1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Cái tôi trữ tình trong hai tập thơ khát, linh của vi thùy linh

68 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 811,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể thấy, cái tôi trữ tình là yếu tố quan trọng trong thế giới nghệ thuật thơ ca; là thế giới tinh thần của nhà thơ được thể hiện với những sắc thái đa dạng.. Có thể nói, bằng tâm huy

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC

Đề tài:

CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG HAI TẬP THƠ KHÁT, LINH

CỦA VI THÙY LINH

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi: Hoàng Thị Hằng, xin cam đoan rằng: Công trình này do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Ngô Minh Hiền

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung thực của nội dung khoa học trong công trình

Đà Nẵng, tháng 05 năm 2013

Người thực hiện

Hoàng Thị Hằng

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện khóa luận này, tôi đã nhận được sự quan tâm, tạo điều kiện từ phía các thầy cô giáo và sự động viên khích lệ của các bạn sinh viên trong khoa Ngữ văn, các thầy cô thủ thư trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng Đặc biệt là sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của TS Ngô Minh Hiền

Nhân dịp hoàn thành khóa luận, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới cô giáo hướng dẫn cùng các thầy cô và các bạn.

Đà Nẵng, tháng 05 năm 2013

Người thực hiện

Hoàng Thị Hằng

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Cái tôi là một khái niệm của triết học và tâm lí học được các nhà khoa học giải thích khi đề cao ý thức, lí tính trong mối quan hệ vật chất – ý thức, chủ quan – khách quan, cá nhân – xã hội Với định nghĩa “Tôi tư duy tức là tôi tồn tại”, Descart đã thể hiện cái tôi như một thực thể biết tư duy, như căn nguyên của nhận thức duy lí và khẳng định tính độc lập của cái tôi Hà Minh

Đức trong Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại cho rằng: “Cái tôi

trữ tình là cái tôi của tác giả được nghệ thuật hóa Đó là nhân vật trữ tình quan trọng trong thơ Sự hiện diện này bộc lộ ở cốt cách, bản sắc của một lối cảm nghĩ sâu xa hơn chính là nội dung của tiếng hát tâm hồn” [9, tr.74] Có thể thấy, cái tôi trữ tình là yếu tố quan trọng trong thế giới nghệ thuật thơ ca; là thế giới tinh thần của nhà thơ được thể hiện với những sắc thái đa dạng Cái tôi trữ tình là hiện tượng tổng hợp các phương diện cá nhân, xã hội, thẩm mĩ Bản thân các yếu tố cấu thành nó luôn vận động theo từng giai đoạn lịch sử,

xã hội nên cái tôi trữ tình có sự vận động không ngừng cùng với sự vận động của cuộc sống và sự thay đổi của lịch sử Nó luôn vận động để tự làm mới mình, để theo kịp nhu cầu bộc lộ bản thân và nhu cầu thẩm mĩ của thời đại Bởi thế trong mỗi thời đại thi ca lại có một kiểu cái tôi trữ tình đóng vai trò chủ đạo, thể hiện tập trung cao độ tinh thần thơ ca của thời đại ấy Nếu cái tôi trữ tình cổ điển là “phi cá thể” thì với nhu cầu giải phóng cái tôi cá nhân của giai đoạn văn học 1930 – 1945 làm nảy sinh cái tôi lãng mạn, lấy tâm hồn con người làm đối tượng Sang đến giai đoạn văn học kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ cái tôi trữ tình lại là cái tôi lại hòa vào cái ta cộng đồng Trở về thời bình, cái tôi trữ tình trong thơ ca sau 1975 lại tiếp tục xu thế vận động trong

sự đào sâu vào thế giới bản thể nên “cái tôi tự thức”, “cái tôi cá thể” được

Trang 5

hiện diện rõ nét Xã hội càng phát triển, nghệ thuật có sự thay đổi cho phù hợp thì cái tôi trữ tình cũng có sự đổi khác

Vi Thùy Linh là một trong những hiện tượng của thơ Việt Nam đương đại: “Đó là hiện tượng chín sớm trong thơ, và cả trong đời Cô gái mới hai mươi tuổi đã có những khát khao dữ dội về chức năng làm mẹ, và nghĩ một cách thâm trầm, sâu sắc đến không ngờ về thiên chức người mẹ trong thế giới Bằng cú pháp thơ già dặn, cách nói thơ đơn giản và trực diện Những bài thơ của Vi Thùy Linh như hồ nước chứa những cơn sóng ngầm từ bên dưới” [14, tr.119] Có thể nói, bằng tâm huyết sáng tạo và đổi mới thi ca trong tâm thế của người “làm tiếng Việt”, muốn góp sức mình vào sự duy trì và và sinh sôi

vẻ đẹp, sự phong phú, biểu cảm của của tiếng Việt, qua hơn 15 năm với 7 tập thơ, Vi Thùy Linh đã gây được sự chú ý lớn trong nền thơ ca đương đại Cái tôi trữ tình là một trong những điều khá đặc sắc trong thơ Vi Thùy

Linh Nghiên cứu “Cái tôi trữ tình trong hai tập thơ Khát, Linh của Vi Thùy

Linh”, người viết hi vọng sẽ góp phần tìm ra những giá trị riêng của cái tôi trữ

tình trong thơ Vi Thùy Linh trong sự vận động của thơ Việt Nam đương đại

2 Lịch sử vấn đề

Kể từ khi cho ra mắt tập thơ đầu tay đến nay, trong giới nghiên cứu phê

bình có nhiều ý kiến khác nhau về thơ Vi Thùy Linh

Chu Thị Thơm khi bàn đến nhục cảm - vấn đề mà dư luận lên tiếng nhiều nhất khi đọc thơ Vi Thùy Linh đã cho rằng “nhục cảm đã vượt qua con chữ” [23]

Dường như không tán đồng với ý kiến này, Nguyễn Trọng Tạo tranh biện: “Vẫn biết con người thường có những ngộ nhận, nhưng người phê bình ngộ nhận thường đưa ra những phán xét liều lĩnh đến nực cười Tỷ dụ như với thơ Vi Thùy Linh, Hoàng Xuân Tuyền phán: "Chúng tôi không coi những ghi chép lộn xộn đó là thơ ", còn Nguyễn Thanh Sơn thì bảo, đó chỉ

Trang 6

là “một món nộm thơ nhạt nhẽo” Tất nhiên, thích hay không thích là quyền của mỗi người, nhưng đâu phải cứ phán bừa như thế thì thơ Vi Thùy Linh sẽ

bị hạ thấp xuống đáy vực hay trở thành văn xuôi, mà ngược lại, nhà thơ trẻ này vẫn Khát, vẫn Linh, vẫn Song Mã nước đại “Tới vùng sa mạc ánh nhũ mặt trời xanh/ Cùng cả tham sân si đầu thai kiếp khác”” [22]

Nguyễn Thanh Sơn trong bài viết Linh ơi! đã bày tỏ đầy đủ ý kiến của

mình về thơ Vi Thùy Linh Theo tác giả, trong thơ Linh đầy những từ ngữ to tát, những đại ngôn, hàm ngôn, những diễn dịch tối nghĩa Đó là sản phẩm của “mặc cảm chưa thành người lớn” Nguyễn Thanh Sơn quả quyết “Dù rằng ngôn ngữ có vẻ hiện đại, chất đầy những phần mềm, cập nhật, mã hoá, nhưng không vì thế mà rõ ràng hơn, và nhất là, hay hơn ” Từ chối gọi những dòng như thế trong thơ Linh là thơ, Nguyễn Thanh Sơn hy vọng những sáng tác sau trên con đường thi ca của Vi Thùy Linh sẽ hạn chế dần đại ngôn sáo rỗng và có được những vẫn thơ chân thành, có giá trị [28]

