngữ dùng để hỏi

“chi hả” còn mang âm hưởng đặc trưng của lối tư duy, cảm thán của người Việt Hễ

có việc gì khó khăn, gian khổ và bất khả kháng là người ta hay kêu trời Trời là của

chung nhưng chẳng là riêng ai Do đó, việc đặt cụm tình thái ngữ “chi hả trời” vào

câu hỏi, Nguyễn Ngọc Tư còn thể hiện nỗi bất lực của chính mình, của một trong những kẻ đã cho vào cái ca vài ba đồng bạc để nhẹ chút lòng Bên cạnh đó, lời kêu thấu trời của chị cũng mang chút gì như mỉa mai trước những người đang cầm cán cân công lý nhưng không mang được công bằng cho những sinh linh nhỏ nhoi, yếu

ớt cần bàn tay bảo bọc, chở che Dù không xuất hiện nhiều, nhưng một khi câu có tình thái từ dùng để hỏi được tác giả vận dụng thì chắc chắn, giá trị biểu cảm sẽ đạt hiệu quả cao

Một số câu có tình thái từ dùng để hỏi khác như: “Cũng tự hỏi, trời ơi, mình

leo lên núi này làm chi, ta?” [41.163]; “Nói đến đó bỗng cồn cào nỗi hoài nghi, người

ta sống với tham vọng chồng chất ngút ngất là thuận theo lẽ trời ư?” [42.121]; “Chứ không à?” [41.99]

b Thành phần chú thích (Giải ngữ)

Thành phần chú thích còn gọi là giải ngữ Giải ngữ của câu là một trong

những loại thành phần phụ của câu, mở rộng nòng cốt câu, có tính chất tự lập tương đối về mặt ngữ pháp (tức là nó không phụ thuộc về cú pháp và yếu tố ngôn ngữ nào trong nòng cốt câu cả, mà có quan hệ cú pháp với toàn bộ nòng cốt câu) [9.106]

Sau quá trình khảo sát, thống kê và phân loại, chúng tôi thu được số liệu như sau:

Câu có thành phần chú thích Tản văn Gáy người thì lạnh Bánh trái mùa xưa

Phân loại Trong [(…)] Sau dấu [-] Trong [(…)] Sau dấu [-]

Trang 32

Số lượng câu có thành phần chú thích trong cả “Gáy người thì lạnh” và “Bánh

trái mùa xưa” đều khá nhiều Điều đó cho thấy rằng, kiểu câu có kèm thành phần chú

thích luôn là điểm riêng rất đặc biệt trong cách diễn đạt của nhà văn Phong cách và giọng điệu của chị được in đậm nhờ vào những thành phần chú thích kèm theo trong câu văn, nhằm bộc lộ thái độ, trình bày suy nghĩ, giải thích thêm và đặc biệt là bình luận một cách tưng tửng rất Nguyễn Ngọc Tư

Có ba cách để trình bày phần chú thích bao gồm đặt sau dấu [-] hoặc [,] và đặt trong dấu [(…)] Trong các tác phẩm của mình, Nguyễn Ngọc Tư sử dụng linh hoạt

cả ba hình thức trên nhưng chủ yếu là đặt trong dấu [(…)] Trong “Gáy người thì

lạnh” và “Bánh trái mùa xưa” hình thức đặt trong dấu [(…)] chiếm số lượng cao tạo

nên ấn tượng mạnh mẽ cho người đọc Một thời thương khó, nhiều bạn trẻ chốn quê

nghèo vừa bước chân khỏi cấp ba đã lập gia đình Những đám đãi bạn (BTMX) đầy

xao động trong kí ức mỗi con người Đám cưới ở quê đã nghèo, đã đơn sơ, đám cưới trẻ ở quê càng thương đắng đót Nguyễn Ngọc Tư kể về những đám đãi bạn mà chị

từng dự, có đám nhà hàng sang trọng, có đám chỉ ăn mỗi trái cây “Sau đó, để nuốt

cục mắc cỡ vào bụng, cả bọn uống… nước ngọt, uống đến môi đỏ rực lên (do nước

rẻ tiền, nhiều phẩm màu, chứ lúc đó làm gì có pepsi, hay coca cola), sau đó nhà bếp

