1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Giáo trình An toàn và vệ sinh lao động (Ngành/nghề: Nuôi trồng thủy sản)

40 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Trình An Toàn Và Vệ Sinh Lao Động
Trường học Trường Cao Đẳng Kinh Tế, Kỹ Thuật Và Thủy Sản
Chuyên ngành Nuôi trồng thủy sản
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2019
Thành phố Bắc Ninh
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 848,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. NHỮNG KHÁI NIỆM CHUNG KHOA HỌC KỸ THUẬT BẢO HỘ LAO ĐỘNG (8)
    • 1.1. Những khái niệm cơ bản về BHLĐ (8)
      • 1.1.1. Điều kiện lao động (8)
      • 1.1.2. Các yếu tố nguy hiểm và có hại (8)
      • 1.1.3. Tai nạn lao động (8)
    • 1.2. Mục đích, ý nghĩa, tính chất của công tác Bảo Hộ lao động (9)
      • 1.2.1. Mục đích của công tác bảo hộ lao động (BHLĐ) (9)
      • 1.2.2. Ý nghĩa của công tác BHLĐ (9)
      • 1.2.3. Tính chất của công tác bảo hộ lao động (10)
      • 1.2.4. Những quy định chung về BHLĐ (11)
  • Chương 2. KỸ THUẬT VỆ SINH LAO ĐỘNG (13)
    • 3.1. Những vấn đề chung về kỹ thuật vệ sinh lao động (13)
      • 3.1.1. Đối tượng và nhiệm vụ của vệ sinh lao động (13)
      • 3.1.2. Các biện pháp đề phòng tác hại nghề nghiệp (14)
      • 3.1.3: Vấn đề tăng năng suất lao động và chống mệt mỏi (14)
    • 3.2. Vi khí hậu trong lao động sản xuất (14)
      • 3.2.1. Khái niệm (14)
      • 3.2.2. Các yếu tố vi khí hậu (15)
      • 3.2.3. Điều hoà thân nhiệt ở người (16)
      • 3.2.4. Ảnh hưởng của vi khí hậu đối với cơ thể người (16)
      • 3.2.5. Các biện pháp phòng chống vi khí hậu xấu (18)
    • 3.3. Phòng chống bụi trong sản xuất (18)
      • 3.3.1. Định nghĩa và phân loại bụi (18)
      • 3.3.2 Tác hại của bụi (19)
      • 3.3.3. Các biện pháp phòng chống bụi (19)
  • Chương 3. KỸ THUẬT AN TOÀN LAO ĐỘNG (21)
    • I. AN TOÀN KHI ĐÀO ĐẤT ĐÁ VÀ LÀM VIỆC TRÊN SÔNG NƯỚC (21)
      • 1.1 An toàn khi đào đất đá (21)
        • 1.1.1. Phân tích nguyên nhân gây tai nạn khi đào đất đá (21)
        • 1.1.2. Các biện pháp đề phòng tai nạn (21)
      • 1.2. An toàn khi làm việc trên sông nước (23)
    • II. AN TOÀN KHI SỬ DỤNG MÁY MÓC, THIẾT BỊ (23)
      • 2.1. Khái niệm về vùng nguy hiểm (23)
      • 2.2. Các nguyên nhân (23)
      • 2.3. Những biện pháp an toàn chủ yếu (24)
    • III. AN TOÀN KHI SỬ DỤNG HÓA CHẤT (26)
      • 3.1. Nhập nội, sản xuất, chế biến, đóng gói (26)
      • 3.2. Vận chyển và bốc dỡ (26)
    • IV. KỸ THUẬT AN TOÀN ĐIỆN (29)
      • 4.1. Nguyên nhân và tác hại của tai nạn điện (29)
        • 4.1.1. Tác hại của dòng điện đối với cơ thể con người (29)
        • 4.1.2. Những nguyên nhân gây ra tai nạn điện (30)
      • 4.2. Các biện pháp chung an toàn về điện (30)
      • 4.3. Cấp cứu người bị nạn (30)
      • 4.4. Bảo vệ chống sét (31)
    • V. KỸ THUẬT PHÕNG CHÁY VÀ CHỮA CHÁY (32)
      • 5.1. Khái niệm về cháy nổ (32)
        • 5.1.1. Bản chất của sự cháy (32)
        • 5.1.2. Điều kiện để cháy và nguồn gây lửa (33)
        • 5.1.3. Nguồn bắt lửa (mồi bắt lửa) (33)
        • 5.1.4. Sự lan truyền của đám cháy (34)
      • 5.2. Nguyên nhân và biện pháp phòng ngừa cháy (34)
        • 5.2.1. Nguyên nhân gây ra sự cháy (34)
        • 5.2.2. Các biện pháp phòng ngừa (35)
      • 5.3. Các chất, dụng cụ và phương tiện chữa cháy (35)
        • 5.3.1. Các chất chữa cháy (35)
        • 5.3.2. Dụng cụ và phương tiện chữa cháy (36)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (40)

Nội dung

Với nội dung ngắn gọn, giáo trình “Bảo hộ lao động” cung cấp cho học sinh kiến thức cơ bản giúp cho việc phân tích được tình hình về vệ sinh, an toàn lao động nhằm bảo vệ sức khỏe người lao động trong quá trình sản xuất. Hiểu được tầm quan trọng và ý nghĩa của môn học sẽ giúp học sinh nhận thức và đề cao tinh thần trách nhiệm của các bộ kĩ thuật đối với tính mạng và sức khỏe người lao động, đối với tài sản của nhà nước. Mời các bạn cùng tham khảo giáo trình để biết thêm các nội dung chi tiết.

NHỮNG KHÁI NIỆM CHUNG KHOA HỌC KỸ THUẬT BẢO HỘ LAO ĐỘNG

Những khái niệm cơ bản về BHLĐ

1.1.1 Điều kiện lao động: Điều kiện lao động là tổng thể các yếu tố về tự nhiên, xã hội, kinh tế, kỹ thuật, tổ chức thể hiện qua quy trình công nghệ, công cụ lao động, đối tượng lao động, môi trường lao động, con người lao động và sự tác động qua lại giữa chúng tạo điều kiện cần thiết cho hoạt động của con người trong quá trình sản xuất Điều kiện lao động có ảnh hưởng đến sức khoẻ và tính mạng con người Những công cụ và phương tiện có tiện nghi, thuận lợi hay ngược lại gây khó khăn nguy hiểm cho người lao động, đối tượng lao động Đối với quá trình công nghệ, trình độ cao hay thấp, thô sơ, lạc hậu hay hiện đại đều có tác động rất lớn đến người lao động Môi trường lao động đa dạng, có nhiều yếu tố tiện nghi, thuận lợi hay ngược lại rất khắc nghiệt, độc hại, đều tác động rất lớn đến sức khỏe người lao động

1.1.2 Các yếu tố nguy hiểm và có hại:

Trong môi trường làm việc, luôn tồn tại những yếu tố nguy hiểm có thể gây hại cho sức khỏe và an toàn của người lao động Những yếu tố vật chất này có khả năng dẫn đến tai nạn hoặc bệnh nghề nghiệp, đòi hỏi sự chú ý và biện pháp phòng ngừa thích hợp.

- Các yếu tố vật lý như nhiệt độ, độ ẩm, tiếng ồn, rung động, các bức xạ có hại, bụi…

- Các yếu tố hoá học như hoá chất độc, các loại hơi, khí, bụi độc, các chất phóng xạ…

- Các yếu tố sinh vật, vi sinh vật như các loại vi khuẩn, siêu vi khuẩn, ký sinh trùng, côn trùng, rắn…

- Các yếu tố bất lợi về tư thế lao động, không tiện nghi do không gian chỗ làm việc, nhà xưởng chật hẹp, mất vệ sinh…

- Các yếu tố tâm lý không thuận lợi

Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng

Tai nạn lao động bao gồm những sự cố gây thương tích cho 9 bộ phận của cơ thể người lao động hoặc thậm chí dẫn đến tử vong, xảy ra trong quá trình làm việc Ngoài ra, nhiễm độc đột ngột cũng được xem là một hình thức tai nạn lao động.

Tai nạn lao động được phân ra: Chấn thương, nhiễm độc nghề nghiệp và bệnh nghề nghiệp

Chấn thương là tai nạn gây ra những vết thương hoặc tổn hại cho cơ thể người lao động, có thể dẫn đến mất khả năng lao động tạm thời hoặc vĩnh viễn, thậm chí là tử vong Tác động của chấn thương thường xảy ra một cách đột ngột.

Bệnh nghề nghiệp là những căn bệnh phát sinh từ điều kiện lao động có hại, như tiếng ồn và rung động, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe và khả năng làm việc của người lao động Những bệnh này thường làm suy yếu sức khỏe một cách dần dần và lâu dài, gây ra những khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày của người lao động.

Nhiễm độc nghề nghiệp là tình trạng sức khỏe bị suy giảm do các chất độc xâm nhập vào cơ thể người lao động trong quá trình làm việc.