Nguyễn Hoàng Đức với bài viết “Sự khả tín, khả ngờ về hiện tượng thơ mới – trẻ thứ thiệt” đã tỏ ra nghi ngờ “ống phóng” Nguyễn Trọng Tạo - người

đã “có công” phát hiện ra hiện tượng Vi Thùy Linh Bài viết đặt ra vấn đề có hay không một dạng “ông Kễnh”, “ông Bầu”, “lăng xê” hay “dìm hàng” trong văn nghệ? [23]

Đỗ Nguyên Phong cho rằng sự trình diễn thơ của thi sĩ “hơi rởm”

Bài Yêu ở Rome được trình diễn là một tiết mục vừa “rởm” lại vừa “mượn đỡ”

của người khác Như lời Đỗ Nguyên Phong, bài thơ ngoài việc nhắc đến cái tên tháp nghiêng Pisa cho sang không có gì đáng nói Phần trình diễn lại mượn ý tưởng từ “các bức tranh mà Rene Magritte đã vẽ cách đây gần một thế kỉ” [23]

Trong bài Thử bàn về trách nhiệm của những người đi trước qua trường hợp thơ Vi Thùy Linh, Nguyễn Trọng Bình cho rằng : “những cái mới, cái lạ

Trang 7

về cảm xúc và ngôn ngữ trong thơ Vi Thùy Linh cũng như sự chân thành, tinh thần dấn thân sống chết với thơ của Vi Thùy Linh là điều mà tất cả chúng ta phải tôn trọng, thừa nhận và tri ân chị” [5]

Chu Văn Sơn trong bài nghiên cứu Vi Thùy Linh thi sĩ ái quyền đã phát

hiện ra cấu trúc tam vị nhất thể trong thi giới của một nhà thơ trữ tình Tam vị

đó là cái tôi trữ tình - người tình - thế giới Chu Văn Sơn nhìn thấy mối quan

hệ xoắn bện, hữu cơ giữa ba đối tượng này “Người tình” về thực chất là một đối ảnh của “cái tôi trữ tình” “Ngoại giới” là những đối ảnh của cái tôi cá nhân, và chính cái tôi cá nhân là một đối ảnh của người tình, ngoại giới [29]

Lưu Khánh Thơ trong bài viết Vi Thùy Linh phiêu du cùng Phim đôi – tình tự chậm đã chỉ ra “hướng của véctơ” tinh thần trong sáng tạo thơ của Vi

Thùy Linh Tác giả nêu lên vấn đề “tổ chức bài thơ theo sự dẫn dắt của vô

thức” trong Phim đôi – Tình tự chậm Liên tưởng, tưởng tượng là những thao

tác của tư duy được Lưu Khánh Thơ đề xuất nghiên cứu như là một hướng vận động làm nên trường thẩm mĩ của Vi Thùy Linh [24]

Nguyễn Đăng Điệp quan tâm tới những phác họa ban đầu về mầu của cõi yêu cùng với cái tôi bản thể, trường chữ, nhịp điệu, thái độ tận hiến cho nghệ thuật,…của Vi Thùy Linh Trong rất nhiều diễn giải, đặt định về Vi Thùy Linh, tác giả đã tìm ra mã gen trong cấu trúc tinh thần của thi sĩ: “khát khao

và hối hả - dâng hiến và chiếm đoạt - hòa hợp và sinh thành ” Ông cho rằng, nhịp điệu thơ Linh là “Cơn gió tình đồng vọng”, chữ của Linh là “cuồng phong thân người” và “yêu là động lực để tích tụ năng lượng thơ ca” [23] Thụy Khuê tỏ ra là người am hiểu Vi Thùy Linh trước hết trên phương diện tâm lý một người cùng giới Tác giả cho rằng: “nhục cảm chính là cội nguồn sáng tạo của Linh “Anh” là “kim chỉ nam” là ảo ảnh không bao giờ vươn tới của Linh trên đỉnh sóng cuồng si” Thơ sinh ra từ “cuộc hợp cẩn giữa tình yêu và sáng tạo, trong thống khổ và hạnh phúc” Bài viết của Thụy Khuê

Trang 8

tập trung vào tập Đồng tử với trọng tâm là việc truy tìm cội nguồn mĩ cảm của

Linh Khẳng định thơ Linh hay ở mảng thơ tình, cái tình đau thống thiết, rách

xé hợp cẩn với cơn ngất ngây sáng tạo đã hạ sinh những vần thơ “ứa máu”

“Tình yêu trong thơ Linh là một thứ tình yêu không bao giờ đạt đích, một thứ

tình chưa tìm tới bến, mà càng lao vào, càng mù mịt đơn côi Tình yêu trong thơ Linh là thứ tình chưa thỏa, và chẳng bao giờ được thoả” Cái tình đau đớn

cũng là nguồn mĩ cảm và Linh luôn hướng tới sự “khai nhụy, nở hoa” Đồng

tử ra đời là kết quả của cuộc tình cuồng nhiệt, tuyệt vọng và thống lụy của

Linh [12]

Cũng trong bài viết, Thụy Khuê đã có những nhắc nhở nghiêm túc đối với Linh: “Những đoạn thơ trí tuệ của Linh có nhiều câu không tự nhiên, dùng những chữ lớn mà rỗng” [12] Đó là một hạn chế của Linh mà ta bắt gặp khá nhiều trong thơ chị Thụy Khuê đã chỉ ra bằng thái độ bao dung nên vấn

đề vẫn được nhận thức trong sự thanh thản Trong một bài luận khác có tính chất tổng quát, Thụy Khuê đã có một nhận định quan trọng: “Những người viết trẻ như Nguyễn Quốc Chánh, Vi Thùy Linh,…thế hệ lớn lên trong xã hội chủ nghĩa có thể chưa từng đọc Thanh Tâm Tuyền, nhưng họ đang làm thơ

“kiểu” Thanh Tâm Tuyền” [12]

Nhã Thuyên có bài viết khá sắc sảo về thơ Vi Thùy Linh Tác giả đã chỉ

ra những điểm cơ bản trong thi giới của Vi Thùy Linh từ góc độ giới Tác giả bài viết cho rằng “Vi Thùy Linh đã cố công tạo dựng một bầu trời huyền thoại, tình yêu, xưng tụng nó với niềm tin mãnh liệt” Từ góc độ giới, Nhã Thuyên cho rằng Linh là thi sĩ có ý thức mãnh liệt về “tính nữ” của mình Tính nữ ấy biểu hiện trong tình yêu, trong dâng hiến, trong xác thân,… “Có thể nói, ý thức tính nữ trong thơ nữ Việt từ sau Đổi mới đến Vi Thùy Linh là giai đoạn chuyển động đầu tiên: phá dỡ dần định kiến xã hội lên người nữ, đòi hỏi được nói tiếng nói cá nhân, tái hiện kinh nghiệm nữ giới trong văn

Trang 9

chương, trong điều kiện chính trị, văn hóa, xã hội thay đổi” [25] Xuất phát từ quan điểm giới và những chuyển động của nó trong đời sống đương đại Nhã Thuyên cho rằng: “Khỏa Thể trong thơ Vi Thùy Linh, không nhục dục mà thanh tân, thậm chí nhiều khi còn Đức Hạnh” [25]