sẽ mang cháo khuya ra” [42.41] Gắn thêm thành phần chú thích cho câu, chị như

muốn nhấn mạnh hơn đến cái nghèo, cái thiếu của một thời trai trẻ chỉ đến với nhau bằng nhiệt tình và xao xuyến Cái tình được đặt lên trên vật chất Bởi lẽ, uống với nhau thứ nước rẻ tiền mà nghe tâm hồn xôn xao, bẽn lẽn, chia vui cùng bạn mà thổn thức với bao cảm xúc dạt dào Trong khi đó, nhiều thứ bia đắt tiền dọn lên, uống ăn tràn trề mà đám đãi bạn nhạt nhẽo, vô vị vì những gương mặt xa lạ, vì những cuộc hẹn gấp gáp, bận rộn, đến nỗi, nhiều khi đi ăn cưới về không biết cô dâu mặc áo màu

gì, mặt mũi chú rể ra sao Câu văn có thành phần chú thích làm tăng màu giản dị, thiếu thốn của đám cưới quê nghèo nhưng lại nhen lên bên trong sự ấm áp của tình thân Kiểu câu này giúp cho nội dung thể hiện được mở rộng ra rất nhiều, rất xa, khiến

ta phải trở trăn, suy nghĩ

Một số câu có thành phần chú thích trong dấu [( )] khác như là: “Một bữa nọ

Trang 33

ăn như là ăn thôi (nhại ông Bảo, yêu như là yêu thôi), mới hay món này cũng ngon quá chớ ” [41.33]; “Nhà không điện, nước sạch, không tivi, radio cũng không và tất nhiên là không cửa (chẳng để chi)” [41.139]; “Những bữa má cho tiền dằn (đáy) túi thì mình lại dằn vặt kiểu khác ” [41.30]

Bên cạnh dấu [(…)] rất đặc trưng, Nguyễn Ngọc Tư còn dùng hình thức khác như đặt sau dấu [-] Điều này khẳng định, chị luôn có ý thức tìm tòi, đổi mới trong cách hành văn và trình bày câu chữ Các cách trình bày thành phần chú thích khác nhau còn tạo nên sự phong phú về mặt hình thức và tạo nên hiệu ứng nghệ thuật cao khi được nhà văn sử dụng một cách phù hợp, chuẩn xác

Câu có thành phần chú thích đặt sau dấu [-] tuy chiếm số lượng ít nhưng vẫn

tạo được ấn tượng riêng cho người đọc “Buồn quá Ừ thôi” là một bức tranh u sầu

về những cô gái Việt lấy chồng Hàn Quốc Cuộc hôn nhân diễn ra chóng vánh nhờ

sự bôi trơn và thúc đẩy của đồng tiền khiến thân phận những người con gái quê bị rẻ rúng Lấy chồng vì vật chất, xuất thân nghèo hèn và ít học, họ bị coi thường ngay từ

cái nhìn đầu tiên khi bước vào sở Tư pháp “Họ cảm nhận được từ đám công chức

bọn tôi – những người được coi là hiểu biết – đang có sự kỳ thị, thiếu thiện chí, nói thẳng là khi dễ những mối lương duyên mua bán kiểu này” [41.154] Câu văn có thêm

thành phần chú thích đặt sau dấu [-] mang đầy dụng ý Dấu ngang nối như nhấn mạnh,

“đám công chức” – “những người được coi là hiểu biết” nhưng lại không thấu hiểu được tình cảnh của những con người đáng thương này Nếu không rơi vào hoàn cảnh

éo le, khó khăn chất chồng thì họ có phải lao vào một cuộc hôn nhân hoàn toàn không

có tình yêu, phải lìa xa gia đình và quê hương để đến sống ở một xứ sở xa tít mù không hẹn ngày gặp lại Họ nghèo, họ cần tiền, vì thương cha thương mẹ, vì muốn cho gia đình bớt khổ nên phải đưa chân vào những cuộc mua bán tình yêu này Vậy thì, tại sao lại khinh rẻ họ? Ít ra, những cô gái ấy cũng sửa được căn nhà lá thành nhà ngói khang trang cho cha mẹ, ít ra họ cũng giúp cha mẹ vượt qua được những căn bệnh thập tử nhất sinh Nếu lược bỏ phần chú thích, giá trị tố cáo của câu văn sẽ thuyên giảm đi rất nhiều Bởi lẽ, trong khi, những người được coi là cầm cân nảy mực, nhân danh công lí tại sở Tư pháp không hề hiểu gì về đời tư của những cô dâu

