1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ảnh hưởng của kiến trúc cung đình đối với kiến trúc chùa ở huế

63 62 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

So với các cố đô khác ở Đông Nam Á, Huế là nơi bảo lưu được tương đối nguyên vẹn nhất diện mạo của một quần thể kiến trúc kinh đô thời quân chủ, bao gồm thành lũy, cung điện, lăng tẩm… N

Trang 1

Ọ N N

Ọ SƯ P M

K OA LỊ SỬ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Ảnh hưởng của kiến trúc cung đình đối với kiến trúc

chùa ở Huế

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Trúc Phương

Người hướng dẫn : Lưu trang

Đà Nẵng, tháng 5/ 2013

Trang 2

PHẦN MỞ ẦU

Trong gần 400 năm (1558 - 1945), Huế đã từng là Thủ phủ của chín đời chúa Nguyễn ở Đàng Trong, là Kinh đô của triều đại Tây Sơn, rồi đến Kinh đô của quốc gia thống nhất dưới 13 triều vua Nguyễn Cố đô Huế ngày nay vẫn còn lưu giữ trong lòng những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể chứa đựng nhiều giá trị biểu trưng cho trí tuệ và tâm hồn dân tộc trong dòng chảy văn hóa Việt nam

Suốt mấy thế kỷ, bao nhiều tinh hoa của cả nước được chắt lọc hội tụ về đây hun đúc cho một nền văn hóa đậm đà bản sắc để hoàn chỉnh cho một bức cảnh thiên nhiên tuyệt vời sẵn bày sông núi hữu tình thơ mộng Trên nền tảng vật chất và tinh thần đã được hình thành ở Huế từ đầu thế kỷ XIV (khi vua Chăm là Chế Mân dâng hai châu Ô,

Rí cho nhà Trần để làm sính lễ cưới công chúa Huyền Trân), các vua chúa Nguyễn (thế kỷ XVI - XVIII), triều đại Tây Sơn (cuối thế kỷ XVIII) và 13 đời vua Nguyễn (1802 - 1945) đã tiếp tục phát huy và gây dựng ở vùng Huế một tài sản văn hóa vô giá Tiêu biểu nhất là Quần thể di tích Cố đô đã được sánh ngang hàng với các kỳ quan hằng ngàn năm tuổi của nhân loại trong danh mục Di sản Văn hóa Thế giới của UNESCO

So với các cố đô khác ở Đông Nam Á, Huế là nơi bảo lưu được tương đối nguyên vẹn nhất diện mạo của một quần thể kiến trúc kinh đô thời quân chủ, bao gồm thành lũy, cung điện, lăng tẩm… Nó đã được triều Nguyễn (1802 - 1945) cho qui hoạch và xây dựng một cách có hệ thống, đầy tính triết lý và giàu tính nghệ thuật Bởi vậy, khi nói đến kiến trúc Huế, dường như ai cũng nghĩ đến những thành quách, cung điện vàng son một thuở bên trong những vòng tường thành rêu phong cổ kính, hay những lăng tẩm uy nghi của các vua triều Nguyễn đang giấu mình dưới bóng cô tùng nơi vùng đồi núi chập chùng ở phía tây Kinh Thành Huế và cho rằng đây là bộ mặt nghệ thuật cung đình duy nhất của Việt Nam còn lại

Tuy nhiên, gần một thế kỷ rưỡi là Kinh đô của một triều đại phong kiến với thiết chế chính trị dựa trên nền tảng Nho giáo, lại từng là thủ phủ của Phật giáo một thời, bên cạnh những kiến trúc cung đình lộng lẫy vàng son, Huế còn lưu giữ hàng trăm ngôi chùa thâm niên cổ kính, an lạc giữa núi rừng hoang vu u tịch với những giá trị

Trang 3

tâm linh vô cùng thiêng liêng Như ông Amadou MahtarM’bow – Nguyên Tổng giám đốc UNESCO, đã từng đưa ra một nhận xét tinh tế: “Huế không phải chỉ là một mẫu mực về kiến trúc mà còn là một cao điểm về tinh thần và một trung tâm văn hóa sôi động - ở đó đạo Phật và đạo Khổng đã thấm sâu, hòa nhuyễn vào truyền thống địa phương, nuôi dưỡng một tư tưởng tôn giáo, triết học và đạo lý hết sức độc đáo.”

Hiện ở Huế có hơn 300 ngôi chùa và niệm phật đường lớn nhỏ, trong đó có những ngôi Tổ đình, cổ tự nổi tiếng từ hàng trăm năm như Chùa Thiên Mụ, Từ Đàm, Từ Hiếu, Quốc Ân, Trúc Lâm, Thiền Tôn, Trà Am, Vạn Phước…Mỗi ngôi chùa ở Huế không chỉ là một công trình kiến trúc độc đáo hòa quyện giữa con người với cảnh quan thiên nhiên mà còn là một địa chỉ lịch sử, văn hóa, tâm linh đặc sắc Nhiều ngôi chùa

đã trở thành biểu tượng đặc trưng cho đời sống văn hóa tâm linh Huế

Với những kiểu thức trang trí bắt nguồn từ những mẫu mực của Trung Hoa, các nghệ nhân Huế đã tạo nên một bản sắc nghệ thuật kiến trúc với những nét độc đáo mang cá tính Huế Mỹ thuật kiến trúc Huế được tiếp thu những tinh hoa của nghệ thuật Chăm, đặc biệt sau này là nghệ thuật trang trí Tây phương Nghệ thuật kiến trúc cung đình Huế còn là sự tiếp nhận và nâng cao nghệ thuật kiến trúc dân gian Nhiều loại hình thủ công mỹ nghệ truyền thống của Việt Nam như chạm khắc gỗ, cẩn xà cừ, cẩn tam khí ngũ khí, sơn son thếp vàng, chạm khắc xương và ngọc ngà, khảm sành sứ, làm vàng bạc, dệt, thêu, đan… đã được các nghệ nhân triều Nguyễn nâng lên thành những nghệ thuật tinh xảo, sang trọng Rồi sau đó, chính nghệ thuật kiến trúc cung đình đã thâm nhập vào đời sống dân gian, tác động và ảnh hưởng mạnh mẽ đến lối kiến trúc dân gian qua các công trình tôn giáo tín ngưỡng là nơi lưu giữ một đời sống tâm linh

vô cùng thiêng liêng của người dân xứ Huế

Chính sự cộng hưởng giữa lối kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng truyền thống dân tộc với nghệ thuật kiến trúc cung đình Huế đã mang lại một sự tươi mới, khác biệt định hình nên một phong cách rất riêng cho lối kiến trúc này ở Huế Mang trong mình sự hội tụ tinh hoa dân tộc với tầm ảnh hưởng sâu rộng, kiến trúc cung đình đi vào đời sống dân gian đã để lại những dấu ấn gì trong những công trình kiến trúc đương đại?

Đi sâu vào nghiên cứu sự “Ảnh hưởng của kiến trúc cung đình đối với kiến trúc chùa ở Huế” góp phần làm sáng hơn nữa một mảng rất hay của kiến trúc Huế Và đó là lí do

tôi chọn đề tài này làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình

Trang 4

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nghiên cứu về kiến trúc Huế nói chung và kiến trúc tín ngưỡng Huế nói riêng là đề tài đã nhận được khá nhiều sự quan tâm của các học giả, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Mỗi tác giả đã đi sâu nghiên cứu khía cạnh này hay khía cạnh khác với nhiều nghiên cứu có giá trị khoa học và thực tiễn cao Mảng nghiên cứu về kiến trúc chùa cũng nhận được rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Bởi Huế mang trong mình vai trò của một trung tâm văn hóa lớn, nơi hội tụ nhiều tinh hoa, chốn gặp

gỡ của nhiều vị cao tăng, đồng thời cũng là mảnh đất tốt để hệ thống nghi lễ được tổ chức một cách hoàn chỉnh, quy mô, có tính điển chế cao, đặc biệt vào thời nhà Nguyễn Mặc dù số lượng các tác phẩm nghiên cứu khá đồ sộ về rất nhiều mảng kiến thức, nhưng mảng về kiến trúc tín ngưỡng Huế với sự ảnh hưởng và tiếp biến của kiến trúc cung đình còn khá khiêm tốn, phần nhiều nằm ở các bài viết chứ chưa thực sự được đầu tư nghiên cứu một cách hệ thống

Đề tài nghiên cứu này tuy không mới đối với giới chuyên môn nhưng hứa hẹn sẽ mang đến những khám phá vô cùng thú vị cho những du khách yêu Huế với những giá trị cổ xưa

3.3 Khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của sự ảnh hưởng kiến trúc cung đình đối với nghệ thuật kiến trúc Phật giáo ở Huế Từ đó, giới thiệu các giá trị của nó cho những ai quan tâm tìm hiểu

4 ối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 ối tƣợng nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu kiến trúc cung đình và chùa chiền ở Huế, tôi tìm hiểu những nét ảnh hưởng từ kiến trúc cung đình đến kiến trúc chùa, bao gồm ảnh hưởng về phong thủy, vật liệu và kỹ thuật xây dựng, màu sắc, điêu khắc trang trí…

Trang 5

Nguồn tư liệu chủ yếu của đề tài là thông qua sách, báo, thông tin thống kê, bài tham luận, đề án, những bài viết có liên quan đến quy hoạch và thiết kế xây dựng các công trình kiến trúc Phật giáo ở Huế; cũng như trên các phương tiện truyền thông: Internet, truyền hình… Tư liệu thông qua các chuyến đi thực tế đến các địa điểm thuộc phạm vi nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện luận văn này, tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

6.1 Phương pháp phân tích tổng hợp

Phương pháp này được sử dụng nhằm phân tích, tổng hợp các tư liệu, thông tin liên quan đến đối tượng, chủ thể nghiên cứu giúp triển khai và khái quát lại các vấn đề cần nghiên cứu

6.2 Phương pháp thống kê

Đây là phương pháp giúp xử lý, hệ thống lại nhiều số liệu, tư liệu, hình ảnh đã được thu thập từ nhiều nguồn và thời gian khác nhau

6.3 Phương pháp khảo sát thực địa

Việc khảo sát thực địa có vai trò rất quan trọng trong bất kì quá trình nghiên cứu nào Phương pháp này giúp lấy được những thông tin, số liệu, hình ảnh cần thiết cho việc trình bày những luận cứ một cách xác thực, tăng độ thuyết phục cho công trình nghiên cứu