Văn Giá cho rằng thơ Linh là “những trận bạo động chữ” Tư duy của Văn Giá hướng đến vấn đề “chữ” như là bản thể của thơ ca (Ngôn từ), từ đó nhận diện chân dung nghệ thuật của Vi Thùy Linh Ta nhớ đến luận đề quan trọng của M Heidegger “Ngôn ngữ là ngôi nhà của hữu thể” để thấy rằng Văn Giá có lý khi muốn phục dựng chân dung nghệ thuật của Vi Thùy Linh

từ việc thâm nhập ngôi nhà ngôn ngữ của chị Văn Giá cho rằng: “Thơ Vi Thùy Linh bời bời những chữ, mỗi bài thơ là mỗi trận mưa lũ ngôn từ xối xả, cuồng hứng…, đó là một thứ ngôn từ trào vọt “ngùn ngụt” như đám cháy, như

“bão cuốn”, một thứ hỏa diệm sơn của chữ nghĩa Đó là những con chữ chỉ mức độ cực hạn, tuyệt cùng, mang tính cách bạo động Chúng kết hợp và tổng lực làm nên những trận bạo động của chữ” [10] Văn Giá đã khảo sát cái tôi trữ tình trong thơ Vi Thùy Linh Đó là một cái tôi mang hai tư cách: “người tình – người mẹ” Thực tế, trong sâu thẳm tâm lý của người nữ, “người tình – người mẹ” chính là hai tư cách mà họ khao khát nhất Khi là một tình nhân, người nữ ấy bộc lộ đam mê tuyệt cùng của mình trong hai trạng thái “tâm tình” và “làm tình” Điều quan trọng là Văn Giá làm phát lộ quan niệm về tình yêu trong thơ Vi Thùy Linh “Tình yêu được là tình yêu chỉ khi mang tính thiêng liêng” Chính quan niệm này đã đưa Linh tìm đến tư cách thứ hai

“người mẹ” Đó là hệ quả cũng rất thiêng liêng từ một tình yêu thiêng liêng

Sự đồng hiện hai phẩm tính, hai tư cách này trong cái tôi trữ tình cho thấy khát vọng bản thể của Linh hướng tới một giá trị nhân bản sâu xa Văn Giá cũng cho rằng Thùy Linh đã hóa giải những mặt cực đoan của kiểu tình yêu

Trang 10

thuần túy tinh thần (Platonique) và đề cao nhục dục bởi chính tinh thần hướng đến cái thiêng của ái tình [10]

Có thể thấy giới nghiên cứu đã có những phê bình đa chiều trên các phương diện như: thi pháp, ngôn ngữ, phân tâm học đối với hiện tượng thơ Vi Thùy Linh Nhưng với khả năng bao quát của mình, chúng tôi chưa thấy có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về cái tôi trữ tình trong hai tập

thơ Khát, Linh của Vi Thùy Linh Đó là lý do để chúng tôi chọn đề tài: Cái tôi trữ tình trong hai tập thơ “Khát”, “Linh” của Vi Thùy Linh để nghiên cứu

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Những yếu tố nội dung và nghệ thuật làm nên cái tôi trữ tình trong hai

tập thơ Khát, Linh của Vi Thùy Linh

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Hai tập thơ của Vi Thùy Linh gồm: Khát (Nxb Hội nhà văn, Hà Nội,

1999), Linh (Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 2000)

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp hệ thống- cấu trúc

Tiến hành hệ thống lại toàn bộ sáng tác của Vi Thùy Linh trong 2 tập

Khát, Linh Khảo sát một cách có chọn lọc nhằm làm nổi rõ cái tôi trữ tình

trong thơ Vi Thùy Linh

4.2 Phương pháp phân tích- tổng hợp

Xem xét, lí giải, đánh giá những yếu tố nội dung, nghệ thuật trong tập thơ

Khát, Linh; tổng hợp, khái quát nên cái tôi trữ tình trong hai tập thơ Khát, Linh của Vi Thùy Linh

Trang 11

4.3 Phương pháp so sánh

Tìm ra những nét tương đồng, khác biệt về nội dung và nghệ thuật của

cái tôi trữ tình trong 2 tập thơ Khát, Linh cũng như sự khác biệt trong thơ Vi

Thùy Linh so với các nhà thơ đương đại

Ngoài ra, để phục vụ nghiên cứu, chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu hỗ trợ khác

Trang 12

NỘI DUNG Chương 1 THƠ VI THÙY LINH TRONG SỰ VẬN ĐỘNG CỦA THƠ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

1.1 Một số đặc điểm nổi bật của thơ Việt Nam đương đại

1.1.1 Xuất hiện các khuynh hướng thơ mới

Sau 1975 thơ Việt Nam có xu hướng tiếp tục nói về chiến tranh qua những khúc ca bi tráng về số phận của dân tộc Từ điểm nhìn hiện tại, các nhà thơ phóng chiếu cái nhìn sâu, xa về lịch sử đất nước – một lịch sử oai hùng nhưng cũng không ít đau thương và bất hạnh Ý thức nói nhiều hơn về bi kịch khiến cho các tập thơ này không rơi vào giọng điệu tụng ca dễ dãi mà thể hiện chiều sâu ngẫm ngợi của nhà thơ về thế thái nhân tình trong sự chuyển động không ngừng của lịch sử Bên cạnh những cây bút thành danh ở thể loại trường ca như Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Đức

Mậu,…là sự xuất hiện của Trần Anh Thái với Đổ bóng xuống mặt trời, Hoàng Trần Chương với Trầm tích,… Sự vạm vỡ, tính trường sức của thể loại được

gắn kết với những thể loại cá nhân và những suy tư mang tính khái quát cao

đã khiến cho thơ ca giai đoạn này có những khúc ca giàu tính nghệ thuật về đất nước, về nhân dân

Từ sau 1975, đặc biệt là sau 1986, cuộc sống dần trở lại với những quy luật bình thường của nó, con người trở về với muôn mặt đời thường, phải đối mặt với bao nhiêu vấn đề trong một giai đoạn có nhiều biến động, đổi thay của xã hội Bối cảnh đó đã thúc đẩy sự thức tỉnh ý thức cá nhân, đòi hỏi sự quan tâm đến mỗi người và từng số phận Thơ có xu hướng trở về với cái tôi

cá nhân, những lo âu của đời sống thường nhật Đây là xu hướng nổi bật nhất

Trang 13

trong thơ đương đại Những năm đầu thập kỷ 80 thơ ở giai đoạn chuyển giọng: nhà thơ nói nhiều hơn về nỗi buồn nhân sinh, về những cảm nhận của cái tôi trước một thực tại khắc nghiệt Nếu như trước đây, các nhà thơ dường như e ngại nói về nỗi buồn thì trong thơ đương đại, nhiều nhà thơ công khai bày tỏ nỗi buồn Đó là nỗi buồn gắn chặt với một thực tại mới, một cảm quan nghệ thuật mới Có nỗi buồn về thần tượng bị gãy đổ, ảo tưởng bị tan vỡ khi nhận ra “Chúa chỉ bằng đất đá” (Nguyễn Trọng Tạo), có nỗi buồn vì cuộc sống mưu sinh làm cho con người chỉ chú ý chuyện tồn tại mà “xa dần truyện bớt dần thơ” (Nguyễn Duy) và có những trắc ẩn về riêng tư, đôi lứa: “Em chết trong nỗi buồn - Chết như từng giọt sương - Rơi không thành tiếng” (Lâm Thị

