Bài viết phân tích các nội dung cơ bản của thuyết gắn bó Bowlby. Từ đó ứng dụng thuyết này để hạn chế, phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật ở người chưa thành niên tại Việt Nam SInh viên Đại học Luật Hà Nội
Trang 1Hà Nội, 2021
MỤC LỤC
1
Trang 2MỞ ĐẦU
Thuyết gắn bó là một mảng của tâm lý học miêu tả bản chất của sự gắn bó
về mặt cảm xúc giữa con người với nhau Điều này bắt đầu khi chúng ta còn bé thơ cùng sự gắn bó với bố mẹ Bản chất của sự gắn bó này và việc nó được ấp ủ, quan tâm như thế nào sẽ quyết định bản chất của sự gắn bó với mọi người trong cuộc đời của chúng ta trong cuộc sống sau này Đồng thời, chính vì sự tác động của mối quan hệ được gọi tên là gắn bó nên có thể thể ứng dụng thuyết này trong việc chăm sóc và giáo dục trẻ để giúp các em tránh được nguy cơ có hành
vi vi phạm pháp luật
NỘI DUNG
1. Khái quát về thuyết gắn bó John Bowlby
1.1. Sự ra đời của thuyết gắn bó John Bowlby
Các lý thuyết về sự gắn bó bắt nguồn từ công việc tư vấn tâm lí của John Bowlby Vào những năm 1930, John Bowlby là Bác sĩ tâm thần tại một phòng khám ở London, nới ông tiếp xúc với nhiều trẻ em bị rối loạn cảm xúc
Trong quá trình làm việc, ông đã quan sát và nhận thấy rằng những đứa trẻ trải qua đau khổ dữ dội khi bị tách khỏi mẹ, dù cho sau này đứa trẻ có được chăm non cẩn thận, được quan tâm lo lắng cũng không làm giảm đi sự lo lắng của trẻ
Những trải nghiệm trên đã khiến Bowlby cân nhắc tầm quan trọng của mối quan hệ giữa trẻ với mẹ về sự phát triển xã hội, tình cảm và nhận thức của chúng, Bowlby đã định hình được mối liên hệ giữa sự tách biệt trẻ sơ sinh với người mẹ và khiếm khuyết hành vi sau này Từ đó, Bowlby đã bắt đầu xây dựng thuyết của mình về sự gắn bó
Bowlby cho rằng sự gắn bó là một “sự kết nối tâm lí dài giữa con người với nhau” Cho rằng sự gắn bó có thể được hiểu người chăm sóc cung cấp sự an toàn
và an ninh cho trẻ sơ sinh trong quá trình phát triển của trẻ Sự gắn bó là một quá trình thích nghi vì nó tăng cường cơ hội sống sót của trẻ sơ sinh
2
Trang 3Theo định nghĩa của Ainsworth1 và Bowlby2, sự gắn bó là một mối quan hệ tình cảm sâu sắc và dài lâu, kết nối người này với người khác xuyên không gian
và thời gian Sự gắn bó không nhất thiết phải lặp đi lặp lại như một hành vi đơn
lẻ, một cá nhân có thể gắn bó với một các nhân nào đó mà không nhất thiết phải
có sự chia sẻ, tương đồng giữa hai cá nhân Sự gắn bó giải thích được mối quan
hệ cha mẹ và con cái và sự gắn bó được đặc trưng bởi các hành vi cụ thể ở trẻ em
1.2. Nội dung cơ bản thuyết gắn bó John Bowlby
1.2.1. Gắn bó an toàn
Trẻ có gắn bó an toàn có hướng khám phá môi trường một cách tự do và tương tác tốt với người lạ khi có sự hiện diện của người chăm sóc Trẻ có thể bị khó chịu bởi chia cách và nếu có, trẻ sẽ phản đối và giới hạn lại việc khám phá môi trường khi người chăm sóc vắng mặt Trong lúc gặp mặt lại, trẻ đón chào người chăm sóc một cách tích cực và tìm kiếm tiếp xúc với người này và sẵn sàng được dỗ dành, trẻ cũng có thể quay lại chơi sau một lúc được tái nạp năng lượng cảm xúc Hành vi của người chăm sóc được ghi nhận bởi sự nhạy bén với nhu cầu của trẻ Đặc biệt là người chăm sóc đọc được các tín hiệu của trẻ một cách chính xác và đáp ứng một cách nhanh chóng, phù hợp và với một cảm xúc tích cực