Trang 34

xứ Hàn thì chính những cô gái này lại ý thức sâu sắc họ là ai và những vị công chức này là ai Và phải chăng, đằng sau thành phần chú thích được đưa vào câu chính là chút mỉa mai nhẹ nhàng mà Nguyễn Ngọc Tư muốn hướng đến những người cán bộ? Với tấm lòng nhân hậu và sự trung trực khi đặt một điểm nhìn khách quan, chị dùng những gì chú thích sau dấu [-] như một lời nhắc nhở chân tình: Những người có hiểu biết đôi khi hơi máy móc và xa rời thực tế, hãy nhìn mọi thứ bằng đôi mắt tình thương

để cảm thông và sẻ chia nhiều hơn

Một số câu có thành phần chú thích sau dấu [-] khác như là: “Sao những cây

gòn lại ở đây, để ngày ngày chứng kiến bạn cũ của mình - những con chim sẻ - bị nướng vàng nằm phơi trên đĩa, bị ngốn ngấu trong miệng của con người – nhiều người trong họ cũng là bạn cũ” [42.60]; “Em bé – con mồi sống không nói gì hết, mà tôi tưởng như nó hỏi, người ơi, người ở đâu?” [41.134]; “Những củ khoai lang còn

ấm má mang về khi tan chợ, những bộ quần áo mới má thắt thẻo chắt mót từng lọn rau, bó cải để sắm cho con, chiếc xe đạp nhỏ - món quà từ tháng lương của ba để con tới trường ” [41.97]

Cái hay, cái tài của Nguyễn Ngọc Tư là thêm vào những gì đáng thêm, tô đậm hơn giá trị biểu cảm và ý nghĩa cho câu văn Trong tác phẩm của chị, hoàn toàn không

có một thành phần chú thích nào bị cho là thừa thải Chúng luôn mang theo một thông điệp trao gửi nào đó mỗi khi xuất hiện và cần những bạn đọc tinh tế để nhận ra

2.1.3 Câu có giá trị tu từ nổi bật

Câu hỏi có tác dụng phủ định

Câu hỏi có tác dụng khẳng định

Câu hỏi có tác dụng phủ định

Trang 35

Sau quá trình khảo sát, thống kê và phân loại, chúng tôi thu được số liệu cụ thể như trên Câu hỏi tư từ được dùng để tăng thêm sự chất vấn, làm day dứt người đọc Hỏi để khẳng định hoặc phủ định, nhằm tô đậm vấn đề được nói đến Câu hỏi

xuất hiện với số lượng gần gấp đôi trong “Gáy người thì lạnh” là biểu hiện cho thấy

Nguyễn Ngọc Tư đang tiến đến độ “đằm” trong cả ngôn từ lẫn cách diễn đạt Càng viết, càng đi sâu, day dứt với thế thái nhân tình, chị càng gợi nhiều hơn nói, mở lối

để độc giả tự chiêm nghiệm và trả lời hơn là phô bày hết mọi thứ lên câu chữ

Câu hỏi tu từ có tác dụng khẳng định là một sự lựa chọn khôn ngoan của Nguyễn Ngọc Tư Chị đưa ra rất nhiều câu đậm chất triết lý, để khẳng định một vấn

đề mang tầm vĩ mô nhưng lại đặt chúng dưới hình hài một câu hỏi không cần lời đáp Điều này vừa tạo cảm giác thoải mái cho người đọc, không bị tác giả dạy đời, áp đặt suy nghĩ vừa tránh cho Nguyễn Ngọc Tư những phiền phức không đáng có mà chị vô

tình gặp phải khi mới bước chân vào làng văn với “Cánh đồng bất tận” Những câu

hỏi tu từ có tác dụng khẳng định trong tản văn Nguyễn Ngọc Tư còn là những dấu hỏi mang đầy ám ảnh, in đậm trong lòng người đọc sự day dứt khôn nguôi Trong