Mỹ Dạ) Chất giọng tự thú, tự bạch trở thành gam giọng phổ biến Cắt nghĩa

về thực trạng này có thể nhìn từ hai phía: thứ nhất, đó là nỗi buồn xuất phát từ thời thế, sự khủng hoảng về niềm tin, sự bất an trước thời cuộc; thứ hai, trong nền kinh tế thị trường, quan hệ người trở nên lỏng lẻo, con người sống trong nhiều mối quan hệ hơn nhưng cũng cô đơn hơn Câu hỏi người sống với nhau thế nào thể hiện rất rõ tâm trạng của một thời đoạn lịch sử cụ thể Nét nổi bật của xu hướng này là các nhà thơ rung động trước những biến thái tâm lý tinh

tế, sâu kín, nhiều khi ngỡ như thật mong manh Sự thức tỉnh trở lại ý thức cá nhân đã mở ra cho văn học nói chung và thơ đương đại nói riêng nhiều đề tài

và chủ đề mới, làm thay đổi quan niệm về con người Thơ ngày càng đi tới một quan niệm toàn vẹn và sâu sắc hơn về con người mà nền tảng cơ bản và hạt nhân triết học của quan niệm đó là tư tưởng nhân bản Con người vừa là điểm xuất phát, là đối tượng khám phá chủ yếu , vừa là cái đích cuối cùng của văn học, đồng thời là điểm quy chiếu, là thước đo giá trị của mọi vấn đề xã hội, mọi sự kiện và biến cố lịch sử Con người trong văn học hôm nay được nhìn ở nhiều vị thế và trong tính đa chiều của mọi mối quan hệ: con người với

xã hội, con người với lịch sử, con người với gia đình, gia tộc, con người với

Trang 14

phong tục, với thiên nhiên, với những người khác và với chính mình Con người cũng được văn học khám phá, soi chiều ở nhiều bình diện, nhiều tầng bậc: ý thức và vô thức, đời sống tư tưởng, tình cảm, đời sống tự nhiên, bản năng, khát vọng cao cả và dục vọng tầm thường, con người cụ thể, cá biệt và con người trong tính nhân loại phổ quát

Bên cạnh đó, thơ còn có xu hướng đi sâu vào những vùng mờ tâm linh đậm chất tượng trưng siêu thực Về thực chất đây là sự phát triển sâu hơn của khuynh hướng thứ hai Nét nổi bật của khuynh hướng này là sự nỗ lực đào sâu vào cái tôi ẩn dấu, cố gắng phát hiện chiều sâu tâm linh của con người Sự khác biệt giữa xu hướng này và xu hướng trên chủ yếu nằm ở cấp độ và cách khai thác sự đa chiều của cái tôi Nếu như xu hướng thứ hai chủ yếu tìm hiểu bản thể cái tôi trong các quan hệ đời sống, sự tương tác giữa cá nhân và hoàn cảnh thì xu hướng thứ ba này, các nhà thơ tập trung tìm hiểu cấu trúc cái tôi trong quan hệ với chính nó Tại đây tính “tự động tâm lí” đậm màu sắc siêu thực và sự “ú ớ” trong cảm thức nghệ thuật được đề cao Xu hướng này có thể tìm thấy trong thơ vụt hiện của Hoàng Hưng, một số thi phẩm của Hoàng Cầm, Lê Đạt… Tất nhiên trên quan điểm lịch sử, đây là những cách tân được tôn trọng vì những cái cực đoan và sai lầm (nếu có) còn có ý nghĩa hơn rất nhiều lần những cái “đung đúng”, chừng mực, đúng nhưng vô hồn và nhàm chán

Sự đa dạng và phong phú của các khuynh hướng thơ còn thể hiện ở xu hướng hiện đại chủ nghĩa Xu hướng này thể hiện rõ nhất trong các sáng tác của nhiều cây bút trẻ trưởng thành sau 1975 như Nguyễn Quang Thiều (Sự

mất ngủ của lửa) Nguyễn Bình Phương (Buồn), Phan Huyền Thư (Nằm nghiêng), Vi Thùy Linh (Khát, Linh) Việc thúc đẩy tính hiện đại trong thơ

không phải là chạy theo những thời thượng nghệ thuật mà quan trọng hơn, nhà thơ phải thể hiện được tinh thần hiện đại trong tác phẩm của mình Ở đó

Trang 15

các nhà thơ ý thức rất rõ việc nêu lên quan điểm cá nhân và chống lại những quan điểm mang tính toàn tri Nhưng dù đổi mới thế nào đi chăng nữa, hướng này cũng đã bộc lộ được sự hồn nhiên nhất, nguyên sơ nhất và giàu tính nhân bản nhất của con người về cuộc sống, vì sự cao đẹp của con người

1.1.2 Có nhiều biến đổi về thể loại

Sau 1975, trường ca phát triển mạnh mẽ Bởi độ dài của trường ca cho phép các nhà thơ có điều kiện miêu tả, tái hiện những vùng hiện thực rộng lớn Ở đó, các nhà thơ có thể thông qua các sự kiện, biến cố xảy ra trong đời sống để trình bày những suy ngẫm về dân tộc, con người Hơn thế với trường

ca, các nhà thơ có thể cùng lúc sử dụng nhiều thể thơ khác nhau như một hình thức phô diễn các cung bậc của cảm xúc, tạo dựng tiết tấu và âm hưởng thơ

Các tác giả tiêu biểu có thể kể đến là: Thanh Thảo (Những người đi tới biển), Hữu Thỉnh (Đường tới thành phố), Nguyễn Khoa Điềm (Mặt đường khát vọng), Hoàng Trần Cương (Trầm tích)

Trong thơ đã có sự nới lỏng cấu trúc các thể thơ truyền thống Các thể

thơ truyền thống không còn “nguyên bản” mà có những thay đổi đáng kể về cấu trúc bên trong Thơ đương đại được tăng cường tính “điệu nói” và cấu trúc thể loại dựa vào nhịp nhiều hơn vần, giọng điệu thơ gân guốc hơn, các liên tưởng thơ ít tuân theo quan hệ nhân – quả hơn Riêng về lục bát, đã có những nỗ lực cách tân về bài trí văn bản theo kiểu xuống dòng bậc thang và hiện tượng ngắt giữa các dòng và kiểu thơ tự do Giọng điệu cũng có sự thay đổi Cùng với sự xuất hiện của ngôn ngữ đậm chất tượng trưng, siêu thực

khiến khả năng diễn đạt tâm thức sâu thẳm của con người được mở rộng

Sự biến đổi thể loại trong thơ Việt Nam đương đại còn thể hiện rõ trong

thơ tự do và thơ văn xuôi Ở đó, xuất hiện sự giao thoa thể loại, đặc biệt chất

tiểu thuyết được tăng cường khiến giọng điệu thơ không còn êm ái, mượt mà như trước mà trở nên thô ráp hơn, nhịp điệu thơ mang nhiều tính bất ngờ hơn

Trang 16

1.1.3 Mới mẻ trong ngôn ngữ biểu hiện

Chính sự đa dạng về tư duy nghệ thuật và sự phong phú về giọng điệu đã khiến cho ngôn ngữ thơ có sự phân hoá và phân cực về cả bề nổi và về cả tầng sâu

Ngôn ngữ thơ Việt Nam đương đại đậm chất đời thường Các nhà thơ sử dụng lớp ngôn ngữ của đời sống sinh hoạt hàng ngày kết hợp với cách nói dân gian và giọng điệu “bụi bặm” khiến thơ trở nên “tếu táo” hơn và gần gũi với

đời thường hơn Tiêu biểu cho hướng đi này là Nguyễn Duy (Kiêng), Bùi Chí Vinh (Buồn gì đâu) Tuy nhiên khi để ngôn ngữ thơ quá gần với tiếng cười

dân gian và ngôn ngữ đời thường bên cạnh việc gia tăng tính giễu nhại trong thơ nhằm thể hiện tinh thần dân chủ thì không phải không dễ khiến thơ rơi vào đơn nghĩa trong khi bản chất của ngôn ngữ thi ca là đa nghĩa, mơ hồ Một điều dễ nhận thấy là trong thơ Việt Nam đương đại khá đậm chất tượng trưng Lớp ngôn ngữ tượng trưng này khiến cho nghĩa của thơ trở nên

mờ nhòe, độ mở của hình tượng thơ được nhân lên, màu sắc lạ hóa của ngôn ngữ thơ trở nên nổi bật Lê Đạt, Nguyễn Quang Thiều…là những nhà thơ có chí hướng cách tân, hiện đại thơ bằng việc tỉnh lược từ ngữ tối đa để gia tăng tính biểu đạt của ngôn ngữ thơ Tất nhiên, khác với ngôn ngữ giàu chất tượng trưng trong thơ Mới, ngôn ngữ giàu chất tượng trưng trong thơ đương đại mang tâm thế của một hành trình văn hóa khác: văn hóa công nghiệp và hậu công nghiệp