Mục đích, ý nghĩa, tính chất của công tác Bảo Hộ lao động

1.2.1 Mục đích của công tác bảo hộ lao động (BHLĐ):

Quá trình lao động có thể chứa đựng nhiều yếu tố nguy hiểm, nếu không được phòng ngừa sẽ gây chấn thương, bệnh nghề nghiệp, giảm khả năng lao động hoặc thậm chí tử vong Do đó, cải thiện điều kiện lao động và đảm bảo môi trường làm việc an toàn, vệ sinh là nhiệm vụ quan trọng để phát triển sản xuất và nâng cao năng suất Đảng và Nhà nước luôn chú trọng đến công tác bảo hộ lao động, coi đây là một phần thiết yếu trong quá trình lao động.

- Đảm bảo an toàn thân thể người lao động, hạn chế đến mức thấp nhất, hoặc không để xảy ra tai nạn trong lao động

- Đảm bảo cho người lao động mạnh khỏe, không bị mắc bệnh nghề nghiệp hoặc các bệnh tật khác do điều kiện lao động không tốt gây nên

- Bồi dưỡng phục hồi kịp thời và duy trì sức khỏe, khả năng lao động cho người lao động

1.2.2 Ý nghĩa của công tác BHLĐ: a Ý nghĩa chính trị

Bảo hộ lao động thể hiện sự coi trọng con người là động lực và mục tiêu phát triển Một xã hội với tỷ lệ tai nạn lao động thấp và người lao động khỏe mạnh là minh chứng cho việc coi con người là vốn quý nhất Công tác bảo hộ lao động không chỉ bảo vệ sức khỏe và tính mạng người lao động mà còn thể hiện quan điểm quý trọng con người của Đảng và Nhà nước, đồng thời tôn vinh vai trò của con người trong xã hội.

Nếu công tác bảo hộ lao động không hiệu quả và điều kiện làm việc không được cải thiện, sẽ dẫn đến nhiều tai nạn lao động nghiêm trọng, từ đó làm giảm uy tín của chế độ và doanh nghiệp.

Bảo hộ lao động không chỉ là việc chăm lo cho đời sống và hạnh phúc của người lao động mà còn là yêu cầu thiết thực trong hoạt động sản xuất kinh doanh Điều này phản ánh nguyện vọng chính đáng của người lao động, khi mà mỗi thành viên trong gia đình đều mong muốn có sức khỏe tốt và nâng cao trình độ văn hóa, nghề nghiệp Từ đó, họ có thể cùng nhau chăm lo cho hạnh phúc gia đình và góp phần vào sự phát triển phồn vinh của xã hội.

Bảo hộ lao động đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra một xã hội trong sáng và lành mạnh, giúp người lao động khỏe mạnh, làm việc hiệu quả và có vị trí xứng đáng Khi tai nạn lao động được ngăn chặn, Nhà nước và xã hội sẽ giảm thiểu tổn thất trong việc khắc phục hậu quả, từ đó có thể tập trung đầu tư cho các công trình phúc lợi xã hội, góp phần nâng cao ý nghĩa kinh tế của bảo hộ lao động.

Thực hiện tốt công tác bảo hộ lao động không chỉ mang lại lợi ích kinh tế rõ rệt mà còn tạo ra môi trường làm việc thoải mái cho người lao động Khi được bảo vệ tốt, người lao động sẽ cảm thấy an tâm và phấn khởi hơn trong công việc, từ đó nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm Điều này góp phần hoàn thành kế hoạch sản xuất, đồng thời tăng cường phúc lợi tập thể, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho cả cá nhân và tập thể lao động.

Chi phí bồi thường tai nạn là rất lớn đồng thời kéo theo chi phí lớn cho sửa chữa máy móc, nhà xưởng, nguyên vật liệu

An toàn trong sản xuất không chỉ là trách nhiệm mà còn là yếu tố quyết định đến hạnh phúc của người lao động Đảm bảo an toàn là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy sự phát triển bền vững và mang lại hiệu quả kinh tế cao.

1.2.3 Tính chất của công tác bảo hộ lao động:

BHLĐ có ba tính chất chính: pháp lý, khoa học kỹ thuật và tính quần chúng, tất cả đều liên quan chặt chẽ và hỗ trợ lẫn nhau Trong đó, tính chất pháp lý của BHLĐ đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an toàn lao động và bảo vệ quyền lợi của người lao động.

Bảo hộ lao động (BHLĐ) được thể chế hoá thành luật lệ, chế độ chính sách và tiêu chuẩn, yêu cầu mọi tổ chức và cá nhân nghiêm chỉnh thực hiện Chính sách và quy phạm về BHLĐ là luật pháp của Nhà nước, xuất phát từ quan điểm coi con người là vốn quý nhất Luật pháp về BHLĐ được nghiên cứu và xây dựng nhằm bảo vệ con người trong sản xuất, yêu cầu mọi cơ sở kinh tế và người lao động tham gia nghiên cứu và thực hiện Điều này khẳng định tính pháp lý và tính khoa học - kỹ thuật của công tác bảo hộ lao động.

Tất cả các hoạt động của BHLĐ nhằm loại trừ các yếu tố nguy hiểm và có hại, cũng như phòng ngừa tai nạn và bệnh nghề nghiệp, đều dựa trên nền tảng khoa học kỹ thuật Việc điều tra, khảo sát và phân tích điều kiện lao động, cùng với việc đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố độc hại đến sức khỏe con người, là những hoạt động khoa học kỹ thuật thiết yếu để đề xuất các giải pháp chống ô nhiễm và đảm bảo an toàn lao động.

Hiện nay, việc ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật mới trong công tác bảo hộ lao động ngày càng trở nên phổ biến Để cải thiện điều kiện làm việc và loại trừ tai nạn lao động, cần giải quyết nhiều vấn đề phức tạp, không chỉ dựa vào kiến thức kỹ thuật mà còn yêu cầu hiểu biết sâu sắc về nguyên lý và các yếu tố liên quan.

Công tác bảo hộ lao động không chỉ mang tính chất khoa học kỹ thuật tổng hợp mà còn có tính quần chúng, phản ánh sự quan tâm đến tâm lý lao động và xã hội học lao động Sự kết hợp này giúp nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cộng đồng trong việc đảm bảo an toàn lao động.

Mọi người, từ người sử dụng lao động đến người lao động, đều cần được bảo vệ trong công tác bảo hộ lao động Họ không chỉ là đối tượng cần sự bảo vệ mà còn là những người tham gia tích cực trong việc bảo vệ chính mình và người khác.

Bảo hộ lao động (BHLĐ) là vấn đề quan trọng liên quan đến tất cả những người tham gia sản xuất Công nhân, với vai trò tiếp xúc trực tiếp với máy móc và thực hiện quy trình công nghệ, có khả năng phát hiện những sơ hở trong công tác bảo hộ lao động Họ cũng đóng góp ý kiến xây dựng các biện pháp kỹ thuật an toàn, cũng như tham gia vào việc thiết kế mẫu mã và quy cách dụng cụ phòng hộ, quần áo làm việc.

BHLĐ là hoạt động tập trung vào cơ sở sản xuất và người lao động trực tiếp, liên quan chặt chẽ đến quần chúng lao động BHLĐ không chỉ bảo vệ quyền lợi mà còn góp phần mang lại hạnh phúc cho mọi người và toàn xã hội, thể hiện tính quần chúng sâu rộng của nó.

1.2.4 Những quy định chung về BHLĐ:

KỸ THUẬT VỆ SINH LAO ĐỘNG

Những vấn đề chung về kỹ thuật vệ sinh lao động

3.1.1 Đối tượng và nhiệm vụ của vệ sinh lao động

Vệ sinh lao động là một lĩnh vực khoa học nghiên cứu tác động của các yếu tố có hại trong môi trường sản xuất đến sức khỏe của người lao động Mục tiêu của nó là tìm ra các biện pháp cải thiện điều kiện làm việc, phòng ngừa bệnh nghề nghiệp và nâng cao năng suất lao động cho người lao động.

Trong sản xuất, người lao động thường phải đối mặt với nhiều yếu tố có thể gây hại cho sức khỏe, dẫn đến mệt mỏi, suy nhược và giảm khả năng lao động Những yếu tố này có thể bao gồm nhiệt độ cao, tiếng ồn và khói bụi, đặc biệt trong các quy trình gia công nóng Tất cả những yếu tố này được gọi là tác hại nghề nghiệp, có thể gây ra các bệnh thông thường hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động.

Các tác hại nghề nghiệp có thể phân thành các loại sau: a Tác hại liên quan đến quá trình sản xuất: Bao gồm các yếu tố:

Các yếu tố vật lý và hóa học như điều kiện vi khí hậu, bức xạ điện từ, bức xạ cao tần và siêu cao tần, tiếng ồn, bụi, chất độc, và chất phóng xạ đều đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất.

Yếu tố sinh vật như vi khuẩn, siêu vi khuẩn, ký sinh trùng và nấm mốc có thể gây ra nhiều bệnh tật Ngoài ra, tác hại liên quan đến tổ chức lao động cũng cần được chú ý, bao gồm các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe và hiệu suất làm việc của nhân viên.

+ Bố trí thời gian làm việc không hợp lý như làm việc liên tục, quá lâu, không nghỉ

Bố trí công việc không hợp lý, như cường độ lao động quá cao không phù hợp với sức khỏe của người lao động, có thể gây căng thẳng cho các hệ thống cơ thể và giác quan.

