Không ít những tên tuổi đã xuất hiện trưởng thành cùng nâng haiku lên để tỏa hương trên thế giới như Basho, Issa, Buson, Chiyo, Sora, Shiki… Người đọc có thể bắt gặp cái khoảnh khắc im ắ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng:
Công trình nghiên cứu này do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của giảng viên
– Th.S Nguyễn Phương Khánh Tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung thực của
nội dung khoa học trong công trình
Đà Nẵng, ngày 16 tháng 5 năm 2013
Sinh viên
Phạm Kim Anh
Trang 3Xin được ghi lại nơi đây lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo – Th.S Nguyễn Phương Khánh, người đã hết lòng động viên, khuyến khích và hướng dẫn tận tình
để tôi hoàn thành khóa luận này
Xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến quý thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, cán bộ nhân viên Thư viện trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng đã tạo điều kiện, quan tâm, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Đà Nẵng, ngày 16 tháng 5 năm 2013
Sinh viên
Phạm Kim Anh
Trang 41 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5
4 Mục đích nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Bố cục khóa luận 7
NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1 KOBAYASHI ISSA VÀ VẤN ĐỀ CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ HAIKU 8
1.1 Cái tôi trữ tình trong thơ ca 8
1.2 Cái tôi trữ tình trong thơ ca cổ điển Nhật Bản 11
1.3 Kobayashi Issa - thi sĩ haiku lỗi lạc 19
CHƯƠNG 2 HÌNH TƯỢNG CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ HAIKU CỦA KOBAYASHI ISSA 23
2.1 Cái tôi cô đơn khắc khoải 23
2.1.1 Khởi phát từ nỗi đau mất mát - “chỉ một người còn lại” 23
2.1.2 Đến sự lạc lõng giữa cõi đời - “cây trúc đơn độc” 29
2.2 Cái tôi khát khao giao cảm 33
2.2.1 Con người lạc quan giữa bể khổ trần ai - “cuộc đời đẹp quá” 33
2.2.2 Mối tương duyên với thiên nhiên với đời - “cùng tôi giang hồ” 37
2.3 Cái tôi tự khẳng định mình 42
2.3.1 Sống cùng cái đại ngã của vũ trụ - “ta nhìn hoa bay” 43
2.3.2 Hòa mình trong cảm xúc mãnh liệt về tánh đạo - “chao ôi đừng đập ruồi”47 CHƯƠNG 3 PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ HAIKU CỦA KOBAYASHI ISSA 50
3.1 Tứ thơ và khoảnh khắc độc sáng 50
3.2 Độc thoại – đối thoại trong thơ 53
3.3 Thiên nhiên – hóa thân của cái tôi trữ tình 57
KẾT LUẬN 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65 PHỤ LỤC THƠ HAIKU CỦA KOBAYASHI ISSA
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Khi nói về nguồn gốc nảy nở và lịch sử phát triển của thơ ca, Hêghen cho
rằng: “Thơ bắt đầu từ cái ngày con người cảm thấy cần phải tự biểu hiện lòng mình” [20, tr.103] Chính vì vậy, thơ ca tự bao giờ đã được xem là tiếng nói của
tình cảm, cảm xúc Mỗi thi phẩm là nơi nhà thơ gửi gắm vào đó những trăn trở, suy
tư, những xúc cảm sâu xa của tâm hồn hay những rung động thoáng qua
Đến với Nhật Bản, chúng ta có cơ hội tiếp nhận thơ haiku - những vần thơ nhỏ bé chứa nhiều khoảng lặng để rung động với thứ tình trừu tượng vô ngôn, cái chi tiết cụ thể mà vô ảnh vô hình, cái chợt hiện trong lòng vừa xa xôi vừa gần gũi để
có những phút giây lắng lòng mình cảm nhận và đắm chìm trong những điều tuyệt diệu mà cuộc sống ban tặng Không ít những tên tuổi đã xuất hiện trưởng thành cùng nâng haiku lên để tỏa hương trên thế giới như Basho, Issa, Buson, Chiyo, Sora, Shiki… Người đọc có thể bắt gặp cái khoảnh khắc im ắng được trở về chốn cũ khi đọc thơ Basho, cái tĩnh của mặt ao trước cơn mưa rào mùa hạ trong những vần thơ của Sora, sự tĩnh lặng quyến luyến buổi chia tay khi đến với thơ Shiki và lắng lòng mình hòa tan vào cảm xúc của nhà thơ để cảm nhận tiếng lòng đang khát khao trong thơ Kobayashi Issa…
Đọc những vần thơ haiku của Kobayashi Issa, ta như thấy thoát ra tiếng nói vang vọng từ một thế giới thoát trần, hư không nhưng hàm chứa nội lực siêu nhiên
vô cùng Độc giả nhớ đến ông bởi giọng thơ mới lạ qua những nốt nhạc mang
tên“số phận”, nó bắt nhịp từ chính cuộc đời nhiều đắng cay tủi khổ Dường như ở
Kobayashi Issa người thơ và thơ đã đạt đến sự đồng điệu tuyệt đối để tiếng thơ cất lên tiếng lòng vang động Một cảnh, một tình đủ gây ra xao xuyến khiến thi sĩ đặt bút ghi lại tâm sự của nỗi lòng bằng những hình ảnh, biểu tượng đầy sức gợi Bên cạnh đó, Kobayashi Issa còn để lại trong thơ cái tôi trữ tình thể hiện độc đáo đầy cảm xúc đối với thế giới và con người thông qua lăng kính cá nhân của chủ thể sáng tạo và việc tổ chức các phương tiện thơ trữ tình, tạo ra một thế giới tinh thần riêng biệt
Trang 6Với mong muốn đi sâu vào tìm hiểu những nét đặc sắc trong thế giới thơ của
Kobayashi Issa, tác giả khóa luận chọn nghiên cứu đề tài “Cái tôi trữ tình trong thơ haiku của Kobayashi Issa” Tiếp cận với đề tài, tác giả khóa luận hi vọng góp cái
nhìn đầy đủ, kĩ lưỡng, có hệ thống về cái tôi bản ngã của một trong những nhà thơ
đã góp phần đưa thơ haiku vươn tỏa thế giới Đây cũng là dịp để hiểu phần sâu lắng nhất về tâm hồn, tình cảm, bản lĩnh và tài năng của thiền sư - thi nhân
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về thơ haiku nói chung và thơ haiku của Kobayashi Issa nói riêng trong thời gian qua đã đạt được những thành tựu cơ bản trên nhiều phương diện như: sưu tầm, dịch thuật, biên soạn… cho đến các công trình nghiên cứu, các bài viết, bài phê bình Hầu hết các công trình đều công phu và có giá trị hết sức lớn lao giúp người đọc phát hiện một số đặc điểm nổi bật về thơ haiku của Issa Tuy nhiên, nghiên cứu về tác giả này còn rất nhiều khoảng trống khiến độc giả phải tìm tòi, suy ngẫm Để nghiên cứu đề tài này, tác giả khóa luận đã sử dụng các công trình có liên quan sau đây như nguồn tài liệu để tham khảo:
Đầu tiên phải nhắc đến là Nhật Chiêu (một dịch giả- một nhà nghiên cứu) đã
có rất nhiều công trình nghiên cứu nhằm mang haiku đến gần với tâm hồn người Việt Nam:
Với công trình “Nhật Bản trong chiếc gương soi” (1995), tác giả đã đưa
người đọc đến với huyền thoại, phụ nữ, thiền tông, mĩ thuật, sân khấu, tiểu thuyết, kịch rất riêng của Nhật… Hiện ra rõ nét nhất để ngắm nhìn lâu nhất trong thế giới
gương ấy là thơ haiku đặc biệt những vần thơ của Kobayashi Issa bởi “nhà thơ Kobayashi Issa thích dùng những hình ảnh bình thường nhỏ nhoi” [1, tr.23] nó
đồng điệu cùng hồn thơ của Kobayashi Issa và thực sự đã lay động tâm hồn của người đọc
Nhật Chiêu còn đem đến“Câu chuyện văn chương phương Đông” (1997)
tuyệt đẹp và dẫn dắt người đọc đi sâu vào khám phá thế giới thơ haiku của Nhật Bản Chỉ gói gọn trong khoảng 200 trang nhưng đã mở ra một thế giới muôn màu cung cấp cho bạn đọc một nguồn tư liệu khá phong phú Chúng ta không chỉ có dịp
Trang 7làm quen với những tác phẩm văn chương Ai Cập, Lưỡng Hà, Ba Tư mà còn có cơ hội đến với Nhật Bản ngắm hoa anh đào, xem kịch Nô, uống trà đạo và cùng nhau thưởng thức những vần thơ haiku mà nhà phê bình nổi tiếng Pháp Roland Barthes
có nhận xét tinh tế như sau: “Sự ngắn gọn của thơ haiku không phải là vấn đề hình thức, haiku không phải là một tư tưởng phong phú rút vào một hình thức ngắn, mà
là một sự tình vắn tắt đã tìm ra được hình thức vừa vặn của mình” [2, tr.208] Qua
lời nhận xét này tác giả có liên hệ đến thơ haiku của Kobayashi Issa và cho chúng ta thấy sự gặp gỡ trong thơ haiku như một duyên kiếp vừa vặn với nhà thơ
Trong vườn“Thơ ca Nhật Bản” (1998), Nhật Chiêu cũng đã dành khá nhiều trang viết về cuộc đời của thi sĩ Issa“ Kobayashi Issa sinh ra đời dường như để nếm trải mọi điều bất hạnh trần ai” Cũng như Basho, Kobayashi Issa đã thực hiện
những cuộc du hành và đó chính là cuộc hành hương của thi ca Với Kobayashi Issa, haiku chính là thi ca của những con đường ghi lại cuộc đời ông Nhật Chiêu
cùng độc giả đã nhận xét: “Đọc thơ Kobayashi Issa, khó mà không yêu ông Thơ ông luôn thu hút sự đồng cảm Có một trái tim trần xao xuyến đập sau mỗi dòng thơ ấy… Thơ Kobayashi Issa đậm đặc cái tôi trữ tình, vốn là điều ít thấy trong thơ haiku” [3, tr.163] Trải qua bao đau thương mất mát của cuộc sống, Kobayashi Issa
