Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở nhận thức lý luận và tổng hợp, phân tích, đánh giá thực tiễn của các chính sách XHH GDTH trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội trong thời gian qua, luận văn đề xuất giải pháp nhằm đẩy mạnh XHH GDTH trên địa bàn Quận, qua đó giúp nâng cao chất lượng của cấp tiểu học - nơi chắp cánh những ước mơ cho các thế hệ tương lai của đất nước.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
-/ -
BỘ NỘI VỤ -/ - HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
-/ -
BỘ NỘI VỤ -/ - HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu
và kết quả trong luận văn là trung thực và đúng nguồn gốc, không sao chép công trình nghiên cứu của tác giả khác, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu
lý thuyết, nghiên cứu thực tiễn và dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đặng Khắc Ánh Luận văn của tôi có tham khảo một số sách, báo, tạp chí
và đã được trích dẫn, ghi chú đầy đủ
Trong quá trình viết và hoàn thiện luận văn nếu có gì vi phạm những quy định của Khoa, của Học viện và của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày……tháng 5 năm 2018
Người cam đoan
Nguyễn Thị Ngân Bình
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với PGS.TS Đặng Khắc Ánh - Khoa Hành chính học - Học viện Hành chính Quốc gia, đã tận tình hướng dẫn tôi thực hiện luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ Quản lý công
Tôi cũng xin gửi lời tri ân đến Quý thầy cô và cán bộ của Học viện Hành chính Quốc gia trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu đã trang bị cho tôi kiến thức và kỹ năng phục vụ hoạt động nghề nghiệp Tôi trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc học viện Hành chính Quốc gia, Ban lãnh đạo Khoa Sau đại học
và Ban lãnh đạo Khoa Lý luận cơ sở đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn Cao học Quản lý công
Tôi xin trân trọng cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Quận ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân Quận Thanh Xuân; các đồng chí lãnh đạo, chuyên viên Phòng Giáo dục và Đào tạo Quận Thanh Xuân đã giúp đỡ để tôi có cơ sở nghiên cứu và hoàn thành đề tài luận văn
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến Quý đồng nghiệp, bạn bè
và gia đình đã luôn động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình tham gia học tập và thực hiện luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2018
HỌC VIÊN
Nguyễn Thị Ngân Bình
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC HÌNH MINH HỌA
DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC TIỂU HỌC 7
1.1 Giáo dục tiểu học và xã hội hóa giáo dục tiểu học 7
1.1.1 Giáo dục tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân 7
1.1.2 Xã hội hóa giáo dục tiểu học 14
1.1.3 Các nguyên tắc thực hiện xã hội hóa giáo dục tiểu học 25
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới xã hội hóa giáo dục tiểu học 27
1.2.1 Sự thay đổi trong nhận thức của Đảng và Nhà nước về phát triển giáo dục 27
1.2.2 Nhận thức và khả năng của người dân trong xã hội hóa giáo dục 27 1.2.3 Ảnh hưởng từ hội nhập quốc tế 28
1.2.4 Các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khác 30
1.3 Các hình thức xã hội hóa giáo dục tiểu học 31
1.3.1 Thành lập các trường tiểu học ngoài công lập (tư nhân) 31
1.3.2 Huy động nguồn cơ sở vật chất trong toàn xã hội vào tăng cường cơ sở vật chất cho các trường tiểu học công lập 33
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 35
CHƯƠNG 2 XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 36
2.1 Tổng quan về quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội 36
Trang 62.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội 36 2.1.2 Cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục trên địa bàn quận 38 2.1.3 Giáo dục tiểu học trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội 40
2.2 Thực trạng xã hội hóa giáo dục tiểu học trên địa bàn quận Thanh Xuân 49
2.2.1 Thực trạng pháp lí để triển khai XHH GDTH trên địa bàn quận Thanh Xuân, Hà Nội 49 2.2.2 Kết quả công tác xã hội hóa giáo dục tiểu học trên địa bàn quận Thanh Xuân 54
2.3 Đánh giá công tác xã hội hóa giáo dục tiểu học trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội 59
2.3.1 Những ưu điểm 59 2.3.2 Các hạn chế trong xã hội hóa giáo dục tiểu học trên địa bàn quận Thanh Xuân 61 2.3.3 Nguyên nhân của các hạn chế trong xã hội hóa giáo dục tiểu học trên địa bàn quận Thanh Xuân 62
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 64 CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN THANH XUÂN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI 65
3.1 Yêu cầu về phát triển giáo dục trong giai đoạn hiện nay 65
3.1.1 Định hướng phát triển giáo dục - đào tạo trong giai đoạn mới 65 3.1.2 Định hướng phát triển giáo dục - đào tạo tại quận Thanh Xuân đến năm 2020 66
3.2 Các giải pháp tăng cường xã hội hóa giáo dục tiểu học trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội 68
Trang 73.2.1 Tuyên truyền và phổ biến pháp luật nhằm nâng cao nhận thức về XHH GDTH đồng thời tăng cường thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng cho
đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục tiểu học 68
3.2.2 Xây dựng và hoàn thiện quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục tiểu học, trong đó có các trường tiểu học ngoài công lập 71
3.2.3 Minh bạch hóa các khoản thu theo tinh thần xã hội hóa tại các trường tiểu học công lập 72
3.2.4 Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với giáo dục tiểu học ngoài công lập 72
3.2.5 Đa dạng hóa các loại hình Giáo dục tiểu học 74
3.2.6 Huy động các nguồn lực xã hội, nhất là sự phối hợp của 3 môi trường giáo dục: Nhà trường, gia đình và xã hội nhằm xây dựng “Trường học thân thiện, học sinh tích cực.” 76
3.2.7 Xây dựng cơ chế quản lý, phối hợp, huy động các lực lượng xã hội tham gia quản lý hoạt động XHH GDTH 78
3.2.8 Kịp thời vinh danh, khen thưởng các tổ chức, cá nhân có đóng góp cho sự phát triển GDTH trên địa bàn quận 80
3.3 Kiến nghị 81
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 83
KẾT LUẬN 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
GD-ĐT
CBQL
: :
Giáo dục - Đào tạo Cán bộ quản lý GDTH : Giáo dục Tiểu học
Trang 9DANH MỤC HÌNH MINH HỌA
Hình 1.1: Khung cơ giáo dục quốc dân Việt Nam từ 10/2016 11
Hình 1.2: Hệ thống Giáo dục quốc dân Việt Nam năm 2005 12
Hình 1.3: Các chủ thể tham gia XHH GDTH 22
Hình 2.1: Bản đồ hành chính quận Thanh Xuân, Hà Nội 36
Hình 2.2: Số học sinh tiểu học trên địa bàn quận Thanh Xuân, Hà Nội 41
Hình 2.3: Số học sinh tại các trường tiểu học công lập trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội 45
Hình 2.4: Tỷ lệ % học sinh theo học tại các trường tiểu học công lập trên địa bàn quận Thanh Xuân, Hà Nội 46
Hình 2.5: Chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học 48
Hình 2.6: Tỉ lệ trường tiểu học theo hình thức đào tạo 55
Hình 2.7: Số học sinh tại các trường tiểu học ngoài công lập trên địa bàn quận Thanh Xuân 57
Trang 10DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 2.1 Thống kê số lượng trường, lớp, học sinh tiểu học 40Bảng 2.2 Kết quả xếp loại học tập các trường tiểu học quận Thanh Xuân 42Bảng 2.3 Chất lượng giáo dục mũi nhọn quận Thanh Xuân 42Bảng 2.4 Kết quả xếp loại rèn luyện các trường tiểu học quận Thanh Xuân 43Bảng 2.5 Số lượng cơ sở GDTH công lập trên địa bàn quận Thanh Xuân 44Bảng 2.6 Quy mô các trường tiểu học ngoài công lập trên địa bàn quận Thanh Xuân, Hà Nội 56Bảng 2.7 Số lượng điều hòa XHH của các trường tiểu học quận Thanh Xuân 58Bảng 2.8 Số lượng học sinh lớp 4 và lớp 5 được học bơi tại các trường tiểu học trên địa bàn quận Thanh Xuân 59