+ Bố trí chế độ làm việc nghỉ nghơi không hợp lý

+ Bố trí vị trí làm việc không hợp lý như tư thế gò bó, không thoải mái phải cúi lom khom, vặn mình

+ Công cụ lao động không phù hợp với cơ thể về trọng lượng, hình dáng kích thước

14 c Tác hại liên quan đến điều kiện vệ sinh an toàn: Bao gồm các yếu tố:

Bố trí hệ thống chiếu sáng không hợp lý có thể dẫn đến tình trạng thiếu hoặc thừa ánh sáng, ảnh hưởng đến hiệu suất làm việc Ngoài ra, làm việc ngoài trời trong điều kiện thời tiết xấu như nắng nóng mùa hè hoặc lạnh giá mùa đông cũng gây ra nhiều khó khăn cho người lao động.

+ Thiếu các trang thiết bị cho hệ thống thông gió, chống bụi, chống ồn, hút khí độc

+ Thiếu trang bị phòng hộ lao động hoặc có nhưng sử dụng và bảo quản không tốt

+ Công tác thực hiện quy tắc VSLĐ và ATLĐ chưa tốt, chưa triệt để

3.1.2 Các biện pháp đề phòng tác hại nghề nghiệp

Để đảm bảo an toàn lao động và bảo vệ sức khỏe người lao động, có thể áp dụng các biện pháp phòng ngừa như sau: Cải tiến kỹ thuật và công nghệ để giảm thiểu sử dụng các chất độc hại; nâng cao hệ thống thông gió, chiếu sáng và hút bụi nhằm cải thiện điều kiện làm việc; sử dụng trang bị bảo hộ cá nhân trong những điều kiện sản xuất cụ thể; thực hiện phân công lao động khoa học phù hợp với đặc điểm sinh lý của người lao động; và tiến hành kiểm tra sức khỏe định kỳ cho người lao động, không tuyển dụng những người mắc bệnh vào vị trí nguy hiểm Ngoài ra, cần theo dõi sức khỏe liên tục, giám định khả năng lao động và hướng dẫn phục hồi cho những người bị tai nạn lao động, đồng thời đảm bảo cung cấp nước uống và thực phẩm an toàn vệ sinh.

3.1.3: Vấn đề tăng năng suất lao động và chống mệt mỏi

Vi khí hậu trong lao động sản xuất

Vi khí hậu là trạng thái lý học của không khí trong không gian hẹp, bao gồm các yếu tố như nhiệt độ, độ ẩm, bức xạ nhiệt và vận tốc gió Điều kiện vi khí hậu trong sản xuất chịu ảnh hưởng bởi tính chất của quá trình công nghệ và khí hậu địa phương.

Vi khí hậu có ảnh hưởng đáng kể đến sức khoẻ của công nhân, với điều kiện lạnh và ẩm có thể dẫn đến các bệnh như thấp khớp, viêm đường hô hấp, và làm nặng thêm bệnh lao Ngược lại, vi khí hậu lạnh và khô gây ra rối loạn vận mạch, làm khô niêm mạc và nứt nẻ da Trong khi đó, vi khí hậu nóng ẩm làm giảm khả năng bay hơi mồ hôi, gây rối loạn thăng bằng nhiệt và tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển, dẫn đến các bệnh ngoài da.

Tuỳ theo tính chất toả nhiệt của quá trình sản xuất người ta chia ra 3 loại vi khí hậu sau:

- Vi khí hậu tương đối ổn định: nhiệt toả ra khoảng 20 kcal/m3.h ( trong xưởng cơ khí, dệt )

- Vi khí hậu nóng: nhiệt toả ra nhiều hơn 20 kcal/m3.h ( trong xưởng đúc, rèn, cán, luyện kim )

- Vi khí hậu lạnh: nhiệt toả ra dưới 20 kcal/m3.h ( trong xưởng lên men rượi bia, nhà ướp lạnh, chế biến và bảo quản thực phẩm )

3.2.2 Các yếu tố vi khí hậu a Nhiệt độ không khí:

Nhiệt độ đóng vai trò quan trọng trong sản xuất, chịu ảnh hưởng từ các quá trình và nguồn phát nhiệt như lò nung, ngọn lửa, năng lượng điện, cơ năng biến thành nhiệt, phản ứng hóa học sinh nhiệt, và bức xạ nhiệt từ mặt trời Ngoài ra, nhiệt do con người tạo ra cũng góp phần làm tăng nhiệt độ không khí, có thể đạt mức từ 50 đến 60 độ C.

Khi nhiệt độ tăng cao, cơ thể con người sẽ gặp phải nhiều hiện tượng như mệt mỏi, giảm khả năng lao động, tim đập nhanh, huyết áp tăng, và giảm hoạt động của các cơ quan tiêu hóa Ngoài ra, cơ thể cũng sẽ tăng cường phân bổ máu ở da và bài tiết mồ hôi nhiều hơn Theo quy định về vệ sinh, nhiệt độ tối đa cho phép tại nơi làm việc vào mùa hè là 30°C, không được vượt quá 30-50°C Đối với các khu vực sản xuất có nhiệt độ cao như xưởng rèn, xưởng đúc, xưởng cán, và xưởng luyện thép, nhiệt độ không được vượt quá 40°C.

Làm việc trong môi trường lạnh có thể dẫn đến các bệnh như thấp khớp, viêm đường hô hấp, viêm phế quản, và cảm lạnh do khô niêm mạc Độ ẩm trong không khí được đo bằng lượng hơi nước trong một mét khối không khí, thể hiện bằng gam hoặc mm cột thủy ngân Độ ẩm cực đại là lượng hơi nước bão hòa tại một nhiệt độ nhất định, trong khi độ ẩm tương đối là tỷ lệ phần trăm giữa độ ẩm tuyệt đối và độ ẩm cực đại ở cùng nhiệt độ.

Độ ẩm tương đối được sử dụng để đo lường mức độ ẩm trong môi trường làm việc, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của công nhân Theo quy định về vệ sinh, độ ẩm tương đối trong khu vực sản xuất cần duy trì trong khoảng 75% - 85% để đảm bảo an toàn và sức khỏe cho người lao động.

Khi độ ẩm cao, lượng ôxy trong phổi giảm, dẫn đến tình trạng uể oải và phản xạ chậm, dễ gây tai nạn Sự tăng cường độ ẩm cũng làm cho bề mặt xi măng trơn trượt, gây nguy cơ ngã Ngoài ra, độ ẩm cao tăng khả năng dẫn điện, dễ gây chạm mát cho các thiết bị điện và tạo ra nguy cơ điện giật Để khắc phục tình trạng này, cần thiết lập hệ thống thông gió với không khí khô để điều chỉnh độ ẩm.

Khi độ ẩm thấp và không khí hanh khô, da dễ bị khô nẻ, đặc biệt là ở những người tiếp xúc với dầu mỡ Lớp mỡ trên da bị hòa tan làm cho da càng trở nên khô cứng, dễ nứt nẻ Các vết nứt này không chỉ gây đau đớn cho chân tay mà còn giảm độ linh hoạt, là nguyên nhân dẫn đến tai nạn lao động.

Bức xạ nhiệt là năng lượng truyền qua không khí dưới dạng sóng điện từ, bao gồm tia hồng ngoại, tia sáng thường và tia tử ngoại Các vật thể đen khi được nung nóng phát ra bức xạ nhiệt Ở nhiệt độ 5000°C, chỉ có tia hồng ngoại được phát ra, trong khi ở nhiệt độ từ 1.8000°C đến 2.0000°C, các tia sáng thường và tia tử ngoại cũng xuất hiện Khi nhiệt độ đạt 3.0000°C, lượng tia tử ngoại phát ra gia tăng đáng kể.

Cường độ bức xạ nhiệt, đo bằng Cal/m2.phút và sử dụng nhiệt kế cầu, đóng vai trò quan trọng trong vệ sinh công nghiệp Tại các xưởng rèn, đúc và cán thép, cường độ bức xạ nhiệt có thể đạt tới 5, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường làm việc và sức khỏe của công nhân.

10 Kcal/m2.phút (Tiêu chuẩn vệ sinh cho phép 1 Kcal/m2.phút)

3.2.3 Điều hoà thân nhiệt ở người

Cơ thể người duy trì nhiệt độ ổn định khoảng 37°C ± 0,5°C nhờ vào hai quá trình điều nhiệt do trung tâm điều khiển nhiệt điều phối Trong điều kiện nóng, cơ thể thải nhiệt thừa qua giãn mạch ngoại biên và tăng tiết mồ hôi, với một lít máu chuyển từ nội tạng ra ngoài da có thể thải khoảng 2,5 kcal và hạ nhiệt độ 3°C Một lít mồ hôi bay hơi hoàn toàn có thể thải ra khoảng 580 kcal Ngược lại, trong điều kiện lạnh, cơ thể tăng cường sinh nhiệt và hạn chế thải nhiệt để duy trì cân bằng Điều nhiệt hóa học là quá trình sinh nhiệt từ sự oxy hóa các chất dinh dưỡng, tăng cường khi nhiệt độ bên ngoài thấp và cơ thể lao động nặng, trong khi giảm khi nhiệt độ cao và cơ thể nghỉ ngơi Điều nhiệt lý học bao gồm các quá trình thải nhiệt như truyền nhiệt, đối lưu, bức xạ và bay hơi mồ hôi Thải nhiệt bằng truyền nhiệt xảy ra khi nhiệt độ không khí và vật thể tiếp xúc thấp hơn nhiệt độ da, trong khi quá trình ngược lại xảy ra khi da có nhiệt độ cao hơn môi trường.