Trang 6

6.4 Phương pháp so sánh – đối chiếu

Bởi đối tượng được nghiên cứu nằm trong vùng văn hóa lớn và chịu nhiều sự ảnh hưởng của kiến trúc cung đình mang lại một diện mạo rất riêng cho kiến trúc chùa

ở Huế Việc sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu với những công trình Phật giáo mang nét đặc trưng của kiến trúc truyền thống dân tộc để làm nổi bật hơn những nét đặc sắc không lẫn được của nền kiến trúc chùa đương đại ở Huế

6.5 Phương pháp chuyên gia

Là phương pháp điều tra, tiếp cận đối tượng nghiên cứu qua đánh giá của các chuyên gia, khai thác ý kiến đánh giá của các chuyên gia có trình độ cao để xem xét, nhận định về vấn đề nghiên cứu để tìm ra giải pháp tối ưu cho vấn đề đó Đây là một phương pháp rất cần thiết trong việc nghiên, đánh giá kết quả, hoặc thậm chí cả trong quá trình đề xuất giả thuyết nghiên cứu, lựa chọn phương pháp nghiên cứu, củng cố các luận cứ… Phương pháp chuyên gia được sử dụng phối hợp với các phương pháp khác

Nghiên cứu kiến trúc cung đình Huế là đề tài luôn được đặt ra đối với các nhà nghiên cứu và những nhà làm công tác bảo tồn di sản văn hóa, đặc biệt là giới nghiên cứu bảo tồn quần thể di tích Cố Đô Huế Ngoài ra, việc nghiên cứu sự ảnh hưởng của nền kiến trúc kiến trúc cung đình Huế đối với các công trình đương đại ở Huế cũng đã trở thành đề tài khá hấp dẫn đối với những nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam Việc hiểu rõ đặc trưng tính chất, phương pháp chế tác, kết cấu xây dựng và những tác nhân ảnh hưởng đến các công trình kiến trúc là cơ sở quan trọng để các nhà bảo tồn thực hiện trách nhiệm quan trọng này

Với Huế, một thành phố đang lưu giữ hai di sản văn hóa Thế Giới, với lượng khách đến với nơi đây ngày một tăng lên cùng với sự xuống cấp nghiêm trọng của hệ thống các công trình kiến trúc Vì vậy, vấn đề nghiên cứu để bảo tồn và gìn giữ các công trình này vẫn đang là một thách thức và nỗi niềm trăn trở của các nhà quản lý và chuyên môn ở Huế Việc đầu tư nghiên cứu kiến trúc cung đình, chùa ở Huế một cách khoa học là rất cần thiết nhằm xác định rõ diện mạo và định hướng cách thức để bảo tồn và phát huy loại hình di sản độc đáo này

Trang 7

8 Cấu tạo của đề tài

Trong đề tài này, ngoài phần mở đầu, phụ lục, tài liệu tham khảo và phần kết luận

ra, phần nội dung nghiên cứu gồm hai chương được kết cấu như sau:

ƢƠN 1: V NÉT VỀ VÙN ẤT, ON N ƢỜI VÀ CÁC CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC CUN ÌN , ÙA Ở HUẾ

ƢƠN 2: ẢN ƢỞNG CỦA KIẾN TRÚ UN ÌN ỐI VỚI KIẾN TRÚC CHÙA Ở HUẾ

Trang 8

NỘI DUNG ƢƠN 1 VÀI NÉT VỀ VÙN ẤT, ON N ƢỜI VÀ CÁC CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC

Thừa Thiên - Huế giáp tỉnh Quảng Trị về phía bắc, biển Đông về phía đông, thành phố Đà Nẵng về phía đông nam, tỉnh Quảng Nam về phía nam, dãy Trường Sơn và các tỉnh Saravane và Sekong của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào về phía tây Thừa Thiên - Huế cách Hà Nội 654 km, Nha Trang 627 km và Thành phố Hồ Chí Minh 1.071 km

Nằm ở dải đất hẹp của miền Trung Việt Nam và là trung tâm về nhiều mặt của miền Trung như văn hóa, chính trị, kinh tế, giáo dục, y tế, du lịch, khoa học kỹ thuật, đào tạo… Với dòng sông Hương và những di sản để lại của triều đại phong kiến, Huế còn gọi là đất Thần kinh hay xứ Thơ, là một trong những vùng đất được nhắc tới nhiều trong thơ văn và âm nhạc Việt Nam Hơn nữa, Thừa Thiên Huế nằm ở vị trí trung tâm của các di sản văn hóa Thế giới của Việt Nam (Hội An, Mỹ Sơn, động Phong Nha –

Kẻ Bảng), gần với các thành phố cố đô của các nước trong khu vực

Tựa lưng vào dãy núi Trường Sơn, nằm ở vị trí có điều kiện thiên nhiên, hệ sinh thái đa dạng, phong phú và diện mạo riêng, tạo nên một không gian hấp dẫn, được xây dựng trong không gian phong cảnh thiên nhiên kỳ diệu từ núi Ngự Bình, đồi Thiên An – Vọng Cảnh Nơi đây hội đủ các dạng địa hình: đồi núi, đồng bằng, sông hồ; tạo thành một không gian cảnh quan thiên nhiên – đô thị - văn hóa lý tưởng

Trang 9

Khí hậu thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa, mang tính chuyển tiếp từ Á xích đạo đến nội chí tuyến gió mùa, chịu ảnh hưởng khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam nước ta

Chế độ nhiệt: có mùa khô nóng và mùa mưa ẩm lạnh Nhiệt đô trung bình hàng năm vùng đồng bằng khoảng 24-250C

Đặc điểm mưa ở Huế là mưa không đều, lượng mưa tăng dần từ Đông sang Tây,

từ Bắc vào Nam và tập trung vào một số tháng với cường độ mưa lớn do đó dễ gây lũ lụt, xói lỡ

Theo các tư liệu xưa, từ hàng nghìn năm trước, Huế đã từng là địa bàn cư trú của những cộng đồng cư dân mang nhiều sắc thái văn hóa khác nhau Tương truyền vào thời kỳ hình thành Nhà nước Văn Lang – Âu Lạc, Huế là vùng đất của bộ Việt Thường

Năm 339, vương quốc Chăm Pa đem quân đánh chiếm vùng đất bộ Việt Thường Vùng đất này trở thành biên địa phía Bắc của Chăm Pa với cơ cấu 5 châu: Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh, Ô và Lý Năm 1306, vua Chàm là Chế Mân để cầu hôn với công chúa Huyền Trân, em của vua Trần Anh Tông đã dâng sính lễ là hai châu Ô và Rí (châu Lý) – tổng cộng khoảng ngàn dặm vuông cho Đại Việt

Năm 1307, vua Trần Anh Tông tiếp thu vùng đất mới và đổi tên là châu Thuận

và châu Hóa Năm 1466, Lê Thánh Tông chính thức đặt Thuận Hóa làm thừa tuyên Thuận Hóa Đến đời nhà Hậu Lê, Thuận Hóa là một đơn vị hành chính cấp tỉnh

Với lời sấm truyền “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân” (một dải Hoành Sơn, có thể yên thân muôn đời), năm 1558, Nguyễn Hoàng xin vào trấn giữ xứ Thuận Hóa, khởi đầu cơ nghiệp của các chúa Nguyễn Từ đây, quá trình phát triển của vùng đất Thuận Hóa – Phú Xuân gắn liền với sự nghiệp của 9 đời chúa Nguyễn ở Đàng Trong

Năm 1771, khởi nghĩa Tây Sơn bùng nổ và lớn mạnh, đến 1788 Nhà Tây Sơn

đã đánh tan hai tập đoàn Trịnh – Nguyễn thống nhất đất nước Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế lấy niên hiệu là Quang Trung, đóng đô ở Phú Xuân và bắt tay vào việc xây dựng đất nước với những chính sách thông minh và tiến bộ Quang Trung đã củng cố,

Trang 10

xây dựng và mở rộng đô thành Phú Xuân Năm 1792, Quang Trung mất khi mới 39 tuổi

Sau khi Quang Trung mất, nhà Tây Sơn suy yếu Nguyễn Phúc Ánh từ Gia Định tiến quân ra đánh bại nhà Tây Sơn, thống nhất đất nước lập nên vương triều nhà Nguyễn Nguyễn Ánh là vị vua đầu tiên của nhà Nguyễn lấy niên hiệu là Gia Long Sau khi xưng niên hiệu và định đô tại Phú Xuân, Gia Long đã bắt tay vào việc xây dựng kinh thành “thượng đô của đế vương” cho xứng với tầm vóc của một đất nước thống nhất có lãnh thổ rộng lớn

Năm 1805, vua Gia Long cho khởi công xây dựng Kinh thành Huế, có chu vi gần 10.000m, diện tích 520ha Kinh thành Huế là công trình kiến trúc đồ sộ, bề thế và quan trọng nhất của nhà Nguyễn, một chứng tích tiêu biểu cho sự hình thành và phát triển mạnh mẽ của mỹ thuật Nguyễn trên đất thần kinh trong thế kỷ XIX

Trải qua 13 triều đại kế tiếp nhau, nhà Nguyễn đã xây dựng kinh đô Phú Xuân – Huế trở thành một kinh đô rộng lớn, phát triển mạnh mẽ về kinh tế, chính trị, văn hóa,

kỹ thuật…với nhiều di sản lớn lao để lại cho đời sau

Quần thể di tích Huế - Di sản Văn hóa Thế giới – bao gồm các di tích thuộc nhiều loại hình: thành quách, đến miếu, lăng tẩm…với bề dày lịch sử của một trung tâm hành chính xứ Đàng Trong vào thế kỷ 17-18 và kinh đô của cả nước từ 1802-1945 Trong số các di tích, Kinh thành Huế được quy hoạch dựa trên những nguyên tắc triết

lý cổ của phương Đông nói chung và theo truyền thống của Việt Nam nói riêng, tạo nên sự hài hòa giữa quy hoạch kiến trúc và cảnh quan thiên nhiên mang đậm ý nghĩa biểu tượng Mối quan hệ âm dương, ngũ hành thể hiện qua năm phương hướng chủ yếu (trung tâm, đông, tây, nam, bắc), năm yếu tố cơ bản của tự nhiên (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ) và năm màu cơ bản (vàng, trắng, xanh, đen đỏ) là cơ sở cho ý tưởng quy hoạch của Kinh thành, được phản ánh trong tên gọi của nhiều công trình quan trọng ở khu vực này

Đây cũng là thành lũy đầu tiên ở Đông Nam được làm theo kiểu Vauban của phương Tây với quy mô hoàn chỉnh nhất, được hoàn tất với sự đóng góp công sức của hàng ngàn nhân công và binh lính huy động từ các địa phương trong cả nước