đều dồn hết lại và gửi gắm vào từng trang thơ Chỉ với mười bảy âm tiết nhưng chính là những trang nhật kí ghi lại ngắn gọn nhất tất cả tâm tư, tình cảm của nhà thơ Thơ như người bạn cảm thông chia sẻ, gần gũi nhất để Kobayashi Issa có thể trút bầu tâm sự Kobayashi Issa đã đến với thơ nhẹ nhàng và gần gũi như vậy
Một công trình dày dặn khi viết về thơ ca Nhật Bản đặc biệt là thơ haiku chúng ta phải kể đến “3000 thế giới thơm” (2007) Trong đó có bài viết về cuộc đời
Kobayashi Issa - Kobayashi Issa vốn là tín đồ của Tịnh Độ Tình yêu vô hạn của đức A Di Đà đối với chúng sinh trong cõi Ta bà đã ảnh hưởng sâu xa đến tình yêu
muôn loài mà ta thấy biểu hiện huy hoàng: “Thơ Kobayashi Issa là bài ca não lòng
về định mệnh, định mệnh của riêng ông và định mệnh của nhân gian” [4, tr.216]
“Kobayashi Issa nhà thơ của nhân tình” - đây chính là lời nhận xét của tác giả trong công trình “Văn học Nhật Bản từ khởi thuỷ đến 1868” (2009) Kobayashi
Trang 8Issa đi giữa chúng ta - một tâm hồn bao lần tả tơi đau xót nhưng cũng đã bao lần
làm mùa xuân, làm cánh bướm, làm tình yêu của con người thức dậy: “Kobayashi Issa đưa vào thế giới thơ haiku những tâm hồn thơ dại nhất, những sự vật bé mọn, những côn trùng gần gũi, những con thú khả ái… và những ân tình xao xuyến nhất”
Lê Từ Hiển - Lưu Đức Trung trong công trình “Hai-ku Hoa thời gian”
(1966) đã cung cấp một cái nhìn mới mẻ để khám phá vẻ đẹp hồn thơ Nhật Bản với
tứ trụ thơ haiku: Basho, Buson, Issa, Shiki với những phong cách riêng - một Basho
“cao nhã với hồn thu cô liêu, bi cảm” - một Buson “rạo rực xuân tình” - một Shiki
“khao khát cách tân để tự nhiên hân hoan” và hơn thế nữa đó là một Issa “chung trà vô hạn tình thương giữa cõi đau trần ai” Hương haiku đã lan tỏa ra khắp thế
giới, có rất nhiều độc giả khi đọc thơ haiku của Kobayashi Issa đã đồng cảm với thi
sĩ trong mọi nỗi đau và dành tình cảm đặc biệt cho những vần thơ nhỏ bé đó
Nguyễn Nam Trân đã phác thảo chiều dài lịch sử hình thành và phát triển của
văn học Nhật Bản qua công trình “Tổng quan lịch sử văn học Nhật Bản” Trong đó, tác giả có nghiên cứu về thơ Issa và đưa ra nhận xét: “Tác phẩm của ông bộc lộ tính nông dân, kể lại những lao đao và sinh kế, cảnh ngộ thương tâm vợ chết, con chết Ông trình bày mọi việc một cách thẳng thắn, đầy cá tính Thơ ông đầy lòng thương
kẻ yếu, đậm đà tình người, sử dụng ngôn ngữ địa phương, tiếng lòng” [24, tr.210]
Tác giả cho rằng, thơ haiku của Issa đi vào chiều sâu lòng người bởi sự chân thật tuyệt đối Chính điều này đã thu hút được sự đồng cảm của nhiều người
Cùng với hai nhà nghiên cứu trên, Lê Thiện Dũng trong việc dịch cuốn “Hài
cú nhập môn” (2000) của Harold G.Henderson đã nhận ra một số điểm cơ bản trong
thơ haiku của Kobayashi Issa, đặc biệt là những cảm nhận tinh tế và khá chính xác
Trang 9trong việc nhận diện cái tôi trữ tình của Kobayashi Issa trong thơ: Issa làm thơ thổ
lộ tâm tình với chúng ta, trình bày nỗi đau trong thâm tâm, Issa đã làm thơ bộc lộ xúc cảm mãnh liệt về tính đạo Issa có khuynh hướng phóng rọi bản thân và niềm ngã ái vào những gì ông viết Chính vì vậy người ta hiểu tại sao thơ Issa lại được yêu quý đến vậy Tất cả những gì người đọc phải làm là tự đặt mình vào chỗ của Issa
Nguyễn Anh Dân, tác giả của bài viết: “Con người nghệ thuật trong thơ Kobayashi Issa” [28], đã nghiên cứu khá thành công về kiểu con người cá nhân,
con người hoài nghi, con người tình yêu, con người lạc quan, lạc lõng… được thể hiện trong thơ haiku của Kobayashi Issa Các sắc thái khác nhau của con người nghệ thuật trong thơ Issa phần nào đã minh chứng cho tính phức tạp của tình cảm con người trong thơ ông
Thái Bá Tân - một dịch giả cũng gắn bó khá nhiều với thơ haiku Khi dịch hơn 1000 bài thơ của Issa từ tiếng Anh của David Gerald sang Tiếng Việt, Thái Bá
Tân nhận định rằng: “Khác với Basho khắc khổ và Buson triết lý, thơ Issa đầy tính nội tâm và trắc ẩn, thường đi sâu và từng chi tiết nhỏ của cuộc sống Bất chấp đời riêng đầy khó khăn, thơ ông trong sáng và thường sử dụng nhiều lối nói nông thôn giản dị” [30]
Như vậy, điểm qua một số công trình có liên quan đến đề tài kể trên ta thấy rằng: các tác giả đã có những nhận xét, đánh giá khá sâu sắc về một vài biểu hiện về cái cái tôi trữ tình trong thơ Kobayashi Issa Trên cơ sở đó, tác giả khóa luận tiếp tục đi sâu phân tích và hệ thống hóa các biểu hiện giúp cho việc tiếp cận và lĩnh hội thơ haiku được dễ dàng và sâu sắc hơn; đồng thời qua đó khẳng định phong cách
Kobayashi Issa qua thơ haiku
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Cái tôi trữ tình trong thơ haiku của Kobayashi
Issa thể hiện trên các bình diện nội dung và nghệ thuật
3.2 Phạm vi nghiên cứu: 200 bài thơ haiku của Kobayashi Issa qua bản dịch của Nhật Chiêu và Thái Bá Tân Ngoài ra, tác giả khóa luận còn tham khảo thêm
Trang 10các bản dịch của Lê Thiện Dũng, Lê Từ Hiển - Lưu Đức Trung, Đoàn Lê Giang… Tất cả các cứ liệu trên tác giả khóa luận đã chọn lọc và tập hợp ở phần phụ lục cuối
đề tài
4 Mục đích nghiên cứu
Như chúng ta đã biết cái tôi của nhà thơ ngoài đời thuộc phạm trù xã hội học, còn cái tôi trữ tình trong thơ thuộc phạm trù nghệ thuật Chính vì vậy, việc nghiên cứu cái tôi trữ tình là để thấy cái tôi nhà thơ đã được nghệ thuật hóa trở thành một yếu tố nghệ thuật phổ quát trong thơ, một thành tố trong thế giới nghệ thuật của tác phẩm như thế nào Trên cơ sở tham khảo, tiếp thu có hệ thống và chọn lọc những kết quả đã nghiên cứu về thơ haiku của Kobayashi Issa, tác giả khóa luận bước đầu
đi sâu nhận diện những giá trị đặc sắc thể hiện được cá tính, con người nghệ thuật của nhà thơ khi đã trao gửi tâm tư tình cảm của mình chỉ vẻn vẹn trong mười bảy
âm tiết ngắn gọn nhưng truyền tải được nhiều ý nghĩa Qua đó, nhằm khẳng định những đóng góp và vị trí thơ haiku của Kobayashi Issa trong nền thơ ca của xứ sở Phù Tang
Đồng thời, với việc nhận diện cái tôi trữ tình luận văn còn hướng đến việc khắc họa vẻ đẹp chân dung tâm hồn một nhà thơ trong những năm tháng đầy thử thách của cuộc đời nhằm khẳng định tài năng, cá tính sáng tạo của tác giả Qua đây, tác giả khóa luận hi vọng có được một điểm nhìn tham chiếu để đánh giá khách quan và chính xác hơn về sự vận động, phát triển của dòng văn học Nhật đặc biệt là thơ ca mà tiêu biểu là thơ haiku
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài “Cái tôi trữ tình trong thơ haiku của Kobayashi Issa” tác giả khóa luận sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu
trong đó nổi bật là các phương pháp sau:
5.1 Phương pháp thống kê tài liệu: Thơ haiku của Kobayashi Issa được khá nhiều dịch giả, tác giả nổi tiếng trong và ngoài nước nghiên cứu Có rất nhiều tác phẩm bằng tiếng nước ngoài được các nhà nghiên cứu dịch ra nhiều bản Tiếng Việt Bên cạnh đó cũng có khá nhiều các sách, báo, trang web nói về thơ haiku… Đây là
Trang 11tài liệu vô cùng quý báu nhưng nó không ở cùng một nơi mà rải rác, chính vì vậy tác giả khóa luận phải tìm kiếm và thống kê số lượng các bài thơ liên quan để làm
tư liệu phục vụ cho đề tài của mình
5.2 Phương pháp phân tích - tổng hợp: Nhằm làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu tác giả khóa luận đã dựa trên cơ sở các tài liệu đã tìm được, sắp xếp theo từng mục, từng phần rồi tiến hành phân tích, đi sâu vào các bài thơ để tìm ra những nét đặc biệt mà thể hiện rõ cái tôi của nhà thơ Từ phân tích đó chúng tôi tổng hợp để đi đến kết luận nhất quán cho đề tài
5.3 Phương pháp so sánh - đối chiếu: Trong quá trình nghiên cứu, tác giả khóa luận có so sánh đối chiếu với một số thể loại, nhà thơ tiêu biểu (đặc biệt là một
số nhà thơ Việt Nam) để liên hệ so sánh và tìm ra nét nổi bật trong thơ haiku của Kobayashi Issa
6 Bố cục khóa luận
Ngoài mở đầu, kết luận thì nội dung khóa luận chia làm 3 chương cụ thể như sau:
Chương 1:Kobayashi Issa và vấn đề cái tôi trữ tình trong thơ haiku
Chương 2:Hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ haiku của Kobayashi Issa Chương 3: Phương thức thể hiện cái tôi trữ tình trong thơ haiku của
Kobayashi Issa
Trang 12NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 KOBAYASHI ISSA VÀ VẤN ĐỀ CÁI TÔI TRỮ TÌNH