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong hệ thống giáo dục nói chung, giáo dục tiểu học (GDTH) có vai trò đặc biệt quan trọng, đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách con người Chính vì thế, hầu hết các quốc gia và các tổ chức quốc tế đều xác định GDTH là một mục tiêu quan trọng của giáo dục cho mọi quốc gia Ở nước ta, GDTH cũng là một nội dung được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm và được xác định là một bậc học bắt buộc (phổ cập giáo dục) Điều đó có nghĩa là các nguồn lực để thực hiện GDTH được nhà nước đảm bảo từ ngân sách nhà nước để mỗi trẻ em đều có thể được tiếp cận giáo dục ở bậc học này Tuy nhiên, để tăng cường chất lượng giáo dục, việc huy động các nguồn lực ngoài xã hội thông qua chủ trương xã hội hóa giáo dục, trong đó có GDTH, cũng được triển khai mạnh mẽ
XHHGD là thực hiện nghị quyết của Đảng về công tác giáo dục, với quan điểm lấy con người làm “trung tâm của sự phát triển”; giáo dục và đào tạo là: “quốc sách hàng đầu”, “huy động toàn xã hội làm giáo dục”, từ đó động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước
Với quan điểm “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng”, công việc giáo dục thế hệ trẻ trở thành những người lao động có tri thức, có năng lực đáp ứng
sự phát triển của nền KT- XH không chỉ là trách nhiệm của ngành giáo dục
mà là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, phải có sự tham gia tích cực và sự phối hợp chặt chẽ của toàn xã hội XHHGD tạo ra nhiều nguồn, làm cho giáo dục không đơn độc, thực hiện tốt việc kết hợp giáo dục trong nhà trường và ngoài nhà trường, tạo ra môi trường giáo dục tốt, thuận lợi cho việc thực hiện các mục tiêu giáo dục XHHGD nhằm mục tiêu “giáo dục cho mọi người” Để thực hiện mục tiêu đó thì mọi người phải làm giáo dục
Trang 12Cùng với ngành giáo dục cả nước, Thành phố Hà Nội nói chung và quận Thanh Xuân nói riêng trong những năm qua cũng đã có nhiều hoạt động nhằm triển khai sâu rộng chủ trương XHH giáo dục nói chung và XHH GDTH nói riêng vào thực tiễn và cũng đã đạt được những thành công nhất định: số lượng chỗ học tăng lên, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về số lượng trẻ em nhập học tiểu học; chất lượng giáo dục có sự thay đổi theo hướng tiến bộ hơn,… Tuy nhiên, thực tiễn những năm qua cho thấy, quá trình triển khai công tác XHH GDTH cũng vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần phải giải quyết như việc quy hoạch mạng lưới cơ sở GDTH chưa hoàn thiện, nhận thức về vai trò của công tác XHH GDTH của cả bộ máy chính quyền, các cơ sở giáo dục và của
cả người dân chưa cao hay các chính sách tuyên truyền, nâng cao chất lượng XHHGD còn nhiều hạn chế,… Những bất cập này cần được nghiên cứu, xác định các giải pháp để quản lý, điều chỉnh trong tương lai nhằm nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học nói chung và giáo dục tiểu học trên địa bàn quận Thanh Xuân nói riêng
Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài: “Xã hội hóa giáo
dục tiểu học trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội” để làm luận
văn tốt nghiệp cao học Quản lý công của mình với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng GDTH trên địa bàn quận
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
XHH dịch vụ công nói chung và XHH GDTH nói riêng là một trong những lĩnh vực được các nhà nghiên cứu lý luận và các nhà thực tiễn hành chính đặc biệt quan tâm trong những năm gần đây Chính vì vậy đã có nhiều các nghiên cứu có liên quan tới vấn đề này được thực hiện ở nhiều cấp độ khác nhau Có thể kể đến một số giáo trình quan trọng có liên quan đến đề tài luận văn như sau:
- “Dịch vụ công và xã hội hóa dịch vụ công” (NXB Văn hóa - Thông
tin, 2002) do TS Nguyễn Ngọc Hiến chủ biên đã phân tích các khái niệm, nội dung của dịch vụ công và phân tích khẳng định tính tất yếu của việc xã hội
Trang 13hóa dịch vụ công nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu về dịch vụ công của người dân trong bối cảnh ngân sách nhà nước đang hạn chế hiện nay
- “Dịch vụ công và xã hội hóa dịch vụ công - một số vấn đề lý luận và
thực tiễn” (Nxb Chính trị Quốc gia, 2004) do TS Chu Văn Thành chủ biên là
tập hợp nhiều bài viết nghiên cứu của các nhà khoa học bàn về khái niệm dịch
vụ công và vấn đề nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công và xã hội hóa dịch vụ công ở nước ta Các nhà khoa học trong các bài viết cũng chỉ ra thực trạng dịch vụ công ở nước ta và quá trình triển khai chủ trương xã hội hóa dịch vụ công ở nước ta
- “Định hướng phát triển giáo dục Việt Nam trong quá trình hội nhập
quốc tế” (2012) của PGS.TS Vũ Trọng Rỹ đã tập trung phân tích môi trường
phát triển giáo dục và những đòi hỏi phải tăng cường chất lượng giáo dục ở nước ta trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Tác giả cũng đã phân tích và chỉ ra những định hướng trong phát triển giáo dục ở Việt Nam phù hợp tình hình phát triển kinh tế - xã hội mới đó
- “Xã hội hóa giáo dục ở Việt Nam hiện nay – một số vấn đề lý luận và
thực tiễn” của tác giả Phạm Thị Thu Hương (NXB Chính trị Quốc gia – Sự
thật, 2017) đã phân tích tính tất yếu khách quan của xã hội hóa giáo dục trong quá trình đổi mới toàn diện giáo dục ở nước ta, chỉ ra một số yếu tố ảnh hưởng và điều kiện cần thiết để thực hiện xã hội hóa giáo dục thành công, đưa
ra một số đánh giá và những thành công, hạn chế còn tồn tại của xã hội hóa giáo dục ở nước ta hiện nay
- Bài viết “Về công tác xã hội hóa giáo dục ở nước ta những năm qua và những giải pháp đồng bộ cần thực hiện trong thời gian tới” của tác giả Nguyễn Vinh Hiển được đăng trên Tạp chí Cộng sản năm 2015 (http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-
Traodoi/2015/35775/Ve-cong-tac-xa-hoi-hoa-giao-duc-o-nuoc-ta-nhung.aspx)
đã đề cập tới sự cần thiết phải hoàn thiện cơ sở pháp lý về xã hội hóa giáo dục
Trang 14và đề xuất những giải pháp để tăng cường hực hiện xã hội hóa giáo dục trong thời gian tới
- Bài viết “Đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục tại trường tiểu học” của tác giả Lê Thị Thanh Thủy (Tạp chí Giáo dục Thủ đô số 84, tháng 12/2016) đã phân tích được nhu cầu xã hội hóa trong giáo dục tiểu học và chỉ
ra một số nguyên tắc để thực hiện hoạt động xã hội hóa giáo dục tại các trường tiểu học công lập
Ngoài ra, cũng đã có một số nghiên cứu dưới hình thức luận văn, luận án
về vấn đề này như: luận văn Thạc sĩ Quản lý Hành chính công: “Những giải
pháp nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam hiện nay” của Trương Quốc Việt (Học viện hành chính, 2011) cũng
đã đề cập đến lý luận về giáo dục nước ta, phân tích thực trạng giáo dục Việt Nam hiện nay, đồng thời đề xuất được một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục, trong đó có nhấn mạnh tới sự cần thiết phải xã hội hóa giáo dục Tuy nhiên, luận văn cũng không đi sâu vào nghiên cứu bậc giáo dục tiểu học, v.v