Trang 11

Bên ngoài Kinh thành còn có nhiều di tích quan trọng khác có liên quan Những di tích này bao gồm các lăng tẩm của triều Nguyễn ở phía nam của sông Hương, các đền miếu chùa chiền và phủ đệ với những giá trị không chỉ về mặt kiến trúc mà còn về cảnh quan của chúng

Với những đặc điểm ấy, quần thể di tích Huế là một ví dụ độc đáo về việc quy hoạch và xây dựng một kinh đô phòng thủ hoàn chỉnh trong giai đoạn tương đối ngắn vào những năm đầu thế kỷ 19 Theo đánh giá của các chuyên gia UNESCO, tính toàn vẹn của quy hoạch đô thị và thiết kế xây dựng đã đưa Huế trở thành một mẫu mực hiếm có về quy hoạch đô thị vào cuối thời phong kiến Đồng thời, quần thể di tích cố

đô Huế cũng được xem là một ví dụ nổi bật về một loại công trình xây dựng, một quần thể kiến trúc hoặc kỹ thuật hoặc một cảnh quan minh chứng cho một (hoặc nhiều) giai đoạn trong lịch sử nhân loại (tiêu chí thứ IV) theo Hướng dẫn thực hiện Công ước Di sản Thế giới Vì những giá trị đó, tháng 12 năm 1993, quần thể di tích Huế đã được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới

Quần thể di tích Cố đô Huế hay Quần thể di tích Huế là những di tích lịch sử - văn hóa do triều Nguyễn chủ trương xây dựng trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX trên địa bàn kinh đô Huế xưa; nay thuộc phạm vi thành phố Huế và một vài vùng phụ cận thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế Quần thể di tích Cố đô Huế

có thể phân chia thành các cụm công trình gồm các cụm công trình ngoài Kinh thành Huế và trong Kinh thành Huế

Ngoại trừ kinh đô triều Nguyễn ở Huế, tất cả cố đô của các triều đại trong lịch

sử thời quân chủ Việt Nam đều đã điêu tàn, mai một May mà còn cố đô Huế để thấy được một phần nào diện mạo của thời kỳ lịch sử quân chủ kéo dài mấy ngàn năm đã lùi về dĩ vãng

Triều Nguyễn là triều đại quân chủ cuối cùng trong lịch sử Việt Nam Nó chỉ mới chấm dứt cách đây hơn nửa thế kỷ Dù đã bị thiên tai, chiến tranh tàn phá, nhưng

hệ thống thành quách cung điện và các công trình kiến cung đình khác đã được xây dựng một cách vững chắc và phong phú, cho nên phần lớn còn đứng vững đến ngày nay

Trang 12

Không kể đàn Nam Giao, Hổ Quyền và những lăng tẩm các vua nhà Nguyễn tách ra một cụm ở phía nam sông Hương, Huế còn bảo lưu khoảng 200 công trình kién trúc cung đình lớn nhỏ đã được quy hoạch và xây dựng một cách có bài bản và có hệ thống ở bờ Bắc dòng sông ấy Trong quy hoạch mặt bằng của tổng thể kiến trúc, đây là trung tâm sinh hoạt chính của triều đình Trung ương, nơi làm việc và ăn ở của vua quan và hoàng gia nhà Nguyễn

Tất cả cung điện, lâu đài, đền miếu, bộ viện, nha sở và các công ốc ở đó đều được bảo vệ cẩn mật và phòng thủ chặt chẽ bằng một hệ thống thành quách, đồn bót và hào lũy rất kiên cố Hệ thống thành quách dùng để phòng vệ ấy bao gồm 3 vòng thành ngoài lớn trong nhỏ, là Kinh thành, Hoàng thành và Tử Cấm thành Ở bên ngoài góc đông bắc của Kinh thành, còn có thêm một cái thành phụ chu vi khoảng 1.000m là Trân Bình Đài, còn gọi là đồn Mang Cá Hầu hết các công trình kiến trúc đó đều đã được làm ra trong 3 thập niên đầu thế kỷ XIX dưới thời vua Gia Long (1802-1819) và vua Minh Mạng (1820-1840)

Kinh thành được xây dựng theo kiểu Vauban (tên một kỹ sư công binh người Pháp sống vào thế kỷ XVII), diện tích rộng đến 520 ha, chu vi hơn 10.000m, cao 6,6m, dày 21m (giữa đắp bằng đất, hai mặt tường trong và ngoài ốp bằng gạch) Thành có trổ

10 cửa để ra vào, dựa theo phương hướng để đặt tên, ví dụ: cửa Đông Nam, thường gọi

là cửa Thượng Tứ; cửa Chánh Đông, thường gọi là của Đông Ba; cửa Tây Bắc thường gọi là cửa An Hòa, cửa Tây Nam gọi là cửa Hữu…

Dựa vào các nguyên tắc địa lý phong thủy của Đông phương và thuyết âm dương ngũ hành của Dịch học, các nhà kiến trúc đầu thế kỷ XIX đã cho hệ thống thành quách và cung điện ấy quay mặt về hướng Nam Họ đã dùng núi Ngự Bình cao 104m (cách bờ Nam sông Hương 3km) làm tiền án và hai hòn đảo nhỏ mang tên Cồn Hến và

Dã Viên trên sông Hương làm “Tả Thanh Long, Hữu Bạch Hổ” chầu vào trước mặt Kinh thành

Gần chân thành có đào một hệ thống hào (fossé) chạy quanh 4 mặt thành và ngoài hào khoảng 200m còn đào một hệ thống sông sâu và rộng hơn gọi là Hộ Thành

Hà Hai hệ thống đường thủy này tạo thành hai chướng ngại vật dùng để tăng cường thêm cho công việc bảo vệ Thành nội

Trang 13

Trên các mặt thành đều có xây các pháo đài, giác bảo, pháo nhân, tường bắn, vọng lâu…để canh gác, phòng thủ Ở giữa mặt tiền Kinh thành là Kỳ Đài cao lớn uy nghi

Bên trong Kinh thành có hàng chục công thự của triều đình như Lục Bộ, viện

Cơ mật, viện Đô sát, viện Bảo tàng, trường Quốc Tử Giám, Quốc Sử Quán, lầu Tàng Thơ, phủ Tôn Nhơn…Ngoài ra còn có hồ Tịnh Tâm, sông Ngự Hà để vua đi chơi bằng thuyền rồng

Được kết hợp các nguyên tắc kiến trúc của phương Đông lẫn Tây phương và vận dụng vào điều kiện địa lý tại chỗ để xây dựng một cách thích hợp và tự nhiên, Kinh thành Huế là cái thành vĩ đại và kiến cố nhất so với các Kinh đô khác trong lịch

sử Việt Nam Xây dựng trong 27 năm (1805-1832) với hàng triệu nhân công huy động

từ nhiều địa phương trên cả nước, Kinh thành Huế là một tác phẩm kiến trúc nghệ thuật độc đáo, một kỳ công của dân tộc

Nằm trong lòng Kinh thành và nhích gần mặt trước của nó là Hoàng thành và

Tử Cấm thành, gọi chung là Đại Nội Đây là trung tâm sinh hoạt chính trị và hành chính quan trọng nhất của triều đình và là nơi ăn chốn ở của nhà vua và gia đình rất đông đảo

Đại Nội được xây dựng chính thức vào năm 1804 và nâng cấp, hoàn chỉnh hóa vào năm 1833 Chung quanh có tất cả 10 chiếc cầu bắc qua hào Mỗi mặt thành trổ một cửa để ra vào Mặt trước là cửa Ngọ Môn dành cho vua đi khi có đoàn Ngự đạo theo hầu; mặt sau là cửa Hòa Bình dành cho vua đi chơi; mặt trái là cửa Hiển Nhơn dành cho quan lại và lính tráng phục vụ ra vào làm việc; và mặt phải là cửa Chương Đức dành riêng cho các bà trong nội cung

Với hơn 100 công trình kiến trúc đẹp, mặt bằng Đại Nội chia ra làm nhiều khu vực khác nhau, giữa các chức năng riêng biệt và quanh mỗi khu vực đều có xây tường

để ngăn cách nhau Các khu vực chính là:

1, Từ cửa Ngọ Môn đến điện Thái Hòa: Đây là nơi cử hành các cuộc đại lễ của triều đình như: lễ Đăng Quang, lễ Vạn Thọ (sinh nhật vua), lễ Nguyên đán, lễ Duyệt binh… và lễ Đại triều mỗi tháng hai lần

Trang 14

2, Triệu Miếu, Thái Miếu, Hưng Miếu, Thế Miếu và điện Phụng Tiên là những khu vực dành riêng để thờ các vua chúa nhà Nguyễn Tại đây, ngoài 5 tòa miếu điện chính, còn có khoảng 30 công trình kiến trúc phụ thuộc

3, Cung Diên Thọ và cung Trường Sanh, mỗi cung có một tòa điện chính ở giữa

và hơn 10 tòa nhà phụ ở chung quanh Đây là nơi dành riêng cho Hoàng Thái Hậu (mẹ vua) và Thái Hoàng Thái Hậu (bà nội vua) ăn ở

4, Phủ Nội Vụ: Đây là các nhà kho tàng trữ đồ quý, các xưởng thủ công mỹ nghệ chế tạo đồ vàng, bạc, ngọc ngà, gấm vóc… cho triều đình và Hoàng gia sử dụng

5, Vườn Cơ Hạ và điện Khâm Văn: Nơi học tập và chơi đùa của các Hoàng tử

và Hoàng nữ khi chưa xuất phủ

6, Tử Cấm Thành: Là khu vực quan trọng nhất so với các khu vực kia, Tử Cấm Thành có mặt bằng hình vuông, mỗi cạnh trên dưới 300m Vòng tường thành chung quanh xây bằng gạch cao 3,50m, ngăn cách nơi sinh hoạt của nhà vua với Hoàng gia bên ngoài Trong Tử Cấm Thành có gần 50 công trình kiến trúc lớn nhỏ bao gồm nhiều cung điện huy hoàng tráng lệ lộng lẫy vàng son Chung quanh thành trổ 7 cửa để

ra vào, mà cửa chính duy nhất ở mặt thành phía trước là Đại Cung Môn chỉ dành cho vua đi Vừa bước vào khỏi cửa này là đối diện ngay với điện Cần Chánh là nơi vua làm việc hàng ngày Hai bên sân điện là Tả Vu, Hữu Vu và Đông Các Hai bên điện này là điện Văn Minh và điện Võ Hiển quay mặt về cùng một hướng như nó Sau đó, cách một tấm bình phong dài là điện Càn Thành, nơi vua ở Cách một cái sân nữa là cung Khôn Thái, nơi ở của Hoàng Quý Phi (thường gọi là Hoàng Hậu), rồi đến lầu Kiến Trung xây thời Khải Định Hai bên dãy cung điện ấy còn có điện Quang Minh, điện Trinh Minh, điện Dưỡng Tâm, Tĩnh Quang Đường, Duyệt Thị Đường (nhà hát), Thượng Thiện Đường (chỗ nấu ăn cho vua), Thái Bình Lâu (nơi vua đọc sách), gắn liền với Thiệu Phương Viên là vườn Ngự Uyển với những hồ ao, đình tạ, cầu cống…

và đối xứng bên kia là Lục Viện, thế giới của Phi tần cung nữ, hoạn quan, nơi đã diễn

ra bao nhiêu chuyện thâm cung bí sử dưới thời 13 vua nhà Nguyễn

Di tích ngoài Kinh thành Huế bao gồm các di tích quan trọng có từ thời nhà Nguyễn hoặc xa hơn là từ thời các chúa Nguyễn nó mang nhiều chức năng, phục vụ