TRONG THƠ HAIKU 1.1 Cái tôi trữ tình trong thơ ca
Khác với văn xuôi, thơ trữ tình là sự bộc bạch trực tiếp cảm xúc của chủ thể
sáng tạo, của cái tôi cá nhân Người ta gọi thơ trữ tình tựa như“những bản tốc kí nội tâm” nghĩa là sự tuôn trào hình ảnh và từ ngữ trong một trạng thái xúc cảm mạnh
mẽ của người sáng tạo Trong thơ trữ tình nổi bật lên đó là hình tượng cái tôi trữ tình Đây là một thuật ngữ thuộc lý luận văn học Đó chính là tâm trạng, cảm xúc, thế giới nội tâm của riêng nhà thơ trước hiện thực khách quan được ghi lại rõ nét trong thơ Có rất nhiều nhà nghiên cứu đã quan tâm và đào sâu vấn đề này:
GS Hà Minh Đức đưa ra khái niệm như sau: “Cái tôi trữ tình là cái tôi của
ta ́ c giả được nghê ̣ thuật hóa Đó là nhân vật trữ tình quan trọng trong thơ Sự hiê ̣n diê ̣n này bộc lộ ở cốt cách, bản sắc của một lối cảm nghĩ sâu xa hơn chính là nội dung cu ̉a tiếng hát tâm hồn” [7, tr.74]
Nhà nghiên cứu PGS.TS Trần Khánh Thành cho rằng: “Cái tôi trữ tình trong thơ rất phong phú, đa dạng có khi biểu hiê ̣n trực tiếp, có khi biểu hiê ̣n qua sự hóa thân, co ́ khi lại biểu hiê ̣n qua tình cảm, thái độ, cách nhìn đối tượng mà họ miêu tả
Ca ́ i tôi trữ tình có thể hiê ̣n diê ̣n qua chữ tôi, chữ ta hoặc chúng ta Hoặc có khi không hiê ̣n diê ̣n trực tiếp nhưng vẫn có mặt khắp mọi nơi, xuyên thấm vào mọi yếu
tô ́ của tác phẩm, đóng dấu ấn chủ quan vào tác phẩm Bởi thế, có thể khẳng đi ̣nh
ră ̀ ng cái tôi trữ tình là yếu tố thường tại trong thơ trữ tình Tìm hiểu cái tôi trữ tình trong ta ́ c phẩm thơ là khôi phục sắc thái, diê ̣n mạo bản sắc tâm hồn thi nhân trong
Trang 13tượng Đó là thế giới của cảm xúc, suy tư, khao khát, nỗi niềm nên vô hình, vô ảnh,
bí ẩn, trừu tượng” [6, tr.956]
PTS Lưu Khánh Thơ có cái nhìn mới “Cái tôi trữ tình mang nhiều màu sắc phong phú, đa dạng làm nên những sáng tạo mới trong cả một thế hệ thơ ca” [6,
tr.999]
Có thể nói, vấn đề cái tôi trữ tình được khá nhiều nhà nghiên cứu quan tâm,
tìm hiểu Dù có nhiều cách hiểu khác nhau như vậy nhưng trong mô ̣t quan niê ̣m chung nhất thì khái niê ̣m cái tôi trữ tình được xác đi ̣nh là mô ̣t yếu tố quan tro ̣ng trong thế giới nghê ̣ thuâ ̣t thi ca, là thế giới tinh thần của nhà thơ được thể hiê ̣n với những sắc thái đa da ̣ng, phong phú thông qua viê ̣c tổ chức các phương tiê ̣n của thơ trữ tình và lớn hơn cái tôi tác giả Ngoài ra, cái tôi trữ tình còn bộc lộ rõ nét tài năng
và cá tính sáng tạo của nhà thơ
Cái tôi nhà thơ có mối quan hệ trực tiếp và thống nhất với cái tôi trữ tình trong thơ Nhà thơ là nhân vật trữ tình trung tâm, là cái tôi bao quát trong toàn bộ sáng tác Những sự kiện, hành động, tâm tình, kí ức trong cuộc đời riêng cũng in đậm nét trong thơ Cái tôi nhà thơ thể hiện qua những cảnh ngộ, trực tiếp giãi bày những nỗi niềm thầm kín Bên cạnh đó, nó còn hiện diện qua cách nhìn, cách nghĩ, tình cảm thái độ trước thế giới khách quan Còn cái tôi trữ tình chính là cái tôi nhà thơ đã được nghệ thuật hoá trở thành một yếu tố nghệ thuật phổ quát trong thơ trữ tình Tuy nhiên, cái tôi trữ tình và cái tôi của nhà thơ không hề đồng nhất Cái tôi của nhà thơ ngoài đời thuộc phạm trù xã hội học, còn cái tôi trữ tình trong thơ thuộc phạm trù nghệ thuật Như vậy, cái tôi trữ tình không đồng nhất và trùng khớp với cái tôi nhà thơ mà là sự thể hiện toàn bộ đời sống tinh thần và tư duy sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ Nó là kết quả của sự chọn lọc, kết tinh và thăng hoa những suy
tư, cảm xúc và trải nghiệm của cái tôi nhà thơ Không thể đồng nhất nhưng cũng không thể tách biệt mối quan hệ này Có thể xem cái tôi nhà thơ như gốc gác, ngọn nguồn từ đó tỏa ra nhiều dạng thức của cái tôi trữ tình: Có khi dưới dạng trực tiếp giãi bày tình cảm, một câu chuyện, một cảnh ngộ, một sự việc… gắn với cuộc đời riêng của tác giả Trong trường hợp này, cái tôi trữ tình trong thơ thường chính là
Trang 14cái tôi tác giả Ở trường hợp khác, những cảnh ngộ, những sự việc được phản ánh không phải là của nhà thơ Thông qua những gì mình đã được quan sát, chứng kiến
mà nhà thơ bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc của mình Một trường hợp khác nữa là những bài thơ trữ tình viết về một loại nhân vật nào đó, có khi là những điển hình có thực ngoài đời Đó là nhân vật trữ tình của sáng tác tồn tại bên cạnh cái tôi trữ tình của nhà thơ Trong sự vận động của thời gian và sự tác động của bộn bề cuộc sống thì cái tôi nhà thơ và cái tôi trữ tình cũng chịu sự tác động nhiều chiều từ đó
Vậy bản chất cái tôi trữ tình thể hiện ở khía cạnh nào?
Bản chất của cái tôi trữ tình là khái niệm tổng hòa nhiều yếu tố theo quy luật nghệ thuật bao gồm cả ba phương diện:
Thứ nhất, cái tôi trữ tình có bản chất chủ quan cá nhân Nó tự biểu hiện, tự phơi bày thế giới nội tâm cá nhân đồng thời là hệ quy chiếu thẩm mĩ mang tính chủ quan, chuyển đổi hiện thực khách thể bên ngoài thành hiện thực chủ thể mang đậm dấu ấn cá nhân Đây chính là mối liên hệ giữa tác giả và cái tôi trữ tình
Thứ hai, cái tôi trữ tình có bản chất xã hội, nhân loại Nó tồn tại trong nhiều mối quan hệ: truyền thống văn hóa, lịch sử, thời đại… Đây chính là mối liên hệ giữa cái tôi trữ tình và cái ta cộng đồng
Thứ ba, cái tôi trữ tình có bản chất nghệ thuật, thẩm mỹ nên nó luôn có xu hướng vươn tới tư tưởng thẩm mỹ và biểu hiện bằng một thế giới nghệ thuật mang tính đặc thù của phương thức trữ tình
Như vậy, có thể khẳng định lần nữa cái tôi trữ tình là một đặc trưng cơ bản của thơ ca, là hình tượng con người nhà thơ soi chiếu vào thơ Qua cái tôi trữ tình ta
có thể thấy được những suy nghĩ, thái độ, tư tưởng của tác giả trước cuộc đời Chủ thể sáng tạo chính là cái tôi trữ tình của nhà thơ hiện diện trong vũ trụ thơ như một hình tượng nghệ thuật toàn vẹn và đặc sắc Cái tôi trữ tình ấy chi phối tất cả mọi mặt của tác phẩm thơ từ thể loại, cấu tứ, hình ảnh, ngôn ngữ…
Dựa vào những khái niệm, cách hiểu trên, tác giả khóa luận quy cái tôi trữ tình về hai phương diện nội dung và hình thức để thuận lợi cho việc trình bày và phân tích:
Trang 15Về nội dung: Cái tôi trữ tình không chỉ là thế giới của cá nhân nhà thơ mà còn
tự nâng mình lên hòa nhập vào tiếng nói văn hóa của thời đại; đồng thời có xu hướng vươn tới giá trị chân - thiện - mĩ
Về hình thức: Cái tôi là thế giới tinh thần nên cần có những phương tiện vật chất để tái hiện đó chính là hệ thống tứ thơ, ngôn ngữ, hình ảnh…
1.2 Cái tôi trữ tình trong thơ ca cổ điển Nhật Bản
Văn chương xứ sở Phù Tang không bắt đầu bằng những sử thi hay những
trường ca đồ sộ như Iliad, Odyssey của Hi Lạp hay Mahabharata, Ramayana của
Ấn Độ mà nó bắt đầu bằng những vần thơ trữ tình ngắn gọn Trong lời tựa của “Cổ kim tập” (Kokinshu) nhà thơ Kino Trurayuki viết: “Từ trái tim con người như hạt giống, thơ ca mọc lên và nảy nở thành vô số lá cây của ngôn từ Bởi con người hào hứng với bao điều mắt thấy, tai nghe, họ tìm cách thể hiện những cảm nghĩ trong trái tim của mình qua thơ ca Khi nghe họa oanh hát trong hoa và ếch nhái trong nước kêu vang, ai lại không thấy là mọi sinh vật đều phát tiết thơ ca Chính thơ ca
đã làm chuyển động đất trời, ngay cả quỷ thần vô hình cũng phải xao xuyến Cũng chính nhờ thơ ca mà cuộc giao lưu của trai gái trở nên tình tứ, êm đềm và tâm hồn các chiến binh trở nên thanh thản Thơ ca bắt đầu từ khi trời đất tựu thành ” [4,
tr.68] Qua lời tựa này có thể thấy rằng thơ ca Nhật Bản hình thành rất sớm Thông qua quá trình vận động và phát triển của lịch sử xã hội và thời đại thì ý thức về cái tôi trữ tình trong lịch sử văn học cổ điển Nhật dần hình thành và phát triển
Cũng như bao dân tộc khác, từ khi bắt đầu hình thành cộng đồng, nền văn học Nhật Bản ra đời đánh dấu bằng sự xuất hiện của văn học dân gian đó là những câu
ca đơn giản dễ thuộc thể hiện kinh nghiệm sống, kinh nghiệm làm việc, cao hơn là tình yêu quê hương, và ca ngợi phong cảnh Ngay đầu thế kỷ thứ VIII, thiên hoàng Nhật Bản đã lệnh cho tập hợp biên soạn các tác phẩm dân gian thành một bộ sách Đây được xem là thời khắc đánh giá sự ra đời của văn học Nhật Bản trong đó có thơ