“Có còn người không?”, mỗi lần nhìn thấy hình ảnh những đứa bé “khi đói khát, khi

bị đánh đập cấu nhéo, khi phơi trần ra dưới nắng mưa Khi nó nằm trên mặt đường

và kêu khóc khản giọng” [41.133] là mỗi lần nỗi đau bật lên thành tiếng trong tâm

can tác giả - người chứng kiến Dòng người hối hả lướt qua nó, những trái tim lướt qua nó, nhà chức trách bỏ quên nó và những kẻ tàn độc, kiếm ăn trên thân thể những đứa bé thì luôn rình rập Bức bối trước một thực trạng đau lòng của xã hội, một câu

hỏi vang lên trên trang văn như sự vỡ òa của lòng phẫn uất “Thử coi người ta đã tha

hóa, độc ác và nhẫn tâm tới mức nào khi phơ phởn kiếm tiền bằng cách giày vò, đọa đày kẻ khác?” [41.136] Được thể hiện dưới dạng một câu hỏi nhưng không cần ai

trả lời, câu văn là một lời khẳng định đanh thép chĩa thẳng mũi dùi vào những kẻ mất hết lương tâm, mất hết tính người Nếu thay vào đó một câu khẳng định thông thường

- “Không còn người nữa”, thì sức ám ảnh của một câu hỏi sẽ bị mất đi Nếu trực tiếp

khẳng định, câu văn trên chỉ là một nhận định mang tính chủ quan của riêng Nguyễn Ngọc Tư, nhưng khi được thể hiện dưới dạng một câu hỏi tu từ thì chính người đọc

Trang 36

phải trả lời Và như vậy, chúng ta có hàng ngàn, hàng vạn lời khẳng định của hàng ngàn, hàng vạn độc giả trên khắp đất nước Sức mạnh khẳng định và dấu ấn của câu văn sẽ càng được nhân lên nhiều hơn

Một số câu hỏi tu từ có tác dụng khẳng định khác như: “Thử coi người ta bất

lực, rụt rè, ngại khó bao nhiêu?” [41.136]; “Ủa sao tôi thấy buồn thấy đầy dự cảm bâng quơ?” [41.151]; “Có phải không, khi họ không yêu thương máu thịt của mình, sao yêu được những người dưng chỉ ngang qua cuộc đời này, như ta, như bạn?”

[41.91]

So với câu hỏi tu từ có tác dụng khẳng định, tần số xuất hiện của những câu hỏi tu từ có tác dụng phủ định rất thấp, số lượng chỉ tương đương một phần ba Thế nhưng, kiểu câu mang ý nghĩa phủ định này vẫn thực hiện tốt vai trò của nó trong

việc tô đậm giá trị nội dung và nghệ thuật cho tác phẩm Trong “Tùy bút phải lòng”,

cuộc tranh luận giữa “bạn” và “ta” dường như không thể có điểm kết, bởi mỗi người

có một quan điểm riêng về tình yêu Tuy nhiên, một người mẹ đành đoạn bỏ con mới cai sữa để chạy theo nhân tình thì có thật lòng yêu không hay chỉ để thuận theo những ham muốn tầm thường, ích kỉ của bản thân? Máu mủ, ruột rà mà còn vứt bỏ được thì

sá gì những người xa lạ, chỉ đến với nhau bằng thứ tình cảm mong manh là “tình yêu”? Tình mẫu tử thiêng liêng nhất, gắn kết bền chặt nhất còn không níu chân họ được thì sợi dây mong manh của tình yêu liệu có thể giúp họ yêu thật sự, yêu chung

thủy? “Họ không yêu thương máu thịt của mình, sao yêu được những người dưng chỉ

ngang qua cuộc đời này, như ta, như bạn” [41.91] Bằng những lí lẽ như vậy, Nguyễn

Ngọc Tư kết luận bằng câu hỏi: “Cái gọi là tình yêu, có phải là tình yêu?” [41.91]

Như vậy, chị đã thẳng thắn phủ định hoàn toàn “cái gọi là tình yêu” kia Có chăng,

đó cũng chỉ là thứ tình yêu vị kỉ, chỉ biết cho bản thân mình Một tình yêu không trong sáng, không dựa trên những giá trị bền chặt và đến với nhau theo tiếng gọi xác thịt thì cũng chẳng khác gì tình dục theo đúng nghĩa đen Do vậy, mặc dù hỏi, nhưng chính tác giả cũng đã phủ nhận khái niệm “tình yêu” trên Mặt khác, việc dùng câu hỏi có tác dụng phủ định trong trường hợp này còn giúp cho lí lẽ của người phủ nhận thêm sắc bén và quyết định Tính chất vấn nhờ vậy cũng được tăng lên, xoáy sâu vào