Các công trình nghiên cứu kể trên đã có nhiều đóng góp về mặt lý luận cũng như thực tiễn để làm rõ nội hàm của khái niệm xã hội hóa dịch vụ công nói chung và XHHGD nói riêng, phân tích vai trò của công tác XHH GD nói chung và XHH GDTH nói riêng - cấp học được coi là thời kì đặt viên gạch nền móng đầu tiên của cuộc đời mỗi con người Mỗi công trình nghiên cứu đó đều khai thác tổng hợp tất cả nền giáo dục nói chung hoặc tập trung vào khai thác một số khía cạnh nhất định trong vấn đề XHH GDTH Tuy nhiên chưa có
đề tài nào nghiên cứu về XHH GDTH trên địa bàn cụ thể là quận Thanh
Trang 15Nội trong thời gian qua, luận văn đề xuất giải pháp nhằm đẩy mạnh XHH GDTH trên địa bàn Quận, qua đó giúp nâng cao chất lượng của cấp tiểu học
- nơi chắp cánh những ước mơ cho các thế hệ tương lai của đất nước
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu sau:
- Tập hợp và góp phần làm rõ cơ sở lý luận của XHHGD nói chung và XHH GDTH nói riêng;
- Đánh giá thực trạng của hoạt động XHH GDTH trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội trong thời gian qua để chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức khi triển khai XHH GDTH trên địa bàn;
- Đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm đẩy mạnh hoạt động XHH GDTH trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu của Luận văn:
Hoạt động xã hội hóa giáo dục tiểu học
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp luận: Phương pháp luận được sử dụng trong nghiên cứu
là phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Trong quá trình nghiên cứu, tác giả
đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như:
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu;
+ Phương pháp phân tích;
+ Phương pháp tổng hợp;
Trang 16+ Phương pháp so sánh;
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1 Về mặt lý luận: Nghiên cứu góp phần hệ thống lại cơ sở lý luận của
XHH GDTH, khẳng định xã hội hóa dịch vụ công nói chung và XHH GDTH nói riêng là sự phát triển tất yếu phù hợp với quy luật vận động và phát triển
của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay
6.2 Về mặt thực tiễn: Thông qua việc đề xuất các giải pháp, luận văn
góp phần làm tăng cường hiệu quả của XHH GDTH trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội
Nghiên cứu có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc triển khai thực hiện XHH GDTH trên địa bàn quận Thanh Xuân nói riêng, thành phố Hà Nội nói chung trong thực tế
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Luận văn bao gồm
3 chương chính như sau:
Chương 1: Cơ sở khoa học về xã hội hóa giáo dục tiểu học;
Chương 2: Thực trạng xã hội hóa giáo dục tiểu học trên địa bàn quận
Thanh Xuân - Thành phố Hà Nội;
Chương 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường xã hội hóa giáo dục
Tiểu học trên địa bàn quận Thanh Xuân - Thành phố Hà Nội
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
1.1 Giáo dục tiểu học và xã hội hóa giáo dục tiểu học
1.1.1 Giáo dục tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.1.1.1 Giáo dục
Loài người ngay từ khi hình thành đã luôn gắn kết với nhau trong xã hội, truyền thụ cho nhau những kinh nghiệm sống để có thể tiếp tục sinh tồn Quá trình truyền thụ kiến thức từ các thế hệ trước cho thế hệ sau chính là khởi nguồn của giáo dục Như vậy, giáo dục là hoạt động chuyên môn có tổ chức,
có kế hoạch của xã hội nhằm truyền thụ kinh nghiệm, bồi dưỡng tri thức, hình thành và phát triển nhân cách con người theo những yêu cầu của xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định
Thuật ngữ giáo dục ngày nay thường được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp Với nghĩa rộng, giáo dục là quá trình hình thành toàn vẹn nhân cách, là
sự hình thành được tổ chức một cách có mục đích, có hệ thống những sức mạnh thể chất và tinh thần của con người, cho cá nhân tham gia vào đời sống
xã hội, sản xuất và văn hóa có hiệu quả Quá trình này được tiến hành thông qua hai lĩnh vực hoạt động có mục đích là dạy học và giáo dục Giáo dục theo nghĩa hẹp là bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể, là quá trình hình thành niềm tin, lý tưởng, đạo đức, thị hiếu, thái độ thẩm mỹ, lao động và phát triển thể lực, tạo ra cơ sở khoa học của thế giới quan Ngày nay, người ta coi giáo dục là “cho mọi người”, “học thường xuyên”, “học suốt đời” Như vậy, hoạt động giáo dục trong giai đoạn lịch sử hiện nay là hướng đến tất cả những ai
có nhu cầu và có điều kiện học tập, được thực hiện ở bất cứ không gian nào, thời gian nào thích hợp, bằng các phương tiện dạy học khác nhau, bằng những loại hình và phương thức giáo dục khác nhau
Xã hội loài người đi vào thế kỷ XXI với những xu thế ngự trị nổi bật là
xu thế toàn cầu hóa, đặc biệt về kinh tế với ưu thế của kinh tế tri thức, về công
Trang 18nghệ với ưu thế của công nghệ cao Trong công nghệ cao thì công nghệ thông tin lại giữ một vai trò hết sức cơ bản, đó là vai trò của công cụ làm việc phổ biến trong xã hội hiện đại, để thu thập, xử lý thông tin - một tài nguyên quan trọng của xã hội, cần thiết cho sự phát triển trong tất cả mọi lĩnh vực - làm con người có thể tác động mạnh mẽ đến các quá trình sản xuất, nghiên cứu v.v từ quản lý, điều hành cho đến cả đời sống xã hội đồng thời giúp cho con người có thể tự học, tự cập nhật thông tin, giao lưu rộng rãi, phát triển tư duy sáng tạo Đó chính là tiền đề để hình thành xã hội thông tin, nền văn minh trí tuệ Những xu thế mới này tác động ngày càng mạnh mẽ và trực tiếp đến giáo dục, làm cho giáo dục luôn ở vị trí hàng đầu và đóng vai trò chủ chốt trong sự phát triển xã hội tương lai
Ở nước ta, Đảng và Chính phủ luôn coi trọng công tác giáo dục Tại Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần IX đã nhấn mạnh: “Giáo dục - Đào tạo được xem là quốc sách hàng đầu để phát huy nhân tố con người, động lực trực tiếp của sự phát triển” [12] Theo đó, giáo dục - đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam Phát triển
GD - ĐT cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho GD - ĐT là đầu tư phát triển Đổi mới căn bản, toàn diện GD - ĐT theo nhu cầu phát triển của xã hội; nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời [14] Đây là sự khẳng định đường lối, chủ trương hết sức đúng đắn của Đảng, xuất phát từ lợi ích của nhân dân, đồng thời phù hợp với chân lý phổ biến của lịch
sử thế giới Từ đó đến nay nhiều hội nghị chuyên đề của Đảng tiếp tục ban hành các nghị quyết về đổi mới, phát triển sự nghiệp GD-ĐT
Hoạt động giáo dục cần phải được quản lý để đạt mục tiêu của mình Quản lý giáo dục là một hoạt động đặc trưng của lao động xã hội Đây là một
Trang 19hoạt động chuyên môn nhằm thực hiện quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội qua các thế hệ, đồng thời là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội Để hoạt động này vận hành có hiệu quả, giáo dục phải được
tổ chức thành các cơ sở, tạo nên một hệ thống các cơ sở giáo dục, điều này dẫn đến một tất yếu là phải có một lĩnh vực hoạt động có tính độc lập tương đối trong giáo dục, đó là công tác quản lý giáo dục để quản lý các cơ sở giáo dục có trong thực tiễn Trong quá trình nghiên cứu về lĩnh vực quản lý giáo dục, đã có nhiều tác giả đưa ra khái niệm quản lý giáo dục như sau:
Theo P.V.Khudominxky: “Quản lý giáo dục là động tác có hệ thống, có
kế hoạch, có ý thức và có mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống từ Bộ GD - ĐT đến từng nhà trường, lớp học nhằm mục đích đảm bảo việc giáo dục Cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, bảo đảm sự phát triển toàn diện, hài hoà của họ.”[36]