ca Thơ ca cổ điển Nhật Bản được chia làm ba thời kì lớn (Waka, Renga, Haiku) với những thể thơ đặc trưng mang đậm dấu ấn thời kì đó (tanka, renga, haiku)
Tanka là thể thơ đầu tiên, ra đời sớm nhất (từ khởi thủy đến thế kỉ XIII) Mỗi
Trang 16bài tanka tuy chỉ có 5 dòng, 31 âm tiết nhưng ý tình đều trọn vẹn Đó thường là một câu chuyện tình được cô đọng chặt chẽ, hàm súc trong số lượng ngôn từ hữu hạn, hình ảnh thơ trang nhã, mực thước, dung dị vọng ra tiếng gọi của đại dương tình yêu và đại dương thiên nhiên làm rung động trái tim con người Bên cạnh đó, ngôn ngữ thơ tanka là loại ngôn ngữ quý tộc được trau chuốt một cách tinh tế, mượt mà
nên dễ lay động lòng người Tập thơ đánh dấu thời kì đầu của tanka là Vạn diệp tập (Manyoshu) - công trình độc nhất vô nhị, “ngọn hải đăng” của thơ ca Nhật Bản Vạn diệp tập (hay còn gọi là tập thơ vĩ đại mười ngàn chiếc lá), ra đời thế kỉ VIII
như chiếc gương soi vĩ đại, phản ánh buổi bình minh của dân tộc Tập thơ gồm 20 quyển với 4500 bài thơ gồm các bài thơ dân gian, thơ bác học, những khúc bi ca trữ tình về tình yêu của con người với thiên nhiên Thơ tanka trở nên thịnh hành trong giới quý tộc, giới tu hành và ngày càng trở nên tinh tế, trau chuốt khi cung đình trở thành trung tâm của các hoạt động văn học
Theo huyền thoại Nhật Bản thì bài thơ đầu tiên trên đời do thần bão tố Susanoo sáng tạo, đó là khởi nguyên của tanka:
Dựng lên tám lớp mây Tám hàng phên dậu Trên xứ Izumo Che người yêu dấu Tám hàng phên xây
Bài thơ này thần Susanoo làm tặng người vợ yêu quý của mình là nàng Kushinada Đây chính là tiếng hát đầu tiên, bài thơ đầu tiên ghi lại những cảm xúc tuyệt đẹp của con người Bài thơ tượng trưng cho Izumo, xứ sở của mây
Trong Vạn diệp tập nổi lên rất nhiều nhà thơ xuất sắc như: Kakinomoto no
Hitomaro, Akahito, công chúa Nukada, tiểu thư Kasa, tiểu thư Sakanoe…
Ngoài ra, còn có nhiều tập thơ khác mà các vua trị vì cho ra đời để làm khuôn
mẫu cho việc sáng tác thơ dưới thời mình Cổ kim thi tập (905) là tập đầu tiên như
thế Nó gồm 1.100 bài thơ do các đại thần và mệnh phụ viết để phản ánh các lý
tưởng của văn hóa cung đình “lấy đời sống quý tộc làm đề tài, tinh tế trong tưởng
Trang 17tượng, dí dỏm về giọng điệu, khéo léo khi chọn chữ đặt câu” Tới Tân cổ kim thi tập
(1205) gồm 1978 bài thơ thì tanka đạt tới đỉnh cao tinh tế của thể loại Thi pháp của chúng là ám gợi, xen kẽ hình ảnh Điểm đặc biệt ở tanka là loại thơ trữ tình, rất giàu
nữ tính, đó là những xao xuyến không dứt, luôn để lại dư âm trong lòng người:
Bên bờ dốc đá Thác tuôn xuống đồi
Và loài dương sỉ Cũng vừa sinh sôi
À, mùa xuân đến rồi!
Có thể nói về mặt nội dung, thơ tanka là cách biểu hiện bằng ngôn ngữ những cảm xúc nguyên vẹn thường gặp trong cuộc sống hàng ngày, nó giống như nhật kí Khi đọc lại thơ tác giả sẽ thấy những kỷ niệm sống lại tươi nguyên như thuở ban đầu Tanka được người Nhật yêu thích và sáng tác nhiều bởi nó không tuân theo quy tắc phải có quý ngữ, được gieo vần tự do, diễn tả uyển chuyển bất kì tình cảm, cảm xúc nào mà con người có được
Từ những công trình thơ ca cổ trên, chúng tôi nhận thấy cái tôi trong thời đại này tìm thấy tiếng nói chung của tập thể Nó không bộc lộ riêng biệt rõ rệt mà biểu hiện nhiều hơn là cái tôi cộng đồng, cái tôi xã hội Cảm hứng của nhà thơ là hướng
về cái chung của dân tộc, của thời đại Chủ thể trữ tình rất đa dạng không phân biệt nam nữ bao gồm thiên hoàng, quý tộc, nông dân, sư sãi, lính tráng và cả khuyết danh… Có thể thấy, cái tôi trữ tình trong thơ tanka mang tính chất phi cá thể hóa,
nó không thể hiện cảm xúc dữ dội như cuồng nộ, uất hận, kinh hoàng mà là sự kết hợp của tình cảm con người với xã hội, với thiên nhiên bằng ngôn ngữ mã hóa Như vậy, trong thơ tanka đã có sự xuất hiện của cái tôi trữ tình nhưng chưa thể hiện rõ nét bởi các tác giả chưa có ý thức về sự tồn tại của mình như một cá thể độc lập Đến thời Renga (từ thế kỉ XIII đến thế kỉ XVI) nổi bật lên là thể thơ renga
(còn được gọi là tsukuba), bắt đầu gây thanh thế với sự xuất hiện các bậc thầy có
danh hiệu Hananomoto (dưới bóng anh đào) Nijo Yoshimoto diễn tả họ như sau:
“Dosho, Jakunin, Musho và những người khác thường tụ hợp đông đảo mọi tầng
Trang 18lớp dưới bóng hoa đào ở Bishamondo và Hosshoji mỗi mùa xuân về để soạn renga”
[4, tr.167] Gốc renga cũng như tanka theo hình thức 5-7-5-7-7 nhưng khác là tách thành hai khổ 5-7-5 và 7-7 do hai người nối nhau làm Lúc đầu nó như là một trò chơi của các nhà thơ tanka Nhưng dần dần renga được làm nghiêm túc hơn và kéo dài, khi có thêm nhiều nhà thơ tham gia sáng tác cùng lúc Trong bài renga, khổ đầu được gọi là hokku (phát cú) và quy chiếu theo mùa trong năm, còn các khổ 5-7-5 và 7-7 tiếp theo thì cứ kéo dài cho đến khi kết thúc cuộc làm thơ Số khổ thơ của một bài renga là khác nhau, thông thường là 36, 44, 50 và 100 hoặc 1000 khổ nhưng cũng có bài lên đến 10.000 khổ Thi pháp renga nói chung cũng giống như tanka nhưng do là thơ của nhiều người làm nối lại nên renga còn có thêm những quy định riêng Ví như khi vào cuộc sáng tác, các nhà thơ phải biết từng hình ảnh đặc biệt được dùng mấy lần trong bài Nếu là bài renga 100 khổ thì hình ảnh mặt trời buổi sáng hay hoa mận được dùng một lần; mặt trăng mùa hè hay mặt trời hai lần; hoa anh đào ba lần; tuyết bốn lần… Các nhà thơ Hananomoto hầu hết đều xuất thân từ tầng lớp quý tộc
Thơ renga phát triển đạt đến đỉnh cao hoàn thiện với thiên tài của thiền sư Sogi Dưới đây là trích đoạn tiêu biểu do Sogi và hai đệ tử Shohaku và Osaka đồng sáng tác:
… Sương mù đêm đêm Bạc đầu ta thấy Mùa đông tê tái Hạc trong bãi sậy Cất mình bay lên (Sogi) Gió chiều lên theo gió Khi ngư phủ vượt thuyền
(Shohaku) Sương mù che lối
Đi giữa mênh mông
Trang 19Mà không tầm nhìn (Socho) Làng xa trong núi Bao giờ gặp xuân (Sogi)
Dù hoa rơi rụng Vẫn còn lưu lại Cành xanh lạ thường (Shohaku) Dưới bóng cây dạo bước Trên đường long lánh sương
(Socho) Nhà tôi thềm đá Thu cũng đến gần Với lệ rưng rưng (Sogi) Trên tay áo cũ Trăng từng quen thân (Shohaku)
Từ bỏ bụi trần Niềm vui ẩn sĩ Thật là vô song (socho) Như con thuyền nhẹ Trên biển bình yên (Sogi)
…
Khi đọc thơ renga ta thấy cảnh mùa chuyển đổi rất nhanh Bởi vì theo dòng cảm hứng, một đề tài mới nảy sinh các nhà thơ thản nhiên bước sang mùa khác,
Trang 20không chịu sự lệ thuộc của riêng khoảnh khắc nào Thơ renga được nhiều người cùng sáng tác như vậy thì chắc chắn nó mang đặc trưng riêng của cá nhân từng người với phong cách viết khác nhau nhưng hòa chung cái tôi tập thể Tuy người làm thơ thường bị bó buộc về cảm xúc và hạn chế về sáng tạo nhưng đây cũng là bước đầu định hình cái tôi trữ tình riêng biệt
Bước vào thế kỷ XVI (thời haiku) do có thêm nhiều người biết chữ và ham làm thơ nên thơ renga trở nên phổ biến hơn, các quy tắc của nó cũng được nới lỏng Lúc này có một số bài renga được làm với mục đích hài hước, châm chọc gọi là haikai Haikai là cách gọi giản lược của haikai no renga (bài hài liên ca) tức thể liên
ca nghiêng về trào lộng, nhẹ nhàng, phóng túng Nhưng trong tay bậc thầy Matsuo Basho haikai trở thành một hình thức thơ nghiêm túc, chuyên chở tư tưởng chiêm nghiệm kiếp sống của cõi người (sabi) Suốt cuộc đời lãng du của mình, Basho làm nhiều khổ hokku, khi thì để mở đầu một bài haikai, có lúc lại để độc lập, không chờ
có những khổ tiếp theo Những hokku độc lập thành một bài thơ như vậy về sau được gọi là haiku
Mái lều tả tơi
Sẽ thành ngôi nhà khác Tết về, trẻ con chơi (Basho, Thái Bá Tân dịch)
Thoát ra khỏi sự giải trí đơn thuần, thi sĩ Basho đã chọn con đường mà ít ai dám nghĩ, dám sáng tạo theo một phong cách mới: Shofu (tiêu phong) Phong cách này kết hợp giữa yếu tố cao nhã tâm linh của renga cổ điển và sự trào lộng của haikai đương thời để hoàn thiện một loại thơ ngắn mười bảy âm tiết
Tiếp bước con đường “áo chi tế đạo” sau thi sĩ Matsuo Basho là Yosa
Buson, ngọn lửa toả sáng trên thi đàn haiku Vốn là một họa sĩ nên Buson đã đưa vào thơ haiku những hình ảnh và màu sắc mới lạ, khác biệt Con người ấy đã phát hiện nhiều nét chấm phá độc đáo, tô điểm vẻ đẹp mĩ miều, quyến rũ cho một gia tài
đồ sộ trên hai nghìn bài thơ:
Trang 21Trong ngôi chùa cổ Hoa đào nở Người đàn ông đạp lúa (Buson, Lê Thiện Dũng dịch)
Bức tranh mùa xuân chuyển mình từ những vận động của vũ trụ, của con người Những vần thơ ấy thật bình dị mà thấm đẫm tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống sâu sắc Tinh tế, tài hoa là vậy, bởi nó có sự kết hợp hài hòa giữa tính chất biểu hiện của hội họa và tính chất gợi tưởng của thi ca Đó là mùa của tình yêu, hạnh phúc, mùa của những xúc cảm trong trái tim con người vút tiếng nói thanh tân Một nhà thơ nổi danh sau đó phải kể đến đó là Kobayashi Issa Với Issa, cuộc đời đầy bất hạnh là mảnh đất “màu mỡ” để “cái tôi trữ tình” được bộc lộ qua những dòng thơ ngắn ngủi Đó là những bài ca não lòng định mệnh của riêng tác giả và định mệnh của nhân gian này:
Tôi chạm nhẹ nhàng Vào mọi cái Thế mà luôn bị gai châm
(Thái Bá Tân dịch)
Cả ba cây đại thụ nói trên đều đem đến cho haiku những khúc hoan ca về cuộc sống, những nét mới mẻ với phong cách riêng Ngoài ra, còn có một số nhà thơ khác sáng tạo thơ haiku như các môn đệ của Basho: Etsujin, Ktoroku…; các nhà thơ cùng thời với Buson: Ryota, Chora; sau Issa: Shiki
Đến thời haiku cái tôi cá nhân, cái tôi trữ tình đã hình thành rõ rệt, riêng biệt với sự tự ý thức cá nhân, tâm hồn ấy thoát ra khỏi tính quy phạm và bộc lộ hết mình
để tiếp xúc trực tiếp với ngoại giới Cái tôi nằm ở trung tâm cảm nhận nguyên tắc thế giới quan Đặc biệt là mối tương giao với thiên nhiên, con người trong thơ luôn
tìm mọi cơ hội để tan biến vào thiên nhiên Do đó, bối cảnh xuất hiện của “cái tôi”
trong thơ ca là bối cảnh thiên nhiên Trong thơ haiku có dấu ấn của mùa (Kigo) - đây là một nét đặc sắc Có Kigo là do thói quen truyền thống của thơ ca Nhật có từ
xa xưa, đặc biệt với loại thơ liên ca (renga), thơ do nhiều người cùng làm, nối tiếp
Trang 22nhau Từ mùa chính là thi pháp của haiku, giúp nó có sức khơi gợi rất cao, vì mùa
có không gian và thời gian rất lớn Hơn thế nữa, bản thân người Nhật quá yêu thiên nhiên, quá yêu sắc màu của những mùa luân chuyển Những từ mùa thường gặp trong thơ haiku: Mùa xuân: oanh, én, bướm, ếch, đào, mơ, liễu ; Mùa hạ: chim cu, đom đóm, ve sầu, chuồn chuồn, hoa bìm bìm, sen ; Mùa thu: ngân hà, trăng, nhạn, quạ, lá phong, cúc ; Mùa đông: sương mù, tuyết, cánh đồng héo úa, năm tàn Bên cạnh đó, thơ haiku còn mang hơi hướng và chứa nhiều cảm thức thẩm mĩ truyền thống của người Nhật Đó là những cảm thức thẩm mĩ tinh tế như cái vắng lặng (Sabi), đơn sơ (Wabi), buồn thương (Aware), nhẹ nhàng (Karumi), u huyền (Yugen)… Những cảm thức thẩm mĩ này đã ăn sâu vào tâm hồn người Nhật vốn dịu dàng, mẫn cảm với thiên nhiên, vũ trụ, tâm linh và tạo nên cảm hứng trong sáng tác thơ haiku:
Mùa hoa mơ ơi Con đường núi mọc Bỗng nhiên mặt trời (Basho-Nhật Chiêu dịch)
A ha daimyò thiên hạ hạ mã
vũ trụ, cái tôi cá nhân hiện diện tươi nguyên giữa cuộc đời với sự tự ý thức
Như vậy có thể thấy rằng lịch sử phát triển thơ ca Nhật Bản là lịch sử phát triển của cái tôi trữ tình Ngay từ thể thơ tanka đã có xuất hiện cái tôi trữ tình nhưng chưa thực sự được thể hiện rõ nét với đặc trưng riêng biệt bởi nó hòa với cái ta chung Chỉ đến thời haiku dưới những bút danh như: Basho, Buson, Issa… với thể thơ haiku thì cái tôi trữ tình mới có những đặc sắc riêng và trở thành phong cách
Trang 23cho mỗi thi sĩ Trải qua thời gian thì cái tôi trữ tình liên tục vận động biến đổi hoàn thiện hơn và phát triển thành một phong cách độc đáo
1.3 Kobayashi Issa - thi sĩ haiku lỗi lạc
Để hiểu đặc điểm, biểu hiện và hình tượng của cái tôi trữ tình trong thơ haiku của Kobayashi Issa, thiết nghĩ việc nắm được những nét khái quát dưới đây về cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ là cần thiết bởi nhà thơ, đời thơ và cái tôi trữ tình, nhân vật trữ tình là một khối thống nhất chi phối và hỗ trợ cho nhau phát triển Kobayashi Issa sinh năm 1763 trong một gia đình trung nông thuộc địa hạt tỉnh Shinano miền trung Nhật Bản Tên đầy đủ là Kobayashi Noboyuki, còn Issa chỉ
là một trong những bút danh của ông
Issa mồ côi mẹ từ năm ba tuổi, sự ra đi của người mẹ đã gây chấn thương tâm
lý quá lớn và đẩy Issa vào sâu trong cái tình yêu cô đơn, khép kín trong tâm hồn Nhưng Mẹ lại là nguồn cảm hứng sáng tạo vô bờ bến cho thi sĩ trên con đường sáng tác thơ ca:
Ôi biển khơi Khi tôi nhìn thấy biển
Mẹ tôi ơi!
(Nhật Chiêu dịch)
Những tưởng nỗi đau mất mẹ sẽ được cha bù đắp nhưng không vài tháng sau cha Issa tái hôn với bà kế mẫu Satsu khi ông mới vừa tám tuổi Cha là một người mềm yếu chính vì vậy sống với dì ghẻ, Issa luôn luôn bị hành hạ, đánh đập suốt thời niên thiếu mà không được sự che chở, dỗ dành từ cha mình Issa chỉ còn biết dựa vào tình thương yêu của bà nội
Ngay từ khi còn nhỏ Issa được theo học một thầy giáo làng, chính thầy giáo
là người đã dạy và truyền cảm hứng sáng tạo thơ haiku từ thuở thiếu thời cho Issa Ngay từ khi 9 tuổi, Issa đã có bài thơ haiku đầu tay xuất phát tự chính cảm xúc, xuất phát từ trái tim thơ ngây của một cậu bé khi đã ý thức được cuộc sống thiếu vắng tình yêu thương và lạc lõng giữa cõi đời Issa ngắm nhìn những đứa trẻ đang được
ba mẹ chăm lo quần áo, cho đi chơi ngày lễ rồi nhìn manh áo tồi tàn trên người mà
Trang 24tủi thân chỉ còn biết chơi đùa với chim cũng như đang lạc bầy:
Đến đây nào với tôi Cùng chơi đùa chim sẻ Không còn mẹ trên đời (Nhật Chiêu dịch)
Năm 14 tuổi bà nội cũng ra đi bỏ lại Issa một mình trơ trọi, sống giữa cuộc đời Issa cứ ngỡ mình đang sống trên một hoang đảo giữa dòng đại dương không có tình thương và bị ghẻ lạnh Chính vì vậy Issa đã bỏ làng ra đi:
Tôi rời bỏ Ngôi làng thân yêu Hoa anh đòa trên núi (Thái Bá Tân dịch)
Tại đây Issa lang thang khắp nơi làm đủ thứ nghề để kiếm sống Bao hạnh phúc, khổ đau, mật ngọt, đắng cay Issa đều đã nếm trải qua:
Mùa thu lạnh Tôi đi nơi nào Cũng thấy người ta có nhà (Nhật Chiêu dịch)
Issa đã thực hiện những cuộc du hành đến nhiều nơi của đất nước, đây cũng chính là những chuyến hành hương của thi ca:
Trên thế giới này Bước đi trên mái địa ngục
Ta nhìn hoa bay (Nhật Chiêu dịch)
Mỗi bước đi của Issa đã rải những mầm xanh của thơ haiku để chúng tiếp tục phát triển
Năm 1787, Issa cùng với Chikua viết thơ haiku nhiều hơn tiếp nối phong cách cao nhã của Basho Năm 1790, Issa trở thành thi tăng và được coi là một trong
ba vị thánh của thơ haiku Nhật Bản (Basho, Buson, Issa) Năm 25 tuổi Issa đã in thơ
Trang 25trong một tuyển tập của thị xã Chikua mang tên thi trường Katsukika
Năm 1801, Issa về thăm quê khi cha mất nhưng sau đó ông lại tiếp tục ly hương bởi sự chiếm đoạt gia tài của cha để lại của mẹ con dì ghẻ Issa lại tiếp tục mang những nét đẹp của haiku bên mình trên khắp mọi nẻo đường tiếp theo và từ đây Issa đã trở thành thi sĩ lỗi lạc
Năm 1816, (53 tuổi) Issa được thừa kế gia sản và trở về Edo sống với một cảm giác lạ kì:
Lạ thay, lạ thay Ngôi nhà thơ ấu ấy Mùa xuân sớm nay (Nhật Chiêu dịch)
Cũng trong thời điểm này Issa lấy vợ một cô gái mới chỉ 26 tuổi tên là Kuki Những tưởng hạnh phúc có thể mỉm cười với Issa từ đây, nhưng tử thần lại tiếp tục cướp đi của ông những người thân yêu: Năm đứa con và sau đó là vợ Đến năm
1826 Issa lập gia đình với người vợ khác để có con nối dõi nhưng cũng li dị, sau đó Issa lấy người vợ thứ ba sinh được một người con sau này còn sống
Ngày 19-12-1827 Issa đã ra đi trong mùa đông đầy tuyết trắng với bài thơ cuối cùng:
Muôn phần tri ân Chăn giường tôi tuyết trắng
Từ Tịnh Độ rơi sang (Nhật Chiêu)
Cuộc đời của Issa như là định mệnh không ai có thể thay đổi được Lê Thiện
Dũng trong hài cú nhập môn có nhận xét “Tính hết mọi lẽ đời là một cuộc đời sầu thảm quá” [26, tr.85] Nhật Chiêu khi nghiên cứu thơ haiku của Issa nhận thấy:
“Issa ra đời như thể cuốn hút tai họa đến với mình” [3, tr.160] Issa là kết tinh của
khổ đau của một đời người phải gánh chịu nhiều tai ương trong cuộc sống Ông đã ghi lại tất cả những tâm sự vào thơ haiku làm cho thi ca thăng hoa để thành một nghị lực cho sự sống như câu nói mà nhà thơ Phùng Quán đã từng tâm niệm:
Trang 26“Có những phút ngã lòng Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy!”