3.2.4 Ảnh hưởng của vi khí hậu đối với cơ thể người a Ảnh hưởng của vi khí hậu nóng:

* Biến đổi về sinh lý:

Nhiệt độ da, đặc biệt là ở vùng trán, rất nhạy cảm với nhiệt độ không khí bên ngoài Khi nhiệt độ cơ thể (đo dưới lưỡi) tăng từ 0,3 đến 1 độ C, điều này cho thấy cơ thể đang tích nhiệt Nhiệt độ cơ thể đạt 38,5 độ C được xem là mức cảnh báo nguy hiểm, có thể gây ra triệu chứng say nóng.

Cơ thể con người duy trì sự cân bằng nước hàng ngày, với lượng nước cần cung cấp khoảng 2,5-3 lít Trong đó, thận thải ra từ 1-1,5 lít, 0,2 lít qua phân, và phần còn lại được bài tiết qua mồ hôi và hơi thở.

Trong môi trường làm việc nóng bức, cơ thể cần tiết mồ hôi để điều chỉnh nhiệt độ, dẫn đến việc mất nước từ 5-7 lít trong một ca làm việc, gây giảm trọng lượng cơ thể từ 0,4-4 kg Quá trình này cũng làm mất khoảng 20 gam muối ăn cùng với các khoáng chất như ion K, Na, I, Fe và các vitamin C, B1, B2, PP.

Mất nước làm tăng tỷ trọng máu, khiến tim phải hoạt động nhiều hơn để loại bỏ nhiệt thừa Khi ra mồ hôi, lượng nước bài tiết qua thận giảm xuống chỉ còn 10-15% so với bình thường, ảnh hưởng đến chức năng thận và dẫn đến sự xuất hiện của albumin và hồng cầu trong nước tiểu Uống quá nhiều nước có thể làm loãng dịch vị, gây mất cảm giác thèm ăn và giảm khả năng diệt khuẩn của dịch vị, dễ dẫn đến viêm nhiễm đường ruột Ngoài ra, chức năng thần kinh cũng bị ảnh hưởng, làm giảm sự chú ý và phản xạ, tăng nguy cơ tai nạn lao động.

Phòng chống bụi trong sản xuất

3.3.1 Định nghĩa và phân loại bụi a Định nghĩa:

Bụi là tập hợp các hạt có kích thước khác nhau, tồn tại lâu trong không khí dưới dạng bụi bay, bụi lắng và các hệ khí dung đa pha như hơi, khói và mù Khi các hạt bụi lơ lửng trong không khí, chúng được gọi là aerozon, trong khi khi chúng đọng lại trên bề mặt vật thể, chúng được gọi là aerogen.

Bụi có nhiều nguồn gốc khác nhau, bao gồm bụi kim loại như mangan, silic và rỉ sắt; bụi cát và bụi gỗ; bụi động vật như lông và xương; bụi thực vật như bông và gai; cùng với bụi hóa chất như grafit, bột phấn, bột hàn the và bột xà phòng.

Bụi bay có kích thước từ 0,001 đến 10 µm, trong đó các hạt từ 0,1 đến 10 µm được gọi là mù, còn các hạt từ 0,001 đến 0,1 µm được gọi là khói và chúng chuyển động theo kiểu Brao trong không khí Bụi lắng có kích thước lớn hơn 10 µm thường gây hại cho mắt.

Bụi có nhiều tác hại nghiêm trọng đối với sức khỏe con người, bao gồm gây nhiễm độc từ các chất như chì (Pb), thủy ngân (Hg), và benzen Ngoài ra, bụi cũng có thể gây ra dị ứng và các bệnh ung thư, đặc biệt là từ nhựa đường, phóng xạ và các hợp chất brom Hơn nữa, bụi silic và amiăng có thể dẫn đến xơ phổi, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ hô hấp.

Bụi có thể gây hại cho da, mắt và các cơ quan hô hấp cũng như tiêu hóa Những hạt bụi này lơ lửng trong không khí, và khi được hít vào phổi, chúng có thể gây tổn thương nghiêm trọng cho đường hô hấp.

Khi thở, lông mũi và màng niêm dịch của đường hô hấp giữ lại khoảng 90% các hạt bụi có kích thước lớn hơn 5 micromet Các hạt bụi có kích thước từ 2 đến 5 micromet dễ dàng đi vào phế quản và phế nang, nơi chúng bị tiêu diệt bởi các lớp thực bào, loại bỏ thêm khoảng 90% bụi Tuy nhiên, một lượng nhỏ bụi còn lại có thể tích tụ ở phổi, dẫn đến các bệnh như bụi phổi, silicose, asbestose và siderose.

Bệnh phổi nhiễm bụi thường gặp ở những công nhân khai thác chế biến, vận chuyển quặng đá, kim loại, than v.v

Bệnh silicose là một loại bệnh phổi do nhiễm bụi silic, thường gặp ở các nghề như thợ đúc, thợ khoan đá, thợ mỏ, và thợ làm gốm sứ Bệnh này chiếm tỷ lệ từ 40-70% trong tổng số các bệnh phổi Ngoài silicose, còn có một số bệnh khác liên quan đến bụi như asbestose (nhiễm bụi amiăng), aluminose (bụi bauxite và đất sét), và siderose (bụi sắt).

Bệnh đường hô hấp: Bao gồm các bệnh như viêm mũi, viêm họng, viêm phế quản, viêm teo mũi do bụi crôm, asen…

Bệnh ngoài da có thể do bụi bẩn bám vào da, gây viêm da và làm tắc nghẽn lỗ chân lông, ảnh hưởng đến quá trình bài tiết Bụi cũng có thể làm tắc các tuyến nhờn, dẫn đến mụn và lở loét trên da, đồng thời gây ra viêm mắt, giảm thị lực và mộng thịt.

Bệnh đường tiêu hoá: Các loại bụi sắc cạnh nhọn vào dạ dày có thể làm tổn thương niêm mạc dạ dày, gây rối loạn tiêu hoá

Chấn thương mắt: Bụi kiềm, axit có thể gây ra bỏng giác mạc, giảm thị lực

3.3.3 Các biện pháp phòng chống bụi a Biện pháp kỹ thuật:

- Cơ khí hoá và tự động hoá quá trình sản xuất sinh bụi để công nhân không phải tiếp xúc với bụi và bụi ít lan tỏa ra ngoài

- Thay đổi bằng biện pháp công nghệ như vận chuyển bằng hơi, dùng máy hút, làm sạch bằng nước thay cho việc làm sạch bằng phun cát

- Bao kín thiết bị và có thể cả dây chuyền sản xuất khi cần thiết

- Thay đổi vật liệu sinh nhiều bụi bằng vật liệu ít sinh bụi hoặc không sinh bụi

- Sử dụng hệ thống thông gió, hút bụi trong các phân xưởng có nhiều bụi

- Khám và kiểm tra sức khoẻ định kỳ, phát hiện sớm bệnh để chữa trị, phục hồi chức năng làm việc cho công nhân

- Dùng các phương tiện bảo vệ cá nhân (quần áo, mặt nạ, khẩu trang…)

1 Trình bày các biện pháp đề phòng tác hại nghề nghiệp

2 Các biện pháp phòng chống vi khí hậu xấu

3 Ảnh hưởng của vi khí hậu xấu đến con người

KỸ THUẬT AN TOÀN LAO ĐỘNG

AN TOÀN KHI ĐÀO ĐẤT ĐÁ VÀ LÀM VIỆC TRÊN SÔNG NƯỚC

1.1 An toàn khi đào đất đá

1.1.1 Phân tích nguyên nhân gây tai nạn khi đào đất đá

Các nguyên nhân chủ yếu:

+ Đào hào, hố với thành đứng có chiều rộng vượt quá giới hạn cho phép đối với đất đã biết mà không có gia cố

+ Đào hố với mái dốc không đủ ổn định

+ Gia cố chống đỡ thành hào, hố không đúng kỹ thuật, không đảm bảo ổn định + Vi phạm các nguyên tắc an toàn tháo dỡ hệ chống đỡ

+ Đất đá lăn rơi từ trên bờ xuống hố hoặc đá lăn theo vách núi xuống dưới

+ Khi làm việc mái dốc quá đứng không đeo dây an toàn

+ Nhảy qua hào, hố rộng hoặc leo trèo khi lên xuống hố sâu

+ Đi lại ngang tắt trên sườn núi đồi không theo đường quy định

- Theo dõi không đầy đủ về trình trạng an toàn của hố đào khi nhìn không thấy rõ lúc tối trời sương mù và ban đêm

- Bị nhiễm bởi khí độc xuất hiện bất ngờ ở các hào, hố sâu

- Bị chấn thương do sức ép hoặc đất đá văng vào người khi thi công nổ mìn

Việc đánh giá khảo sát, thăm dò và thiết kế chưa hoàn thiện do các tính chất cơ học của đất đá chưa được thể hiện đầy đủ trong cơ học đất.