Trang 37

những con người có suy nghĩ lệch lạc Bên trong câu hỏi tu từ này, Nguyễn Ngọc Tư còn gói ghém sự lên án đanh thép những kẻ núp bóng tình yêu, nhân danh những điều cao cả để phục vụ những mục đích tầm thường

Một số câu hỏi tu từ có tác dụng phủ định khác như: “Sách tướng pháp có

trang nào viết về tâm tính của một người có đôi tay rướm máu vì bị nước ăn lâu ngày, đôi tay bợt bạt và những móng tay còi cọc thối đen?” [41.95]; “Nhưng sấm chớp thì nói đi nữa sẽ gặp mưa ướt mèm, có đáng không?” [41.53]; “Nói đến đó bỗng cồn cào nỗi hoài nghi, người ta sống với tham vọng chồng chất ngút ngất là thuận theo

lẽ trời ư?” [41.121]

2.1.4 Đảo cấu trúc

Đảo đổi là biến thể của sóng đôi, có đặc điểm là sự biển đổi của những mối liên hệ cú pháp giữa các thành phần đảo các yếu tố cú pháp (A => B : B => A) đưa đến sự hiểu lại nội dung của phát ngôn [9.190]

Sau quá trình khảo sát, thống kê và phân loại, chúng tôi thu được số liệu như sau:

Đảo cấu trúc Tản văn Gáy người thì lạnh Bánh trái mùa xưa

Phân loại Đảo bổ ngữ Đảo trạng ngữ Đảo bổ ngữ Đảo trạng

vì hiệu quả nghệ thuật của nó

Trang 38

Sự chênh lệch không cao về số lượng giữa câu đảo bổ ngữ và câu đảo trạng ngữ cho thấy Nguyễn Ngọc Tư không tập trung riêng cho bên nào mà vận dụng chúng một cách linh hoạt trong từng ngữ cảnh cụ thể Việc đưa bổ ngữ lên đầu hoặc trạng ngữ xuống cuối còn khiến cấu trúc “trạng - chủ - vị - bổ” truyền thống bị phá vỡ, tạo

sự mới mẻ và độc đáo cho câu văn Ngoài ra, nó cũng tăng tính hấp dẫn cho tản văn,

một thể loại không nhiều kịch tính và mâu thuẫn

Những câu đảo bổ ngữ trong tản văn Nguyễn Ngọc Tư có một điểm đặc biệt

là có hình thức và kết cấu na ná nhau Đây cũng là một nét đặc trưng của câu văn Nguyễn Ngọc Tư Thay vì xuôi theo cấu trúc câu thông thường, bổ ngữ có nhiệm vụ

bổ nghĩa cho động từ chính trong vị ngữ được đưa lên đầu câu với mục đích nhấn

mạnh và gây ấn tượng Cái hàng ba trong “Hiên trước nhà một bà già tốt bụng” là

một miền hoài niệm đẹp của những đứa trẻ quê ngày ấy Cái hàng ba thơm thảo, sẻ chia từng gáo nước mưa mát ngọt cho những khách đường xa xuôi ngược Giữa trưa nắng hè, mái hiên nghèo dang tay đón những bước chân bỏng cháy lỡ đường, bộ vạc cau mang cho họ phút nghỉ bình yên Trên những nẻo đường xa, hàng ba nhà bà là một chốn nghỉ an lành, một sự sẻ chia an ủi, cảm thương cho những thân phận kiếm

ăn nhọc nhằn Không chỉ vậy, đối với tuổi thơ, đó còn là một chốn đến, một nơi tụ tập để vui đùa, một ngọn đèn chong xua tan cơn sợ hãi khi đêm hôm đi coi phim ké… Cái hàng ba ấy chứng kiến biết bao nhiêu cuộc đổi thay, đám trẻ rồi cũng lớn lên, những người khách bộ hành giờ đã xa muôn nẻo Nhưng điều quan trọng nhất đối với

tác giả là “Hàng ba nhà bà, không chỉ một mình tôi nhớ” [42.82] Câu văn đảo bổ

ngữ “hàng ba nhà bà” lên đầu câu mang đầy dụng ý nghệ thuật Cái tác giả nhấn

mạnh ở đây không phải là nỗi nhớ mà là những kỉ niệm, những chốn xưa thân thương nơi có bà già tốt bụng ngày ngày chằm lá cho chum nước mưa luôn mát lạnh Thành

ra, cả câu văn ngập tràn hình ảnh cái hàng ba thơm thảo đó, nghe kỉ niệm ùa về choáng

chật cả kí ức những đứa trẻ của năm xưa Ngoài ra, thay vì bổ nghĩa cho từ “nhớ”,

bổ ngữ “hàng ba nhà bà” còn mang đến sức mạnh lan tỏa khi được đưa lên đầu câu

Rõ ràng, cái hàng ba ấy không là của riêng “tôi”, càng không phải chỉ được mình “tôi nhớ” Cho nên, tất cả ấn tượng của câu văn đều được dồn lên đầu, tác giả có nhớ hay

Trang 39

không cũng không quan trọng, điểm quan trọng ở đây là sự nhắc nhớ trong chính cõi lòng người đọc Chỉ cần một lần ghé chân nghỉ trưa nơi mái hiên nhà bà già tốt bụng kia, chắc chắc chúng ta sẽ nhớ mãi, nhớ mãi

Một số câu đảo bổ ngữ khác như: “Cái tổ đó tôi chui rúc cho đến năm bảy

tuổi ” [41.76]; “Câu hỏi đó thằng nhỏ hỏi mỗi ngày mỗi ngày mỗi ngày, khi đói

khát, khi bị đánh đập cấu nhéo, khi phơi trần ra dưới nắng mưa” [41.133]; “Khu

vườn đó, tôi vẫn mang theo từ thuở chín, mười…” [42.96]

Kiểu câu đảo trạng ngữ chỉ xuất hiện trong tản văn mới nhất của Nguyễn Ngọc

Tư là “Gáy người thì lạnh” Điều này cho thấy, sự tìm tòi và làm mới cách viết, làm

mới chính mình luôn là mối quan tâm hàng đầu của nhà văn Sử dụng thêm kiểu câu đảo trạng ngữ, chị vừa tạo thêm cho mình nhiều sự chọn lựa, vừa giúp phong phú và

đa dạng hóa các kiểu câu trong khi hành văn Trong “Đôi bữa làm mây”, sau ngày phiêu bạt đến tận Lạt Mốt xa xôi, “bạn vẫn còn nghe rung động đến hoài” [41.26]

Mến đất, mến con dân xứ sở nghèo mà chân tình, người ra đi quyến luyến mãi không rời được Cảnh không đẹp, hàng quán lèo tèo, chợ vắng teo, không khí oi nồng mùi

cá khô phơi không giòn nắng Nhưng Lạt Mốt lại mang cho khách viễn phương một

cảm giác bình yên của biển, của tình người, nhất là tình người Cho nên, “Áo lạnh

đem tặng lại cho bà già xóm biển để dành mặc vào mùa bấc, bữa ra đi” [41.26] Câu

văn đảo trạng ngữ ra sau mang dụng ý nghệ thuật khá sắc nét Một chiếc áo đâu đáng

sá bao nhiêu nhưng lại ấp ủ trong nó nhiều tình cảm thấm đượm, nồng nàn Kẻ ra đi như muốn lưu lại chút dấu vết của mình trong lòng người ở lại, người ở lại cũng bịn rịn mãi không nguôi trước tấm lòng của kẻ ra đi Đưa trạng ngữ “bữa ra đi” xuống cuối câu, hình ảnh chiếc áo trao gửi như càng được tô đậm và càng về cuối câu, giọng văn càng chùng xuống như một niềm nhớ tiếc Dù chỉ là thành phần phụ của câu nhưng một khi đã phá vỡ kết cấu thông thường của một câu văn, chắc chắn, giá trị nghệ thuật sẽ được in đậm Tác giả đưa bối cảnh “bữa ra đi” xuống cuối câu như thể không mong muốn cuộc chia li này, không mong muốn phải đến “bữa ra đi” Thấp thoáng trong câu đảo trạng ngữ này còn có chút gì như lưu luyến, bồi hồi đầy tính biểu cảm

Ngày đăng: 09/05/2021, 16:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w