Bên cạnh đó, các nhà thơ đương đại chú ý nhiều đến việc tạo dựng những

“trò chơi” ngữ nghĩa trong thơ Sự xuất hiện của loại thơ dùng thanh điệu, ngôn ngữ, cấu trúc ngôn bản như một “tiếng nói” đã góp phần tạo nên sự thú

vị trong thưởng thức và sự rộng mở trong tiếp nhận nghệ thuật Với những

“trò chơi” chữ nghĩa này, thơ cần được cảm hơn là dùng để hiểu Và các cây

Trang 17

bút như Hoàng Hưng (Người đi tìm mặt), Đặng Đình Hưng (Ô mai), Lê Đạt (Bóng chữ),… có thể được coi là những cây bút tiêu biểu

Đặc biệt nhất có thể kể đến sự xuất hiện của ngôn ngữ thân thể trong thơ đương đại Thân thể tự nó là một ngôn ngữ giao tiếp Trong thơ đương đại, ngôn ngữ thân thể được biểu hiện tự nhiên, kiêu hãnh; phần nhiều trở thành ngôn ngữ của sự thân mật, thức tỉnh, giải phóng cá tính và bản năng Có thể

kể đến các sáng tác của các nhà thơ như Dư Thị Hoàn (Tan vỡ), Vi Thùy Linh (Sư tử buồn), Phan Huyền Thư (Nằm nghiêng)

1.2 Vi Thùy Linh – “hiện tượng” của thơ Việt Nam đương đại

1.2.1 Quan niệm nghệ thuật của Vi Thùy Linh

“Quan niệm nghệ thuật được hiểu là nguyên tắc cắt nghĩa thế giới và con người vốn có của hình thức nghệ thuật, đảm bảo cho nó có khả năng thể hiện đời sống với một chiều sâu nào đó” [11, tr.273] Quan niệm nghệ thuật có thể được hiểu là cách cắt nghĩa, lí giải hiện thực của nhà thơ, nhà văn trong tác phẩm Mỗi nhà thơ nhà văn khi sáng tạo dù tuyên ngôn hay im lặng, đều viết dưới ánh sáng của một quan niệm nghệ thuật nào đó Quan niệm này chi phối trực tiếp tư duy thơ, khúc xạ lên hình ảnh, biểu tượng, đổ bóng lên cái tôi trữ tình và in dấu vào ngôn ngữ

Vi Thùy Linh từng tuyên bố rằng: “vì chán ngấy sự cũ kĩ, nhàm chán Tác giả quyết tránh xa những mô phạm và sáo mòn, ngụy tạo và hèn nhát” [21, tr.431] Tác giả nhấn mạnh sự thành thật và quyết liệt: “Tôi là một nhà thơ sôlô Tôi không cần dàn đồng ca Tôi sẵn sàng là một chiến binh có thể bị

tử đạn để tạo nên làn sóng mới trong thi ca” [21, tr.431]

Nhà thơ cũng quan niệm “nghệ thuật đồng nghĩa với sự mới lạ một cách đặc biệt…trong nghệ thuật cần vượt qua cái bình thường” [2, tr.29] Quyết sống theo ý mình nhưng không phải là trụy lạc, tiêu cực; tác giả muốn khẳng định cá tính và bản lĩnh vững vàng trong sáng tạo nghệ thuật Với Vi Thùy

Trang 18

Linh, sống là phải cho ra sống, không nhợt nhạt, không nửa vời Điều này cũng được tác giả khẳng định trong thơ của mình:

Đập nát sự đơn điệu, khuôn khổ cũ kĩ, nhàm chán và cam chịu

Em tự làm mất đối xứng bằng em

(Không thanh thản)

Vi Thùy Linh cũng suy nghĩ rất nghiêm túc về “kĩ thuật” trong thơ: “Kỹ thuật thể hiện là căn cứ để phân định cây bút chuyên nghiệp với một người tập tành làm thơ Về kỹ thuật, tôi rất chú ý đến nhịp điệu, nhạc điệu, biết chú

ý tìm câu chữ, hình tượng mới, cách so sánh mới và nét nghĩa mới cho từ Thậm chí phải thay đổi và thêm vào nét nghĩa mới của một từ, loại từ đã quen Tôi cho rằng viết "tôi đang vui, tôi đang buồn, đang thất vọng" thì người nào đó biết chữ cũng có thể viết ra Những người đã mang chữ "sĩ" - nghệ sĩ, thi sĩ hay họa sĩ, văn sĩ… thì phải biết thể hiện trạng thái của thế giới

và con người một cách khác thường Vẫn là cuộc sống nhưng không phải là

bê nguyên cuộc sống Nhà thơ phải đem đến cho người đọc rung cảm mới đầy tinh tế, phóng khoáng và mãnh liệt” [31]

Có thể coi Vi Thùy Linh là một trong số những nhà thơ coi việc làm thơ

là sự sáng tạo thực sự, là lao động nghề nghiệp nghiêm túc: Nghệ thuật cần phải được trả giá và trả giá cao Đấy chính là văn hóa và tri thức Đấy chính là thượng tầng xã hội, là dân trí Nhà thơ từng phát biểu: “Tôi không điên cuồng lao vào văn chương, mà chủ động tận tụy cho nó suốt đời” [5]

Điều đặc biệt là Vi Thùy Linh không viết trong tâm thế của một phụ nữ

và còn luôn khẳng định không cần bất cứ sự châm chước nào cho phái yếu:

“Khi viết, tôi là một thi sĩ Không có nghệ sĩ nam, nữ Tôi không nhìn cuộc sống bằng con mắt phái tính, như thế sẽ bị hạn hẹp Tôi nhìn và sáng tác bằng con mắt nghệ sĩ” [26]

Trang 19

Như vậy, Vi Thùy Linh có quan niệm rất rõ ràng về nghệ thuật Tác giả

đề cao sự sáng tạo và lao động nghệ thuật nghiêm túc Với tác giả, sáng tác là một công việc chủ động và tận tụy cống hiến suốt đời

1.2.2 Những dấu ấn của thơ Vi Thùy Linh trong thơ Việt Nam đương đại

Vi Thùy Linh là nhà thơ trẻ ghi dấu ấn của thơ mình một cách đầy ấn

tượng trên thi đàn Với tâm thế của người làm tiếng Việt, muốn góp sức mình vào sự duy trì và sinh sôi vẻ đẹp, sự phong phú, biểu cảm của tiếng Việt, qua

hơn 17 năm với 7 tập thơ riêng, và sự xuất hiện của tập tùy bút “Vili tùy bút”

Vi Thùy Linh đã là một tác giả trẻ từng bước ghi tên mình vào lòng khán giả Điều ấy được chứng minh một cách thuyết phục qua các tập thơ, tập tùy bút đầu tay cũng như các đêm thơ luôn gây được chú ý trong giới văn nghệ, báo

chí và công chúng cả nước Vi Thùy Linh là tác giả trẻ có thơ in trong Tuyển tập thơ Việt Nam 1975-2000 (tập 1, Nxb Hội nhà văn, 2000), Sài Gòn tạp bút (Nxb Thanh niên, 4/2005)

Về nội dung, ái quyền là nguồn cảm hứng sôi nổi nhất của hồn thơ và làm nên khuôn mặt nghệ thuật Vi Thùy Linh trong thơ đương đại:

Ta Lúc nào cũng phá giới để yêu Thì có nên tu không?