Trang 15

cho các mục đích khác nhau Có cùng một đặc điểm là thuộc hệ thống di sản văn hóa Huế

1.3.2.1 Lăng tẩm

Lăng tẩm Huế gồm những nơi dùng để an táng các vị vua, chúa của những triều đại đã chọn Huế làm trung tâm quyền lực

Vào đầu thập niên 1910, một người Tây phương tên là Ph.Eberhard đã viết:

“Huế là một trung tâm du lịch hấp dẫn, nơi có Kinh thành, Hoàng thành và lăng tẩm có một sức cuốn hút sự chú ý đặc biệt của du khách và các nhà mỹ thuật Chỉ riêng lăng tẩm các vua nhà Nguyễn không thôi cũng đã đủ có giá trị đối với cuộc du lịch rồi, theo

ý kiến chung, lăng tẩm Huế đẹp hơn lăng tẩm các vua nhà Minh ở Trung Quốc”

Mãi đến ngày nay, ý kiến chung của những nhà làm công tác văn hóa nghệ thuật trong nước và trên thế giới cũng khẳng định rằng lăng tẩm Huế là một thành tựu rực rỡ nhất của nền kiến trúc cổ Việt Nam

Triều Nguyễn (1802-1945) có đến 13 vua, nhưng vì những lý do lịch sử phức tạp khác nhau, nên hiện nay ở Huế chỉ có 7 khu lăng tẩm Đó là các lăng Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Dục Đức (ở đây còn có mộ hai vua Thành Thái, Duy Tân), Đồng Khánh và Khải Định Theo ý đồ quy hoạch kiến trúc kinh đô nhà Nguyễn vào đầu thế kỷ XIX, 7 khu lăng ấy nằm trong một vùng khá riêng biệt ở phía tây Huế, nhìn từ vị thế trung tâm của cố đô Nhiều thể hiện trên tích tại chỗ cho thấy vua là đấng chí tôn được biểu trưng bằng hình ảnh mặt trời cao cả Và hình ảnh mặt trời lặn biểu thị khái niệm vua thăng hà Khi đã thăng hà, vua cùng mặt trời đi về phía tây để

an giấc ngàn thu nơi vùng núi đồi tĩnh mịch Ở góc trời yên ả đó có dòng sông Hương

êm đềm thơ mộng chảy qua

Theo quan niệm “tức vị trị lăng”, phần lớn các lăng tẩm đều được xây dựng khi nhà vua còn ở trên ngai vàng Hầu hết nhân lực, vật lực của Nhà nước và năng lực của chính nhà vua nữa, đều được đổ ra trong nhiều năm để thực hiện Chủ đề tư tưởng nghệ thuật do nhà vua đưa ra, đồ án kiến trúc do vua duyệt khán và chính nhà vua cũng thường đi giám sát thi công

Điều mà các nhà kiến trúc dưới thời nhà Nguyễn phải tuân thủ triệt để trước hết

là nguyên tắc phong thủy (géomancie) Đó là phần việc chuyên môn của các quan ở bộ

Lễ, ở Khâm Thiên Giám và một vài cơ quan khác Âm phần của các vua có phát hay

Trang 16

không, hậu vận của Hoàng tộc tốt hay xấu đều do sự lựa chọn cuộc đất “vạn niên cát địa”, do việc định đặt phương hướng và việc coi ngày khởi công xây dựng Lăng tẩm nào cũng phải theo đúng những quy luật liên quan đến các thực thể địa lý thiên nhiên như: sông núi, ao hồ, khe suối và nhất là “Huyền cung” ở trung tâm điểm của mặt bằng kiến trúc phải tọa lạc đúng long mạch Các thầy địa giỏi nhất bấy giờ phải bỏ ra hàng tháng nếu không nói là hàng năm, đi khắp vùng núi đồi tây và tây nam Kinh thành để chọn cho ra một địa cuộc hội đủ các nguyên tắc sơn triều thủy tụ, tiền án hậu chẩm, tả long hữu hổ, huyền thủy minh đường…Dù lý thuyết phong thủy cổ xưa ấy được nhận định, đánh giá như thế nào, hệ quả tốt đẹp của nó cũng đã tạo ra được cho kiến trúc Huế nói chung và lăng tẩm Huế nói riêng những ngoại cảnh thiên nhiên hùng

Hầu hết các núi đồi, khe suối, sông hồ, cây cỏ ở miền cận sơn xứ Huế đều được tận dụng hoặc chỉnh trang lại, cải tạo thành để làm bối cảnh cho kiến trúc lăng tẩm Các nghệ nhân tài ba ngày trước đã khai thác không gian và thiên nhiên ngoại cảnh một cách chủ động, bắt chúng phải phục tùng ý định của tác giả công trình Đồng thời nơi nào thiên nhiên thiếu sót thì họ uốn nắn lại, hoặc đưa kiến trúc vào để tạo nên một

mỹ quan thích đáng: “Không gian bên ngoài luồn vào không gian của kiến trúc, kéo kiến trúc về với thiên nhiên góp phần tổ chức lại không gian chung”

Trong quyển “Mỹ thuật Viễn Đông”, Jeannine Auboyer nhận xét rằng: Người Việt Nam đã biết lựa chọn những khung cảnh thiên nhiên xinh đẹp nhất để xây dựng những công trình kiến trúc thờ phụng của mình Điều này được chứng thực rõ ràng

Trang 17

nhất qua nghệ thuật kiến trúc lăng tẩm Huế Nơi đây công trình kiến trúc nào cũng nằm trên một ngọn đồi cỏ non dưới rừng thông yên ả, ẩn mình sau những cây đại thụ cành lá sum sê hay soi mình xuống mặt hồ trong xanh phẳng lặng Và toàn cảnh bao phủ một màu xanh tươi mát chan hòa

Năm 1918, Phạm Quỳnh đã nhận xét trên tạp chí Nam Phong: “Lăng đây là gồm cả một màu giời, sắc nước, núi cao, rừng rậm, gió thổi, ngọn cây, suối reo hang đá…Lăng đây là bức cảnh thiên nhiên tuyệt khéo Lăng đây là cái nhân tô điểm cho sơn thủy…không biết lấy nhời gì mà tả được cái cảm lạ, cái êm đềm vô cùng…Không đâu cái công dựng đặt của người ta với cái vẻ thiên nhiên của giời đất khéo điều hòa nhau bằng ở đây, cung điện đình tạ cũng một màu, một sắc như núi non, cây cỏ…”

Kiến trúc cổ Việt Nam nói chung là kiến trúc phong cảnh, còn gọi là kiến trúc cảnh vật hóa (architecture paysagée) Nghệ thuật kiến trúc này đã đạt đỉnh cao ở lăng tẩm Huế Vào năm 1981, sau khi đến thăm Huế, ông Tổng Giám Đốc UNESCO Amadou-M’Bow đã viết: “Lăng tẩm của các vua nhà Nguyễn…biểu hiện những biến tấu độc đáo trên một chủ đề thống nhất Mỗi một lăng vua với đặc tính riêng của nó là một thành tựu tuyệt mỹ của nền kiến trúc cảnh vật hóa, và mỗi lăng tẩm khơi dậy trong cảm xúc khách quan một âm vang đặc biệt Lăng Gia Long giữa một khu vực thiên nhiên bao la, gợi lên một ấn tượng hùng tráng và thanh thản, lăng Minh Mạng đầy vẻ trang nghiêm và lăng Tự Đức đem đến cho du khách một hồn êm thơ mộng “Theo quan niệm duy tâm, người xưa cho rằng chết chưa phải là hết Cho nên lăng tẩm Huế không phải chỉ là chốn mộ địa u buồn

Bố cục mặt bằng khu lăng tẩm nào cũng chia thành hai phần chính: phần lăng

và phần tẩm Khu vực lăng là khu chôn thi hài nhà vua Khu vực tẩm là chỗ xây nhiều miếu, điện, lầu, gác, đình, tạ để nhà vua lúc còn sống thỉnh thoảng rời bỏ hoàng cung lên đây tiêu khiển.Ở khu vực tẩm của vua Tự Đức chẳng hạn có đến mấy chục công trình kiến trúc lớn nhỏ để phục vụ và giải trí cho nhà vua, trong đó có điện Hòa Khâm

- nơi vua làm việc, điện Lương Khâm- nơi vua ăn ngủ; tạ Xung Khiêm, tạ Dũ Khiêm - những nơi vua ngồi câu cá, hóng mát, làm thơ, ngắm cảnh; Hồ Lưu Khiêm nơi vua dạo thuyền hái hoa; có Minh Khiêm Đường (nhà hát); Y Khiêm Viện; Trì Khiêm viện nơi

tá túc của đám cung nữ đi theo vua lên đó để chầu hầu Nhưng sau khi vua băng hà,tất cả những người này vẫn phải lên đây ăn ở để khói hương, phụng trực cho đến

Trang 18

trọn kiếp người Họ phải "sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn" với tất cả những ý nghĩa của giáo điều này với lòng trung thành, sự thủy chung của họ đối với vị "Tiên đế" vừa về thế giới bên kia

Như vậy, sau khi vua băng hà, lăng tẩm mới trở thành cõi sống của người đã chết Sinh phần của vua Tự Đức sau khi bắt đầu xây dựng năm 1864 chỉ được gọi tên

là Vạn Niên Cơ hoặc Khiêm Cung Mãi đến năm 1883, sau khi vua băng hà, nó mới được phép gọi tên là Khiêm Lăng