Đất không phải là một hệ thống tĩnh mà có thể thay đổi theo thời gian, do đó, trong quá trình thi công, các yếu tố đặc trưng của đất có thể khác biệt so với thiết kế ban đầu.

1.1.2 Các biện pháp đề phòng tai nạn a Đảm bảo sự ổn định của hố đào:

Đối với đất có độ ẩm tự nhiên và kết cấu không bị phá hoại, việc đào thành thẳng đứng mà không cần gia cố chỉ được phép thực hiện khi không có nước ngầm, và phải tuân theo chiều sâu hạn chế theo quy định.

+ Đất cát và sỏi: không quá 1m

+ Đất đá cát: không quá 1.25m

+ Đất đá sét và sét: không quá 1.5m

+ Đất cứng (dùng xà beng, cuốc chim): không quá 2m b Biện pháp ngăn ngừa đất đá lăn rơi:

- Chừa bờ bảo vệ để ngăn giữ các tầng đất đá lăn từ phía trên xuống ở mép bờ cần đóng các tấm ván thành bảo vệ cao 15cm

- Đất đá đào lên phải đổ xa cách mép hố, hào ít nhất 0.5m

- Khi đào đất tuyệt đối không đào theo kiểu hàm ếch

- Thường xuyên xem xét vách đất và mạch đất phía trên nếu thấy có kẽ nứt hoặc hiện tượng sụt lở thì phải đình chỉ việc đào ngay

- Sau mỗi lần mưa phải kiểm tra vách đào trước khi để công nhân xuống hố đào tiếp c Biện pháp ngăn ngừa người ngã:

- Công nhân lên xuống hố, hào sâu phải có thang chắc chắn

- Phải đeo dây an toàn trong trường hợp sau:

+ Khi làm việc trên mái dốc có chiều cao hơn 3m và độ dốc > 450

+ Khi bề mặt mái dốc trơn trượt, ẩm ướt và độ dốc < 300

- Khi đào sâu 2m trở lên bằng thủ công thì bố trí ít nhất 2 người làm việc

- Cấm đứng ngồi trên miệng hoặc sát dưới chân thành hào hố có vách đứng đang đào dỡ

- Hố đào trên đường đi lại phải có rào chắn, ban đêm phải có đèn sáng để bảo vệ d Biện pháp đề phòng nhiễm độc:

- Làm việc ở các hố sâu, giếng khoan, đường hầm phải kiểm tra sự nhiểm độc của không khí Nếu có phải xử lý trước khi thi công

Khi làm việc trong các khu vực như hố, giếng khoan hoặc đường hầm có khí độc, công nhân cần trang bị mặt nạ phòng độc và bình thở, đồng thời phải có người giám sát hỗ trợ ở trên Để phòng ngừa chấn thương khi nổ mìn, việc tuân thủ các biện pháp an toàn là rất quan trọng.

- Việc tính toán an toàn cho công tác nổ phá là xác định chinh xác khoảng cách an toàn

- Nghiên cứu tính chất nguy hiểm của nổ phá có mấy phương diện sau:

+ Phạm vi nguy hiểm của hiệu ứng động đất

+ Cự ly nguy hiểm nổ lây

+ Phạm vi tác dụng nguy hiểm của sóng không khí xung kích

+ Cự ly nguy hiểm mảnh vụn đất đá bay cá biệt

- Những quy định bảo đảm an toàn khi nổ mìn:

- Khi nổ mìn phải sử dụng các loại thuốc nào ít nguy hiểm và kinh tế nhất được cho phép dùng đối với mỗi loại công việc

Khi dự trữ thuốc nổ quá 24 giờ, cần phải bảo quản chúng trong kho đặc biệt và phải có sự đồng ý của cơ quan công an địa phương để đảm bảo an toàn.

Kho thuốc nổ cần được bố trí xa khu dân cư và khu vực sản xuất Nếu có thể, kho nên được làm âm dưới đất hoặc được bao quanh bằng đất, với mái được thiết kế bằng kết cấu nhẹ.

Khi thi công nổ mìn vào ban đêm, cần đảm bảo khu vực làm việc được chiếu sáng đầy đủ và tăng cường bảo vệ cho vùng nguy hiểm Sau khi nổ, cần kiểm tra kỹ lưỡng vùng nổ để đảm bảo an toàn.

1.2 An toàn khi làm việc trên sông nước

Các ngành quản lý sản xuất và các xí nghiệp có công nhân làm việc trên sông nước cần đánh giá nguy cơ tiềm ẩn để xây dựng quy trình an toàn cho người lao động.

Cần đảm bảo cung cấp đầy đủ và kịp thời cho công nhân viên các phương tiện làm việc cùng trang bị phòng hộ cần thiết như thuyền, dây, phao, và thực hiện kiểm tra định kỳ để đảm bảo chất lượng của những trang thiết bị này luôn ở mức tốt nhất.

- Không giao cho những người không biết bơi làm những việc trên sông nước

Trước mùa lũ, các công trường và xí nghiệp cần xây dựng kế hoạch làm việc an toàn cho công nhân trên sông nước, nhằm phòng ngừa tai nạn chết đuối Việc chuẩn bị và kiểm tra chất lượng các phương tiện làm việc cùng trang bị phòng hộ cho công nhân là rất quan trọng.

Cần tổ chức các công nhân biết bơi thành thạo tại nơi làm việc, đảm bảo họ được trang bị đầy đủ thiết bị cứu hộ để ứng phó kịp thời với các tình huống đuối nước.

AN TOÀN KHI SỬ DỤNG MÁY MÓC, THIẾT BỊ

2.1 Khái niệm về vùng nguy hiểm

Vùng nguy hiểm là khu vực có sự hiện diện của các yếu tố nguy hại đối với sức khỏe và sự sống của con người, có thể tác động thường xuyên, theo chu kỳ hoặc một cách bất ngờ.

Vùng nguy hiểm có thể xuất hiện trong môi trường làm việc với các cơ cấu truyền động, nơi có khả năng xảy ra sự cố với dụng cụ hoặc vật liệu bay ra, và cũng có thể là khu vực có dây điện được đặt.

Nguyên nhân gây ra sự cố khi sử dụng máy móc thiết bị rất đa dạng, phụ thuộc vào chất lượng máy, đặc điểm quy trình công nghệ, và trình độ bảo quản, sử dụng Chẳng hạn, các bộ phận như mâm cặp, trục truyền động và trục chính máy khoan có thể là nguồn gốc của những vấn đề này.

2.2 Các nguyên nhân: a Nguyên nhân do thiết kế

Để đảm bảo máy móc hoạt động ổn định và an toàn, người thiết kế cần tính toán các yếu tố như độ bền, độ cứng, khả năng chịu ăn mòn, chịu nhiệt và chịu chấn động dựa trên điều kiện làm việc thực tế và các yêu cầu kỹ thuật.

Máy móc không đạt tiêu chuẩn kỹ thuật có thể gây ra tai nạn nghiêm trọng, như vỏ bình áp lực và dây cáp cần trục thiếu độ bền có thể dẫn đến rơi vật nặng hoặc nổ Đối với thiết bị hóa chất, sự không đảm bảo về độ bền và khả năng chống ăn mòn có thể làm tăng rò rỉ hóa chất độc hại, gây ô nhiễm môi trường Nếu không có biện pháp che chắn và cách ly thích hợp ở các khu vực nguy hiểm, tai nạn có thể xảy ra Ngoài ra, việc thiếu hệ thống phanh, tín hiệu và cơ cấu an toàn cũng làm tăng nguy cơ chấn thương nghề nghiệp Vi phạm nguyên tắc vệ sinh trong thiết kế và lắp đặt thiết bị, cùng với việc thiếu biện pháp giảm thiểu tác hại từ chất độc và điều kiện thông gió, chiếu sáng kém, đều có thể là nguyên nhân gây nguy hiểm.

Máy móc được thiết kế tỉ mỉ nhưng nếu quy trình chế tạo không chính xác sẽ dẫn đến sự cố trong sản xuất Đặc biệt, ở các bình chịu áp lực, việc gò hàn không đạt tiêu chuẩn và sử dụng bu lông, đinh tán không đúng có thể làm giảm độ bền, độ kín và khả năng chịu nhiệt của thiết bị.

Trong các quá trình chế biến kim loại như rèn, đúc, và gia công, việc vật liệu bị cháy quá lửa, có vết nứt, hoặc bị rỗ có thể dẫn đến tai nạn Ngoài ra, nhiệt luyện không đạt yêu cầu về độ cứng cũng là một nguyên nhân quan trọng Việc bảo quản và sử dụng sai cách cũng góp phần vào các sự cố này.

Để đảm bảo máy móc hoạt động ổn định, hiệu quả và bền lâu, cần thiết lập một chế độ bảo trì và sử dụng nghiêm ngặt, đặc biệt đối với các thiết bị tinh vi và dễ hư hỏng Việc kiểm tra và điều chỉnh các cơ cấu an toàn thường xuyên là rất quan trọng để phù hợp với chế độ làm việc của máy Nếu không bảo dưỡng định kỳ và duy trì chế độ làm việc hợp lý, nguy cơ tai nạn sẽ tăng cao Chẳng hạn, việc bỏ qua bôi trơn có thể dẫn đến cháy ổ trục, gây ra nổ và tai nạn nghiêm trọng Các van an toàn trong nồi hơi và thiết kế cơ cấu máy móc hợp lý cần đáp ứng nhiều yêu cầu, trong đó an toàn lao động và điều khiển dễ dàng là ưu tiên hàng đầu.