Biết tu ở kiếp nào?

Trang 20

bầu trời, từ rêu cỏ đến biển đảo, từ cơn gió đến ngọn sóng, từ thân cầu đến đỉnh tháp, từ khung cửa đến bức rèm, từ ly rượu đến ngọn nến, đến cả những thành phố lớn như Hà Nội, Rome, Paris… đều đang yêu, đang tình tự bằng muôn vàn tế bào

Trong thơ Vi Thùy Linh có mô hình phổ biến với ba hệ thống hình tượng vừa song hành vừa đan xen chuyển hóa lẫn nhau: “Cái tôi – Người tình – Thế

giới” “Tôi” là nàng Eva Linh Cái tôi ấy mang trong mình một tình yêu nồng

nàn và đam mê Khát khao yêu và khát khao làm mẹ luôn song hành cùng nhau “Người tình” là Anh, một Anh luôn được viết hoa Và “Thế giới”, cõi tình quanh họ, là vườn địa đàng thì hiện tại

Về nghệ thuật, Vi Thùy Linh táo bạo, quyết liệt khi tham gia vào công

cuộc hiện đại hóa thơ Điều này thể hiện rõ ở ý thức về việc đổi mới ngôn

ngữ Tác giả từng nói “tôi rất chú ý đến nhịp điệu, nhạc điệu, biết chú ý tìm câu chữ, hình tượng mới, cách so sánh mới và nét nghĩa mới cho từ Thậm chí phải thay đổi và thêm vào nét nghĩa mới của một từ, loại từ đã quen” [31] Những tương giao về hình ảnh và nội dung trong thơ Vi Thùy Linh gây nên

niềm thích thú đối với bạn đọc:

Em ngắt vài cọng gió Thả lên dấu thời gian

“Vừng ơi” – em niệm chú Ước mơ về xênh xang…

(Giao cảm)

Hay:

Đừng trách em nữa anh!

Em thấy mình lạnh toát Đêm, ngày vỡ trên môi Sao mãi mình chưa gặp?

Trang 21

(Anh còn cho em)

Thơ Vi Thùy Linh là khát vọng bùng nổ, vượt qua mọi xúc cảm, là sự cựa quậy, phá vỡ mọi quy tắc, khát khao đổi mới táo bạo về nghệ thuật Người ta chỉ khát khao cháy bỏng khi thấm thía phần đời mòn cũ, vô vị đã qua:

Họ đi qua Một nửa hành trình cuộc đời Vết thời gian in dấu

Mãnh liệt sống Một nửa hy sinh Một nửa khát khao Khát khao không bật tiếng Khát khao cháy

Là mùa đầu cánh đồng Mẹ tôi sinh nở

Là cơn gió của đại ngàn Cha…

Khi bị gọi nhầm tên

Tôi không nói gì

Khi ai đó nói rằng, tôi giống người họ đã gặp

- Tôi bỏ đi

(Tôi)

Đó cũng là cái tôi tự do, tự lập không chấp nhận sự gò bó, áp đặt:

Trang 22

Cha mẹ định quàng dây cương vào tôi

“ Hãy để tự con đi!”

nỗ lực để thơ ca Việt vang trên đất khách – nơi mà kiều bào ít khi sử dụng và hưởng thụ tiếng Việt đẹp, thuần khiết và tinh tế - nơi mà thế hệ thứ hai, ba, bốn đã mai một ít nhiều ngôn ngữ gốc của tâm hồn cội nguồn nơi xứ sở” [26]

Trang 23

Chương 2 CÁC DẠNG THỨC CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH

TRONG THƠ VI THÙY LINH

Cái tôi trữ tình trong thơ Vi Thùy Linh tồn tại ở nhiều dạng thức Có

thể thấy nổi rõ lên là dạng thức của Cái tôi tự thân “không bao giờ hóa trang

để nhập vai người khác”, cái tôi khát khao tự biểu hiện và cái tôi suy ngẫm

2.1.Cái tôi tự thân “không bao giờ hóa trang để nhập vai người khác”

2.1.1.Cái tôi tự ý thức về cá nhân của mình

Thơ trẻ đương đại có sự trỗi dậy mạnh mẽ của cái tôi cá nhân với tất cả những biểu hiện phức tạp của thế giới nội tâm sâu kín Các nhà thơ đương đại

đã đào sâu tận cùng ngõ ngách tâm hồn mình với đầy đủ những yêu thương, đam mê, hân hoan lẫn cô đơn, tuyệt vọng và nhiều khi là cả cái chết Sự “nổi loạn” trong tâm hồn đòi hỏi được giải tỏa, được dấn thân, được nói, được tung hoành cùng với lối viết bạo dạn, tự do phóng khoáng Cái “Tôi” bản thể khẳng định vai trò của cá nhân mình đã trở thành một xu thế của thơ ca

Vi Thùy Linh viết nhiều về mình: Tôi, Những người sinh tháng Tư, Chân dung, Hai miền hoa Thùy Linh, Linh,…trong những bài thơ đó cái tôi tự

hiện rất mạnh mẽ, quyết liệt Bên cạnh việc trực tiếp xưng tên mình: “Linh”

(Linh), “Thùy Linh” (Thánh giá), nàng “Vi” (Lá thư và ổ khóa), “họ Vi”,

“Linh thị” (Song mã)…Nhà thơ luôn chú ý đến khẳng định cái tôi bản thể

“đầy mâu thuẫn” của mình

Khẳng định mình, Vi Thùy Linh muốn khẳng định một cái tôi cá nhân đặc thù, không giống ai, không thể nhầm lẫn với bất cứ người nào:

Là mùa đầu cánh đồng Mẹ tôi sinh nở

Là cơn gió của đại ngàn Cha…

Trang 24

Khi bị gọi nhầm tên,

Tôi không nói gì

Khi ai đó nói rằng tôi giống người họ đã gặp

(Độc mã)

Có thể thấy Vi Thùy Linh trong thơ là một cô gái đầy cá tính, bản lĩnh

và độc lập: “Không bao giờ hóa trang để nhập vai kẻ khác”:

Tôi đã nhìn mình trong gương cả khi khóc khi cười Bất cứ khi nào, trên sân khấu cuộc đời

Tôi vẫn là diễn viên tồi Bởi tôi không bao giờ hóa trang để nhập vai kẻ khác

(Tôi)

Trong thơ Vi Thùy Linh còn xuất hiện rất nhiều hình ảnh “hoa Thùy Linh” Tác giả hóa thân thành bông hoa Thùy Linh tạo thành miền hoa Thùy Linh trong thế đối lập với “miền Anh” “Miền Anh” ấm áp, không mùa đông thì miền hoa Thùy Linh lại “co ro”, “giàn giụa”:

Co ro trong phòng kín

Như con chim nhỏ

Trang 25

Hoa Thùy Linh

(Hai miền Thùy Linh)

Hay:

Trong cơn mơ chập chờn, em thấy Anh vừa tắm nước sông Hằng tinh khiết, đến nâng em đi về phía dòng sông ngọc bích hắt sáng đến chân trời nơi đầy hoa Thùy Linh nở

(Linh)