Như vậy mỗi lăng tẩm Huế còn là một Hoàng cung của vua nhà Nguyễn ở thế giới bên kia, nơi họ trở về để sống cuộc sống muôn thuở Vì nhận định về sự sống và cái chết như vậy cho nên lúc sinh thời, khi còn tại vị, vua nào cũng nghĩ đến việc xây dựng lăng tẩm cho mình

Kiến trúc lăng tẩm Huế có ngôn ngữ riêng biệt và ý nghĩ sâu xa của nó Có hiểu thấu thì mới giải thích được tại sao ở chốn âm phần lại có cả hệ thống cung điện để ăn chơi hưởng thụ, có cả nhà hát để thưởng thức nghệ thuật sân khấu và sắc đẹp giai nhân, mới lý giải được tại sao phần nội cung Thiên Định ở lăng Khải Định giống như một viện bảo tàng mỹ thuật trông vui mắt, sống sít và mới biết được tại sao khắp các lăng tẩm đều trang trí rất nhiều hoa văn chữ "thọ" (nghĩa là sống lâu) và chữ "hỷ" (nghĩa là vui mừng)

Vào thăm lăng tẩm Huế, người ta không hề gặp những hình ảnh gây ấn tượng chết chóc, sợ hãi, lạnh lùng như vào viếng "Minh thập tam lăng" ở Trung Quốc, người

ta cũng không cảm thấy mình trở nên nhỏ bé, bị áp lực nặng nề, và bị "dọa nạt" như khi đứng trước những Kim Tự Tháp quá đồ sộ của các Hoàng Đế Ai Cập Trong lăng tẩm Huế, con người vẫn là chủ để của kiến trúc và thiên nhiên Ở đây, người ta bắt gặp những hình ảnh quen thuộc gần gũi, có được cảm giác lâng lâng thích thú giữa thực và mộng Một du khách Tây phương đã từng nói lăng tẩm Huế là nơi "tang tóc mỉm cười

và vui tươi thổn thức" (le deuil sourit et la soupire)

Tóm lại, nhờ có chủ đề tư tưởng bắt nguồn từ nhân sinh quan tổng hợp của các dòng triết học Đông phương và nhờ tài năng nghệ thuật tuyệt diệu của các nhà kiến trúc Việt Nam đường thời, lăng tẩm Huế đã trở thành những đóa hoa nghệ thuật đầy hương sắc nở ra giữa chốn núi đồi xứ Huế và mang phong cách riêng biệt, độc đáo so với các loại hình kiến trúc mộ táng trong hoàng cầu

Trang 19

1.3.2.2 Các di tích khác

1.3.2.2.1 Trấn Bình Đài

Trấn Bình đài nằm ở vị trí Đông Bắc Kinh thành Huế bên ngoài cửa Trấn Bình được xây dựng năm Gia Long thứ 4 (1805), lúc đầu gọi là đài Thái Bình, đến năm Minh Mạng thứ 13 (1832) đổi thành Trấn Bình đài, dân gian gọi là đồn Mang Cá Đây

là cái pháo đài thứ 25 của Kinh thành huế, một thành phụ của Kinh thành, cách thành chính chỉ một đoàn hòa chung

1.3.2.2.2 Phu Văn Lâu

Trên trục chính của Hoàng thành Huế, từ Kỳ đài nhìn ra sông Hương có hai công trình kiến trúc rất duyên dáng tô điểm cho bộ mặt của Kinh thành Huế Một trong hai công trình ấy là Phu Văn Lâu Vào đầu thời Gia Long (1802 – 1819), đây chỉ là một tòa nhà nhỏ có tên Bảng đình, dùng làm nơi công bố các chiếu thư, chỉ dụ của nhà vua hoặc các bảng thi Hội, thi Đình cho dân chúng Năm 1819, Bảng đình được thay thế bằng một tòa kiến trúc hai tầng mái với 16 cây cột, xung quanh không có vách, tạo nét thành tú và độc đáo với tên gọi là Phu Văn Lâu Phu Văn Lâu còn là nơi ban phát lịch hoặc các sinh hoạt vui chơi dành cho dân chúng do triều đình tổ chức… Thời Minh Mạng, nhà vua quy định sau khi chiếu thư được tuyên đọc ở Ngọ Môn hoặc điện Thái Hòa sẽ được đặt lên long đình, có che lọng và quan lính theo hầu hai bên để đưa

ra niêm yết tại Phu Văn Lâu Các quan hàng tỉnh và hương lão phải đến quỳ lạy trước chiếu thư

Hai bên mặt trước Phu Văn Lâu có đặt hai khẩu súng thần công nhỏ bằng đồng hướng vào nhau Để tỏ lòng tôn trọng nhà vua và những văn bản được niêm yết trong Phu Văn Lâu, trước đây có hai tấm bia “khuynh cái hạ mã” ở hai bên công trình, quy định ai đi qua đây cũng đều phải nghiên lọng, xuống ngựa

Gần bên phải Phu Văn Lâu còn có tấm bia trên khắc bài thơ “Hương giang hiểu phiếm” nói về cảnh đẹp của sông Hương, một trong hai mươi thắng cảnh đất thần kinh

mà vua Thiệu Trị đã ca ngợi Phu Văn Lâu đã được tu bổ nhiều lần những vẫn giữ nguyên cốt cách đặc trưng của kiến trúc thời Nguyễn

1.3.2.2.3 Điện Long An

Trang 20

Được xây dựng năm 1845, thời vua Thiệu Trị (1841 – 1847), tại bờ Bắc sông Ngự Hà để làm nơi nghỉ lại của nhà vua sau khi ông tiến hành lễ cày ruộng Tịch Điền – lễ mở đầu cho vụ mùa mới, mỗi năm tổ chức một lần vào mùa xuân

Điện Long An có một lịch sử phức tạp với nhiều lần thay đổi tên gọi, chức năng

và mục đích sử dụng gắn liền với những thăng trầm của Huế May mắn thay, trải qua chiến tranh và thời gian hơn 154 năm, điện Long An vẫn còn khá nguyên vẹn với toàn

bộ hệ thống kiến trúc bằng gỗ được làm theo kiểu trùng thiềm điệp ốc – kiểu kiến trúc cung đình phổ biến thời Nguyễn Các hệ thống cột gỗ ở đây đều để mộc trơn, không sơn son thếp vàng Nhưng bù lại, điện Long An có một hệ thống vì kèo được chạm trổ rất tinh xảo theo đồ án lưỡng long triều nguyệt cùng các liên ba, đố bản có chạm khắc rất nhiều bài thơ Hầu hết những bài thơ này đều do đích thân vua Thiệu Trị sáng tác Thơ trang trí trong điện Long An được bố trí, sắp xếp ở hầu khắp trong – ngoài ngôi điện nhưng không bị lặp lại, không gây cảm giác nhàm chán Điện Long An, với tất cả

vẻ đẹp về kiến trúc và mỹ thuật, xứng đáng là ngôi điện đẹp nhất hiện còn ở Cố đô

1.3.2.2.4 Cung An Định

Cung An Định là cung điện riêng của vua Khải Định, tọa lạc bên bờ sông An Cựu, xưa thuộc phường Đệ Bát, nay mang số 97 đường Phan Đình Phùng, thành phố Huế Nguyên tại vị trí này từ năm Thành Thái 14 (1902) đã lập phủ, đặt tên là phủ An Định Năm Khải Định 2 (1917), vua mới dùng tiền riêng cải tạo lại thành cung theo lối kiến trúc hiện đại Đầu năm 1919, công việc xây dựng hoàn tất, cung vẫn giữ nguyên tên gọi Từ ngày 28/02/1922, cung An Định trở thành tiềm để của Đông Cung Thái tử Vĩnh Thụy (vua Bảo Đại về sau) Sau Cách mạng tháng Tám 1945, bà Từ Cung đã hiến cung An Định cho chính quyền Cách mạng Đến nay di tích cung An Định đang được phục hồi trùng tu

Cung An Định quay mặt về hướng nam, phía sông An Cựu Cung có địa thế bằng phẳng, tổng diện tích mặt bằng 23.463m2, chung quanh có khuôn viên tường gạch, dày 0,5m, cao 1,8m trên có hàng rào song sắt bao bọc Khi còn nguyên vẹn cung

có khoảng 10 công trình Từ trước ra sau là: Bến thuyền, cổng chính, đình Trung Lập, lầu Khải Tường, nhà hát Cửu Tư Đài, chuống thú, hồ nước…trải qua thời gian và sự tàn phá của chiến tranh, đến nay cung chỉ còn lại 3 công trình khá nguyên vẹn là Cổng chính, đình Trung Lập và lầu Khải Tường Cổng chính làm theo lối tam quan, hai tầng,

Trang 21

trang trí bằng sành sứ đắp nổi rất công phu Đình Trung Lập, nằm phía trong cửa, kết cấu kiểu đình bát giác, nền cao Trong đình nguyên có đặt bức tượng đồng vua Khải Định, tỷ lệ bằng người thật, đúc từ năm 1920 Lầu Khải Tường nằm phía sau đình Trung Lập, là công trình kiến trúc chính của cung An Định Chữ Khải Tường (nghĩa là nơi khởi phát điềm lành), tên lầu là do vua Khải Định đặt Lầu 3 tầng, xây dựng bằng các vật liệu mới theo kiểu lâu đài châu Âu, chiếm diện tích tới 745m2 Lầu được trang trí rất công phu, đặc biệt là phần nội thất của tầng 1 với các bức tường có giá trị nghệ thuật rất cao

Cùng với các công trình kiến trúc khác thời Khải Định như lăng Khải Định, lầu Kiến Trung, cửa Hiển Nhơn… cung An Định được xem là một đại diện tiêu biểu của phong cách kiến trúc Việt Nam trong giai đoạn tân – cổ điển