Tư thế làm việc có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của người lao động, vì vậy cần bố trí tư thế phù hợp với tính chất công việc Đối với công việc nặng, nên làm việc ở tư thế đứng, tuy nhiên, tư thế ngồi có thể giảm mệt mỏi hơn Quan trọng là phải đảm bảo khả năng thay đổi tư thế trong quá trình làm việc, tránh việc bắt buộc phải duy trì một tư thế gò bó Ngoài ra, cần tiết kiệm các hoạt động điều khiển của người lao động và tránh các động tác thừa để nâng cao hiệu quả công việc.

2.3 Những biện pháp an toàn chủ yếu a Yêu cầu chung

Thiết kế cơ cấu máy móc hợp lý cần đáp ứng nhiều yêu cầu, trong đó quan trọng nhất là đảm bảo an toàn trong quá trình làm việc, tạo ra môi trường lao động thuận lợi và thoải mái cho người sử dụng.

Tất cả các thiết bị cần phải tương thích với thể lực, hệ thần kinh và các bộ phận của cơ thể người dùng Việc yêu cầu người sử dụng phải chú ý quá mức và phản ứng nhanh chóng có thể dẫn đến sai sót trong thao tác, do đó cần thiết lập một môi trường sử dụng an toàn và thoải mái.

- Tư thế làm việc: cần bố trí tư thế làm việc phù hợp với tính chất công việc

Hình dạng và cấu tạo của máy ảnh hưởng đến an toàn và giảm nhẹ sức lao động, với thiết kế gọn gàng giúp giảm căng thẳng về thị lực và mệt mỏi Các bộ phận truyền động nên được đặt kín trong thân máy để tạo sự yên tĩnh và thoải mái cho người sử dụng; nếu không thể kín, cần có che chắn Máy nên được sơn màu sáng dịu và sử dụng các màu khác nhau để phân biệt các bộ phận truyền động, bộ phận nguy hiểm, nút bấm và cơ cấu điều khiển, tránh sử dụng màu sặc sỡ để không gây mỏi mắt và phân tán tư tưởng.

Tín hiệu an toàn là tín hiệu báo hiệu tình trạng làm việc của máy (an toàn hay sắp xảy ra sự cố)

- Tín hiệu ánh sáng: là một biện pháp an toàn được sử dạng rộng rãi trong các xí nghiệp, trong các hệ thống giao thông

Tiêu chuẩn quốc tế về hệ thống tín hiệu ánh sáng đã được quy định như sau:

+ Ánh sáng đỏ: tín hiệu cấm, biểu thị sự nguy hiểm trực tiếp như: dừng lại; máy hỏng; hết dầu…

+ Ánh sáng vàng: tín hiệu đề phòng, biểu thị sự cần thiết chú ý

+ Ánh sáng xanh: tín hiệu cho phép, biểu thị sự an toàn

Tín hiệu màu sắc đóng vai trò quan trọng trong các công trình và máy móc, thường được áp dụng trên các cấu trúc như dây dẫn điện và đường ống hơi nước nóng, với màu đỏ là màu phổ biến cho việc đánh dấu.

Tín hiệu âm thanh là yếu tố an toàn quan trọng cần được đặt ở vị trí dễ quan sát, như trên các bảng điều khiển Cần thiết lập để tín hiệu xuất hiện trước khi xảy ra nguy hiểm một khoảng thời gian đủ dài, giúp công nhân có thời gian điều chỉnh và ngăn ngừa tai nạn hoặc hư hỏng Âm thanh có thể phát ra từ các thiết bị như còi hoặc chuông, nhằm dễ dàng thông báo cho công nhân Ngoài ra, âm thanh cũng có thể được sử dụng để cảnh báo khi thiết bị đạt đến mức giới hạn cho phép, như nhiệt độ, áp suất, hoặc mức nước trong bình, nhằm tránh sự cố khi vượt quá các chỉ số an toàn.

Trong những năm gần đây, việc sử dụng các chất đồng vị phóng xạ đã giúp cải thiện quy trình kiểm tra sản phẩm mà không cần tiếp xúc trực tiếp, từ đó nâng cao điều kiện làm việc an toàn Điều này đặc biệt quan trọng trong ngành nuôi trồng thủy sản, nơi an toàn khi sử dụng máy móc và thiết bị là ưu tiên hàng đầu.

AN TOÀN KHI SỬ DỤNG HÓA CHẤT

3.1 Nhập nội, sản xuất, chế biến, đóng gói :

Mỗi khi nhập nội một loại hóa chất mới phải nhập kèm theo các tài liệu thuyết minh bao gồm:

+ Tên thương phẩm, tên hóa chất, công thức hóa học, nồng độ lý và hóa tính + Độc tính đối với người và gia súc

+ Cách chữa cháy và bảo quản

+ Cách đề phòng cấp cứu và điều trị nhiễm độc

Cơ quan nhập hàng cần thông báo trước cho các cơ quan liên quan, bao gồm chủ hàng, cơ quan y tế, sở lao động và công an tại địa phương, về tên hàng, số lượng, nồng độ và thời gian dự kiến hàng về.

Trước khi sử dụng lần đầu tiên hóa chất hoặc thuốc trừ sâu mới, ngành chủ quản cần có tài liệu hướng dẫn về cách bảo quản, sử dụng và các biện pháp phòng độc cũng như cấp cứu liên quan đến hóa chất đó.

Việc pha chế hóa chất độc hại loại I từ nồng độ cao thành nồng độ sử dụng cần tuân thủ các quy định an toàn vệ sinh do y tế quy định Quá trình này phải được thực hiện bởi nhân viên chuyên trách, đã được đào tạo về kỹ thuật an toàn hóa chất và thuốc trừ sâu, tại các khu vực cố định như kho hoặc ngoài đồng ruộng.

Chai lọ chứa hóa chất và thuốc trừ sâu cần phải kín và chắc chắn để tránh rò rỉ và rơi vãi Mỗi chai lọ phải có nhãn hiệu ghi rõ tên hóa chất, cùng với thông tin về độ độc hại, khả năng cháy nổ, nồng độ, trọng lượng, công dụng và cách bảo quản, sử dụng Trọng lượng bao bì cũng cần phù hợp để thuận tiện cho việc vận chuyển, bốc dỡ, bảo quản và sử dụng.

Kiện hàng chứa hóa chất thuốc trừ sâu, bao gồm chai lọ và thùng, cần được làm chắc chắn và chèn lót cẩn thận bên trong Mỗi loại hóa chất phải kèm theo bản hướng dẫn chi tiết, ghi rõ tên, thành phần, nồng độ, tổng trọng lượng, công cụ, cách bảo quản, hạn sử dụng, phương pháp sử dụng (như phun, rắc, thời gian cách ly), độc tính, biện pháp phòng ngừa, cấp cứu khi nhiễm độc và cách tiêu hủy.

Bên ngoài kiện hàng phải có nhãn biểu thị hóa chất độc, cháy và tên hóa chất Nhãn hiệu biểu thị chất độc là:

Loại I: đầu lâu trắng trên nền màu đen và chữ độc ở dưới khung viết bằng màu đen

Loại II: đầu lâu trắng trên nền màu đen và chữ màu đỏ ở dưới

Loại III: chữ độc màu đỏ trên nền trắng

3.2 Vận chyển và bốc dỡ a Vận chuyển:

- Không vận chuyển được hóa chất, thuốc trừ sâu chung với người và gia súc, lương thực, thực phẩm và hàng thường dùng trong sinh hoạt

Khi vận chuyển hóa chất bằng đường sắt, cần lưu ý rằng hóa chất loại I không được vận chuyển cùng với hành khách, gia súc, lương thực và thực phẩm Đối với các loại hóa chất khác, phải sử dụng toa xe riêng biệt, đặt ở cuối đoàn tàu để dễ dàng cắt ra khi cần thiết, và cần đảm bảo khoảng cách tối thiểu 3 toa giữa các toa chở người và gia súc.

Khi vận chuyển hóa chất thuốc trừ sâu bằng ô tô, chỉ cho phép chở người lái và phụ lái, không được chở thêm người khác Hóa chất loại một chưa pha chế phải được vận chuyển bằng ô tô riêng biệt, trong khi hóa chất loại I đã pha chế có thể chở chung với các hàng hóa khác, ngoại trừ lương thực, thực phẩm và hàng hóa sinh hoạt thông thường.

- Khi vận chuyển bằng đường sông, phải sử dụng tàu, sà lan, thuyền gỗ chắc chắn và không bị thấm nước, không được sử dụng thuyền nan bè mảng

- Hóa chất loại I không được vận chuyển bằng thuyền gỗ, không được vận chuyển chung với các hàng hóa khác

Sau khi sử dụng, phương tiện vận chuyển cần được khử độc kỹ lưỡng trước khi chở hàng khác Đặc biệt, nếu phương tiện đã chở hóa chất hoặc thuốc trừ sâu, phải thực hiện quy trình khử độc và được sự kiểm tra, cho phép từ y tế địa phương trước khi chở người, gia súc, lương thực và thực phẩm.