Thơ là gì mà có sức mạnh diệu kỳ đến thế!? Câu trả lời sẽ đến với mỗi chúng
ta từ sự nghiệm sinh của chính mình Thơ là thơ nhưng thơ cũng chính là cuộc đời Thơ như cuốn nhật kí ghi lại cả cuộc đời của Issa qua mỗi bước đi Chính vì vậy sự nghiệp sáng tác thơ haiku của Issa đạt đến đỉnh cao Issa đã viết hơn 20.000 haiku được lưu truyền đến ngày nay Issa được coi là nhà thơ nổi tiếng nhất của thời kỳ Edo Có rất nhiều “đài kỷ niệm Issa” và “bia hài cú” thơ của ông để lại cho thế hệ mai sau, nông trại xưa nơi ông ra đời ở Kashiwabara được bảo tồn đến ngày nay Như vậy có thể khẳng định cái tôi trữ tình là mô ̣t yếu tố quan tro ̣ng trong thế giớ i nghê ̣ thuâ ̣t thi ca Đến với thơ haiku cổ điển của Nhật Bản ta nhận thấy cái tôi trữ tình được hình thành ngay từ thể thơ tanka, sau đó phát triển và định hình qua thơ renga và đạt phong cách riêng khi ở thơ haiku với những nhà thơ nổi tiếng như: Basho, Buson, Issa… Đặc biệt khi đến với những vần thơ của Issa người đo ̣c sẽ thấy được những trải nghiê ̣m, những khám phá, những khát vo ̣ng, những xúc cảm, những rung đô ̣ng mơ hồ về tình yêu, sự sống và cả đời sống nô ̣i tâm của chủ thể trữ tình
Trang 27
CHƯƠNG 2 HÌNH TƯỢNG CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ HAIKU
CỦA KOBAYASHI ISSA
Trong quá trình sáng tác, cái tôi nghệ sĩ bước vào thế giới nghệ thuật và trở thành một hình tượng trọn vẹn Hình tượng cái tôi này là nhân vật trung tâm trong tác phẩm thơ, mang vẻ đẹp độc đáo, có mối quan hệ tương đồng với chủ thể trữ tình
đang tự bộc lộ với toàn bộ sức mạnh nhân cách và mọi khả năng của nó Có thể nói
rằng, thế giới của cái tôi trữ tình là “thế giới của cảm xúc suy tư, khao khát, nỗi
niê ̀m nên vô hình, vô ảnh, bí ẩn, trừu tượng” [6, tr.965]
Qua khảo sát, tìm hiểu và nghiên cứu 200 bài thơ haiku của Issa được nhiều dịch giả dịch, tác giả khóa luận nhận thấy toàn bô ̣ thế giới cái tôi trữ tình trong thơ Issa được biểu hiê ̣n qua các hình tượng sau: Cái tôi cô đơn khắc khoải, cái tôi khát khao giao cảm, cái tôi tự khẳng đi ̣nh mình
2.1 Cái tôi cô đơn khắc khoải
Theo từ điển của Xuân Huy và Đồng Công Hữu thì cô đơn là “một mình không co ́ chỗ nương tựa” [13, tr.137] Tuy nhiên, cần hiểu thực chất của cô đơn
chính là trạng thái tâm hồn, cá nhân con người sống trong thế giới mà không tìm được sự hài hòa của cộng đồng, xã hội, gia đình, bạn bè mà dường như lúc nào cũng
lẻ bóng trên đường đời
2.1.1 Khởi phát từ nỗi đau mất mát - “chỉ một người còn lại”
Vớ i Issa, cái tôi cô đơn khởi phát ngay từ nỗi đau mất mát của chính tâm hồn bao lần tả tơi đau xót Hàng loa ̣t các sự kiê ̣n từ thời thơ ấu cho đến lúc về già đều là những bi ki ̣ch của chia ly làm cho cuô ̣c đời của thi sĩ như là chiếu mê ̣nh của ngôi sao cô đơn Nhà thơ đã tự họa lại chính mình trên từng trang thơ, thơ như một cuốn
sổ nhật kí ghi lại toàn bộ những sự kiện diễn ra trong cuộc đời tác giả Lúc này, cái tôi nhà thơ trực tiếp bộc lộ cảm xúc chân thành, có khi là trăn trở lo âu, có khi là đớn đau, bất lực bằng giọng điệu xót thương, ngôn ngữ đậm chất đời thường
Đầu tiên là sự ra đi của người me ̣ ngay từ khi mới ba tuổi Me ̣ mất đi thi sĩ
Trang 28mớ i thực sự thấu hiểu nỗi đớn đau của cô đơn là gì Với tuổi đó mo ̣i trẻ em đang được sống trong vòng tay yêu thương, chăm sóc từ me ̣ nhưng Issa không có, lúc đói, lúc khát không biết kêu ai, khi la ̣nh giá không biết đến vòng tay che chở của me ̣ hay tình thương yêu của cha mà thay vào đó là những trâ ̣n đòn roi của người me ̣ ghẻ, những lời mắng nhiếc, đay nghiến đến thâ ̣m tê ̣ Mất me ̣ như mất đi mô ̣t phần quan trọng của cuô ̣c sống, chính vì vâ ̣y cái tôi khát khao tình yêu thương được thể hiện đến cháy bỏng:
Ôi biển khơi Khi tôi nhi ̀n thấy biển
Me ̣ tôi ơi!
(Nhật Chiêu di ̣ch)
Bài thơ toát lên âm điệu của một cõi lòng bị sóng khuấy động, đang rung lên
rạo rực đến xôn xao, khát khao đến khắc khoải như dồn dập, chìm nổi, miên man Mượn hình ảnh “biển” rộng mênh mông mà nhà thơ nói đến tâm trạng mình một
cách trực tiếp thông qua tiếng kêu gọi dậy sóng của tâm hồn “Me ̣ tôi ơi!” Mẹ được
hóa thân về biển, một cảm giác vừa bao la của tình mẹ, vừa mặn mà ấm áp của vòng tay Về với biển, cá nhân nhà thơ và Mẹ không còn ranh giới nữa mà cùng hòa vào bản thể nhiệm mầu Hình ảnh Mẹ hiện lên với tất cả xúc cảm của khổ đau và vẻ đẹp nhẹ nhàng của sự giải thoát Cũng như Issa, Basho cũng có những vần thơ viết về
mẹ rất xúc động:
Tóc mẹ còn đây Tan trong lệ nóng Sương mù thu bay (Nhật Chiêu dịch)
Basho đã khóc khi nhìn thấy tóc sương của mẹ, lệ nóng của nhà thơ nhỏ xuống, và nhà thơ không dám nâng tóc mẹ lên vì sợ tóc ấy sẽ tan đi như sương mùa thu Thi sĩ đưa mẹ về với thiên nhiên, tóc mẹ trở về với sương mùa thu, tất cả hòa vào vũ trụ bao la, thế giới vô ngã Để rồi, nơi những cánh hoa đào, bông tuyết trắng,
cỏ cây đều có phần của mẹ Bài thơ về Mẹ của Basho mới chỉ ở mức biểu lộ tình
Trang 29cảm cho người đọc tự đặt mình vào soi chiếu chứ không như Issa bày tỏ trực tiếp bằng đại từ nhân xưng “Tôi” làm chúng ta có thể nhận thấy được đây chính là khẳng định tâm trạng của cá nhân nhà thơ
Cuộc đời của Issa tiếp tục được bày tỏ theo trật tự thời gian mà trong mỗi bước đi ấy cái tôi trữ tình bộc lộ, tâm sự trong nỗi đau âm ỉ, lặng vào bên trong
Những cay nghiệt càng giáng xuống nặng nề hơn khi Issa lạc lõng ngay trong gia đình của mình Từ đây Issa trở nên cô đơn, trầm cảm thậm chí còn coi như địa ngục
ám ảnh suốt cuộc hành trình Tất cả như dồn nén và tuôn trào thành những dòng thơ:
Gió mùa thu Địa ngục nào đây Cùng tôi giang hồ
(Nhật Chiêu di ̣ch)
Tuy không nhận được tình yêu thương từ cha của mình nhưng Issa vẫn luôn thương yêu ông, sự ra đi của cha đã chấm dứt tình yêu thương vốn có của mô ̣t gia đình dành cho ông Nhân vâ ̣t trữ tình trở nên cô đơn giữa dòng chảy cuô ̣c đời
Tưởng chừng ha ̣nh phúc có được ở tuổi 53 sẽ xóa bớt cái tôi cô đơn trong
lòng thi sĩ nhưng đó lại là mô ̣t bi ki ̣ch sầu thảm hơn Cuô ̣c đời thi sĩ như thiếu vắng
sự chung đôi mà thay vào đó toàn là mất mát: đứa con đầu lòng chết khi mới sinh,
cô bé thứ hai chết sau mô ̣t năm rưỡi rồi đến đứa thứ ba và vợ của mình Đối diện với cái chết, cái tôi nhà thơ không giấu nổi nỗi đau tận sâu trong lòng Dường như cảm xúc không thể ngừng lại được mà cứ thế trào ra:
Gio ́ mùa thu Hoa ti ́m còn muốn hái
Cô be ́ chết hôm nào?