Kiến trúc cung đình Huế được định hình từ khi Huế là kinh đô của Việt Nam thời phong kiến Là một trung tâm chính trị - văn hóa – kinh tế… của cả nước suốt thế

kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX, Kinh đô Huế có những công trình kiến trúc mỹ thuật kỳ

vĩ nhất đất nước, nay còn tồn tại với mật độ dày đặc

Xuất phát từ dịch lý và thuật phong thủy của Trung Hoa, kiến trúc truyền thống Việt Nam và kiến trúc Kinh đô Huế hài hòa với thiên nhiên và con người Ngoài thuyết Ngũ hành kết hợp với Âm dương, Ngũ hành, Tam tài, quy luật phát triển của vạn vật về bố cục của đồ án quy hoạch kinh đô Huế dựa trên cơ sở nghiên cứu định hình theo thuật Phong thủy và Dịch lý của các nhà Phong thủy Phương Đông cho những công trình kiến trúc kể cả âm phần dương cơ Khi xây dựng hệ thống thành quách và cung điện, các nhà kiến trúc dưới sự chỉ đạo của nhà vua đã bố trí trục chính của công trình theo vị thế toa càn hướng tốn, tức là chạy hướng Tây Bắc – Đông Nam Yếu tố Ngũ hành quan trọng trong bố cục mặt bằng của kiến trúc cung đình tương ứng với ngũ phương Ngôn ngữ của kiến trúc là định vị các công trình trong không gian sao cho hài hòa với thiên nhiên như điện Thái Hòa trung tâm của Kinh thành, chung quanh là Thanh Long (Đông), Bạch Hổ (Tây), Chu Tước (Nam), Huyền Vũ (Bắc) Hướng Kinh thành phải quay mặt về phía Nam vì Kinh dịch viết “Thánh nhân nam diện nhi thính thiên hạ” nghĩa là bậc đế vương xoay mặt về hướng Nam để nghe (cai trị) thiên hạ

Trang 22

Kiến trúc cung đình Huế đã tiếp thu và kế thừa kiến trúc truyền thống Lý, Trần,

Lê là tất yếu để chống lại sự đồng hóa và cũng chống lại sự lạc hậu nên đồng thời tiếp thu tinh hoa của mỹ thuật Trung Hoa nhưng đã được Việt nam hóa một cách có ý thức dân tộc của các nghệ nhân từ các miền Nam bắc quy tụ về xây dựng Kinh đô, kể cả những người thợ gốc Minh Hương Trung Quốc và Chămpa Đặc biệt đã được hiện đại hóa kỹ thuật của những công trình sư người Pháp phục vụ dưới thời Gia Long, theo phương châm cơ bản tiếp thu chọn lọc những kiến trúc thích nghi với tâm hồn người Việt và Việt hóa dần để phù hợp với tâm lý bản địa đem lại những đặc trưng bản sắc kiến trúc Huế

Ngày nay, tất cả các cung điện, dinh thự của các thời kỳ mở đầu đều bị tàn phá bởi chiến tranh và thời gian, chỉ còn lại trên sử sách và một vài dấu tích ít ỏi Các kiến trúc cung điện còn lại duy nhất đến ngày nay cho ta thấy một hình ảnh cụ thể về mảng

kiến trúc là các cung điện, dịnh thự nhà Nguyễn ở Huế

Hệ thống Hoàng Cung Huế, mang đầy đủ chủ đề tư tưởng của kiến trúc Kinh đô Huế và chế độ quân chủ nhà Nguyễn Đây có thể xem là chuẩn mực về cấu trúc phong cách kiến trúc triều Nguyễn, có thể nêu lên các đặc điểm sau đây:

1, Bố cục mặt bằng của hệ thống kiến trúc hết sức chặt chẽ, cân đối, nhịp nhàng

và liên tục Phần lớn đối xứng nhau từng cặp qua một đường trục chính, và các công trình kiến trúc đều ở vào những vị trí tiền, hầu, tả, hữu, thượng, hạ rất nhất quán Các nguyên tắc cổ điển được tôn trọng: tả văn, hữu võ, tả nam, hữu nữ, tả chiêu, hữu mục…Các con số Dịch học đã được áp dụng tối đa, nhất là số 9 và số 5 trong hào “cửu ngũ” của Kinh dịch: “Ngọ Môn 5 cửa 9 lầu”, cửu đỉnh, cửu vị thần công, cửu phẩm…

2, Các công trình kiến trúc ở đây biểu hiện một cách rõ ràng tư tưởng độc tôn quân quyền Tử Cấm Thành là một tiểu vũ trụ của Hoàng gia, trong đó có đầy đủ mọi tiện nghi sinh hoạt: ăn ở, làm việc, giải trí Điện Càn Thành, nơi nhà vua ăn ngủ, tọa lạc ở trung tâm vũ trụ ấy Các khu vực kế cận đó giống như những hành tinh quay chung quanh trung tâm quan trọng này

3, Trên mặt kỹ thuật, cung điện Huế có phong cách, đặc điểm riêng trong kết cấu kiến trúc và trang trí nội ngoại thất Cung điện và đền miếu đều làm theo kiểu nhà kép, gọi là “trung diêm trùng lương”: nhà trước và nhà sau liên kết lại bằng trần thừa lưu uốn cong mềm mại Hàng cột hiên đứng ngay trên sân để tạo ra ảo giác bề cao

Trang 23

Mái được chia ra thành hai hoặc ba mảng chính từ trên xuống để tránh sự nặng nề Bờ nóc, bờ quyết thằng chứ không có tàu đao uốn cong lên như đình chùa miếu vũ ở miền Bắc Các bờ nóc, bờ quyết, cổ diêm ở bên ngoài và liên ba đố bản ở bên trong đều được trang trí rất phong phú bằng thơ văn và hình ảnh cổ điển theo lối “nhất thi nhất họa”, chạm trổ thật tỷ mỷ, tinh tế, nhất là ở các hệ thống vì kèo nóc và hệ thống con-sơn Nói chung, cung điện Huế có một “thức” kiến trúc độc đáo, một thần thái đặc biệt thời Nguyễn

4, Phong cách kiến trúc nói chung mang tính khiêm tốn, chừng mực, hài hòa với kiến trúc dân gian Việt Nam, không quá đồ sộ, nguy nga lộng lẫy tạo nên ấn tượng sâu sắc về sự hòa hợp giữa con người, thiên nhiên và kiến trúc

5, Sự ảnh hưởng nghệ thuật kiến trúc Trung Hoa đối với kiến trúc Huế là khá lớn nhưng rất có chọn lọc, không phải chịu ảnh hưởng trực tiếp và toàn diện như miền Bắc Việt Nam và xứ Đàng ngoài trước đó: lựa chọn những gì tinh túy nhất và giữ lại những gì phù hợp với văn hóa của mình Có thể minh chứng qua sự khác biệt giữa kỹ thuật thiết kế kiến trúc của Trung Hoa và của Huế Trong khi ở Bắc bộ cơ chuẩn thiết

kế chủ yếu dựa trên hai phương là thẳng và ngang, thì thiết kế kiến trúc Trung bộ và cung điện ở Huế lại dựa trên từng bộ phận và chiều nghiêng của mái Thêm nữa, việc đưa thiên nhiên vào trong quy hoạch kinh đô là nét rất đặc trưng của đô thị Huế, điều này rất mờ nhạt trong văn minh cổ Trung Hoa

Tóm lại, tổng thể kiến trúc cung đình triều Nguyễn ở Huế, trong đó có hai quần thể chính là Kinh thành Huế và các di tích ngoài thành, là một kết hợp nhuần nhuyễn

và hài hòa giữa kỹ thuật và mỹ thuật Đông phương và Tây phương, giữa nghệ thuật ảnh hưởng bên ngoài và nghệ thuật mang địa phương tính

Đó là những thành tựu mới lạ và tất nhiên của sự phát triển liên tục trong dòng

mỹ cảm của dân tộc, phù hợp với hoàn cảnh lịch sử, địa lý và tâm lý tình cảm của con người miền núi Ngự sông Hương Tổng thể kiến trúc ấy đã tạo ra một kinh đô, một đô thị cung đình hoàn chỉnh và có giá trị văn hóa cao ngay từ đầu thế kỷ XIX Gần đây, ông Amadou-Mahtar-M’Bow, nguyên Tổng Giám đốc UNESCO đã nhận xét: “Giữa lòng Huế, đô thị lịch sử ấy là một mẫu mực về cấu trúc cân đối, mà sự hài hòa tự nhiên đến nỗi người ta quên bàn tay con người đã tạo ra nó”

Trang 24

Chính vì những giá trị lịch sử và nghệ thuật trên đây mà ngày nay Huế được xem như một di sản văn hóa của nhân loại

Toàn bộ các công trình kiến trúc của chùa nằm trên một ngọn đồi được san phẳng có mặt bằng hình chữ nhật 280mx100m chạy theo hướng Bắc Nam Chung quanh chùa có vòng la thành xây bằng đá và gạch mang dạng con rùa thò đầu xuống sông Hương để uống nước

Vào thời cực thịnh của chùa, mật độ kiến trúc bên trong la thành thật dày đặc,

có đến vài chục tòa nhà Ngay từ bấy giờ, các nhà quy hoạch đã chia khuôn viên của chùa ra làm hai khu vực, cách biệt nhau bởi cửa Tam quan: khu vực ở trước là nơi xây dựng những công trình kiến trúc mang tính kỷ niệm như Bảo tháp, bia đá, chuông đồng; khu vực ở sau, lớn hơn rất nhiều, là nơi xây dựng các điện thờ Phật như điện Đại Hùng, điện Di Lặc, điện Quang Âm…, và các nhà tăng, nơi các nhà sư ở để tu hành Hiện nay, mang giá trị văn hóa nghệ thuật cao nhất ở chùa Linh Mụ là các công trình kiến trúc và các bảo vật sau đây:

- Phước Duyên Bảo Tháp: có 7 tầng, cao khoảng 21m Mỗi tầng thờ một vị Phật, gọi là kim thân của Quá khứ thất Phật Trong tháp có hệ thống bậc cấp xây cuốn từ dưới lên trên

- Đình Hương Nguyện: đây cũng là một trong những công trình kiến trúc đặc biệt của thời vua Thiệu Trị, một phương đình bằng gỗ được trang trí hết sức độc đáo

ở phần nội thất

- Điện Đại Hùng: Đồ sộ, nguy nga, đây là điện thờ chính trong chùa Trong lần trùng tu năm 1957, phần lớn các cấu kiện bằng gỗ đã bị thay thế bằng bêtông Hiện nay, ngôi điện đã được làm lại bằng gỗ

Trang 25

- Đại Hồng Chung: Chuông cao 2,50m, đường kính miệng 1,40m, nặng 2.052kg,

là một tác phẩm nghệ thuật bằng đồng xuất sắc của Phường Đúc ở Huế vào đầu thế kỉ XVIII

- Bình Trung Quán Khánh: cái khánh đồng khá lớn chạm hình nhật nguyệt tinh tú

do đại thần Trần Đình Ân thuê đúc năm 1677 để cúng cho chùa Bình Trung ở Quảng Trị Sau đó, nó được chuyển vào đây

- Bia thời chúa Nguyễn Phúc Chu: Bia cao 2,60m, rộng 1,25m được dựng trên một con rùa cũng bằng đá dài 2,20m, rộng 1,60m Cả hai đều được khắc chạm uyển chuyển, tinh vi