Trong quá trình vận chuyển, nếu phát hiện bao bì bị vỡ, rách hoặc thủng, người áp tải cần nhanh chóng sửa chữa và làm kín bao bì, đồng thời thu dọn và khử độc khu vực nơi hóa chất bị rơi vãi.

Tại các ga bến sông nước, việc bốc dỡ hóa chất cần được thực hiện ở khu vực xa nơi đông người, tránh xa các chất dễ cháy, nổ, lương thực thực phẩm và các hàng hóa thiết yếu trong sinh hoạt.

- Chỉ có người chịu trách nhiệm và có đủ trang bị phòng hộ mới được bốc đỡ

Công nhân bốc dỡ cần hiểu rõ tác hại của hóa chất và áp dụng kỹ thuật bốc dỡ an toàn Họ cũng phải biết cách tự cấp cứu khi xảy ra tai nạn Để đảm bảo an toàn, công nhân cần được trang bị đầy đủ phương tiện bảo hộ cá nhân như mũ, kính, khẩu trang, găng tay, giày ủng và quần áo phòng hộ.

Để bảo vệ sức khỏe công nhân, cần có phương tiện bốc dỡ và quy định thao tác nghiêm ngặt nhằm tránh tiếp xúc với chất độc Sau khi làm việc, công nhân phải được tắm rửa và thay quần áo ngay tại nơi làm việc, không được mang quần áo về nhà Việc bảo quản an toàn là rất quan trọng để đảm bảo môi trường làm việc an toàn cho tất cả mọi người.

- Tất cả các nơi cất giữ hóa chất, thuốc trừ sâu đều phải có kho làm đúng quy cách như sau:

Nền nhà kho cần được nâng cao hơn mức nước lũ thông thường và phải được đặt cách xa nhà ở, giếng nước và khu vực đông người tối thiểu 1000m đối với kho trung ương, 300m đối với kho tỉnh, huyện, và 100m đối với kho xã.

Kho cần được xây dựng vững chắc bằng vật liệu không cháy như gạch, mái ngói hoặc fibroximang Cần có cửa khó kín và cửa thông gió để đảm bảo an toàn Xung quanh kho nên có hàng rào và hệ thống che chắn Đặc biệt, cần trang bị đủ phương tiện chống cháy và sử dụng vôi bột nước để khử độc.

- Người phụ trách giữ kho phải được huấn luyện về kỹ thuật an toàn vệ sinh đối với hoá chất thuốc trừ sâu

- Các phương tiện chứa đựng phải kín, không rò rỉ, cân, đong, không làm rơi vãi,… không dùng tay tiếp xúc trực tiếp với hóa chất

- Tuyệt đối không cất giữ hóa chất, thuốc trừ sâu trong nhà ở và nhà sinh hoạt khác

Cần thiết phải thiết lập quy chế nghiêm ngặt trong việc cấp phát hóa chất và thuốc trừ sâu, chỉ cho phép bán cho những cá nhân có giấy giới thiệu hoặc lệnh cấp phát từ các cơ quan có thẩm quyền.

- Tuyệt đối không được phát, cho, hoặc bán hóa chất, thuốc trừ sâu cho cá nhân để dùng vào mục đích riêng e Sử dụng hóa chất thuốc trừ sâu

KỸ THUẬT AN TOÀN ĐIỆN

4.1 Nguyên nhân và tác hại của tai nạn điện

4.1.1 Tác hại của dòng điện đối với cơ thể con người

Dòng điện có thể gây ra nhiều tác hại nghiêm trọng cho cơ thể con người, bao gồm bỏng, phá vỡ mô, gãy xương, tổn thương mắt, hủy hoại máu và làm liệt hệ thần kinh Cường độ dòng điện đi qua cơ thể là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến mức độ tổn thương.

- Là nhân tố chính ảnh hưởng tới điện giật

Cường độ dòng điện xoay chiều an toàn là dưới 8mA, trong khi đó cường độ dòng điện 1 chiều an toàn được xác định là dưới 70mA Thời gian tác dụng của dòng điện lên cơ thể cũng là yếu tố quan trọng cần xem xét.

- Thời gian dòng điện đi qua cơ thể càng lâu càng nguy hiểm bởi vì điện trở cơ thể khi bị tác dụng lâu sẽ giảm xuống

Dòng điện có thể gây hại cho chức năng sinh vật trong cơ tim nếu tác dụng kéo dài Tuy nhiên, nếu thời gian tác dụng của dòng điện chỉ dưới 0.1-0.2 giây, thì không gây nguy hiểm cho sức khỏe.

- Dòng điện đi từ chân qua chân thì lượng dòng điện qua tim là 0.4% dòng điện qua người

- Dòng điện đi từ tay qua tay thì lượng dòng điện qua tim là 3.3% dòng điện qua người

- Dòng điện đi từ tay trái qua chân thì phân lượng dòng điện qua tim là 3.7% dòng điện qua người

- Dòng điện đi từ tay phải qua chân thì phân lượng dòng điện qua tin là 6.7% dòng điện qua người

Trường hợp đầu tiên là ít nguy hiểm nhất; tuy nhiên, nếu không giữ bình tĩnh, người bị ngã có thể dễ dàng rơi vào các tình huống nguy hiểm hơn Tần số dòng điện cũng là yếu tố quan trọng cần xem xét trong những tình huống này.

Khi cùng cường độ, dòng điện có thể gây nguy hiểm hoặc an toàn tùy thuộc vào tần số Dòng điện xoay chiều sử dụng trong công nghiệp, với tần số từ 40-60Hz, là nguy hiểm nhất Điện trở của con người cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định mức độ nguy hiểm của dòng điện.

- Điện trở các tổ chức bên trong của cơ thể phụ thuộc vào trị số điện áp, lấy trung bình vào khoảng 1000V f Môi trường xung quanh:

Môi trường có bụi dẫn điện, nhiệt độ và độ ẩm cao sẽ làm giảm điện trở của con người và các vật liệu cách điện, dẫn đến việc dòng điện đi qua cơ thể tăng lên.

4.1.2 Những nguyên nhân gây ra tai nạn điện:

- Tai nạn điện có thể chia làm 3 hình thức:

Tiếp xúc trực tiếp với dây dẫn hoặc các bộ phận thiết bị có dòng điện có thể gây nguy hiểm Ngoài ra, việc tiếp xúc với các bộ phận kết cấu kim loại của thiết bị điện cũng tiềm ẩn rủi ro.

+ Tai nạn gây ra do điện áp ở chỗ dòng điện rò trong đất

- Những nguyên nhân làm cho người bị tai nạn điện:

+ Sự hư hỏng của thiết bị, dây dẫn điện và các thiết bị mở máy

+ Sử dụng không đúng các dụng cụ nối điện thế trong các phòng bị ẩm ướt + Tiếp xúc phải các vật dẫn điện không có tiếp đất

+ Bố trí không đầy đủ các vật che chắn, rào lưới ngăn ngừa việc tiếp xúc bất ngờ với bộ phận dẫn điện

+ Thiếu hoặc sử dụng không đúng các dụng cụ bảo vệ cá nhân

+ Thiết bị điện sử dụng không phù hợp với điều kiện sản xuất

4.2 Các biện pháp chung an toàn về điện a Sử dụng điện thế an toàn:

- Điện áp an toàn là điện áp không gây nguy hiểm đối với người khi chạm phải

Đối với các khu vực an toàn, điện áp sử dụng không được vượt quá 220V Trong khi đó, tại các khu vực nguy hiểm và đặc biệt nguy hiểm, điện áp tối đa cho phép là 36V.

- Trong những trường hợp đặc biệt nguy hiểm cho người như khi làm việc trong lò, trong thùng bằng kim loại chỉ được sử dụng điện áp không quá 12V

- Đối với công tác hàn điện, người ta dùng điện thế không quá 70V b Làm bộ phận che chắn và cách điện dây dẫn c Làm tiếp đất bảo vệ:

- Nối đất bảo vệ trực tiếp

- Cắt điện bảo vệ tự động d Dùng các dụng cụ phòng hộ:

Dụng cụ cách điện bao gồm bục cách điện, thảm cách điện, ủng và găng tay cách điện, được thiết kế để chịu được điện áp trong thời gian dài khi tiếp xúc với dòng điện.

- Người ta dùng sào cách điện, kìm cách điện và các dụng cụ thợ điện khác

- Ngoài ra để đảm bảo an toàn cần có các biển báo phòng ngừa

4.3 Cấp cứu người bị nạn

31 a Cứu người bị nạn khỏi nguồn điện:

- Lập tức cắt công tắc, cầu dao

Sử dụng dụng cụ ngắt điện để cắt đứt mạch điện là rất quan trọng Bạn nên dùng dao cắt có cán gỗ khô, đứng trên tấm gỗ khô để đảm bảo an toàn Hãy cắt lần lượt từng dây một để tránh rủi ro.

- Cũng có thể làm ngắn mạch bằng cách quăng lên trên dây dẫn 1 đoạn kim loại hoặc dây dẫn để làm cháy cầu chì

Nếu không thể thực hiện cách cứu nạn thông thường, người cứu cần nhanh chóng tách nạn nhân ra khỏi thiết bị bằng sức người Tuy nhiên, việc này có thể nguy hiểm, vì vậy người cứu cần phải khô ráo và chỉ nên cầm vào phần quần áo khô của nạn nhân để thực hiện thao tác kéo.