1.2.2. Gắn bó né tránh không an toàn
Trong gắn bó tránh né, trẻ dường như độc lập một cách sớm hơn bình thường Trẻ dường như không dựa vào người chăm sóc để có được sự an toàn khi người chăm sóc hiện diện , trẻ khám phá căn phòng rất độc lập và đáp ứng với người chăm sóc và người lạ như nhau Trẻ đáp ứng rất ít đối với sự vắng mặt của người chăm sóc, đôi khi trẻ thậm chí không nhìn theo khi người chăm sóc rời khỏi Trong lúc gặp mặt lại, những trẻ này tránh né sự gần gũi với người chăm sóc, trẻ có thể quay đi, tránh giao tiếp mắt, và phớt lờ người chăm sóc Mặc dầu trẻ có vẻ thờ ơ nhưng khi đo lường các chỉ số sinh lý cho thấy trẻ thực
1 Ainsworth, M S (1979) Infant – mother attachment
2 Bowlby, J., (1958) Attachment and Loss: American psychologist
3
Trang 4ra có khó chịu Hành vi của người chăm sóc được ghi nhận bằng sự xa cách và thiếu vắng sự dỗ dành đi kèm với khó chịu và giận dữ trong khi gần gũi Người
ta cho rằng né tránh là sự cố gắng của trẻ để đối mặt với nhu cầu của cha mẹ muốn cách xa bằng cách trẻ giữ đáp ứng thấp và kềm chế biểu lộ cảm xúc mà nó
có thể gây ra sự từ chối của cha mẹ
1.2.3. Gắn bó chống đối không an toàn
Ngược lại với trẻ né tránh, trẻ có gắn bó chống đối (cũng được gọi là hai chiều) bị bận rộn với người chăm sóc, trẻ có khuynh hướng bám dính vào và bị
ức chế từ việc khám phá căn phòng hoặc từ việc tương tác với người lạ ngay cả khi có mặt của người chăm sóc Trẻ dễ bị khó chịu khi chia cách, nhưng khi gặp mặt lại, trẻ cố gắng chống đối một cách giận dữ khi gần gũi và không dễ dỗ dành Trẻ đáp ứng với mẹ bằng kiểu tìm kiếm gần gũi hai chiều và từ chối Ví
dụ, trẻ có thể đòi hỏi được bế ẵm rồi sau đó đẩy người chăm sóc ra xa một cách giận dữ hoặc trẻ có thể bám vào người chăm sóc nhưng lại ưỡn cong người ra ngoài và từ chối chấp nhận sự chăm sóc của mẹ Hành vi của người chăm sóc được ghi nhận bằng khả năng không thể dự đoán được, đôi khi người chăm sóc gần gũi quá mức và lúc khác thì lại không liên quan với trẻ hay khó chịu Chống đối được xem như là những cố gắng của trẻ nhằm để có được sự chú ý của người chăm sóc, trong khi đó giận dữ lại đến từ việc ấm ức về chăm sóc không tương hợp
1.2.4. Gắn bó rối loạn tổ chức không an toàn
Loại này mới được thêm vào sau này Trẻ bị rối loạn tổ chức hoạt động theo một cách thức không tương hợp hay khác lạ Những trẻ này có thể có một biểu lộ ngạc nhiên hay đi lang thang xung quanh không có mục đích hay
sợ hãi và hai chiều trong sự hiện diện của người chăm sóc, không biết là trẻ tiếp cận với người chăm sóc để được dễ chịu hay tránh né để được an toàn Nếu trẻ tìm kiếm sự gần gũi, trẻ làm như thế theo cách thức bóp méo như là tiếp cận với người chăm sóc ở phía sau hay bất thình lình lạnh lung và nhìn chằm chằm vào khoảng không Không giống như trẻ nhỏ có gắn bó né tránh
4
Trang 5và chống đối, những trẻ này dường như không phát triển một chiến lược ổn định để tiếp xúc với người chăm sóc Khoảng 5% trẻ trong dân số bình thường có biểu lộ kiểu gắn bó này