Chùa Thiên Mụ là ngôi chùa cổ nhất và nổi tiếng nhất ở miền Trung và miền Nam Việt Nam Nhà chùa còn bảo lưu được khá nhiều công trình kiến trúc và pháp khí quý báu của Phật giáo Kiến trúc của chùa lại hài hòa với thiên nhiên thơ mộng ở chung quanh Ngôi cổ tự này là một biểu tượng của Huế, và là một danh lam thắng cảnh tuyệt vời của Việt Nam

1.4.1.2 Chùa Thánh Duyên

Chùa Thánh Duyên là một danh lam cổ tự ở vùng đất Thuận Hóa – Phú Xuân – Huế; thuộc phường Đông Am, tổng Diên Trường, huyện Phú Lộc, phủ Thừa Thiên Nay là làng Hiền An, xã Vinh Hiền, thuộc huyện Phú Lộc Cùng với Thiên Mụ và Diệu Đế, Thánh Duyên là một trong 3 ngôi Quốc tự của xứ Thần kinh còn tồn tại cho đến ngày nay

Quá trình hình thành và phát triển của nó gắn bó chặt chẽ với các vua chúa nhà Nguyễn trong suốt mấy trăm năm Với các giá trị lịch sử, văn hóa và nghệ thuật vốn có của nó, chùa Thánh Duyên vẫn tồn tại đến ngày nay như một di tích tôn giáo quan trọng, một cảnh đẹp nổi tiếng và đã được công nhận là di tích quốc gia vào năm 1996

Ngôi chùa được xây dựng ở hòn núi mà thời các chúa Nguyễn gọi là Mỹ Am (sau này được đổi tên thành núi Thúy Vân- ngọn núi được vua Thiệu Trị xếp thứ chín trong 20 cảnh đẹp của xứ Huế) nằm ở một địa điểm sơn thủy hữu tình: trước mặt là đầm phá, sau lưng là biển cả, bên trái là cửa biển Tư Hiền nằm cạnh mũi Chân Mây Tây đâm ngang ra biển từ dãy núi Trường Sơn, bên phải là ruộng đồng và làng mạc xanh tươi nối tiếp nhau chạy dài từ đó theo miền duyên hải lên đến cửa biển Thuận

An

Trang 26

Chùa nằm cách Kinh thành Huế khoảng 60km đường bộ về phía Đông Nam Ngày xưa, để đến được chùa, từ Kinh thành, các vua thường “ngự” về đó bằng thuyền Rồng qua sông Hương về Thuận An, rồi từ Thuận An theo đường ven biển phá Tam Giang để tới chùa Ngày nay, người ta đã có thể về chùa Thánh Duyên bằng đường bộ qua cầu Thuận An hoặc cầu Trường Hà bắc qua phá Tam Giang, nên việc đi lại đã trở nên thuận tiện hơn rất nhiều

Sử sách ghi rằng vào thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725), chúa đã cho xây dựng một ngôi chùa ở đó để “vị dân cầu phước” Tuy nhiên, dường như vào trước thời chúa Nguyễn ấy, ở đây đã có một ngôi chùa rồi Đến thời Tây Sơn (1788-1801), vùng cửa biển này cũng đã trở thành bãi chiến trường giữa quân Tây Sơn và thủy binh của Nguyễn Phúc Ánh, cho nên chùa bị lâm vào cảnh hoang tàn trong một thời gian

Vào tháng 3 năm Minh Mạng thứ 6, tức là tháng 4-1825, nhân chuyến về thăm cửa biển Tư Dung, nhà vua có “ngự” lên hòn núi ấy, “thấy có cái miếu cổ bỏ hoang, cho dân (nơi) ấy 100 quan tiền sai sửa lợp lại” Đến tháng 4 năm Minh Mạng thứ 17, tức là tháng 5-1836, cũng nhân một chuyến tuần du cửa biển nói trên, nhà vua lại dừng chân ở núi Thúy Hoa và hạ lệnh cho xây dựng ở đây một loạt công trình kiến trúc, bao gồm điện thờ chính, đặt tên là “Thánh Duyên Tự”, một cái gác đặt tên là “Đại Từ Các”

và một cái tháp 3 tầng trên đỉnh núi, mang tên là “Điều Ngự Tháp” Ngoài ra, sau đó một năm, vua Minh Mạng còn cho xây đình Tiến Sảng ở phía sau tháp Điều Ngự, đưa

mẹ là Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu về thăm chùa này và cho xây hành cung ở gần chân núi để thỉnh thoảng khi về tuần du thì có chỗ để trú tất Đây là một tòa nhà 3 gian

2 chái, sườn gỗ, lợp ngói, xung quanh xây tường gạch Đó là chưa kể đến nhiều đồ pháp tượng và pháp khí mà nhà vua đã cho chế tạo để trang hoàng và trang trí ở nội thất các công trình kiến trúc trong chùa Nhìn chung, dưới thời Minh Mạng, chùa Thánh Duyên là một ngôi chùa được xây dựng thật quy mô và rất tráng lệ Và chính vua Minh Mạng là người đã làm thay đổi và biến nơi đây thành chốn thần tiên

Bởi thế, qua đến thời Thiệu Trị (1841-1847), vị vua này đã xếp tổng thể kiến trúc cảnh quan chùa Thánh Duyên và núi Thúy Vân vào một trong 20 thắng cảnh của Kinh đô Huế (Thần kinh nhị thập cảnh) và làm bài “Vân Sơn thắng tích” để ca ngợi Bài thơ ngự chế này đã được khắc vào bia đá, dựng trong một bi đình, nay vẫn còn ở chân núi

Trang 27

Dưới triều Nguyễn, chùa Thánh Duyên là một “quốc tự” (chùa Nhà nước) Triều đình đã rất quan tâm đến việc trùng tu, bảo tồn và từng cử một số danh tăng về đây làm Tăng cang và Trú trì Nhưng, kể từ khi triều đại ấy cáo chung vào năm 1945, chùa xuống cấp dần và ngày càng trở nên hoang phế Mãi đến sau khi Nhà nước công nhận là Di tích Quốc gia vào năm 1996, chùa mới được trùng tu dần và cho tới ngày nay thì hầu hết công trình kiến trúc của chùa đã được phục hồi diện mạo, và bối cảnh thiên nhiên của chùa là núi Thúy Vân đã trở nên phong quang

Kiến trúc chùa Thánh Duyên hài hòa với địa thế của ngọn núi nơi ngôi chùa tọa lạc Bia đề tên núi “Thúy Vân Sơn” bắt đầu những bậc tam cấp lên chùa

Bước qua hệ thống tam cấp là đến với tam quan chùa Cổng tam quan dạng cổ lâu đặc trưng chùa Huế có thiết trí thờ Hộ pháp Vi Đà

Chính điện là tòa nhà được xây theo lối truyền thống ba gian hai chái, cao rộng

và thoáng đãng Phần mái được lợp ngói liệt theo kiểu trùng thiềm điệp ốc đặc trưng của Huế trang trí bằng cù giao, lưỡng long, vân hoa long tinh xảo

Nội điện thờ Phật cùng nhiều vị hiền thánh thiên thần khác Gian chính ở giữa thờ Tam Thế Phật: Quá khứ, hiện tại và vị lai; phía trước thấp hơn bàn thờ Phật là bàn thờ bài vị vua Minh Mạng bằng đồng kê trên một cái đế cũng bằng đồng, giữa lòng long vị đúc dòng chữ “Đương kim Minh Mạng Hoàng đế vạn thọ vô cương” Hai gian

tả hữu lại có những bàn thờ ở trong cùng và ở bên trước

Hai bên có hai dãy sập để tôn trí thờ Thập Điện Minh Vương, mỗi bên gần sát vách thờ 5 tượng; tiếp đến vào phía trong thờ 2 dãy tượng Thập Bát La Hán, mỗi bên 9 tượng Dãy bên trái có tượng Bồ Đề đạt ma tọa thiền, đối qua bên phải là tượng Địa Tạng ngồi trên con sư tử xanh Cách thờ này không theo truyền thống

Dãy bên trái có tượng Bồ Đề Đạt Ma tọa thiền, đối diện bên phải là tượng Địa Tạng ngồi trên con sư tử xanh Phía sau chính điện là nhà tổ, thờ các thế tăng cang và thập phương thiện tín của chùa Nằm giữa lưng chừng núi, cách chính điện khoảng chừng mét là Đại Từ Các Đây cũng là ngôi nhà rường nằm trong tổng thể kiến trúc theo hình thế núi: Chùa, gác, tháp Sau khi trùng tu, các Đại Từ được chia làm 3 gian: Gian giữa phía trước thờ Phật (A Di Đà, Thích Ca Mâu Ni và Di Lặc), phía sau là pho tượng Chuẩn Đề Bồ Tát, gian bên phải thờ đức Quan Âm và gian bên trái thờ Bồ Tát Đại Thế Chí

Trang 28

Công trình cao nhất nằm trong tổng thể kiến trúc chùa Thánh Duyên là tháp Điều Ngự hình khối tứ giác có 3 tầng, cao khoảng 13 mét Điều Ngự là một trong mười danh xưng của Đức Phật nhưng Điều Ngự cũng có ý nghĩa là nơi để vua điều phục và chế ngự tâm Khi tâm đã được chế ngự thì không có việc gì không làm được Đây chính là ý nghĩa của việc vua Minh Mạng cho dựng đình Tiến Sảng phía đằng sau tháp Trên đỉnh tháp ngày xưa có dựng trụ đồng đặt pháp luân chuyển động theo gió, kèm theo hệ thống chuông lắc Khi gió thổi pháp luân xoay, âm thanh của tiếng chuông sẽ vang vọng gần xa

Một điều đặc biệt ở chùa Thánh Duyên, đó là cách xây dựng không theo nguyên tắc chung mà theo quy tắc chùa – gác – tháo được xây dần lên cao trên đỉnh núi Kết thúc tham quan khu điện chính ta đi dần lên cao theo con đường nhỏ sau chính điện Gác Đại Từ dần hiện ra với 2 tầng xây theo mô tuýp truyền thống, lợp ngói âm dương, gác nằm hài hòa với phong cảnh xung quanh và làm tôn thêm vẻ đẹp của cảnh chùa Qua khỏi gác Đại Từ là đến tháp Điều Ngự, ngôi tháp nổi tiếng xưa nay, đứng trên tháp ta có thể quan sát cả một vùng trời biển bao la, non nước hữu tình