Khi gặp trường hợp người bị nạn, hãy nhanh chóng đưa họ ra nơi thoáng khí, đắp quần áo ấm và gọi bác sĩ Nếu không thể gọi bác sĩ kịp thời, cần tiến hành hô hấp nhân tạo để cứu sống nạn nhân.

Mặc dù nạn nhân không còn dấu hiệu sống, họ vẫn chưa được coi là đã chết Trước khi tiến hành hô hấp nhân tạo, cần cởi bỏ và nới lỏng quần áo của nạn nhân, đồng thời cạy miệng nếu họ cắn chặt Phương pháp hà hơi thổi ngạt là cần thiết trong tình huống này.

4.4 Bảo vệ chống sét a Khái niệm về sét:

Sét là hiện tượng phóng điện của tĩnh điện trong khí quyển, xảy ra giữa các đám mây dông mang điện tích và mặt đất, hoặc giữa các đám mây dông có điện tích trái dấu.

Tĩnh điện khí quyển hình thành từ sự ma sát giữa hơi nước và các hạt nước với không khí trong lớp không khí ẩm ở gần mặt đất cũng như trong các đám mây trên cao.

- Theo định luật khí động học thì:

KỸ THUẬT PHÕNG CHÁY VÀ CHỮA CHÁY

5.1 Khái niệm về cháy nổ

5.1.1 Bản chất của sự cháy

- Sự cháy là quá trình phản ứng ôxy hoá xảy ra 1 cách nhanh chóng có kèm theo sự toả nhiệt và phát ra tia sáng

Trong điều kiện bình thường, sự cháy xảy ra khi có sự kết hợp giữa chất cháy, không khí và nguồn gây lửa Để có thể cháy, hệ thống cần duy trì một tỷ lệ nhất định giữa chất cháy và không khí.

- Quá trình cháy của vật rắn, chất lỏng và khí có thể tóm tắt trong sơ đồ biểu diễn sau:

Tốc độ phản ứng ôxy hoá tăng lên tùy thuộc vào mức độ tích luỹ nhiệt, dẫn đến giai đoạn tự bốc cháy và sự xuất hiện của ngọn lửa.

Quá trình cháy không chỉ liên quan đến các phản ứng hóa học và hiện tượng vật lý mà còn tạo ra áp lực lớn, có thể gây ra hiện tượng nổ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường xung quanh.

5.1.2 Điều kiện để cháy và nguồn gây lửa a Điều kiện để cháy:

- Có nhiệt độ cần thiết b Cháy hoàn toàn và cháy không hoàn toàn:

- Tuỳ theo lượng ôxy đưa vào để đốt cháy vật chất mà chia ra hai loại:

Khi không đủ không khí, quá trình cháy sẽ không hoàn toàn, dẫn đến sự hình thành các sản phẩm cháy không hoàn chỉnh Những sản phẩm này thường chứa nhiều khí độc hại như CO, mồ hóng, cồn, andehit và acid, có khả năng cháy nổ cao.

- Khi có thừa ôxy thì quá trình cháy xảy ra hoàn toàn Sản phẩm của quá trình cháy hoàn toàn là CO 2 , hơi nước, N 2 ,

5.1.3 Nguồn bắt lửa (mồi bắt lửa)

Một vật được coi là chất đốt khi nó có nhiệt độ và nhiệt lượng đủ để làm nóng một thể tích nhất định trong hệ thống cháy, dẫn đến sự xuất hiện của ngọn lửa trong hệ thống đó.

Nguồn gây lửa có thể xuất phát từ nhiều dạng năng lượng khác nhau, bao gồm năng lượng hóa học (phản ứng tỏa nhiệt), năng lượng cơ học (va đập, nén, ma sát) và năng lượng điện (sự phóng điện).

Mồi lửa phát quang bao gồm các loại như ngọn lửa trần, tia lửa điện, hồ quang điện, và tia lửa sinh ra từ ma sát hoặc va đập.

Mồi lửa ẩn là loại mồi bắt lửa không phát quang, được hình thành từ nhiệt lượng sinh ra trong quá trình nén đoạn nhiệt, ma sát, hoặc các phản ứng hóa học.

5.1.4 Sự lan truyền của đám cháy a Lan truyền tuyến tính:

Lan truyền của ngọn lửa trên bề mặt chất cháy diễn ra theo hướng và mặt phẳng nhất định, liên quan đến sự thay đổi diện tích bề mặt cháy, hay còn gọi là diện tích đám cháy.

Sự cháy phát sinh tại một vị trí sẽ tỏa ra nhiệt lượng, và nhiệt này sẽ truyền đến bề mặt của chất cháy, cho dù chất này có tiếp xúc trực tiếp với đám cháy hay không.

Khi bề mặt vật liệu được đốt nóng đến nhiệt độ tự bốc cháy, chúng sẽ bắt đầu cháy và tạo ra đám cháy mới, từ đó có khả năng lan rộng ra các khu vực khác Quá trình này được gọi là truyền lan thể tích.

Sự phát sinh của các đám cháy mới xảy ra ở một khoảng cách nhất định so với đám cháy đầu tiên và nằm trong một mặt phẳng khác Khi được truyền lan trong thể tích, tốc độ lan truyền của chúng diễn ra rất nhanh chóng.

Nguyên nhân chính của sự lan truyền nhiệt trong đám cháy là thông qua bức xạ, đối lưu và dẫn nhiệt Khi nhiệt độ trong phòng tăng lên đến một mức nhất định, các sản phẩm cháy nóng sẽ lấp đầy không gian và có khả năng tự tỏa nhiệt, ảnh hưởng đến các cấu trúc, vật liệu và thiết bị xung quanh Tốc độ lan truyền của các sản phẩm cháy có thể đạt tới 30m/phút theo cả phương đứng và phương ngang, trong khi tốc độ lan của ngọn lửa trên các vật liệu đã được nung nóng vượt xa tốc độ tuyến tính.

Sự cháy lan không gian là hiện tượng phức tạp, đòi hỏi các biện pháp thiết kế và xây dựng chướng ngại chống cháy hiệu quả Để hạn chế cháy lan giữa các nhà, cần quy định khoảng cách chống cháy hợp lý và áp dụng các giải pháp quy hoạch kết cấu nhà cửa khoa học Đồng thời, việc huy động kịp thời các lưu lượng và thiết bị chữa cháy cũng rất quan trọng để đảm bảo an toàn.

5.2 Nguyên nhân và biện pháp phòng ngừa cháy

5.2.1 Nguyên nhân gây ra sự cháy

- Các điều kiện mà khi đó khả năng phát sinh ra cháy bị loại trừ gọi là điều kiện an toàn phòng cháy, tức là khi đó:

- Thiếu 1 trong những thành phần cần thiết cho sự phát sinh ra cháy

- Tỷ lệ của chất cháy và ôxy để tạo ra hệ thống cháy không đủ

- Nguồn nhiệt và thời gian tác dụng không đủ để làm hệ thống cháy

Vị phạm những điều kiện an toàn sẽ phát sinh nguyên nhân gây cháy.Tuy nhiên có rât nhiều nguyên nhân gây cháy so với điều kiện an toàn

- Không thận trọng khi dùng lửa

- Sử dụng, dự trử, bảo quản nguyên vật liệu không đúng

- Cháy xảy ra do điện

- Cháy do ma sát, va đập

- Do lưu trữ các chất có khả năng tự cháy không đúng quy định

- Do tàn lửa đốm lửa

Trên các công trường và trong hoạt động sản xuất, có nhiều nguyên nhân có thể dẫn đến cháy nổ Để phòng ngừa cháy, cần tuân thủ nghiêm ngặt các điều kiện an toàn trong quá trình thiết kế, xây dựng và sử dụng.

5.2.2 Các biện pháp phòng ngừa a Phòng ngừa hoả hoạn trên công trường tức là thực hiện các biện pháp nhằm:

- Đề phòng sự phát sinh ra cháy

- Tạo điều kiện ngăn cản sự phát triển ngọn lửa

- Nghiên cứu các biện pháp thoát người và đồ đạc quý trong thời gian cháy

- Tạo điều kiện cho đội cứu hoả chữa cháy kịp thời b Chọn các biện pháp phòng cháy phụ thuộc vào:

- Tính chất và mức độ chống cháy (chịu cháy) của nhà cửa và công trình

- Tính nguy hiểm khi bị cháy của các xí nghiệp sản xuất

- Sự bố trí quy hoạch nhà cửa và công trình

5.3 Các chất, dụng cụ và phương tiện chữa cháy

+ Các chất chữa cháy là các chất khi tác dụng vào đám cháy sẽ làm giảm hoặc làm mất các điều kiện cần cho sự cháy

+ Yêu cầu cơ bản của các chất chữa cháy :

- Có hiệu quả cao và dễ sử dụng

- Tìm kiếm dễ dàng và rẻ tiền

- Không có hại cho sức khoẻ và các vật cần chữa cháy a Chữa cháy bằng nước:

- Là chất chữa cháy phổ biến và rẻ nhất, nước rất dễ lấy, dễ điều khiển và có nhiều nguồn nước

Ngày đăng: 09/05/2021, 16:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w