Theo tác giả Đỗ Hoàng Toàn: “Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp tổ chức, phương pháp giáo dục, kế hoạch hóa tài chính,… nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, bảo đảm sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng.” [35]
Như vậy có thể nói, quản lý giáo dục là quá trình tác động của chủ thể quản lý vào toàn bộ hoạt động giáo dục nhằm thúc đẩy giáo dục phát triển theo mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã xác định Quản lý giáo dục được thể hiện thông qua quản lý mục tiêu, chương trình đào tạo quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy và học, quản lý đội ngũ cán bộ, giáo viên, quản lý người học và chất lượng giáo dục và đào tạo Với nhiều góc độ tiếp cận khác nhau có thể cho thấy, quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội
Trang 201.1.1.2 Hệ thống giáo dục quốc dân
Hệ thống giáo dục của một nước biểu thị các tầng bậc của hệ thống giáo dục và các quy định về trình độ văn bằng liên quan Tại Việt Nam, Luật Giáo dục năm 2005 quy định tại Điều 4: Hệ thống giáo dục quốc dân ở nước ta gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên với các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân, cụ thể bao gồm:
a) Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo;
b) Giáo dục phổ thông có tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông; c) Giáo dục nghề nghiệp có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề;
d) Giáo dục đại học và sau đại học (sau đây gọi chung là giáo dục đại học) đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ Ngày 18/10/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 1981/QĐ-TTg quy định về cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân ở nước ta Theo quyết định này, cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân được mô tả như ở sơ
đồ kèm theo (Hình 1.1)
Theo sơ đồ, có thể thấy hệ thống giáo dục của Việt Nam có 8 cấp, tương ứng với 8 bậc trình độ quốc gia, cụ thể: Sơ cấp I, Sơ cấp II, Sơ cấp III, Trung cấp, Cao đẳng, Đại học, Thạc sĩ và Tiến sĩ Từ giáo dục mầm non (nhà trẻ và mẫu giáo) cho tới bậc học trung học cơ sở, việc đào tạo được tiến hành chung theo một hướng Từ bậc giáo dục trung học phổ thông, hoạt động giáo dục được chia thành hai luồng: trung học phổ thông bình thường và trung cấp, đại học theo hướng nghiên cứu và đại học theo hướng ứng dụng, cao đẳng là một con đường đi lên cho học sinh tốt nghiệp THPT hay trung cấp Bên ngoài giáo dục chính quy, hình thức giáo dục thường xuyên được thực hiện ở mọi cấp học từ tiểu học trở lên
Trang 21Hình 1.1: Khung cơ giáo dục quốc dân Việt Nam từ 10/2016
Chuẩn đầu ra và khối lượng học tập tối thiểu được quy định chi tiết cho từng bậc đào tạo Người học hoàn thành chương trình đào tạo đáp ứng yêu cầu của chuẩn đầu ra đối với từng bậc học thì được cấp “chứng chỉ” đối với 3 bậc đầu tiên, và “bằng tốt nghiệp” đối với bậc 4, các “bằng cao đẳng”, “bằng đại học”, “bằng thạc sĩ”, “bằng tiến sĩ” tương ứng đối với 4 bậc cuối
Trang 22Hình 1.2: Hệ thống Giáo dục quốc dân Việt Nam năm 2005
(Nguồn: moet.edu.vn) 1.1.1.3 Giáo dục tiểu học
Theo quy định của Luật Giáo dục, GDTH là một giai đoạn của cấp học Giáo dục phổ thông (gồm có tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông); bậc tiếp theo sau giáo dục mầm non và nằm trước giai đoạn giáo dục trung học cơ sở Trước đây ở miền Bắc, tiểu học còn được gọi là phổ thông cấp một Ở Việt Nam hiện nay, đó là bậc giáo dục cho trẻ em từ lớp một (6 tuổi) tới hết lớp năm (11 tuổi)
Chương trình được triển khai học tại bậc tiểu học là chương trình quốc gia, được ban hành và thực hiện thống nhất trên phạm vi toàn quốc Các trường tiểu học theo quy định được bố trí tại từng xã, phường, thị trấn để tạo điều kiện cho trẻ em tiếp cận dễ dàng bậc học này Tuy nhiên, trong thực tế vẫn có một số xã (thường là các xã ở vùng sâu, vùng xa hoặc hải đảo) vẫn chưa có trường tiểu học
Trang 23Mục tiêu của giáo dục tiểu học được quy định tại luật Giáo dục Việt Nam năm 2010 như sau: “Trang bị cho học sinh hệ thống tri thức cơ bản ban đầu, hình thành ở học sinh những kĩ năng cơ bản nền tảng, phát triển hứng thú học tập ở học sinh, thực hiện các mục tiêu giáo dục toàn diện đối với học sinh tiểu học” [30] Do vậy việc giáo dục học sinh ngay từ cấp tiểu học là rất quan trọng đòi hỏi nội dung giáo dục tiểu học phải mang tính toàn diện, cân đối giữa các mặt giáo dục: giáo dục tri thức, với giáo dục kĩ năng và giáo dục ý thức thái độ
Với chức năng là bậc học đầu tiên có trang bị kiến thức (sau mầm non ), nhiệm vụ của bậc GDTH rất đa dạng Học sinh khi học xong bậc tiểu học cần phải đạt được các yêu cầu chủ yếu sau:
+ Có lòng nhân ái, yêu quê hương, đất nước, hoà bình, công bằng; kính trên, nhường dưới; có ý thức về bổn phận của mình đối với người thân, đối với bạn bè, đối với cộng đồng và môi trường sống; biết tôn trọng và thực hiện đúng pháp luật và các quy định ở nhà trường, khu dân cư, nơi công cộng; sống hồn nhiên, mạnh dạn, tự tin, trung thực
+ Có kiến thức cơ bản về tự nhiên, xã hội, con người và thẩm mĩ, có kĩ năng cơ bản về nghe, đọc, nói, viết và tính toán; có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh và bảo vệ sức khoẻ
+ Biết cách học tập; biết tự phục vụ, biết sử dụng một số đồ dùng trong gia đình và công cụ lao động thông thường; biết vận dụng và làm một số việc như chăn nuôi, trồng trọt, giúp việc gia đình
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, GDTH được xem là nền tảng, là nơi bắt đầu hình thành nhân cách, tính cách học sinh và có ảnh hưởng quan trọng tới việc phát triển con người trong các giai đoạn tiếp theo GDTH sẽ kế thừa
và phát huy những kết quả đạt được của giáo dục mầm non và giúp cho trẻ em
có được những năng lực, sức khoẻ và phẩm chất để có thể học lên bậc học trung học cơ sở và tham gia các hoạt động xã hội vừa sức với các em Đây là bậc học quan trọng đối với sự phát triển của trẻ em, thời gian hình thành nhân
Trang 24cách và năng lực (trí tuệ và thể chất) Từ lứa tuổi này, học sinh sẽ có những nhận thức; như ấn tượng về người thầy; người cô mẫu mực, là đối tượng để các em học tập và noi theo, thậm chí mơ ước được giống như các thầy, các cô, qua đó trở thành ngươi công dân có ích cho xã hội
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 Văn bản hợp nhất 03/VBHN BGDĐT năm 2014 hợp nhất Thông tư về Điều lệ Trường Tiểu học do Bộ Giáo dục và Đào tạo, trường tiểu học được tổ chức theo hai loại hình: công lập và ngoài công lập
-1 Trường tiểu học công lập là trường do Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, đảm bảo kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên;
2 Trường tiểu học ngoài công lập là trường do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động bằng vốn ngoài ngân sách nhà nước
Hai loại trường này đều thực hiện thống nhất theo một chương trình chung quốc gia do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
1.1.2 Xã hội hóa giáo dục tiểu học
1.1.2.1 Xã hội hóa
Thuật ngữ xã hội hoá (socialization) đã được các nhà xã hội học sử dụng
để mô tả những phương pháp, cách thức mà con người học hỏi các giá trị, các chuẩn mực xã hội đề ra, tạo cơ sở cho việc hình thành và nhân cách con người Đồng thời con người có đủ điều kiện để hoà nhập với xã hội đó, đảm bảo sự phổ quát, đại chúng và phù hợp