Hành vi của người chăm sóc được ghi nhận bằng cách sử dụng những tín hiệu nhầm lẫn như là dang tay ra trong khi lùi lại , người ta cũng quan sát thấy ở những người chăm sóc này đối xử theo cách thức khác lạ và sợ hãi Vì thế, gắn bó rối loạn tổ chức cho thấy một một sự sụp đổ về chiến lược hệ thống trong việc đối diện với môi trường đe doạ và không tiên đoán được
2. Trẻ em – người chưa thành niên
Người chưa thành niên3 được coi là người chưa trưởng thành đầy đủ cả về thể chất lẫn tinh thần Vì tình trạng chưa trưởng thành đó, họ không có đủ khả năng để ra quyết định hoặc tự mình tham gia vào các quan hệ xã hội cũng như quan hệ pháp luật nhất định.4 Chính vì vậy, khái niệm người chưa thành niên có thể được tiếp cận dựa trên Điều ước quốc tế ( Công ước của Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em và Qui tắc Bắc Kinh) hoặc tiếp cận dựa trên pháp luật quốc gia Thứ nhất, dưới góc độ quốc tế, người chưa thành niên được hiểu là người dưới độ tuổi trưởng thành Thứ hai, dưới góc độ pháp luật quốc gia, tuỳ thuộc vào độ tuổi mà quốc gia đó qui định có, người chưa thành niên là người dưới độ tuổi trưởng thành mà pháp luật quốc gia qui định ( ở Việt Nam người chưa thành niên là người dưới 16 tuổi)
Trẻ em theo UNCRC được định nghĩa như sau: “Trẻ em được xác định là người dưới 18 tuổi, trừ khi pháp luật quốc gia qui định tuổi thành niên sớm hơn”.5
Có thể thấy rằng khái niệm trẻ em và người chưa thành niên không có sự khác biệt rõ ràng, thường được hiểu là người dưới 18 tuổi hoặc dưới một độ tuổi
3 Các văn bản pháp lý quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự dùng thuật ngữ juvenile hoặc minor để chỉ người chưa thành niên.
4 Xem: UNICEF - Bộ Tư pháp (2009), Thuật ngữ tư pháp người chưa thành niên, Hà Nội, tr72.
5 Điều 1 The United Nations Convention on the Rights of the Child, ban hành theo Nghị quyết số 44/25 ngày 20/11/1989 của Đại hội đồng LHQ.
5
Trang 6nhất định được xác định là đã phát triển bình thường về thể chất và tinh thần giống như người trưởng thành thì được coi là trẻ em Sau đây, gọi chung là trẻ
em vì chủ thể trên chưa tham gia vào quan hệ tư pháp hình sự
3. Ứng dụng của thuyết gắn bó trong chăm sóc và giáo dục trẻ em tránh được các nguy cơ vi phạm pháp luật
Sự phát triển của gắn bó theo sau hàng loạt các giai đoạn có thể xác định được trong 3 năm đầu đời Trẻ sơ sinh định hướng được và đáp ứng với người khác Khoảng 2 tuần tuổi, trẻ ưa thích giọng nói của con người hơn những âm thanh khác, khoảng 4 tuần tuổi trẻ thích giọng nói của mẹ hơn giọng nói của người khác Vào tháng thứ 2, giao tiếp mắt được thiết lập và tiền tố của gắn bó được thấy khi trẻ hướng về phía người chăm sóc và báo hiệu các nhu cầu của trẻ Trong giai đoạn kế tiếp, từ 3-6 tháng tuổi, trẻ bắt đầu biểu lộ và gợi lên sự vui thích trong tương tác con người thông qua nụ cười xã hội ( Social smile) Trong thực tế, người lớn thực hiện nhiều trò khôi hài để gợi lên nụ cười như thế, điều này cho thấy hành vi này có giá trị và đáp ứng như thế nào trong cuộc sống, nó đảm bảo không chỉ một sự gắn bó khoẻ mạnh hình thành mà còn là sự tương tác qua lại Giữa 6-9 tháng, trẻ gia tăng khả năng phân biệt được người chăm sóc trẻ và những người lớn khác