Hoa Thùy Linh mong manh và tinh khiết Trong một thế giới hỗn độn đang quay đảo, con người lạc vào sự triền miên vô tận của toan tính, thực dụng, sự trượt dốc của nhân cách tâm hồn thì hoa Thùy Linh đã luôn hướng

về tình yêu Dường như với cô tình yêu có sức mạnh vạn năng che lấp được tất thảy mọi xô bồ của cuộc sống Có thể thấy, khi hóa thân thành hoa Thùy Linh, nhà thơ đã tự khẳng định về cá nhân của mình trong tương quan với thực tại: co ro, giàn giụa nhưng luôn hướng về miền ánh sáng – tình yêu

Cái tôi trữ tình trong thơ Vi Thùy Linh mạnh mẽ, quyết liệt nhưng không hề thách thức Quyết sống theo ý mình nhưng đó không phải là cái tôi trụy lạc, tiêu cực mà đó là cái tôi cá tính, cái tôi có bản lĩnh vững vàng Vi Thùy Linh khác người vì muốn khẳng định mình, muốn là mình Với tác giả

đã sống là phải cho ra sống, không nhợt nhạt, không nửa vời, không uể oải, không chán chường, không cầm chừng:

Đập nát sự đơn điệu, khuôn khổ cũ kĩ, nhàm chán và cam chịu

Trang 26

“Hãy để con tự đi”

Độc mã

(Tôi)

Phải là một cái tôi cá tính và tài năng mới tạo nên được cái tôi tự ý thức

về cá nhân mình như thế Đúng như Tuốc-ghê-nhep đã từng nói, cái quan trọng của tài năng văn học là tiếng nói của riêng mình Đó chính là đặc điểm

để phân biệt chủ yếu một tài năng độc đáo

2.1.2.Cái tôi mạnh mẽ, táo bạo, quyết liệt

Cái tôi cá nhân trong thơ Vi Thùy Linh khát khao muốn thâu tóm cả thế gian vào mình Có thể nói thơ Vi Thùy Linh là khát vọng muốn phá bỏ sự cam phận vốn đã ăn sâu trong tiềm thức của nữ giới Cho nên độc giả thấy người phụ nữ trong thơ Vi Thùy Linh thường vượt lên mọi rào cản để chiếm lĩnh vùng yêu, thay đổi thế giới Và cái tôi lúc này như một sự hóa thân, hòa quyện cùng vũ trụ:

Tôi thích cách sống của cô Hồ Đêm đêm tôi vẫn thường trò chuyện Bằng thơ…

(Nửa đêm trò chuyện với cô Hồ)

Nhà thơ dám bày tỏ một cách trực tiếp, thẳng thắn những tâm tư, tình cảm của mình:

Em Sống hết mình từ tế bào nhỏ nhất Yêu dữ dội bằng sức mạnh phái yếu Lại khóc vì sắp khô nước mắt

(Những câu thơ mang vị mặn)

Trang 27

Có thể thấy cái tôi trong thơ Vi Thùy Linh là cái tôi dồi dào cảm hứng lãng mạn, cái tôi cuồng nhiệt yêu đương và luôn đòi hỏi được đáp đền xứng đáng Phía nào cũng phải hết mình, bên nào cũng phải tận lực:

Em mãi mãi muốn Anh xiết chặt Đừng đánh thức em bằng nụ hôn truyện cổ

(Anh và thời gian)

Báu vật của đời người là tuổi trẻ Người ta có quyền sống hết mình, mơ ước, khám phá, phiêu lưu trong quãng đời thanh xuân ấy Người ta có thể mãnh liệt khát khao, tham vọng, thậm chí đôi chút ảo tưởng Thơ Vi Thùy Linh chinh phục độc giả bằng chính cái tôi mạnh mẽ, táo bạo, quyết liệt Mỗi câu thơ của Vi Thùy Linh dường như luôn nồng nàn, nóng hổi, khát khao khẳng định mình, khẳng định cái tôi độc đáo và dấu ấn cá nhân Cái tôi mạnh

mẽ, táo bạo, quyết liệt ấy đã được dồn nén vào những biểu tượng mang đậm màu sắc của tác giả Đó là biểu tượng “độc mã”, không chấp nhận sự gò bó,

áp đặt Đã hơn một lần Vi Thùy Linh nói đến “độc mã”:

Cha mẹ định quàng dây cương vào tôi

“Hãy để con tự đi”

Độc mã Quyết làm những gì mình muốn

(Tôi)

Và:

Độc mã Vượt trước gió Cuốn ánh sáng ràn rạt Đêm không ngủ

(Độc mã)

Trang 28

Khi đã đứng vững trên cái tôi cá nhân thì tất cả những gì là của con người, từ những tính cảm sâu sắc, kín đáo, huyền bí nhất cho đến những lo lắng thường nhật, những uẩn khúc rắc rối sẽ được giải tỏa bởi sự táo bạo, mạnh mẽ, quyết liệt với sự sáng tạo độc đáo của riêng nhà thơ

2.2 Cái tôi khát khao tự biểu hiện

2.2.1 Khát khao yêu đương

Tình yêu là sợi chỉ đỏ xuyên suốt các tập thơ của Vi Thùy Linh Thơ

của cô chất chứa những cảm xúc yêu đương cháy bỏng, khi thì da diết mong

chờ, khi thì khát khao đón nhận Hai tập thơ Khát, Linh là sự kế tiếp một hành

trình bền bỉ và tự tin: Hành trình yêu Như thể không yêu dù chỉ một phút tác giả sẽ thấy ngày tận thế

Vi Thùy Linh khát khao yêu đương và có quan niệm riêng của mình về tình yêu “Có người nói: cái đẹp cứu thế giới nhưng với Vi Thùy Linh thì chỉ

có tình yêu mới cứu được thế giới này:

Khi yêu nhau, chúng mình đã thoát khỏi thế giới hỗn mang này, kiến tạo một thế giới khác, chỉ có Anh và em, chỉ có Anh và em

Một thế giới hòa hợp và hứng khởi, bởi sự khám phá không ngừng, bắt đầu từ khi mình biết vượt qua bức tường rêu kiên cố

Đó là ý nghĩa ngày mai được đón đợi ” [14, tr.8]

Cái tôi trữ tình trong thơ Vi Thùy Linh là cái tôi dồi dào cảm hứng lãng mạn Một cái tôi lúc nào cũng đòi yêu và đòi được yêu Phía nào cũng phải hết mình Bên nào cũng phải tận lực Đó chính là thời điểm bản ngã được giải phóng tối đa:

Em muốn nổ khối chữ trong mình Thành lời: Em yêu Anh!

(Em – Bí mật)

Khỏa thân trong chăn

Trang 29

Thèm chồng Thèm có chồng ở bên Chỉ cần anh gối lên đùi

Mình ôm lấy Anh ôm mình

Biết sự bình yên của mặt đất

(Khi em tựa cửa)

Nơi ấy cũng là nơi ta tìm thấy sự bình yên tuyệt đối:

Soi mình trong mắt Anh, em tìm thấy câu trả lời về Hạnh phúc

(Tự tình)

Trang 30

Thực thể tình yêu trong thơ Vi Thùy Linh mang nhiều màu sắc và cung bậc khác nhau Nó không nằm im lìm như những giải thích từ điển Nó là một cuộc đời sung mãn, căng tràn nhựa sống Cấu trúc cõi yêu trong thơ của Vi Thùy Linh là: “khát khao và hối hả” – “dâng hiến và chiếm đoạt” – “hòa hợp

Để ngàn năm còn vỗ

(Sóng)

Hai chữ “ngàn năm” trong con sóng nhỏ của Xuân Quỳnh đã đẩy khát vọng hòa nhập thành bất tử Tuy nhiên, những dòng cảm hứng trong thơ Vi Thùy Linh tuôn trào với cường độ mạnh hơn nhiều Thơ Vi Thùy Linh khỏe khoắn, mạnh mẽ Tác giả muốn truyền đến độc giả ý tưởng nghệ thuật đẹp: Tình yêu luôn có khả năng sinh tạo những chân lí mới