Là Quốc tự nên sau khi được trùng tu dưới triều Minh Mạng, nhiều vị cao tăng

đã được sắc cử làm tăng cang và trụ trì ở đây để lo Phật sự như Hòa thượng Liễu Đạo Chí Tâm, Hòa thượng Tánh Khoát Huệ Cảnh, Tánh Thông Nhất Trí, Hòa thượng Vĩnh Thừa, Hòa thượng Giác Nhiên, Hòa thượng Mật Hiển Hiện nay, Hòa thượng Hải Ấn giữ nhiệm vụ làm trụ trid chùa nhưng người đang sống và coi sóc công việc của ngôi

tự lại là Đại đức Thích Minh Chính

Sau một thời gian dài bị đồi phế, Thánh Duyên đã được Nhà nước và Giáo hội Phật giáo tỉnh Thừa Thiên Huế trùng tu năm 2003 để trả lại vẻ đẹp vốn có cho ngôi chùa Nhiều văn vật, pháp tự, pháp khí có giá trị như chuông đồng, bia đá và các bài thơ của các vị vua triều Nguyễn chạm trên vách đố bằng gỗ theo lối nhất thi nhất họa vẫn được bảo tồn và lưu giữ cẩn thận, đặc biệt là những pho tượng bằng tre hay bằng đồng rất có giá trị

Trong số gần 70 pho tượng tại chùa, đáng chú ý hơn cả là bộ tượng Thập Bát

La Hán bằng tre thếp vàng và bộ tượng Thập Bát La Hán bằng đồng xưa và lớn nhất Việt Nam được ghi vào sách kỷ lục Việt Nam năm 2008 Ngoài ra còn có một quả

Trang 29

chuông được đúc vào triều Minh Mạng Trên chuông khắc 4 chữ Hán lớn “Thánh Duyên tự chung”, lạc khoản chú tạo là năm Minh Mạng thứ 17

Vào những thập niên đầu của thế kỉ 20, Quốc tự Thánh Duyên đã từng là đạo tràng lớn của Giáo hội Chùa một thời được Chư tôn đức trong sơn môn Tăng già Thừa Thiên dùng làm nơi tu học cho chư tăng vào các mùa An cư kiết hạ Đến thời kỳ hội

An Nam Phật học ra đời, khuôn hội Tịnh độ cũng đã được thành lập tại đây Bỏ lại đằng sau sự huy hoàng của quá khứ, chùa Thánh Duyên ngày nay đang hòa mình vào đời sống dân dã của làng quê Chùa vẫn là nơi du khách thập phương vãn cảnh dù đông hay hè, là nơi Phật tử lui tới cúng dường đức Phật và cũng là nơi nuôi dưỡng những tâm hồn trẻ thơ, giúp thế hệ tương lai của đất nước hướng thiện

Với lịch sử hình thành và phế hưng qua 3 thế kỷ, với tổng thể kiến trúc cảnh quan chứa chan thiền vị, và với những pháp tượng pháp khí quí hiếm còn tồn tại đến ngày nay, chùa Thánh Duyên chứng tỏ có được một giá trị bền vững với thời gian

Bỏ qua sự tĩnh lặng và uy nghiêm của một ngôi quốc tự, Thánh Duyên giờ đây gần gũi với người dân hơn bao giờ hết Nó không xuất phát bởi vị trí nằm giữa xóm thôn hay

là chốn viếng thăm quen thuộc của du khách thập phương mà bởi sự mở lòng vốn có của nhà Phật

Nhắc đến chùa Diệu Đế, ai cũng biết đây là một trong ba ngôi Quốc tự dưới triều Nguyễn còn lại trên mảnh đất Huế Và nơi đây được vua Thiệu Trị coi là một trong hai mươi thắng cảnh của đất kinh đô Huế Sự biến thiên của lịch sử đã lấy đi ít nhiều vẻ hoành tráng của ngôi tự này nhưng vị trí và vai trò của ngôi cổ tự vẫn không

hề thay đổi

Sau khi lên ngôi năm 1844, vua Thiệu Trị đã lệnh cho xây dựng trên vùng đất nhà vua đã ra đời một ngôi chùa và đặt tên là Diệu Đế tự Sở dĩ chùa có tên là Diệu Đế

Trang 30

vì nhà vua muốn vừa làm nơi bảo vệ cho Kinh thành vừa trấn tĩnh những người lầm đường lạc lối trở về với điều thiện Khuôn viên chùa nằm gọn giữa bốn con đường: phía trước là đường Bạch Đằng chạy dọc theo một nhánh sông Hương, phía sau là đường Tô Hiến Thành gần chùa Diệu Hỷ, bên trái là con đường mang tên chùa Diệu

Đế và bên phải là đường chùa Ông

Khi xưa, chùa có kiến trúc rất khác so với bây giờ Kiến trúc ban đầu của chùa rất quy mô, cảnh chùa lúc này rất huy hoàng tráng lệ Tuy không đẹp bằng chùa Thiên

Mụ, nhưng chùa Diệu Đế có vẻ độc đáo riêng, có bốn lầu (hai lầu chuông, một lầu trống và một lầu bia) Là một ngôi tự đồ sộ với nhiều công trình lấy sông đào Đông Ba làm minh đường Chùa được bao bọc bởi la thành có sáu cửa, chính điện là tam quan xây dựng theo lối kiến trúc hai mái đặc trưng của Huế, phía trên có cơi lầu thờ đức Vi

Đà Thiên Tôn quay mặt về chính điện

Trung tâm chùa là chính điện Đại Giác đồ sộ, nguy nga ba gian hai chái Bên trong điện được thiết trí như sau: bàn thờ chính giữa có hai tầng, tầng trên dùng để tôn trí các pho tượng Tam Thế Phật Án dưới dành để thờ Thần vị của vua Thiệu Trị, Thần

vị này được sơn son thiếp vàng và chạm lưỡng long triều nguyệt Hai gian tả hữu thờ

Bồ Tát Văn Thù và Phổ Hiền Bồ Tát Trên hai bên vách là những pho tượng của các vị

A La Hán Hai bên chính điện là Trí Tuệ Tinh xá và Cát Tường từ thất Trong một phòng ở phía sau thì có thiết trí một bàn thờ để thờ Tổ đầu tiên của chùa Tại điện này vào thời Thành Thái – Duy Tân không chỉ có những tượng Phật riêng của chùa Diệu

Đế, mà còn có các tượng của chùa Giác Hoàng, của Đạo Nguyên Các, của Trí Huệ tinh

xá và của Cát Tường từ thất đem vào tôn trí, cho nên có tất cả 53 án thờ Đặc biệt, tại chính điện có 4 cột đúc giả gỗ sơn vẽ hình long ẩn vân, trần đúc vẽ rồng 5 móng bay lượn trong mấy, nét vẽ điêu luyện, tinh xảo

Sau Đại Giác điện, hai bên tả hữu rất cân đối, có hai nhà Tăng Xá, rồi hai trù gia tức là hai nhà bếp Cạnh hai trù gia xích vào trong có hai cái giếng Có lẽ là cái giếng phía trái, nước rất trong mà chùa Diệu Đế đang dùng hiện nay là một trong hai cái giếng ngày xưa còn lại Tất cả các lối đi từ sở này sang sở khác đều được lát bằng gạch Bát Tràng

Phía trước điện dựng gác Đạo Nguyên gồm tòa nhà ba gian, hai tầng ở chính giữa Ở tầng trên và chính giữa là bàn thờ Phật Thích Ca, ở bên trái và bên phải là hai

Trang 31

bàn thờ A Nan và Ca Diếp Ở tầng trệt là bàn thờ của các vị Kim Cang Sau gác Đạo Nguyên có hai lầu chuông trống xây cân đối ở hai bên, chính giữa là lầu Hộ Pháp Sân trong có La Thành, sân trước có hai nhà lục giác 2 tầng mái, lợp ngói ống âm dương, nhà bên tả đặt Hồng Chung, nhà bên hữu dựng bia đá chú tạo vào tháng sau năm Thiệu Trị thứ sáu (1846) đến nay vẫn còn Hệ thống La Thành ngoài chùa Diệu Đế xây dựng kiên cố, bề thế, trước có Phượng Môn ba cửa, hai bên có cổng nhỏ, ngoài bờ sông có xây bến thuyền khoảng mười bậc lên xuống Xưa kia, chùa có nhiều lớp tường bao bọc, phía ngoài còn có nhiều trụ biểu đánh dấu chùa Nhưng trải qua các biến cố lịch

sử như vụ Kinh đô thất thủ năm 1882 và năm 1885 chùa Giác Hoàng trong kinh thành

bị triệt bỏ thì chùa cũng nằm chung số phận đó Hầu hết những kiến trúc trong chùa đều bị phá hủy Và đến năm 1910 thời vua Duy Tân, đã cho kiến thiết lại hoàn toàn chùa, chùa không còn các vách ngăn giữa các khu vực nữa, cũng không còn các trụ biểu Và nguyên xưa kia trước chùa có 3 cái bên thì này chỉ còn một Chùa còn có một bảo tháp làm bằng ngà cao khoảng 1m đặt trước chính điện nhưng đến năm 1968 thì bị bom phá hủy mất

Trước đây, chùa Diệu Đế có nhiều tượng Phật do được chuyển từ chùa Giác Hoàng, sau sự kiện Kinh đô thất thủ (1885) Cuối năm này, chính phủ Nam Triều đặt

sở Đúc Tiền ở Cát Tường Từ Thất, phủ đường Thừa Thiên ở Trí Tuệ Tịnh Xá và một tăng phòng làm nhà lao của tỉnh, một tăng phòng làm trụ sở cho Khâm Thiên Giám Năm 1887, phần lớn các ngôi nhà trong chùa đều bị triệt hạ…Về sau, ngoài cổng La thành xây thêm bốn trụ biểu

Hiện nay, chùa chỉ còn chính điện, hai bên chính điện đặt Bát Bộ Kim Cang, phía sau có một nhà khách, một bếp Sân ngoài có nhà bia, nhà chuông, ngoài cùng là cổng Tam quan hai tầng, phía trên có lầu Hộ Pháp

Chùa Diệu Đế trải qua thăng trầm của lịch sử, từng huy hoàng, cũng từng suy vong theo thời cuộc, nhưng chùa vẫn đứng vững với thời gian, vẫn là nơi lui tới cho những người con Phật Ngày nay, chùa đang được trùng tu tuy chưa lấy lại được vẻ huy hoàng xưa nhưng cũng xứng đánh là một nơi để tham quan vãng cảnh

1.4.2.1 Chùa Báo Quốc

Ngày đăng: 09/05/2021, 16:47

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w