và dành phần thưởng cho người đặc biệt này bằng “nụ cười ưu ái” Cả hai vấn đề lo âu chia cách (Separation anxiety) và lo âu người lạ ( Stranger anxiety) là tín hiệu cho thấy rằng trẻ có ý thức rằng người chăm sóc trẻ có một chức năng và giá trị độc nhất Từ 12-24 tháng tuổi, bò và bước đi cho phép trẻ điều chỉnh được sự gần gũi hoặc khoảng cách xa đối với người chăm sóc Tìm kiếm gần gũi (Proximity-seeking), cũng được xem như là hành vi
có nền tảng an toàn, lúc đó trẻ quay về phía người chăm sóc để được thoải mái, trợ giúp, và đơn giản là để “ nạp thêm năng lượng cảm xúc” Khoảng 3 tuổi, mục tiêu của gắn bó được mở rộng ra ngoài sự an toàn và dễ chịu của trẻ và trở nên có tính qua lại hơn Trong những năm tuổi mẫu giáo, gắn bó
6
Trang 7được hướng về phía thành lập một mối liên hệ đối tác có hướng đến mục tiêu, trong sự cộng tác này nhu cầu và cảm xúc của cả hai bên tham gia vào mối liên hệ được xem xét đến
3.1. Nguyên nhân dẫn đến người chưa thành niên vi phạm pháp luật
3.1.1. Yếu tố cá nhân
Sự hung hăng là một trong những nhân tố tác động đến hành vi vi phạm pháp luật của người chưa thành niên Nguyên nhân xuấty phát từ trạng thái thần kinh, trạng thái cảm xúc của người chưa thành niên, trẻ em không cần bằng, dễ đưa họ đến những cơn xúc động mạnh, những phản ứng nóng nảy vô cớ đó là sự bất đồng Sự bất đồng là một trong những nguy cơ dẫn đến người chưa thành niên thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, thậm chí thực hiện hành vi phạm tội Những người chưa thành niên có tính bốc đồng thường hay nóng vội, phản ứng kích thích mà chưa kịp suy nghĩ trước, khả năng tự kiểm soát thấp, thiếu kiên trì, không có khả năng trì hoãn sự hài lòng, hiếu động thái quá, thiếu chú ý, hay bồn chồn, thích tìm kiếm cảm giác mạnh và chấp nhận rủi ro
Đặc biệt, ở lứa tuổi chưa thành niên, nhu cầu độc lập thái quá sẽ biểu hiện
ra bên ngoài dưới dạng hành vi ngang bướng, cố chấp, bảo thủ, dễ tự ái, gây gổ, phô trương Bên cạnh đó, do luôn có ý thức tự trọng và mong muốn được tôn trọng như người lớn, người chưa thành niên thường có tâm lý “phóng đại” các khả năng của mình, đánh giá chúng cao hơn hiện thực
Kinh nghiệm cuộc sống còn chưa có hoặc quá ít ỏi Đặc biệt là khả năng hiểu biết về các chuẩn mực xã hội, đạo đức và pháp luật còn nhiều hạn chế Quan điểm tự đánh giá trong lĩnh vực đạo đức có mối quan hệ nghịch biển với hành vi phạm tội và có khả năng tiên đoán về hành vi phạm pháp nói chung.6
Chính vì vậy, không ít người chưa thành niên thực hiện hành vi vi phạm pháp
6 Putnis, A L., Substance use and the prediction of young offender recidivism, Drug and cohol Review,
22, 2003, 401-408
7
Trang 8luật, thậm chí thực hiện hành vi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, nhưng lại không biết rằng mình phạm tội, không thấy được hết tính nguy hiểm đối với xã hội của hành vi, mà lại cho rằng hành vi của mình là hợp pháp, là tự vệ hoặc bảo
vệ quyền lợi hợp pháp của mình Một trong những điều làm nên sự khác biệt về
tỷ lệ phạm tội giữa nữ giới và nam giới là khả năng đánh giá, phán đoán về đạo đức của nữ giới mạnh mẽ hơn nam giới Điều đó đã ngăn cản nữ giới tiếp cận hành vi chống lại xã hội và thay vào đó họ tuân thủ chuẩn mực xã hội tốt hơn.7
Cường độ cảm xúc đạo đức tự đánh giá có thể dự báo hành vi phạm tội ở người chưa thành niên Những người có bản chất đạo đức tích cực có khả năng thông cảm, thấu hiểu đối với người khác, cảm thấy có lỗi nếu họ vi phạm các quy phạm xã hội nói chung và các quy phạm pháp luật nói riêng.8
3.1.2. Yếu tố gia đình
Các thành viên trong gia đình có tiền án, tiền sự hoặc có những hành vi trái với đạo đức, với các chuẩn mực xã hội có thể là yếu tố nguy cơ cho hành vi phạm tội của người chưa thành niên Việc anh chị em ruột vi phạm pháp luật đã được xác định như một yếu tố nguy cơ cho hành vi vi phạm pháp luật ở người chưa thành niên Hơn nữa, sự vi phạm pháp luật của những người này sẽ có ảnh hưởng tiêu cực tới người chưa thành niên ở lửa tuổi từ 12 -18 tuổi lớn hơn so với khi chúng còn nhỏ
Sống trong những gia đình mà cha mẹ luôn mẫu thuẫn, thiếu tôn trọng lẫn nhau, thường xuyên bất hòa, hay cãi cọ, đánh chửi nhau, thì các em luôn bị ức chế bởi bầu không khí tâm lý căng thẳng Các em thường có tâm lý sợ hãi, lo lắng, hoài nghi, không tin tưởng vào người lớn Đặc biệt, nếu sống trong những gia đình không hoàn thiện (trẻ mổ côi cả cha lẫn mẹ, mồ côi cha hoặc mẹ, cha
mẹ ly thân, ly hôn ) thì trẻ có những tâm trạng luôn cảm thấy thiếu thốn hoặc không có chỗ dựa về tình cảm, cô đơn, tự ti, chán nản, thiếu hụt
7 Cheng C., The predictive effect of self-esteem, moral self, and moral reasoning on delinquent
behaviors of Hong Kong young people, Internationnal Journal of Criminlogy and Sociology, 3, 2014, 133-145.
8 Mears D.P., Ploeger M., Warr M., Explaining the gender gap in delinquency: Peer influence and moral evaluation of behavior, Journal of Research in Crimme and Delinquency, 35 (30), 1998, 251-266.
8
Trang 9Sự quản lý con cái yếu kém của gia đình có liên quan đến sự gia tăng vi phạm pháp luật ở người chưa thành niên, cũng như hành vi phạm tội của người lớn sau này Thiếu sự quan tâm và giám sát của cha mẹ có thể là yếu tố nổi trội trong các yếu tố về quản lý gia đình với tư cách là yếu tố dự báo vi phạm pháp luật cho cả nam và nữ Sự vắng mặt của cha mẹ hoặc thiếu vắng cảm xúc ấm áp
từ gia đình cũng khiến nguy cơ tái phạm tội cao hơn Có nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh được mối quan hệ giữa sự giám sát tích cực của cha mẹ với khả năng tham gia của người chưa thành niên thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật, cụ thể là nếu có sự giám sát thường xuyên của cha mẹ đối với người chưa thành niên thì họ cảng có ít khả năng tham gia thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật Điều đáng chú ý là các nghiên cứu khảo sát các nhóm bạn bè phạm tội cho thấy rằng trong trường hợp cha mẹ ít quan tâm, giám sát con cái thì sẽ làm tăng khả năng phát triển nhóm bạn bè phạm tội Nói cách khác, sự quan tâm, giám sát của cha mẹ đối với con cái có thể tiết chế mối quan hệ giữa nhóm bạn bè phạm tội và hành vi phạm tội Một số cha mẹ quá mải làm ăn, lo kiếm sống, hay là phải đi công tác trong thời gian dài, hoặc hoàn cảnh gia đình không hoàn thiện nên ít có điều kiện quan tâm, gần gũ on cái Do đó, cha mẹ không kiểm tra, giám sát được con cái trong học tập và sinh hoạt Việc giáo dục con cái được phó mặc cho nhà trường xã hội Kết quả là các em không được quan tâm, chăm sóc, dạy dỗ từ phía gia đình nên đã dẫn tới những trường hợp các em sống tự do, buông thả, lười biếng, ham chơi, đua đòi, xao nhãng việc học tập
Phương pháp giáo dục không đúng của cha mẹ đối với con cái, trong đó bao gồm sự nuông chiều hoặc quá nghiêm khắc với con cái có thể là một yếu tố nguy cơ của việc vi phạm pháp luật Sự nuông chiều con cái của cha mẹ, luôn thỏa mãn mọi đòi hỏi của trẻ tạo cho chúng thói quen đòi gì được nấy Đồng thời nhiều bậc cha mẹ không yêu cầu chúng thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm và những công việc cần phải làm đã hình thành ở đứa trẻ tính kiêu ngạo, ỷ lại, dựa dẫm, lười nhác, đòi hỏi, không ý thức về trách nhiệm của mình Ngược lại, nhiều
9
Trang 10cha mẹ lại quá khắt khe, quả nghiêm khắc với con cái Do thiếu hiểu biết hoặc không kiềm chế được nên cha mẹ tin rằng việc hành hạ, đánh đập hoặc dùng nhục hình đối với con cái như là quyền của họ Khi trẻ có lỗi, họ đánh; khi họ đang có sự buồn bực, lo lắng vì mưu sinh, họ đánh; khi họ có những điều không vui vì các mối quan hệ xã hội, họ đánh Chính cách xử sự này của cha mẹ đã gây
ra cho các em những khủng hoảng về tâm lý như: các em trở nên thiếu tự tin, rụt
rè, khó hòa nhập với cộng đồng Một số khác trở nên lỳ lợm, hung hãn, bướng bỉnh, chán nản, bất cần đời, dẫn tới việc bỏ nhà sống lang thang bụi đời, kết thành băng nhóm quậy phá, sa vào nghiện ngập
3.1.3. Yếu tố bạn bè
Khi người chưa thành niên phát triển đến giai đoạn từ 12 - 18 tuổi, những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp từ phía gia đình lên sự phát triển và hành vi của các
em ít quan trọng và ít ảnh hưởng bằng những yếu tố tác động của bạn bè và nhà trường Nhóm bạn bè có tác động rất lớn, cả tính tích cực và tiêu cực, đến sự phát triển tâm lý của người chưa thành niên Nhóm bạn bè tích cực là những yếu
tố bảo vệ Khi cùng với nhau, người chưa thành niên giúp nhau trong việc mở mang tri thức, kỹ năng và cùng phát triển những phẩm chất tâm lý và những thái
độ xã hội tích cực Ngược lại, có những nhóm bạn tiêu cực, mà phần lớn là những người chưa thành niên học kém, lười học, bỏ học, bỏ nhà đi lang thang,
có chung những sở thích tiêu cực như hút thuốc lá, uống rượu, chơi cờ bạc, nghiện ma túy, nghiện điện tử có những hành vi chống đối xã hội như trộm cắp, tham gia đánh nhau Giao tiếp với nhóm bạn này, người chưa thành niên dễ bị
“nhiễm” những hành vi, lối sống xấu của bạn bè
Đặc biệt, ở lứa tuổi chưa thành niên, phần lớn các em đều muốn khẳng định mình trước bạn bè, không chịu thua kém bạn bè và rất cần sự chấp nhận, đồng tình của bạn bè Để được sự kinh ng sự nổi tiếng hoặc để tránh bị chế giễu, xa lánh của bạn bè, một số người chưa thành niên thưởng a dua, bắt chước lẫn nhau thực hiện những hành vi chống đối xã hội, thậm chí là hành vi phạm tội
10