Trong cảm quan của Vi Thùy Linh, người có thể “đẩy bạt bóng tối”, có thể “ru em” và “sưởi ấm tâm hồn em” chỉ là Anh Có tình yêu của Anh, thế giới thơ của tác giả trở thành thế giới của hát ca, vĩnh cửu và hoan lạc: “Tình

yêu Anh khởi động lại thế giới” (Nơi ánh sáng) Bởi thế, người tình “Anh”

trong thơ Vi Thùy Linh bao giờ cũng xuất hiện dưới dạng viết hoa Đây là một thái độ biệt nhãn, một ý thức thờ phụng tình yêu

Với Vi Thùy Linh, tình yêu như một thứ tôn giáo và người yêu là một tín niệm:

Hình như tôi cũng đã lớn lên cùng tình yêu dành cho Anh,

từ khi bắt đầu là bào thai từ con gái trong bụng mẹ

Trang 31

Tôi nghĩ thế bằng giác quan thứ bảy

Cây thánh giá kết tạo từ linh giác

Tôi đã mang nó

Đi qua thời gian

Đi qua không gian

Phủ phục trước Anh

Hiến dâng trong hạnh phúc tuyệt đích của nô lệ tình yêu

không muốn được giải phóng

Chỉ có cái tôi với khát vọng mãnh liệt, tột cùng trong tình yêu mới có thể bộc lộ phần bản ngã đầy nhục cảm đến như vậy:

Anh ơi hãy ghì chặt em Hôn đi! Môi Anh ủ lửa Tim em mãi ngậm bùa yêu

Em hoang mang cả trời

(Ở lại)

Nồng nàn, phấn khích trong tình yêu, Vi Thùy Linh thể hiện trên những câu thơ thẳng thắn, bộc tuệch, không vòng vo bóng gió Sự mạnh dạn trong ngôn ngữ tình ái giúp tác giả thể hiện đúng từng cung bậc, trạng thái yêu đương:

Hãy siết em, cắn em để hằn dấu vết

Trang 32

Hãy nhập vào em hãy khóa và đánh mất chìa khóa trong em

…Môi em trong môi anh còn bầm

Chúng ta vẫn giấu hàm răng trong tiếng cười mang nỗi đau tuyệt diệu

(Lá thư và ổ khóa)

Đọc thơ Vi Thùy Linh, người ta ấn tượng về một người đàn bà trẻ, đầy thanh xuân và đích thực nồng nàn, luôn muốn bùng vỡ sức xuân tràn trề, không lảng tránh hay lẩn trốn:

Anh ở đâu Mắt anh ngủ nơi nào

Có yêu nhau, có thương nhau thì vượt đêm mà về

Có nhớ nhau, có khát nhau hãy cuộn tung thác nguồn Cuộn lửa tình mà cháy

(Gọi nguồn)

Hàng triệu tú cầu cùng đêm trườn qua ngón mềm khi chúng mình gắn nhau bằng hơi thở Ngón mềm trườn trên thân thể

Tất cả tan vào thao thiết nguồn yêu…

(Một mình tháng Tư)

Vi Thùy Linh đã bạo dạn viết những vần thơ như:

Quỳ trong đêm, em cởi mình Những cơn gió lao đến bế thốc mùa thu đi Những cánh tay chạm vào… em…run rẩy

(Nói với anh)

Hay:

Như bút lông miết lên tấm toan căng Chìm trong vũ điệu của tóc

Đổ nhịp đặc sánh lên tĩnh vật

Trang 33

Hai thân thể họa mình…

(Anh)

Những khát khao của cái tôi yêu đương được Vi Thùy Linh thể hiện chân thành nhưng tác giả cũng tránh được những chi tiết cụ thể dễ dẫn đến dung tục, tầm thường Sở dĩ Vi Thùy Linh có thể viết tự nhiên như thế bởi đối với tác giả tình yêu đích thực hòa quyện cả thể xác và tâm hồn, tình yêu thể xác là một lĩnh vực của tình yêu, nằm trong tình yêu và một biểu hiện của tình yêu Vi Thùy Linh trong thơ là một người khát khao tình yêu, khát vọng về một cuộc sống tự do và thành thực

Nhiều khi mệt mỏi với con đường không bằng phẳng mình đã chọn, người con gái xuất hiện trong hình dáng người đàn bà đa đoan:

Đừng hỏi em điều gì, hãy nhìn em

Người đàn bà đa đoan đến cả dáng nằm, ngồi cũng mang hình dấu hỏi Anh

…Như cơn bão nắng ngấm vào em

Cơn bão làm dấu hỏi cong thêm

Dấu hỏi như áo choàng định mệnh

Em đa mang một đời

(Anh)

Sống hết mình, yêu hết mình, “lúc nào cũng muốn ôm chặt Anh để yêu đến kiệt sức”, Vi Thùy Linh luôn hướng đến tình yêu, khát khao hạnh phúc chân thành Tác giả cần mẫn đan chiếc áo hạnh phúc và cứ mãi đợi chờ:

Về đi anh!

Cài then tiếng khóc của em bằng đôi môi Anh

Đưa em vào giấc ngủ nồng nàn, quên đi những đêm chập chờn, trĩu nặng, Ngày nối ngày bằng hi vọng

Em là người dệt tầm gai…

Trang 34

Em nhẫn nại chắt chiu từng niềm vui

Nhưng lại gặp rất nhiều nỗi khổ

Truân chuyên đè lên thanh thản

Ôi trái ngược – những sợi tầm gai!

Không kì vọng những điều lớn lao

Em lặng lẽ dệt hạnh phúc từ nỗi buồn – những sợi tầm gai–không ai nhìn thấy

(Người dệt tầm gai)

Người viết chợt nhớ tới một câu ngạn ngữ Pháp: “trái tim có những lí lẽ riêng của nó mà lí trí không thể biết được” Đúng vậy, trái tim luôn có tiếng nói riêng của nó Khát khao yêu và được yêu là khát khao vô cùng chính đáng của tác giả Và trong tình yêu những biểu hiện của sex cũng là một điều dễ hiểu Nếu nó xuất phát từ một tình yêu trong sáng, cao đẹp thì không có gì đáng lên án Sex chỉ xấu khi nó là bản năng chiếm đoạt thân xác với sự vị kỉ, toan tính, thực dụng Mặt khác, mong muốn dâng trọn trái tim cho người mình yêu của tác giả là điều hết sức cao đẹp

Có thể thấy cái tôi khát khao yêu và khát khao được yêu của Vi Thùy Linh trong thơ được trỗi dậy mạnh mẽ Để thể hiện sự mãnh liệt, cuồng tan của tình yêu, Vi Thùy Linh đã khai thác yếu tố tính dục như là một đối tượng thẩm mĩ Những câu thơ đẹp thanh thoát và giàu sức gợi cảm vì ngôn ngữ thân xác hòa với nhịp của tình yêu Khi coi tính dục là một đối tượng thẩm mĩ

để khai thác trong thơ, Vi Thùy Linh đã có sự kế tiếp nguồn nhựa sống mãnh liệt từ thơ của giai đoạn trước đó (Thơ Hồ Xuân Hương) và hòa tiếng nói riêng của thơ cô cùng thơ ca đương đại

2.2.2 Khát vọng khẳng định cái tôi – phụ nữ

Tâm lí học nữ giới (omen psychology) chỉ ra rằng nữ giới thuộc loại hình tâm lí tình cảm, mạnh về trực giác và rất nhạy cảm Đọc thơ Vi Thùy Linh ta thấy ý thức phái tính như một cách hiện diện của người phụ nữ hiện

Ngày đăng: 09/05/2021, 16:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w