(Nhật Chiêu di ̣ch)
Hình ảnh bông hoa tím để la ̣i trong lòng nhà thơ nỗi tê tái, cái tôi ấy không khỏi bàng hoàng, đau xót trước hiện thực đắng cay Bông hoa tím còn ở đó mà em
bé đâu rồi
Trang 30Như một niềm day dứt không yên trong lòng, tuổi thơ đã đi qua mang theo tâm hồn một thời bé dại được Issa trở lại nhiều lần trong thơ Đó là cái tôi hoài niệm
về quá khứ với những nỗi niềm tâm trạng miên man, da diết:
Không co ̀ n me ̣
Mô ̣t mình em bé tập cười Đêm mùa thu rơi (Nhật Chiêu di ̣ch)
Nhìn cuô ̣c đời của đứa con không có me ̣, Issa nhâ ̣n thấy sao thâ ̣t giống cuô ̣c đời mình trước đây Chính điều này càng làm tăng thêm nỗi cô đơn trong lòng nhân
vật trữ tình Niê ̣m tưởng về mô ̣t trong những người con của mình, Issa viết:
Sương giọt đã phai mờ
Trong co ̃i uế độ
Không một chỗ
(Lê Thiê ̣n Dũng di ̣ch)
Về cái chết của mô ̣t đứa con khác, Issa đã viết hài cú “sương” nổi tiếng thấm đẫm đau thương:
Ôi Co ̃i sương
Du ̀ hãy còn đương
Mô ̣t cõi dương (Lê Thiện Du ̃ng di ̣ch)
“Ôi Cõi sương” là mô ̣t câu được trích trong kinh thánh để so sánh tính phù du
củ a kiếp người trong dương gian với tính chóng phai mờ của hơi sương Cái chết đã
ám ảnh thi sĩ suốt cuộc đời, thật là đau xót khi phải nhìn những kỉ vật đã chứng minh sự sinh ra và chết đi của người thân Cái tôi trực diện nhìn thẳng vào sự thật
Trang 31Bài thơ là mô ̣t nỗi đau lớn lao nhất của Issa khi nhắc tới “châ ̣u sành” tức là
nói đến chiếc bồn dùng để tắm lần đầu cho trẻ mới sinh ra và rửa lần cuối cho tử thi
Vậy mà Issa đã phải làm điều này nhiều lần khiến cho ông thực sự rất đau khổ, ông
cảm thấy mình thâ ̣t sự cô qua ̣nh
Sự ra đi của người vợ đầu tiên Kiku đã làm cho Issa hoàn toàn su ̣p đổ Ông đã dành nhiều trang viết cho vợ yêu quý Nghe tiếng cười của vợ từ môi miê ̣ng của đứa con thực sự là quá sức chi ̣u đựng của ông:
Ha ̀ i nhi Cười hé nụ
Đêm thu trùng rũ
(Lê Thiê ̣n Dũng di ̣ch)
Quả thực những tiếng cười của đứa bé đã làm cho trái tim của Issa như rách
nát, đêm thu như rũ xuống giống trái tim của ông vâ ̣y
Ông tái hôn hai lần nhưng tiếp tục gă ̣p phải bất ha ̣nh và sự chết chóc Nếu muốn nhìn thấy “cái đau trong cõi tinh thần” thì hãy nghe Issa khóc trong bài haiku:
Côn tru ̀ ng ơi đừng kêu Trên trơ ̀ i cao ấy Chia li ̀a đôi lứa yêu (Nhât Chiêu di ̣ch)
Bài thơ vang lên như tiếng lòng thổn thức, tiếng nấc nghẹn của chính cuộc đời ông Nỗi đau khổ của thi nhân vút lên tâ ̣n trời cao, đầy oán trách, hàm chứa nỗi thống khổ dường như đến tâ ̣n cùng Issa khóc và van nài côn trùng đừng kêu hay chính là đang van nài tâm hồn mình đừng lên tiếng bởi khổ đau bất ha ̣nh Cũng viết
về chia ly, mất mát nhà thơ Lý Bạch trong bài thơ Lao lao đình có sự đồng cảm:
Dưới trời một xứ đau thương Đưa nhau tiễn biệt nơi Lao Lao đình Gió xuân như cũng hay tình Nên xui cành liễu đừng xanh nửa chừng
Dù biết vâ ̣y nhưng nhân vâ ̣t trữ tình vẫn không thôi cầu khẩn:
Trang 32Hơ ̃i côn trùng thôi khóc than
Cu ̃ng chia biê ̣t tình nhân Trên long lanh sông ngân (Lê Thiê ̣n Dũng di ̣ch)
Ta nghe như có tiếng sóng cồn của bể dâu trong từng con chữ Rõ ràng nỗi
bất an, ám ảnh của sự mất mát ấy chưa bao giờ chi ̣u buông tha nhà thơ Cái tôi ấy tự chiêm nghiệm, bộc bạch những vết cắt trong lòng Chính vì vậy, những vần thơ của Issa dường như luôn “rách toa ̣c” trái tim của người đo ̣c
Bất chợt mưa rào Chỉ một người còn lại Dưới bóng hoa đào (Nhật Chiêu dịch)
Trước những đớn đau, cay nghiệt của cuộc đời, Issa trăn trở day dứt và tự họa lại chính mình Từ chính cái tôi tự họa này mà thơ Issa nhiều lần cha ̣m vào cái chết Con người hiê ̣n sinh trong ông dằn vă ̣t quá nhiều với sự cô đơn đến trống rỗng Nhà thơ không hề cha ̣y trốn mà phơi bày ra và đối diê ̣n với nó Cuộc đời cá nhân nhà thơ hạnh phúc thì hiếm hoi mà bất hạnh thì dồn dập, chất chồng luôn bao phủ bởi tang tóc Mỗi bài thơ buồn của Issa như là một vành khăn sô trắng vắt lên đời ông
Qua những vần thơ haiku, Issa đã phơi bày cuô ̣c đời mình với bao mất mất đau thương dẫn ông chìm sâu trong cô đơn Bởi chăng số phận của ông là như vâ ̣y
Ở đây, thông qua những vần thơ haiku đã thể hiê ̣n mô ̣t thế giới song song, chồng
xếp giữa thế giới thơ và hiê ̣n thực Đằng sau những vần thơ ngắn go ̣n này chính là trái tim với bao vết xước do ̣c ngang của cá nhân nhà thơ khi muốn đào sâu vào tận bản thể, khao khát được sống là chính mình với những gì diễn ra xung quanh chân thật nhất
Đo ̣c những vần thơ haiku của Issa đôi khi như lâ ̣t la ̣i trang nhâ ̣t kí cuô ̣c đời ông vớ i nhiều cảm xúc đan xen Từ đó có thể thấy rằng, hiê ̣n lên trên từng trang còn
là giấc mơ bởi nỗi khao khát về cuô ̣c sống của mỗi cá thể con người Những hoài niệm về nỗi cô đơn, kiếp nghèo trên đây không chỉ là của riêng tác giả mà nó còn là
Trang 33củ a biết bao con người Đó là những cảm xúc trái ngược vui - buồn, yêu - ghét, hạnh phúc - bất hạnh… Chính vì vâ ̣y, những vần thơ haiku này thấm đẫm tính hiê ̣n thực cảm thương về cuô ̣c đời của nhân vâ ̣t trữ tình Viết nhiều về bi kịch của mình như một cách nhận thức đời sống trong sự trọn vẹn cũng như nhiều mặt phức tạp của nó Đây chính là một cách nghiền ngẫm về cuộc đời, một hình thức tư duy hiện thực sâu sắc
2.1.2 Đến sự lạc lõng giữa cõi đời - “cây trúc đơn độc”
Nỗi đau mất mát kia tưởng chừng như vâ ̣y là đã đủ để cuô ̣c đời của Issa chìm trong sự cô đơn triền miên Nhưng không, nó còn đeo bám dai dẳng khiến ông sống trên ốc đảo mang tên “cô đơn”, trở nên la ̣c lõng giữa bạn bè, gia đình, xã hội
Khi các ba ̣n cùng lứa tuổi cùng nhau nô đùa, được âu yếm trong vòng tay mẹ, được ba me ̣ chuẩn bi ̣ quần áo mới mă ̣c trong ngày hô ̣i làng với những lời yêu thương nồng cháy thì Issa quần áo rách bươm, vá chằng chi ̣t, không mô ̣t ai muốn chơi cùng Issa thấy mình lạc lõng cô đơn giữa đám bạn chỉ dám nhìn cuô ̣c vui từ xa
mà không dám la ̣i gần trò chuyện cùng ai Đây cũng là lúc cái tôi nhà thơ tách ra khỏi xã hô ̣i, cuô ̣c đời và bước vào thế giới chỉ có riêng mình Đó là nơi trống vắng nhất, hoang vu nhất mà không có ai đă ̣t chân đến: Thế giới của sự cô đơn Nó xuất phát từ trong chính bản thể của tác giả
Giữa mênh mông cuộc đời thi sĩ chỉ biết dốc bầu tâm sự vào chú chim non và òa khóc với nó:
Đến đây nào với tôi
Cu ̀ ng chơi đùa chim sẻ
Không co ̀ n me ̣ trên đời (Tha ́ i Bá Tân di ̣ch)
Trong cái tận cùng của cô đơn, cái vô cùng của vũ trụ, Issa may ra còn có duy nhất người bạn là chú chim nhỏ Tuy chim - một đối tượng không hiểu được tiếng người nhưng có thể có sự đồng cảm bởi chung mô ̣t tình cảnh “không còn me ̣ trên đời” Câu cuối như mô ̣t sự trách móc nhưng hàm chứa trong đó là mô ̣t sự tủi thân
củ a trẻ thơ Bởi giữa thế giới người mà nhà thơ không tìm thấy sự đồng cảm Tự
Trang 34mình lại viết lại chính mình trong thời gian ngây thơ đói khổ, cô đơn Issa không dùng những từ ngữ lê thê tả chi tiết mà chỉ là những chữ hết sức ngắn gọn, gần gũi với trẻ thơ và con người để mong mọi người thấu hoàn cảnh một đứa trẻ cô độc không có ai bầu ba ̣n khiến người đọc không khỏi ngậm ngùi thương cảm
Bên cạnh đó, Issa còn cảm giác cô đơn đến tột đỉnh khi nhận thấy mình là kẻ trắng tay, bơ vơ, không có chỗ đứng, không có vị trí trong xã hội, không có tổ ấm tình cảm nào:
Mu ̀ a thu lạnh…
Tôi đi đâu Người ta cũng có nhà
(Tha ́ i Bá Tân di ̣ch)
Như vậy, cuộc đời Issa lúc nào cũng lẻ bóng nó giống như Lâm Thị Mỹ Dạ qua bài “một mình” Nhân vật trữ tình thì trơ trọi, thả hồn vào những suy nghiệm của một người từng trải:
Bây giờ chỉ một mình ta Một mình ta với bao la một mình Bây giờ chỉ một trái tim Một mình tung hứng, một mình vết thương
Issa cũng cô đơn một mình không biết tâm sự chia sẻ với ai, thi sĩ ví đời mình như con qua ̣ lang thang:
Hoa ̀ ng hôn, gió đông…
Con qua ̣ Không ti ̀m thấy tổ
(Tha ́ i Bá Tân di ̣ch)
Trên con đường vắng vẻ, la ̣nh lẽo không có ai bên ca ̣nh, ai cũng có nhà để hưởng thu ̣ sự ấm áp với bao yêu thương còn Issa lẻ bước trên đường đời:
Gió mùa thu Bóng dài của núi Rung lên mơ hồ
Trang 35(Nhật Chiêu dịch)
Trong cảnh sắc thiên nhiên cô tịch, làn gió khe khẽ đã lay động cành cây làm
ta cảm tưởng mơ hồ như bóng núi đang chuyển động hay chính tâm trạng của nhân vật trữ tình đang rung lên bởi cuộc sống cô đơn Ở đây cảm thức sabi đã thấm đẫm
trên dòng thơ nhấn mạnh nỗi buồn và sự vô vọng của nhân vật trữ tình
Lạc lõng giữa cõi đời này nhưng cái tôi nhà thơ thể hiện tất cả mọi nỗi niềm
để khao khát sự cảm thông của người đời Nhưng tội nghiệp thay, cuộc đời vốn đã đìu hiu nay lại trống vắng vô cùng :
Mùa xuân tôi ư Cây trúc đơn độc
Và cành liễu tơ (Nhật Chiêu dịch)
Thơ haiku của Issa mở ra một thế giới khác lạ hơn Dường như ông sinh ra để dang rộng vòng tay đón những điều bất hạnh Đây là một trong những nội dung lớn
mà trang thơ ông luôn băn khoăn và trăn trở Thơ ông không dùng những từ ngữ hoa lệ hay những ảo mộng viển vông mà gắn liền với cuộc đời thực, với sự cay
đắng, đầy nước mắt Bắt đầu bằng quý ngữ “Mùa xuân”, Issa như dốc bầu tâm
sự:mùa xuân ai ai cũng được sum họp, đoàn tụ bên gia đình, ấy thế mà mùa xuân trong đời của Issa luôn luôn sống trong cảnh u tịch, vắng lặng, đơn độc và buồn bã đến lạ thường Cuộc sống cứ xoay chuyển theo vòng tuần hoàn của vũ trụ, ông vẫn
cứ một mình như những cây trúc bé nhỏ hay những cành liễu kia đơn độc giữa cuô ̣c đời:
Xiê ́t bao quyến khách Ngo ̃ ngoài Liễu dương la ́ ngoắt (Lê Thiê ̣n Dũng di ̣ch)
Cây liễu này chính là cây liễu ngoài cổng nhà Issa nơi mà ông thường bi ̣ dì ghẻ bắt đứng mô ̣t mình ngoài đó chi ̣u cảnh giá la ̣nh
Issa rờ i bỏ ngôi nhà của mình bởi ở đó không có tình yêu thương, ông như bơ
Trang 36vơ giữa thế giới này Issa coi cuô ̣c đời mình giống như con nhạn kêu suốt cuộc đời, chú chim sẻ đậu trên cành hoang vu, con ếch ngồi nhìn núi đồi vắng vẻ:
Kêu chi, nhạn ơi
Đi đâu thì cũng Cõi phù thế thôi
căm “Ngày lạnh, đêm cũng lạnh”
Suốt ngày rong ruổi trên những con đường, cuô ̣c sống của ông như mô ̣t cuô ̣c kiếm tìm, theo đuổi cái đe ̣p trên khắp xứ sở Phù Tang Đó là hành trình của mô ̣t người nghê ̣ sĩ nhưng nó cũng là hành trình của mô ̣t con người bi ̣ la ̣c lõng - ba ̣c đãi ngay chính quê hương mình Trong một chuyến về quê dàn xếp công việc thừa kế, nhà thơ cảm thấy tất cả chông gai như cố tình dựng lên trên đường đi:
Về làng cũ Những bụi hoa xưa Chìa gai ra đón!