Trong kinh tế - chính trị học, thuật ngữ “xã hội hoá” đó là quá trình phát triển của lực lượng sản xuất từ trình độ hợp tác giản đơn lên trình độ hợp tác có phân công, chuyên môn hoá cao trên phạm vi toàn xã hội
Năm 1994, F.W.Kron phát biểu: “Quá trình xã hội hoá được hiểu chung
là quá trình biện chứng, trong đó mỗi người, với tư cách là thành viên của xã
Trang 25hội trở nên có năng lực hành động trong xã hội đó và mặt khác, thông qua quá
trình này, duy trì và tái sản xuất xã hội”
Những quan điểm trên đây đã nêu lên nội dung cơ bản thuộc phạm trù xã hội hoá Cho dù các định nghĩa có khác nhau nhưng cốt lõi của xã hội hoá là
sự tương tác, mối liên hệ, thuộc tính vốn có của con người, của cộng đồng diễn ra trong tất cả lĩnh vực đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, trong mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau; có thể hiểu xã hội hoá một cách đầy đủ nhất theo định nghĩa sau:
Xã hội hoá là quá trình cá nhân nhờ hoạt động, tiếp thu giáo dục, giáo lý, mà học hỏi được cách sống trong cộng đồng, trong đời sống xã hội và phát triển được khả năng đảm nhiệm các vai trò xã hội với tư cách vừa là cá thể vừa là một thành viên của xã hội
1.1.2.2 Xã hội hóa giáo dục
Giáo dục là một bộ phận đặc thù của đời sống xã hội, nó vừa nằm trong lĩnh vực thuộc hình thái ý thức xã hội, kiến trúc thượng tầng, vừa nằm trong các mối quan hệ xã hội, quan hệ sản xuất thuộc hạ tầng cơ sở Sự tồn tại và phát triển của giáo dục chịu sự chi phối của sự phát triển KT - XH và ngược lại với chức năng của mình, giáo dục có vai trò hết sức to lớn trong việc tái sản xuất sức lao động của xã hội; khơi dậy, thức tỉnh và phát huy tiềm năng sáng tạo của mỗi con người, tạo ra môi trường cho sự phát triển KT - XH
Xã hội hóa giáo dục là một thuật ngữ được sử dụng ở Việt Nam ngay từ những năm 90 của thế kỷ XX để mô tả quá trình lôi cuốn khu vực tư nhân tham gia cùng với nhà nước trong việc phát triển sự nghiệp giáo dục, thực hiện chủ trương “Nhà nước và nhân dân cùng làm” trong sự nghiệp giáo dục, thể hiện quan điểm “Sự nghiệp giáo dục không phải chỉ là của Nhà nước mà
là của toàn xã hội, mọi người cùng làm giáo dục, Nhà nước và xã hội, trung ương và địa phương cùng làm giáo dục” [21] Trong Nghị quyết 90/CP ngày 21/8/1997 của Chính phủ về phương hướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa đã xác định “Xã hội hoá các hoạt động giáo dục,
Trang 26y tế, văn hoá là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự phát triển các sự nghiệp đó nhằm từng bước nâng cao mức hưởng thụ về giáo dục, y tế, văn hoá và sự phát triển về thể chất và tinh thần của nhân dân”
XHH GD thực chất là XHH các hoạt động giáo dục, XHH sự nghiệp giáo dục XHH sự nghiệp giáo dục là quá trình hướng mọi hoạt động giáo dục tham gia vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Đồng thời, xã hội tiếp nhận giáo dục như là công việc của chính mình và của mọi cá nhân, các tổ chức đoàn thể, các cấp chính quyền đều có trách nhiệm tham gia
Có thể nói rằng: Xã hội hóa giáo dục là vận động toàn xã hội tham gia vào sự nghiệp giáo dục, nhằm phát huy truyền thống hiếu học và tiềm năng con người trong quá trình xây dựng nền giáo dục hiện đại dưới sự quản lý của nhà nước để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao mức hưởng thụ giáo dục của nhân dân
Xã hội hoá giáo dục, thuật ngữ này cho dù ở cấp độ nào đó đồng nghĩa với thuật ngữ “xã hội học tập” Hai thuật ngữ này lần đầu tiên xuất hiện trong báo cáo của UNESCO có tựa đề: “Học để tồn tại; thế giới giáo dục hôm nay
và ngày mai” Nội dung của nó bao gồm hai khía cạnh song hành, quan hệ mật thiết với nhau Thứ nhất: Mọi tổ chức, mọi tập thể, mọi cá nhân theo khả năng của mình đều có thể cung ứng cơ hội học tập cộng đồng Thứ hai: Mọi người dân trong cộng đồng đều có thể tận dụng cơ hội để có thể có cơ hội học tập và tham gia phát triển giáo dục cộng đồng, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho bản thân
Xã hội hoá giáo dục không phải là một giải pháp tình thế nhất thời chỉ được tổ chức thực hiện trong một thời gian nhất định mà là một tư tưởng cách mạng chiến lược lâu dài Điều 12, Luật giáo dục 2005 ghi rõ: “Phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân; thực hiện đa dạng hoá các loại hình trường và các hình thức giáo dục; khuyến
Trang 27khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục” [30]
Chuyên gia Nguyễn Trần Bạt trong bài “Xã hội hoá giáo dục”, sau khi nêu rõ: Xã hội hóa giáo dục là tinh thần, là nội dung quan trọng nhất của cải cách giáo dục, bảo đảm sự thành công của cải cách giáo dục, tác giả đã khẳng định:
“Xã hội hóa giáo dục có nghĩa là Nhà nước tạo ra không gian xã hội, pháp luật
và chính trị cho việc hình thành một khu vực giáo dục mà ở đấy ai cũng có quyền đóng góp cho sự nghiệp giáo dục, thực hiện sự cạnh tranh về chất lượng giáo dục, tức là giáo dục phải thuộc về xã hội” Tác giả còn đề cập và nhấn mạnh: “XHH GD không chỉ là đa dạng hoá hình thức và các nguồn đầu tư cho
GD - ĐT, mà quan trọng nhất là đa dạng hoá nội dung hay đa dạng hoá, hiện đại hoá chương trình giáo dục thích ứng với những đòi hỏi của xã hội”
Bản chất xã hội của XHH GD là tổ chức thực hiện xây dựng một nền GD
xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, từng bước giảm bớt được gánh nặng của ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục, tăng cường số lượng chỗ học và nâng cao chất lượng giáo dục Bên cạnh đó, xã hội hoá giáo dục chính là “giáo dục cho tất cả mọi người; tất cả mọi người cho sự nghiệp giáo dục”, đó là đưa giáo dục gắn với xã hội, với cộng đồng; giáo dục phục vụ mục tiêu xã hội, phục
vụ cộng đồng Cơ sở tư duy của xã hội hoá giáo dục là đặt giáo dục vào đúng vị trí của nó Giáo dục là bộ phận không thể tách rời của hệ thống xã hội Giáo dục cùng với khoa học công nghệ là động lực phát triển kinh tế xã hội
Nội dung hoạt động xã hội hoá giáo dục được Đảng, Nhà nước đề cập hết sức phong phú, như từ việc huy động các lực lượng xã hội đầu tư các nguồn lực bao gồm vật lực, tài lực…; tham gia vào quá trình đa dạng hoá các loại hình trường, lớp, các loại hình học tập; tạo lập và đẩy mạnh phong trào học tập rộng khắp trong xã hội, mọi thành viên trong xã hội, không phân biệt tuổi tác, nghề nghiệp, chỗ đứng trong xã hội đều được học, học thường xuyên, học suốt đời; huy động các lực lượng xã hội tham gia xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh và quản lý giáo dục có hiệu quả Quá trình này thể hiện
Trang 28tính chất dân chủ và bình đẳng của nền giáo dục nước ta Sự gắn kết giữa ba môi trường trong giáo dục: Nhà trường - Gia đình - Xã hội, làm cho mọi người, mọi tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức kinh tế các doanh nghiệp và mọi cá nhân trong xã hội nhận thức và tổ chức thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình trong sự nghiệp phát triển giáo dục và quản lý giáo dục Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục sẽ là những biện pháp hữu hiệu để chống lại bốn tiêu cực trong ngành giáo dục hiện nay, bao gồm: Tiêu cực trong thi cử; bệnh thành tích trong giáo dục; học sinh ngồi
1.1.2.3 Xã hội hóa giáo dục tiểu học
Có thể nói rằng xã hội hóa công tác giáo dục là một tư tưởng giáo dục lớn của thời đại Điều này đã bắt nguồn sâu xa từ truyền thống giáo dục Việt Nam và nhân loại Trong hệ thống tư tưởng giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì xã hội hóa công tác giáo dục là một trong những tư tưởng giáo dục
cốt lõi của Người Trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp xuất bản ở
Paris năm 1925, Người đã vạch trần tội ác của chủ nghĩa thực dân trong việc bóc lột trẻ em, tước bỏ mọi quyền của trẻ em mà thay vào đó là dùng chính sách ngu dân để bóc lột và cai trị người bản xứ Người cho rằng giáo dục trẻ
em là trách nhiệm của toàn xã hội Người cũng nhấn mạnh đến tầm quan
trọng của thế hệ trẻ và đặt hy vọng to lớn vào trẻ em: “ Non sông Việt Nam
có trở nên tươi đẹp được hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là
Trang 29nhờ một phần lớn công lao học tập của các em” Chính vì vậy giáo dục thế hệ
trẻ là trách nhiệm của toàn dân: “ Thiếu niên, nhi đồng là người chủ tương
lai của nước nhà, vì vậy chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn đảng, toàn dân”
XHH GDTH là một bộ phận của XHH GD được thực hiện ở cấp tiểu học nhằm huy động các nguồn lực của toàn xã hội vào việc thực hiện GDTH, thông qua đó tăng cường về số lượng các chỗ học trong bậc tiểu học và nâng cao chất lượng GDTH
Những năm qua, XHH GDTH đã trở thành quan niệm phổ biến và rộng rãi trong toàn xã hội, nhất là những ai làm công tác quản lý trực tiếp giáo dục trẻ thơ Song trong thực tế, vẫn còn nhiều điều phải bàn để làm sáng tỏ phạm trù khái niệm và cách tiếp cận thực tiễn cho đúng nhằm biến chủ trương này của Đảng và Nhà nước thành hiện thực
XHH GDTH trước hết là huy động các nguồn lực vật chất của toàn xã hội vào việc triển khai giáo dục tiểu học nhưng không chỉ là việc huy động mọi nguồn lực của xã hội để làm công tác GDTH mà còn là lấy chất lượng và hiệu quả chăm sóc - giáo dục học sinh trong các nhà trường để làm căn cứ thực tiễn để thuyết phục và huy động sự đóng góp của toàn dân vào việc chăm sóc, giáo dục trẻ em; đồng thời là sự lãnh đạo trực tiếp, có hiệu quả của Đảng
và chính quyền chăm lo cho sự nghiệp GDTH
Có hai nguồn lực chính trong quá trình huy động xã hội hóa GDTH gồm: Nguồn lực vật chất (tài lực, vật lực, nhân lực, đất đai, trường sở, trang thiết bị .) phục vụ chăm sóc, giáo dục học sinh; Nguồn lực phi vật chất (việc tạo ra môi trường giáo dục thống nhất, các yếu tố tinh thần, sự ủng hộ chủ trương giáo dục, sự tư vấn, trao đổi thông tin, kinh nghiệm về chăm sóc, giáo dục trẻ em)
Có 4 nhóm chủ thể tham gia vào hoạt động XHH GDTH:
- Nhà nước: Bao gồm Lãnh đạo Đảng, chính quyền các cấp (lực lượng
quan trọng quyết định sự đầu tư cơ sở vật chất cho nhà trường và cũng là lực
Trang 30lượng tạo cơ chế và tạo điều kiện cho việc XHH GD triển khai thuận lợi) Trách nhiệm của Nhà nước trong cung ứng dịch vụ công là một chức năng ngày càng quan trọng nhằm bảo đảm cuộc sống bình thường của người dân Nhà nước phải bảo đảm sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội và người dân
là đối tượng được phục vụ bắt buộc của chính quyền Về nguyên tắc, Nhà nước phải chịu trách nhiệm cao nhất và trách nhiệm cuối cùng đối với việc cung ứng đầy đủ, có chất lượng, có hiệu quả các loại dịch vụ công cho người dân và xã hội Nhà nước là người quản lý, định hướng, giám sát và kiểm tra đối với tất cả các chủ thể cung ứng dịch vụ công [26]
Trong hoạt động XHH GDTH, Nhà nước đóng vai trò như sau:
Thứ nhất, Nhà nước thống nhất chỉ hoạt động GDTH trong toàn xã hội,
Nhà nước quản lý, thực hiện việc kiểm tra và can thiệp để việc phát triển GDTH nhằm đáp ứng yêu cầu càng cao của xã hội Nhà nước quản lý, kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ sở tiểu học ngoài công lập Nhà nước không ngừng cải tiến việc chăm sóc giáo dục học sinh tiểu học; cung cấp thông tin, dự báo và kinh nghiệm trong nước và thế giới có liên quan đến công tác nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ em và phát triển GDTH nói chung
Thứ hai, Nhà nước xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách chung,
thống nhất về phát triển GDTH, ban hành các quy định về chăm sóc, giáo dục học sinh tiểu học, hoạch định các chính sách, xây dựng thể chế, tổ chức mạng lưới các cơ sở GDTH
Thứ ba, Nhà nước quyết định mục tiêu, nhiệm vụ, kế hoạch dài hạn hàng
năm đối với những hoạt động chủ yếu, được ngân sách hỗ trợ của các cơ sở GDTH công lập
Thứ tư, Nhà nước hỗ trợ, khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để các tổ
chức phi chính phủ, các tổ chức tự quản của cộng đồng tham gia phát triển GDTH
Trang 31Thứ năm, Nhà nước giữ vai trò điều tiết việc phát triển GDTH bằng cơ
chế, chính sách Nhà nước trực tiếp tổ chức thực hiện công tác chăm sóc giáo dục học sinh thông qua việc xây dựng và quản lý các trường tiểu học công lập
Trong phát triển GDTH, gia đình, cha mẹ học sinh, ban đại diện cha mẹ học sinh là lực lượng có nhu cầu, nguyện vọng, lợi ích trực tiếp cùng chia sẻ với nhà trường và cũng là lực lượng quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện đối với học sinh
- Tổ chức xã hội, các đoàn thể: Các tổ chức đoàn thể như Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam, Hội Cựu chiến binh, Hội Khuyến học, cùng các tổ chức xã hội dân sự khác như các tổ chức tôn giáo, tổ chức từ thiện … Cũng có thể tham gia tích cực vào các hoạt động XHH GDTH thông qua các hoạt động cụ thể như lập trường, đóng góp kinh phí hỗ trợ tài chính,
- Thị trường (doanh nghiệp): Các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ
tạo khả năng liên kết trong việc huy động các nguồn lực vật chất; Bản thân
Trang 32ngành giáo dục đào tạo cũng là một đối tượng để XHH giáo dục; Các tổ chức quốc tế, các cá nhân, đặc biệt là cá nhân có uy tín, thường có tài trợ về vật chất và tinh thần cho các trường công lập
và bảo hộ để các thành phần khác nhau của xã hội cung ứng Dịch vụ nào mà các thành phần kinh tế khác không tham gia hoặc chưa tham gia thì Nhà nước phải là người chịu trách nhiệm cung ứng dịch vụ đó, bảo đảm nguyên tắc công bằng cho mọi người dân Cho phép khu vực tư nhân tham gia cung ứng dịch vụ công cũng là một trong các giải pháp vận dụng cơ chế thị trường vào khu vực công, và điều đó đã được chứng minh là rất thích hợp cho việc nâng
Trang 33cao hiệu quả cung ứng dịch vụ công Ở đây, Nhà nước và tư nhân trở thành đối tác hợp tác thực sự trong kinh doanh
Ở phần lớn các nước trên thế giới tồn tại song song hai hệ thống giáo dục công lập và giáo dục ngoài công lập Sự phát triển hệ thống trường ngoài công lập đã tạo điều kiện cạnh tranh về chất lượng giảng dạy giữa hai hệ thống Các trường tư phải chịu sự quản lý của nhà nước về nội dung giảng dạy, bảo đảm theo một chương trình chuẩn, thống nhất Việc chuyển dần mô hình trường công lập sống nhờ bao cấp của nhà nước với sức ỳ quán tính sang định chế hội đồng quản trị tư doanh đã thúc đẩy tính năng động, sáng tạo và cạnh tranh của các cơ sở giáo dục
1.1.2.4 Vai trò của XHH giáo dục tiểu học
XHH giáo dục tiểu học không chỉ mang lại ý nghĩa thiết thực cho nhà nước mà còn mang lại lợi ích cho người học và toàn xã hội Vai trò của XHH GDTH được thể hiện trên các mặt chủ yếu sau:
Thứ nhất, XHH góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học
Huy động và quản lý tốt các nguồn lực trong XHHGD là xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, trong đó có sự phối hợp chặt chẽ giữa giáo dục trong nhà trường, giáo dục ở gia đình và giáo dục ngoài xã hội; làm cho mọi người, mọi tầng lớp, từ cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể, tổ chức, doanh nghiệp và mọi cá nhân nhận thức rõ vị trí, vai trò của giáo dục và trách nhiệm của mình đối với sự nghiệp giáo dục, góp phần phát huy hiệu quả quản lí nhà nước; tạo lập phong trào học tập rộng khắp trong xã hội, mọi người đều có ý thức và trách nhiệm đối với việc học, phát huy truyền thống tôn sư trọng đạo, hiếu học của dân tộc Việt Nam
Thứ hai, thông qua XHH huy động mọi nguồn lực trong phát triển giáo dục tiểu học
Thực hiện XHH GD, ngoài việc huy động vốn còn là việc huy động tối
đa nguồn lực cho giáo dục, cả về nhân lực, vật lực và tài lực, trong đó quan trọng là trí tuệ và tâm huyết của nhân dân vào sự nghiệp giáo dục Huy động
Trang 34tốt các nguồn lực từ cộng đồng trong việc tăng cường công tác XHH GDTH
có vai trò rất quan trọng Các lực lượng xã hội tham gia phát triển giáo dục phối hợp cùng với gia đình, nhà trường trong việc cụ thể hóa mục tiêu GDTH, tham gia thực hiện nội dung, chương trình, đổi mới phương pháp và hình thức GDTH; tham gia quản lý và nâng cao chất lượng GDTH, định hướng cho sự phát triển của GDTH nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội
Nhận thức đúng về huy động các nguồn lực từ cộng đồng giúp nâng cao trình độ dân trí và từ đó động viên tổ chức, cá nhân tự giác tham gia phát triển giáo dục và tự giáo dục theo chương trình nhà trường và xã hội định hướng Thông qua đó nhằm chuyển hóa giáo dục từ yêu cầu của xã hội đối với cá nhân thành nhu cầu học tập của tất cả mọi người, nhằm tạo môi trường giáo dục lành mạnh giúp học sinh phát triển toàn diện về mọi mặt, huy động các lực lượng tham gia giáo dục, huy động người học đến trường, giảm tỷ lệ học sinh lưu ban, bỏ học, làm cho mọi người có tâm lý sẵn sàng đi học, sẵn sàng đến trường
Huy động tốt các nguồn lực từ cộng đồng là tham gia xây dựng phát triển GDTH, quản lý, giám sát, đánh giá kết quả GDTH, từ đó khắc phục bệnh thành tích trong giáo dục, chấn chỉnh các hiện tượng tiêu cực trong giáo dục như đánh giá sai kết quả giáo dục, gian lận trong thi cử, tuyển sinh, vi phạm đạo đức nhà giáo
Thứ ba, XHH góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục tiểu học
Đẩy mạnh XHH GD sẽ giúp Nhà nước tháo gỡ những khó khăn trong phát triển GDTH ở các vùng nông thôn, vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa
Nâng cao trách nhiệm của toàn xã hội đối với sự nghiệp GDTH
Nền giáo dục của Việt Nam là nền giáo dục mang tính nhân dân, tính
dân tộc, tính khoa học hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa, giáo dục
không chỉ là phúc lợi mà còn là dịch vụ, mọi người được thừa hưởng giáo dục
Trang 35nhưng đồng thời đều phải có trách nhiệm tham gia đóng góp xây dựng phát triển giáo dục, quản lý giáo dục theo cơ chế quản lý của Nhà nước
XHH GD tuy là phong trào vận động nhân dân làm giáo dục, nhưng để đảm bảo tính bền vững của phong trào và đảm bảo cho phong trào luôn luôn phát triển đúng hướng thì phải được đặt dưới sự quản lý của Nhà nước Và muốn thực hiện quản lý Nhà nước thì nó phải được thể chế hoá, tức là làm cho sự tham gia của xã hội vào công tác giáo dục được thực hiện theo những quy định có tính pháp lí, đảm bảo dân chủ và công bằng
Các lực lượng xã hội có thể tham gia vào việc cải tiến nội dung và phương pháp giáo dục, tham gia xây dựng môi trường giáo dục trong sạch lành mạnh XHH GDTH sẽ tăng cường lực lượng của người dạy và học, phát triển yếu tố con người trong giáo dục, tạo thuận lợi cho việc tổ chức quá trình giáo dục của nhà trường
Như vậy, XHH GDTH là giải pháp quan trọng để thực hiện công bằng
xã hội trong phát triển GDTH thể hiện ở việc đa dạng hoá các hình thức học tập, các loại hình trường, lớp, mở rộng các cơ hội cho mọi thành phần kinh tế, mọi tầng lớp nhân dân chủ động và bình đẳng tham gia vào các hoạt động GDTH Công bằng xã hội trong hưởng thụ các dịch vụ chăm sóc, giáo dục, có
cơ hội học tập đầy đủ như nhau Ngoài ra nó còn thể hiện ở nghĩa vụ cống hiến cho GDTH theo khả năng thực hiện của từng người, từng cộng đồng và địa phương
1.1.3 Các nguyên tắc thực hiện xã hội hóa giáo dục tiểu học
Công tác XHH GDTH cần thực hiện tốt 9 nguyên tắc sau:
- Lợi ích: Mỗi hoạt động hợp tác, phối hợp đều phải xuất phát từ nhu cầu
và lợi ích của cả hai phía: nhà trường và cộng đồng, mỗi bên tham gia đều cần tìm thấy lợi ích chung của cá nhân, tập thể cũng như của cả dân tộc
- Chức năng nhiệm vụ: Nhà trường cũng như các lực lượng xã hội, các tổ
chức, đều có những chức năng và trách nhiệm riêng Để khai thác, phát huy, khuyến khích họ tham gia vào một hoạt động nào đó thì phải phát hiện và
Trang 36nhằm đúng chức năng, rách nhiệm của đối tác Ví dụ: Đối với cấp ủy và chính quyền địa phương thì nội dung huy động phải là chủ trương, văn bản chỉ đạo, hoặc đất xây dựng,
- Dân chủ: tạo môi trường công khai, bình đẳng để cộng đồng hiểu đúng
về giáo dục và nhà trường hơn, đồng thời góp phần thực hiện nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” các hoạt động XHH GD để mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội phát triển toàn diện và mang lại hiệu quả thiết thực
- Luật pháp: XHH GD phải tuân thủ pháp luật Nhà nước, có nghĩa là cần
dựa trên cơ sở pháp lý Ngược lại, các cơ quan đoàn thể, các tổ chức xã hội, cũng cần có những cơ sở pháp lý để triển khai cũng như để tham gia huy động nguồn lực cho giáo dục
- Phù hợp và thích ứng: Cán bộ quản lý giáo dục phải biết lựa chọn thời
gian thích hợp nhất để đưa ra một chủ trương XHH GD Tuy nhiên, để thực hiện nguyên tắc này là phải xây dựng cho được kế hoạch cụ thể và kế hoạch mang tính định hướng
- Truyền thống, tình cảm: là sự khơi dậy và phát huy truyền thống hiếu
học, tôn trọng đạo lý, đề cao sự học, đề cao giá trị của học vấn, của mỗi gia tộc, dòng họ; niềm tin của cá nhân vào sự nghiệp phát triển chung của giáo dục, của từng nhà trường để có thể huy động nhiều nguồn lực khác nhau chăm
lo cho sự nghiệp giáo dục đào tạo
- Kết hợp ngành - lãnh thổ: cần có sự phối hợp nhịp nhàng giữa địa
phương và ngành giáo dục, “nhà trường gắn liền với xã hội”
- Giao tiếp: Có hai con đường giao tiếp đó là con đường chính thức (các
văn bản, công văn, đề nghị ) và con đường không chính thức (thông qua nguyên tắc truyền thống và tình cảm)
- Kế hoạch hóa: kế hoạch hóa là một trong bốn chức năng quản lý và là
một chức năng mang tính chủ đạo trong quá trình quản lý của người Hiệu trưởng Kế hoạch XHH GD được xây dựng trên một số yếu tố sau: Mục tiêu
Trang 37của việc huy động xã hội; xác định đối tượng huy động; Kết quả dự kiến đối với từng đối tượng; thời gian thích hợp nhất; Nguyên tắc ưu tiên để sử dụng trong quá trình triển khai thực hiện HĐCĐ; Sự phân công một số thành viên trong chủ thể huy động; Chi tiết hóa kế hoạch và hệ thống giải pháp cụ thể
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới xã hội hóa giáo dục tiểu học
1.2.1 Sự thay đổi trong nhận thức của Đảng và Nhà nước về phát triển giáo dục
Công cuộc xã hội hóa phải bắt đầu từ việc thay đổi nhận thức, tư duy về việc cung cấp dịch vụ Trước đây, trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, với nhận thức là nhà nước phải đứng ra làm mọi việc theo kế hoạch (nhà nước chèo thuyền), sự tham gia của xã hội và người dân vào sự nghiệp giáo dục rất hạn chế Để huy động nguồn lực toàn xã hội, cần xác định phát triển giáo dục
là nhiệm vụ của toàn xã hội và không chỉ có nhà nước mới có thể làm mà cả tư nhân cũng có thể tham gia Chỉ khi đó nhà nước mới xây dựng cơ chế để khuyến khích và cho phép người dân và toàn xã hội tham gia vào sự nghiệp giáo dục
XHHGD là cuộc huy động toàn xã hội phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi nhân tố, mọi lực lượng xã hội Chỉ có Đảng mới có thể lãnh đạo toàn bộ
hệ thống chính trị, cơ cấu hành chính làm nên sức mạnh đó, vì vậy muốn quản lý tốt các nguồn lực trong XHHGD, phải xây dựng được những cơ chế phối hợp giữa các lực lượng và sự phối hợp đó phải được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Ngành giáo dục, Nhà trường giữ vai trò chủ động, trung tâm
và nòng cốt trong hệ thống các mối quan hệ phối hợp giữa các lực lượng xã hội cùng làm giáo dục
1.2.2 Nhận thức và khả năng của người dân trong xã hội hóa giáo dục
Với vai trò là chủ thể của quyền lực nhà nước, nhân dân có quyền tham
gia và quyết định các vấn đề quản lý nhà nước Bản chất Nhà nước ta là “Nhà
nước của dân do dân vì dân Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân"
(Điều 2 - Hiến pháp 2013), do vậy trong mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống
Trang 38xã hội đều đảm bảo nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”
“Công dân thực hiện quyền làm chủ của mình ở cơ sở bằng cách tham gia công việc của Nhà nước và xã hội” [10]
Thực hiện dân chủ hóa toàn bộ hoạt động giáo dục và quản lý giáo dục là bước đi quan trọng để đưa đến những thành tựu mới, tạo ra sức sống mới cho phát triển giáo dục Có thể nói, thực hiện dân chủ hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực căn bản của công cuộc đổi mới giáo dục Dân chủ hóa mọi hoạt động giáo dục sẽ làm cho mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân, của xã hội được phát huy tính tích cực, chủ động tham gia vào các hoạt động XHHGD theo hướng pháp quyền vì nhân dân, của nhân dân, do nhân dân và thực sự vì lợi ích của nhân dân
Tuy nhiên, hoạt động XHH giáo dục là huy động sức dân đóng góp vào việc phát triển sự nghiệp giáo dục, do đó cần tính tới khả năng của người dân, không chỉ xuất phát từ nhu cầu, mong muốn của nhà nước Chính vì vậy, tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, nơi còn khó khăn sẽ khó có thể huy động sức dân vào XHH Việc XHH thường được triển khai ở những địa bàn nơi đời sống của người dân đã được cải thiện như các thành phố lớn, khu vực đô thị,
… còn tại vùng khó khăn thì nhiệm vụ cung cấp dịch vụ giáo dục của nhà nước vẫn là chủ yếu
Do đó, huy động các nguồn lực trong XHHGD cần thực hiện công khai, dân chủ để nhân dân được biết, được bàn và tích cực tham gia với vai trò vừa
là chủ thể vừa là đối tượng hoạt động XHHGD, xây dựng một môi trường giáo dục lành mạnh, tạo động lực cho giáo dục phát triển
1.2.3 Ảnh hưởng từ hội nhập quốc tế
Xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ đổi mới Đại hội VIII nêu rõ: “Các vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hóa Nhà nước giữ vai trò nòng cốt đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức trong xã hội, các cá nhân và tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải
Trang 39quyết những vấn đề xã hội” Cùng với quá trình đổi mới tư duy về các lĩnh vực, Đảng ta đã có đổi mới tư duy về các lĩnh vực xã hội, giáo dục, văn hóa Hội nhập mang lại cho giáo dục Việt Nam nhiều cái lợi Trước hết nó đặt giáo dục Việt Nam trong bức tranh chung của giáo dục các nước trên thế giới,
để từ đó giáo dục Việt Nam nhận ra mình đang đứng ở đâu, hay dở chỗ nào Việc du nhập kinh nghiệm của các nền giáo dục phát triển không chỉ có tác dụng nêu gương mà còn tạo ra những “cú hích” cần thiết để phá vỡ những khuôn mẫu đã cũ kỹ, lạc hậu, từ triết lý giáo dục, nội dung chương trình đến phương pháp giảng dạy, tổ chức trường học… Những kinh nghiệm tiên tiến ấy
sẽ góp phần hiện đại hoá nền giáo dục Việt Nam, nối kết giáo dục Việt Nam với các nền giáo giáo dục trên thế giới, mở rộng tầm nhìn và bậc thang giá trị vượt ra biên giới quốc gia và dân tộc, hướng tới những chuẩn mực chung, có tính chất toàn nhân loại, từ đó đào tạo nên những con người không bị bó hẹp trong lối suy nghĩ cục bộ mà biết tư duy có tính chất toàn cầu, có tinh thần dân chủ, có khả năng hợp tác,có thể làm việc trong môi trường quốc tế
Quá trình hội nhập đã mang vào Việt Nam bức tranh hấp dẫn của các nền giáo dục tiên tiến Bức tranh ấy lôi cuốn các nhà quản lý giáo dục, làm cho họ thấy cần phải thay đổi giáo dục Việt Nam cho thật nhanh, thay đổi cùng một lúc tất cả Tuy nhiên học tập, bắt chước như thế nào nhất định phải dựa trên những điều kiện thực tế của Việt Nam Chúng ta đã nói rằng toàn cầu hóa là cơ hội, là xu thế tất yếu Trong bối cảnh đó một trong những cách ứng
xử khôn ngoan nhất là phải chủ động Chủ động lựa chọn những kinh nghiệm hay và phù hợp với thực tiễn của mình Nhiều khi cái chúng ta cần bắt chước không phải là cái mà các nước tiên tiến đang làm mà là những kinh nghiệm của họ trong quá khứ, những kinh nghiệm để đi lên từ một nền giáo dục còn lạc hậu đến một nền giáo dục có đẳng cấp quốc tế Đặc biệt chúng ta phải chủ động trong việc giữ gìn những giá trị đặc sắc của nền giáo dục dân tộc đã hình thành và phát triển hàng ngàn năm, từ đó giúp cho việc bồi dưỡng đạo đức và
Trang 40tâm hồn của thế hệ trẻ Cần phải nhận thức một cách sâu sắc rằng toàn cầu hóa trong kinh tế khác toàn cầu hóa trong văn hóa và giáo dục
Giáo dục Việt Nam đã có một truyền thống lâu đời dựa trên phương châm “Tiên học Lễ, hậu học Văn” Đó là một di sản quí báu Mỗi thời đại giải thích phương châm này theo cách của mình, nhưng cái chung nhất vẫn là đề cao những giá trị đạo đức, đề cao việc làm người Nếu chúng ta hiểu “ Tiên học Lễ” không phải là giáo dục sự phục tùng, chỉ biết vâng lời, mà là giáo dục lòng kính trọng đối với người khác, sự tôn trọng những giá trị tốt đẹp, giáo dục lòng hiếu thảo và vị tha, tinh thần nhân ái, ý thức về cộng đồng, thì phải xem đây là truyền thống tốt đẹp cần được phát huy trong thời đại toàn cầu hóa Để tồn tại trong thời đại toàn cầu hóa mỗi dân tộc cần phải có cái riêng của mình Sự đa dạng về văn hóa và giáo dục không chỉ có lợi cho việc bảo vệ bản sắc của mỗi dân tộc mà còn quan trọng với toàn nhân loại: thế giới sẽ trở nên nhạt nhẽo biết chừng nào nếu tất cả chỉ có một màu, mọi thứ đều giống nhau
Toàn cầu hóa là xu thế tất yếu và cũng là cơ hội để Việt Nam hội nhập,
để giáo dục Việt Nam làm bạn với giáo dục các nước trên thế giới Trên sân chơi quốc tế chúng ta vừa phải nhập cuộc, vừa phải tỉnh táo biết mình là ai, để không thu mình lại nhưng cũng không bắt chước, rập khuôn vội vã Làm thế nào để tiếp nhận và lớn lên qua làn sóng toàn cầu hóa Đó là thách thức đối với giáo dục Việt Nam, trước hết là với những người có trách nhiệm lãnh đạo, với các nhà quản lý giáo dục hiện nay
1.2.4 Các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khác
Khả năng thực hiện XHH giáo dục tiểu học còn phụ thuộc vào những yếu tố khác như đặc điểm tự nhiên và mức độ phát triển kinh tế - xã hội của các vùng miền Với những vùng dân cư thưa, phân bổ không đều và đời sống của người dân còn khó khăn (chủ yếu là các vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn), khả năng thực hiện XHH sẽ thấp hơn các khu vực đô thị, nơi thu nhập của người dân và trình độ dân trí cao hơn