(Nhật Chiêu dịch)
Đây chính là bi ki ̣ch xót xa nhất của cuô ̣c đời mỗi con người bởi ngay chính quê hương mình cũng không tìm được sự yên ấm Từ đó còn thấy rằng thơ haiku còn là giấc mơ nỗi khao khát về cuộc sống của mỗi cá thể con người Bài thơ dưới đây tưởng chỉ nói về hình ảnh bầy chim với ngôn từ bình thường như mổ thóc, tranh giành nhưng Issa lại hàm chứa sâu xa về cuộc đời, nhân sinh hiện đang hiện hữu:
Trang 37Gạo thóc gây nên tội Cho bầy chim chóc
Ẩu đả với nhau (Nhật Chiêu dịch)
Suy ngẫm về hạnh phúc, bất hạnh, đau khổ, sự hữu hạn của con người và vô hạn của thời gian làm giọng thơ buồn hơn, chân thật hơn, giàu suy tưởng vì vậy cũng mang nhiều triết lý nhân sinh hơn Đó cũng chính là điểm nổi bật của thơ Issa Issa là bậc thầy phơi bầy khía cạnh không thể chối bỏ được cái tầm thường đó, không hiểu sao điệu vận thơ của ông luôn luôn truyền cảm hơn là lời nói diễn tả Trong thơ haiku của Issa, cái tôi trữ tình và cái tôi tác giả có khi gần như mô ̣t
Đi sâu vào cảm hứng đời tư với những khuất lấp, phước tạp của cuô ̣c sống Issa luôn khao khát bô ̣c lô ̣ nỗi niềm, cảm cách, cảm nghĩ của mình Nhiều bài thơ như là tiếng
nói nô ̣i tâm của nhà thơ, cái tôi ấy không hề né tránh tấn bi hài ki ̣ch của cuộc đời mà luôn cảm nhận, suy nghiệm Đó chính là âm bản của hồn thơ, hồn người, là cái tôi
tự ho ̣a với tất cả những gì là chân thật nhất
2.2 Cái tôi khát khao giao cảm
Thơ không chỉ là nỗi buồn đau, mất mát mà còn là “tiếng nói của niềm tin,
mơ ước và khát vọng vươn tới những lý tưởng cao đe ̣p, kết tinh những cảm xúc trong sa ́ ng, những suy nghĩ, cái đe ̣p của nhà thơ trước cuộc đời” [23, tr.16] Nhà
thơ cần phải vượt qua tất cả bằng một nghị lực sống phi thường để tự mình hòa vào đại ngã vũ trụ
2.2.1 Con người lạc quan giữa bể khổ trần ai - “cuộc đời đẹp quá”
Issa một người bi ̣ tổn thương trầm tro ̣ng, nỗi đau chồng chất nỗi đau Không hẳn những vần thơ của Issa lúc nào cũng buồn mà ông vượt qua tất cả với một cái tôi có thái đô ̣ sống tích cực, có niềm tin mãnh liê ̣t vào cuô ̣c sống
Con người la ̣c quan này trước hết được thể hiê ̣n ở tư thế an nhiên, tự ta ̣i không
hề thất vo ̣ng, chán chường mà luôn khát khao vươn lên tầm cao mới của đời sống:
Gio ́ mùa thu
Đi ̣a ngục nào đó
Trang 38Cu ̀ ng tôi giang hồ
(Nhật Chiêu di ̣ch)
Thi sĩ đã phiêu du cùng trời đất bỏ qua nỗi đau ở phía sau, không nghĩ đến những mất mát của trần gian Cùng với cơn gió mùa thu đang xào xa ̣c lá bay trên con đường đi hay đi ̣a ngu ̣c với những cái chết đều trở thành những người ba ̣n đồng
hành trong cuô ̣c lữ hành trăm năm Không có gì cản được bước chân của lữ nhân trên con đường đi tìm cái đe ̣p:
Trong thê ́ giới này Bước đi trên mái đi ̣a ngục
Ta nhi ̀n hoa bay (Nhật Chiêu di ̣ch)
Đây như mô ̣t tư thế hiên ngang giữa đất trời, xem thường khổ đau của cuộc
tồn sinh thế gian để vươn lên Dù cuộc sống đầy chông gai đặt ra trước mắt nhưng
thi nhân đều vượt qua với mô ̣t cái nhìn rộng lớn “bước đi trên mái đi ̣a ngục” để được tiếp tu ̣c nhìn “hoa bay”, tức là để được giao hòa với thiên nhiên, va ̣n vâ ̣t Bài
thơ mang một khát khao lớn đó là được hòa mình vào cái đại ngã của vũ trụ Những bài thơ viết về cuộc chống chọi với dòng thời gian để vươn lên đến bến bờ bao giờ cũng khiến người đọc chú ý bởi những cảm xúc mãnh liệt cứ liên tiếp dồn về, khiến cho câu thơ trở nên nhanh hơn, mạnh hơn
Cũng cất lên tiếng nói khát khao của tiểu thiên địa giữa lòng đại thiên địa vô biên, nhà thơ Trần Tử Ngang có viết:
Tiền bất kiến cổ nhân Hậu bất kiến lai giả Niệm thiên địa chi du du Độc thương nhiên nhi thế hạ (Người trước thì không thấy Người sau chẳng thấy đâu Ngẫm trời đất thật vô cùng Riêng lòng đau mà lệ chảy) (Đăng U Châu đài ca - Trần Tử Ngang)
Trang 39Khoảnh khắc trên đài U Châu nhà thơ muốn tìm về quá khứ vươn tới tương lai Con người ấy cũng cảm ứng với vũ trụ, là chiếc cầu nối thiên với địa, nối quá khứ với vị lai để hướng lên phía trước Cảm xúc ấy như đợt sóng lan tỏa dư ba vang vọng đến ngàn năm
Chính cách nghĩ như vậy làm cho người thơ có cái nhìn lạc quan, vui tươi Không cò n hình ảnh em bé tâ ̣p cười, tập nói, chơi đùa mô ̣t mình với cánh bướm, con chim nữa mà thay vào đó là tiếng nô đùa hòa mình reo vui giữa làng quê thanh bình của tất cả trẻ em không còn sự phân biệt:
Tuyê ́t tan
La ̀ ng quê ngập tràn Tre ̉ con (Lê Thiê ̣n Dũng di ̣ch)
Tâm hồn của thi sĩ cũng như đang hòa reo giữa đất trời, đã có lúc cái tôi ấy phải thốt lên rằng:
Cuô ̣c đời đe ̣p quá
Con dê ́ rung chuông
Ca ́ nh diều bay lả
(Nhâ ̣t Chiêu di ̣ch)
Đứng giữa đất trời, nghe tiếng dế cất lên cung đàn du dương, những làn gió thổi qua đang ra sứ c đưa cánh diều bay lên cao hơn, xa hơn Cuô ̣c đời như rô ̣n ràng
hơn chính vì vậy thi sĩ không cầm được lòng mà thốt lên “cuộc đời đe ̣p quá” Bằng
cái nhìn trìu mến, cái tôi nhà thơ như muốn chìm đắm trong không gian bao la của
vũ trụ để ngợi ca, nâng niu, trân trọng cuộc sống vốn có này Không có niềm say đời và cảm nhận tinh tế trước vẻ đẹp của cuộc sống thì không thể nào có được những câu thơ thể hiện niềm xúc động ngỡ ngàng đến như thế
Dưới con mắt tươi vui khi nhận ra giá trị cuộc sống, cái tôi thi sĩ vươn trải lòng mình đến thiên nhiên để nắm bắt những khoảng khắc đổi thay, đẹp đẽ ấy vào thơ Chính vì vậy, thơ haiku của Issa tràn ngập mùa với muôn sắc tươi thắm Bức tranh bốn mùa hiện ra với bao cảm xúc: