Đề tài khảo sát thực trạng các mặt biểu hiện cảm nhận hạnh phúc của sinh viên Trường ĐHSP TP.HCM. Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc của sinh viên Trường ĐHSP TP.HCM. Từ đó đề xuất một số kiến nghị giúp tăng cường cảm nhận hạnh phúc cho sinh viên Trường ĐHSP TP.HCM.
Trang 1BỘ GIÁO D ỤC VÀ ĐÀO TẠ O TRƯỜNG ĐẠ I HỌC SƯ PHẠM TP H Ồ CHÍ MINH
KHOA TÂM LÝ HỌC
NGUYỄN THỊ HƯƠNG GIANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CẢM NHẬN HẠNH PHÚC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Tâm lý học
TP Hồ Chí Minh, năm 2019
Trang 2BỘ GIÁO D ỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠ I HỌC SƯ PHẠM TP H Ồ CHÍ MINH
KHOA TÂM LÝ HỌC
CẢM NHẬN HẠNH PHÚC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Người thực hiện: Nguyễn Thị Hương Giang
Người hướng dẫn khoa học: Th.S Nguyễn Đức Nhân
TP Hồ Chí Minh, năm 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các Thầy (cô) trong Khoa Tâm lý học - Trường ĐHSP TP.HCM đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp Tôi cũng xin trân thành cảm ơn Th.S Nguyễn Đức Nhân, người đã tận tình dành nhiều thời gian quý báu để giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình tiến hành nghiên cứu
và đóng góp những ý kiến quan trọng giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến những người bạn và người thân trong gia đình tôi, những người đã ủng hộ tôi về mặt tinh thần, giúp tôi có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Trong quá trình thực hiện đề tài của tôi còn nhiều thiếu sót, tôi kính mong nhận được sự bổ sung, đóng góp ý kiến quý giá của các Thầy (cô) giáo để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn Một lần nữa, tôi xin trân thành cảm ơn!
Sinh viên
Nguyễn Thị Hương Giang
Trang 4DANH MỤC VIẾT TẮT
1 Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh ĐHSP TP.HCM
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU DANH MỤC CÁC BẢNG
1 1.1 Biểu hiện của cảm nhận hạnh phúc 25
2 1.2 Biểu hiện cảm nhận hạnh phúc của sinh viên 34
9 2.7 Mức độ tương quan của các mặt biểu hiện cảm nhận
hạnh phúc của sinh viên Trường ĐHSP TP.HCM
56
Trang 6STT Bảng Tiêu đề Trang
10 2.8 Mức độ cảm nhận hạnh phúc xét theo giới tính của
11 2.9
Mức độ cảm nhận hạnh phúc của sinh viên sư phạm và sinh viên ngoài sư phạm của Trường ĐHSP TP.HCM
60
12 2.10 Mức độ cảm nhận hạnh phúc của sinh viên năm 1
và sinh viên năm 4 của Trường ĐHSP TP.HCM 61
13 2.11 Các yếu tố ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc của
14 2.12 Các yếu tố ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc của
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Giới hạn nghiên cứu 3
5 Giả thuyết nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 4
6.1.Phương pháp nghiên cứu lý luận 4
6.2.Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 4
6.2.1.Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 4
6.2.2 Phương pháp phỏng vấn 5
6.2.2.Phương pháp thống kê toán học 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẢM NHẬN HẠNH PHÚC CỦA SINH VIÊN 6
1.1 Lịch sử nghiên cứu liên quan đến cảm nhận hạnh phúc 6
1.1.1 Lịch sử các nghiên cứu ở nước ngoài 6
1.1.2 Lịch sử các nghiên cứu ở trong nước 10
Trang 81.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản về cảm nhận hạnh phúc 13
1.2.1 Lý luận về cảm nhận hạnh phúc 13
1.2.1.1.Khái niệm về hạnh phúc 13
1.2.1.2.Một số quan điểm về cảm nhận hạnh phúc 16
1.2.1.3.Khái niệm về cảm nhận hạnh phúc 20
1.2.1.4.Cấu trúc của cảm nhận hạnh phúc 23
1.2.1.5.Biểu hiện của cảm nhận hạnh phúc 25
1.2.1.6.Một số yếu tố ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc 27
1.2.2 Lý luận về cảm nhận hạnh phúc của sinh viên 32
1.2.2.1.Khái niệm về sinh viên 32
1.2.2.2.Đặc điểm tâm lý lứa tuổi sinh viên 32
1.2.2.3.Khái niệm cảm nhận hạnh phúc của sinh viên 33
1.2.2.4.Cấu trúc cảm nhận hạnh phúc của sinh viên 33
1.2.2.5.Biểu hiện cảm nhận hạnh phúc của sinh viên 34
1.2.2.6.Một số yếu tố ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc của sinh viên 37
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CẢM NHẬN HẠNH PHÚC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐHSP TP.HCM 39
2.1 Tổ chức nghiên cứu thực trạng 39
2.1.1 Mục đích nghiên cứu 39
2.1.2 Khách thể nghiên cứu 39
2.1.3 Tiến trình nghiên cứu 40
Trang 92.1.4 Phương pháp nghiên cứu 40
2.1.4.1.Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 40
2.1.4.2.Phương pháp phỏng vấn sâu 41
2.1.4.3.Phương pháp thống kê 42
2.1.5 Công cụ nghiên cứu 42
2.1.5.1.Thang đo cảm nhận hạnh phúc của C.L Keyes 42
2.1.5.2.Thang đánh giá mức độ ảnh hưởng một số yếu tố đến cảm nhận hạnh phúc 45
2.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng 46
2.2.1 Thực trạng cảm nhận hạnh phúc của sinh viên Trường ĐHSP TP.HCM 46
2.2.1.1.Cảm nhận hạnh phúc về mặt cảm xúc 48
2.2.1.2.Cảm nhận hạnh phúc về mặt xã hội 50
2.2.1.3.Cảm nhận hạnh phúc về mặt tâm lý 53
2.2.1.5.So sánh cảm nhận hạnh phúc của nam và nữ sinh viên 59
2.2.1.6.So sánh cảm nhận hạnh phúc của sinh viên giữa các ngành học 60
2.2.1.7.So sánh cảm nhận hạnh phúc giữa sinh viên năm 1 và năm 4 61
2.2.2.Ảnh hưởng của một số yếu tố đến cảm nhận hạnh phúc của sinh viên 62 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 65
1 Kết luận 65
1.1 Kết quả nghiên cứu lý luận 65
Trang 101.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng 65
2 Kiến nghị 66
2.1 Đối với sinh viên 66
2.2 Đối với nhà trường 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên
bố với đồng bào cả nước và với toàn thế giới: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do (Hồ Chí Minh, 2009) Cũng từ đó, trên các văn bản hành chính của nước ta hơn bảy mươi năm qua, đi liền với quốc hiệu luôn là tiêu ngữ “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”
Từ thời cổ đại, con người đã tìm hiểu và cố gắng làm rõ định nghĩa về hạnh phúc Nhà triết học cổ đại Hy Lạp Aristotle đề cập tới hạnh phúc thông qua từ
“eudaimonia” – ám chỉ ý niệm giá trị Ông tìm hiểu kiểu sống để đáp ứng được các sở thích của con người hoặc làm cho con người sung sướng hơn(Haybron, 2013) Tuy nhiên trong một thời gian dài “Hạnh phúc” lại không được quan tâm nghiên cứu dẫn đến những tình trạng hơn 25% người Mỹ bị rối loạn tâm lý ít nhất một lần trong đời Hơn ba mươi nghìn người ở Mỹ tìm đến cái chết hằng năm Tỉ
lệ bệnh trầm cảm ở mức độ nghiêm trọng đang tăng lên nhanh chóng ở Mỹ và hầu hết các nước phát triển Những căn bệnh liên quan đến tinh thần ở các nước phát triển đang lan rộng ra các nước đang phát triển Bệnh trầm cảm có nguy cơ xảy ra đối với thanh niên cao hơn ba lần so với mười năm trước và trở thành bệnh dịch của thế kỉ (Klein, 2006)
Trang 12Ở Việt Nam, những bệnh tinh thần cũng ngày một gia tăng nhất là ở độ tuổi thanh niên Theo kết quả nghiên cứu “Thực trạng rối loạn lo âu của sinh viên một
số trường Sư phạm tại thành phố Hồ Chí Minh” năm 2015 thì có 110 sinh viên có dấu hiệu rối loạn từ nhẹ đến nặng trong đó mức độ trung bình chiếm khoảng 50% trong tổng số 650 sinh viên thực hiện khảo sát Có thể thấy sinh viên sư phạm có các biểu hiện rối loạn lo âu về mặt sinh lý ở mức độ thỉnh thoảng và có tần số xuất hiện không giống nhau, nhưng những biểu hiện này không được nhận biết kịp thời
để có tác động phù hợp thì sẽ ảnh hưởng đến tinh thần học tập và chất lượng cuộc sống của sinh viên (Trần Thị Thu Mai & Nguyễn Ngọc Duy, 2015)
Không phải tất cả những ai không hạnh phúc đều bị bệnh tinh thần Nhưng những nghiên cứu gần đây cho thấy trạng thái buồn chán có quan hệ chặt chẽ với trầm cảm hơn những quan niệm suốt một thời gian dài trước đây (Klein, 2014) Nhưng những bệnh liên quan đến tinh thần cho chúng ta thấy cần có một nền văn hóa hạnh phúc Chính phủ nước ta cũng đã quan tâm đến đề tài hạnh phúc cụ thể trong Quyết định số 2589/QĐ-TTg đã phê duyệt đề án “Tổ chức các hoạt động nhân ngày Quốc tế Hạnh phúc 20 tháng 3 hằng năm” với mục tiêu nâng cao nhận thức của các cấp, ngành, tổ chức, cá nhân, gia đình, toàn xã hội về ngày Quốc tế Hạnh phúc 20 tháng 3, từ đó có hành động cụ thể, thiết thực xây dựng gia đình hạnh phúc, cộng đồng hạnh phúc của Việt Nam (Chính phủ, 2013)
Vì vậy, việc nghiên cứu cảm nhận hạnh phúc và những yếu tố ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc thực sự cần thiết Tuy nhiên, cho đến nay đề tài cảm nhận hạnh phúc được rất ít các tác giả ở Việt Nam quan tâm Từ những lý do trên đề tài
“Cảm nhận hạnh phúc của sinh viên Trường ĐHSP TP.HCM” được xác lập
nhằm làm phong phú và có cái nhìn đa diện hơn về hạnh phúc
Trang 132 Mục đích nghiên cứu
Khảo sát thực trạng các mặt biểu hiện cảm nhận hạnh phúc của sinh viên Trường ĐHSP TP.HCM Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc của sinh viên Trường ĐHSP TP.HCM Từ đó đề xuất một số kiến nghị giúp tăng cường cảm nhận hạnh phúc cho sinh viên Trường ĐHSP TP.HCM
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở lý luận cảm nhận hạnh phúc của sinh viên: lịch
sử nghiên cứu đề tài; xây dựng những khái niệm cơ bản như khái niệm hạnh phúc, cảm nhận hạnh phúc
Khảo sát thực trạng cảm nhận hạnh phúc của sinh viên Trường ĐHSP TP.HCM Đề xuất một số kiến nghị nhằm tăng cường cảm nhận hạnh phúc cho sinh viên Trường ĐHSP TP.HCM hiện nay
4 Giới hạn nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung khảo sát các mặt biểu hiện cảm nhận hạnh phúc và mức
độ biểu hiện cảm nhận hạnh phúc của sinh viên Trường ĐHSP TP.HCM
Trong đó, các mặt biểu hiện cảm nhận hạnh phúc được phân loại theo hai khía cạnh: (1) Khía cạnh cảm xúc: Cảm nhận hạnh phúc về mặt cảm xúc; (2) Khía cạnh nhận thức: Cảm nhận hạnh phúc về mặt xã hội và cảm nhận hạnh phúc về mặt tâm lý
Đề tài tiến hành nghiên cứu trên 200 sinh viên Trường ĐHSP TP.HCM
Trang 145 Giả thuyết nghiên cứu
Các mặt biểu hiện cảm nhận hạnh phúc của sinh viên có sự tương quan với nhau và biểu hiện ở mức khác nhau
Có sự khác biệt ý nghĩa về mặt thống kê trong mức độ cảm nhận hạnh phúc theo giới tính (nam và nữ), khối ngành (sư phạm và ngoài sư phạm) và năm học (năm 1 và năm 4)
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc của sinh viên
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Mục đích: phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tri thức lý luận và thực
tiễn có liên quan đến khái niệm hạnh phúc, cảm nhận hạnh phúc, cảm nhận hạnh phúc chủ quan và một số đặc điểm tâm lý sinh viên có liên quan đến cảm nhận hạnh phúc
Cách thực hiện: phân tích, tổng hợp kết quả các công trình nghiên cứu, tài
liệu, các bài viết… có liên quan đến hạnh phúc, cảm nhận hạnh phúc của sinh viên… trên cơ sở đó hệ thống hóa những vấn đề lý luận tâm lý học về cảm nhận hạnh phúc của sinh viên Trường ĐHSP TP.HCM
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Mục đích: khảo sát thực trạng cảm nhận hạnh phúc của sinh viên Trường
ĐHSP TP.HCM, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc của sinh viên Trường ĐHSP TP.HCM
Trang 15Cách thực hiện: nêu mục đích, yêu cầu, ý nghĩa của phiếu điều tra và hướng
dẫn sinh viên cách thức thực hiện Sau khi sinh viên trả lời các câu hỏi trong phiếu điều tra xong thì tiến hành thu lại phiếu
6.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Mục đích: thu thập thêm thông tin để bổ trợ cho phương pháp điều trả bằng
bảng hỏi
Cách thực hiện: đưa ra những câu hỏi mở là những câu hỏi tìm hiểu về
cuộc sống của sinh viên nói chung và đánh giá của họ Bên cạnh đó trao đổi một
số trải nghiệm cụ thể của sinh viên để thấy được rõ hơn biểu hiện các mặt cảm nhận phúc của sinh viên Khi sử dụng phương pháp này, người phỏng vấn cố gắng tạo được sự ủng hộ và sự tin cậy của sinh viên Nội dung phỏng vấn được chuẩn
bị chi tiết rõ rang theo từng nội dung vấn đề cần nghiên cứu
6.2.2 Phương pháp thống kê toán học
Mục đích: mã hóa và xử lý các thông số cần dùng trong đề tài nghiên cứu Cách thực hiện: sử dụng chương trình SPSS để sử lý các thông số sau: tần
số, tỷ lệ phần trăm, điểm trung bình, độ lệch chuẩn, kiểm nghiệm T- test và tương quan Pearson
Trang 16CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẢM NHẬN
HẠNH PHÚC CỦA SINH VIÊN 1.1 Lịch sử nghiên cứu liên quan đến cảm nhận hạnh phúc
1.1.1 Lịch sử các nghiên cứu ở nước ngoài
Từ cuối thế kỉ 20, môn khoa học về hạnh phúc bắt đầu phát triển nhanh chóng ở phương Tây Lý giải đầu tiên cho sự phát triển về khoa học hạnh phúc là người dân ở các quốc gia phương Tây đã đạt được một mức độ phong phú vật chất
và sức khỏe cho phép họ vượt ra ngoài sự tồn tại chỉ trong việc tìm kiếm cuộc sống tốt đẹp Mọi người đang bước vào một thế giới “hậu vật chất”, trong đó con người quan tâm đến các vấn đề về chất lượng cuộc sống hơn sự thịnh vượng kinh tế Thứ hai là vì ở phương Tây đặc biệt dân chủ - tôn trọng những gì mọi người suy nghĩ và cảm nhận về cuộc sống của họ Mọi người không bằng lòng để các chuyên gia đánh giá cuộc sống của họ; họ tin rằng ý kiến của họ quan trọng Ngoài ra, người phương Tây rất quan tâm đến cảm xúc và niềm tin của chính họ Do đó, việc nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc ở phương Tây phát triển sớm Các nhà nghiên cứu đã thành công trong việc phát triển các phương pháp khoa học để nghiên cứu cảm nhận hạnh phúc Vì những lý do này, nghiên cứu khoa học về cảm nhận hạnh phúc đã phát triển thành một ngành học thuật và áp dụng chính từ đầu thế kỉ 21 ở phương Tây (Diener, Lucas, & Oishi, 2002)
Năm 2010, tác giả Vanessa González Herero thực hiện nghiên cứu “Hoạt động thường ngày là yếu tố trung gian giữa nhân cách và hạnh phúc chủ quan của người lớn tuổi” Mục đích của nghiên cứu này là xem xét vai trò trung gian của việc tham gia vào các hoạt động đời sống hàng ngày đến mối quan hệ giữa các yếu
tố tác động đến nhân cách như lòng tự trọng, sự lạc quan và cảm nhận hạnh phúc chủ quan ở người lớn tuổi Tây Ban Nha Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên
Trang 17250 khách thể (150 người về hưu và 100 công nhân) từ tuổi trung niên đến tuổi nghỉ hưu Công cụ nghiên cứu của đề tài là các thang đo như sau: “thang đo Rosenberg”, “thang đo lạc quan”, “thang đo ảnh hưởng tích cực và tiêu cực”,
“thang đo về sự hài lòng với cuộc sống” và tần suất tham gia của họ vào cuộc sống hàng ngày các hoạt động (hoạt động xã hội, sử dụng truyền thông đại chúng, xây dựng kiến thức, hoạt động gia đình và sở thích, hoạt động sáng tạo, hoạt động bên ngoài nhà, các hoạt động dịch vụ cộng đồng và vui chơi) Kết quả cho thấy các hoạt động xã hội là biến trung gian trong mối quan hệ giữa các biến nhân cách
(lòng tự trọng và sự lạc quan) và hạnh phúc chủ quan (Herero & Extremera, 2010)
Năm 2011, Tác giả Junghyun Kim và Jong-Eun Roselyn Lee thực hiện nghiên cứu “Con đường hạnh phúc của Facebook: Ảnh hưởng của số lượng bạn
bè trên Facebook vả sự tự thể hiện đến cảm nhận hạnh phúc” Nghiên cứu này điều tra xem liệu Facebook có làm tăng cảm nhận hạnh phúc của người dùng ở độ tuổi đại học hay không bằng cách tập trung vào số lượng bạn bè trên Facebook và sự
tự thể hiện bản thân Một phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính được xây dựng theo khảo sát cắt ngang của người dùng Facebook là sinh viên đại học (N = 391) cho thấy số lượng bạn bè trên Facebook có mối liên hệ tích cực với cảm nhận hạnh phúc Ngoài ra, nghiên cứu cho thấy có tương quan phi tuyến (đường cong hình chữ U ngược) giữa bạn bè trên Facebook và nhận được hỗ trợ xã hội Nghiên cứu cho thấy số lượng bạn bè trên Facebook và tự thể hiện tích cực có thể nâng cao sức khỏe chủ quan của người dùng (Kim & Lee, 2011)
Năm 2012, nhóm tác giả Tayfun Doğan, Fatma Sapmaz, Fatma Dilek Tel, Seda Sapmaz, Selin Temizel thực hiện nghiên cứu “Ý nghĩa cuộc sống và cảm nhận hạnh phúc của sinh viên đại học Thổ Nhĩ Kỳ” Mục đích của nghiên cứu này
là điều tra các mối quan hệ giữa ý nghĩa trong cuộc sống và cảm nhận hạnh phúc Mẫu nghiên cứu bao gồm 232 sinh viên đại học (171 nữ và 61 nam) từ Đại học
Trang 18Sakarya Nghiên cứu sử dụng thang đo “Sự hài lòng với cuộc sống”, thang đo “ảnh hưởng tích cực - tiêu cực” và bảng hỏi “ý nghĩa của cuộc sống” để thu thập dữ liệu Trong phân tích dữ liệu, các hệ số tương quan Pearson và phân tích hồi quy bội được sử dụng Các phát hiện cho thấy rằng sự hiện diện của ý nghĩa trong cuộc sống và tìm kiếm ý nghĩa trong cuộc sống dự đoán đáng kể sức khỏe chủ quan (Doğan, Sapmaz, Tel, Sapmaz, & Temizel, 2012)
Năm 2013, tác giả Betsey Stevenson và Justin Wolfers thực hiện nghiên cứu
về mối quan hệ giữa cảm nhận hạnh phúc và thu nhập Nhiều học giả đã lập luận rằng một khi "nhu cầu cơ bản" đã được đáp ứng, thu nhập tăng thêm không liên quan đến sự gia tăng hơn nữa về sức khỏe chủ quan Betsey Stevenson và Justin Wolfers đánh giá tính chính xác của lập luận này khi so sánh nước giàu và người nghèo, người giàu và người nghèo trong một quốc gia Phân tích nhiều bộ dữ liệu, nhiều định nghĩa về "nhu cầu cơ bản" và nhiều câu hỏi về hạnh phúc, tác giả không tìm thấy sự hỗ trợ nào cho lập luận trên Theo nghiên cứu này, mối quan hệ giữa hạnh phúc và thu nhập gần như là tuyến tính và không giảm khi thu nhập tăng (Stevenson & Wolfers, 2013)
Năm 2014, nhóm tác giả Fredrik Carlsson, Elina Lampi, Wanxin Li và Peter Martinsson thực hiện nghiên cứu “Cảm nhận hạnh phúc giữa trẻ vị thành niên và cha mẹ của chúng” Nghiên cứu cho thấy rằng mức độ cảm nhận hạnh phúc của cha mẹ và con cái họ thực sự có mối tương quan đáng kể, tuy nhiên các yếu tố ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc của họ là khác nhau Các yếu tố về thu nhập, học vấn, sức khỏe và không bị ly dị ảnh hưởng đến mức độ cảm nhận hạnh phúc ở các bậc cha mẹ Thay vào đó, cảm nhận hạnh phúc của trẻ vị thành niên được xác định bởi các loại tương tác khác nhau với bạn bè và cha mẹ, trong đó có bị bắt nạt hay không là một trong những yếu tố quan trọng nhất (Carlsson, ElinaLampi, Li, & Martinsson, 2014)
Trang 19Năm 2015, Carmen Stoica đã nghiên cứu về ảnh hưởng của giấc ngủ đến cảm nhận hạnh phúc chủ quan Kết quả của nghiên cứu đã cho thấy cảm nhận hạnh phúc không chỉ là một sản phẩm của các yếu tố tình huống mà còn dựa một phần vào nhịp sinh học cơ bản Nghiên cứu được thực hiện để kiểm tra các thành tố của cảm nhận hạnh phúc bị ảnh hưởng bởi giấc ngủ Những khách thể nghiên cứu tự đánh giá các thông số về giấc ngủ, tâm trạng, sự hài lòng về nhận thức và sự tỉnh táo được đánh giá bởi những người tham gia trong khoảng thời gian 14 ngày liên tiếp Tác giả kết luận rằng tâm trạng bị ảnh hưởng bởi mức độ nghỉ ngơi trước khi thức dậy là một yếu tố dự báo có ý nghĩa thống kê ở mức độ biểu thị tầm quan trọng của chất lượng giấc ngủ đối với sức khỏe hằng ngày (Stoica, 2015)
Năm 2016, Seydi Ahmet Satici thực hiện nghiên cứu “Lỗ hổng tâm lý, khả năng phục hồi và cảm nhận hạnh phúc: Vai trò trung gian của hy vọng” Nghiên cứu xem xét vai trò trung gian của hy vọng về mối liên hệ giữa tính dễ bị tổn thương về tâm lý, khả năng phục hồi và cảm nhận hạnh phúc Khách thể bao gồm
332 sinh viên đại học (195 nữ và 137 nam) từ hai trường đại học ở Thổ Nhĩ Kỳ Dữ liệu được thu thập bằng thang đo “tổn thương tâm lý”, thang đo ‘khả năng phục hồi (bảng ngắn)”, thang đo “hy vọng”, thang đo “mức độ hài lòng với cuộc sống”
và bảng hỏi “ảnh hưởng tích cực và tiêu cực” Mô hình cấu trúc tuyến tính cho kết quả rằng hy vọng là yếu tố trung gian tác động của khả năng phục hồi đối với cảm nhận hạnh phúc và hy vọng cũng là yếu tố trung gian tác động của tổn thương tâm
Trang 20độ tuổi trung bình là 19.06 (với độ lệch chuẩn là 1.12) đã trả lời các câu hỏi ẩn danh liên quan đến việc sử dụng mạng xã hội, sự đố kị và cảm nhận hạnh phúc Kết quả cho thấy mối liên quan giữa việc sử dụng mạng xã hội một cách tiêu cực và cảm nhận hạnh phúc ở mức độ thấp đã bị ảnh hưởng bởi yếu tố trung gian là sự
đố kị Hơn nữa, yếu tố trung gian của sự đố kị bị phụ thuộc bởi giới tính, sự đố kị cao hơn ở nữ giới (Ding, Zhang, Wei, Huange, & Zhou, 2017)
Những nghiên cứu liên quan đến “Cảm nhận hạnh phúc” ngày càng được quan tâm trên thế giới với nhiều góc tiếp cận khác nhau Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc (thu nhập, chất lượng cuộc sống, …) được thực hiện lại nhằm kiểm chứng độ tin cậy của những nghiên cứu trước Ngoài ra, những nhà nghiên cứu còn quan tâm đến những yếu tố trung gian tác động đến cảm nhận hạnh phúc Với khách thể là sinh viên, yếu tố liên quan đến mạng xã hội thường được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Có thể nói, lý do các nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc được quan tâm là nhằm cải thiện mức
độ cảm nhận hạnh phúc của con người
1.1.2 Lịch sử các nghiên cứu ở trong nước
Ở Việt Nam, đề tài “Cảm nhận hạnh phúc chủ quan của người nông dân” của tác giả Phan Thị Mai Hương đăng trong tạp chí Tâm lý học số 8 năm 2014 là nghiên cứu đầu tiên về chủ đề cảm nhận hạnh phúc tại Việt Nam Trong nghiên cứu này, tác giả đã tiến hành khảo sát 427 đại diện gia đình hộ nông dân ở Hưng Yên, Sơn La, Bình Định và Thái Nguyên Tác giả Phan Thị Mai Hương đã rút ra một số kết luận: “Nhìn chung người nông dân khá hài lòng với cuộc sống của mình Bên cạnh đó, công việc và đời sống vật chất của gia đình là hai yếu tố chi phối mạnh nhất đến mức độ hài lòng với cuộc sống nói chung của họ Cuối cùng, mức độ hài lòng chung có kết quả tương quan với thu nhập có ý nghĩa về mặt
Trang 21thống kê nhưng không cao Kết quả đã gợi ý những điểm cần chú ý cải thiện để người nông dân sống cuộc sống hạnh phúc hơn.” (Phan Thị Mai Hương, 2014)
Tác giả Phan Thị Mai Hương tiếp tục tìm hiểu sâu hơn với đề tài “Quan hệ giữa cảm nhận hạnh phúc chủ quan và nỗ lực sống của người nông dân” đăng trong tạp chí tâm lý học số 11 năm 2014 Kết quả của đề tài cho thấy: “Sự hài lòng cuộc sống có tương quan thuận, có ý nghĩa về mặt thống kê với nỗ lực, cố gắng của người nông dân và chủ yếu có tương quan với nỗ lực tư duy hơn là với nỗ lực hành động hay kiên trì Càng nỗ lực, cố gắng trong tư duy người dân càng cảm thấy hạnh phúc và ngược lại, người ít nỗ lực về mặt tư duy thì cũng cảm thấy mình
ít hài lòng với cuộc sống hơn Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, thu nhập là yếu
tố trung gian trong mối quan hệ nhân quả của nỗ lực sống với cảm nhận hạnh phúc của người nông dân Nỗ lực của người nông dân nếu được đền đáp bằng kết quả
cụ thể sẽ làm họ hạnh phúc hơn, hài lòng với cuộc sống của mình hơn” (Phan Thị Mai Hương, 2014)
Năm 2015, tác giả Trương Thị Khánh Hà nghiên cứu “Thích ứng thang đo hạnh phúc chủ quan dành cho vị thành niên”, đăng trên Tạp chí Tâm lý học số 5 năm 2015 Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng thang Phổ sức khoẻ tinh thần bản rút gọn (Mental Health Continuum – Short Form), thực hiện trên mẫu 861 khách thể trong độ tuổi từ 15 – 18 tuổi ở Huế, Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Sau quá trình tiến hành thích ứng thang đo, tác giả đi đến kết luận: “Thang đo hạnh phúc chủ quan Mental Health Continuum – Short Form (MHC-SF) phiên bản tiếng Việt có thể sử dụng trong nghiên cứu mức độ hạnh phúc của thanh niên Việt Nam Thang đo có độ tin cậy cao gồm cấu trúc 3 nhân tố: cảm xúc, tâm lý, xã hội.” (Trương Thị Khánh Hà, 2015)
Trang 22Cũng trong năm 2015, tác giả Hoàng Thị Trang đã nghiên cứu đề tài “Cảm nhận hạnh phúc sinh viên” rút ra một số kết luận: “Đa số sinh viên có cảm nhận hạnh phúc ở mức trung bình Cảm nhận hạnh phúc của sinh viên có sự chênh lệch giữa các mặt biểu hiện, cụ thể cảm nhận hạnh phúc về mặt tâm lý của sinh viên là cao nhất và cảm nhận hạnh phúc về mặt xã hội là thấp nhất So sánh giữa các nhóm cho thấy giới tính không có sự khác biệt trong việc cảm nhận hạnh phúc Sinh viên
ở nhóm tuổi từ 32 – 52 có mức cảm nhận hạnh phúc chung và cảm nhận hạnh phúc
về ba mặt cảm xúc, tâm lý, xã hội ở mức cao nhất và ở mức thấp nhất là sinh viên nhóm tuổi từ 21-23.” (Hoàng Thị Trang, 2015)
Hai tác giả Nguyễn Văn Lượt và Bùi Thị Thu Hà đã có bài viết “Mối liên
hệ giữa tự đánh giá và cảm nhận về hạnh phúc của sinh viên” in trong Tạp chí Tâm
lý học số 5 năm 2016 Kết luận của nhóm tác giả thu được như sau: “Sinh viên có mức độ cảm nhận hạnh phúc chung và cảm nhận hạnh phúc riêng ở từng mặt đạt mức độ trung bình Cảm nhận hạnh phúc về mặt cảm xúc có mức độ cao nhất, sau
đó đến cảm nhận hạnh phúc về mặt xã hội và thấp nhất là cảm nhận hạnh phúc về mặt tâm lý Nhìn chung, cảm nhận hạnh phúc chung của sinh viên có mối tương quan thuận, ở mức độ rất mạnh với từng mặt cảm nhận hạnh phúc riêng của sinh viên, giữa các mặt cảm nhận hạnh phúc của sinh viên có mối tương quan thuận, ở mức độ mạnh với nhau Các mối tương quan này đều có ý nghĩa về mặt thống kê.”(Nguyễn Văn Lượt & Bùi Thị Thu Hà, 2016)
Năm 2017, vẫn là đối tượng nghiên cứu cảm nhận hạnh phúc với khách thể
là sinh viên tiếp tục được nghiên cứu với đề tài “Ảnh hưởng của tiêu điểm kiểm soát đến cảm nhận hạnh phúc của sinh viên” của tác giả Đặng Hoàng Ngân Kết quả nghiên cứu trên 515 sinh viên trong khuôn khổ luận án này khẳng định tiêu điểm kiểm soát bên ngoài thúc đẩy stress, từ đó làm giảm cảm nhận hạnh phúc tâm lý Tính cá nhân, cộng đồng không tác động lên khả năng ảnh hưởng của tiêu
Trang 23điểm kiểm soát đến cảm nhận hạnh phúc, nhưng lại giữ vai trò trung gian trong ảnh hưởng của tiêu điểm kiểm soát đến cảm nhận hài lòng Tiêu điểm kiểm soát bên trong thúc đẩy tính cá nhân bình đẳng, từ đó khiến con người hài lòng hơn với cuộc sống Ảnh hưởng của tiêu điểm kiểm soát bên ngoài theo hướng làm giảm cảm nhận hạnh phúc cần được quan tâm hơn ở một số nhóm được giả định là dễ tổn thương hơn, như nữ giới, người lớn lên chủ yếu tại nông thôn (Đặng Hoàng Ngân, 2015)
Những nghiên cứu trên cho thấy “Cảm nhận hạnh phúc” đã và đang được quan tâm nghiên cứu ở Việt Nam Kết quả có được từ các tác giả cho thấy mức độ
“Cảm nhận hạnh phúc” ở các đối tượng khách thể khác nhau (sinh viên, người nông dân, thiếu niên, ) thông qua các thang đo đều ở mức trung bình Tuy nhiên, đối với khách thể là sinh viên, các đề tài trên mới tập trung vào nghiên cứu sinh viên nói chung mà chưa đi vào từng nhóm sinh viên có ngành nghề đặc thù, cụ thể
là sinh viên Sư phạm – các cá nhân sẽ gắn bó với nghề giáo viên tương lai Giáo viên là những người trực tiếp giáo dục – đào tạo thế hệ tương lai Vì vậy, đề tài và các kết quả có được từ đề tài lần này góp phần làm sâu sắc hơn bức tranh về cảm nhận hạnh phúc trên các nhóm khách thể nghiên cứu khác nhau
số quan điểm nổi trội như sau:
Theo triết gia Hy Lạp cổ đại Epicurus: “Hạnh phúc là mục đích tối hậu của đời sống loài người Sự yên bình và hợp lẽ phải là nền tảng của hạnh phúc” Theo
Trang 24triết gia Aristote: “Hạnh phúc là ý nghĩa và mục đích của cuộc đời, là mục tiêu cũng là giới hạn tận cùng của sự tồn tại người” Theo triết gia người Anh John Stuart Mill: “Hạnh phúc là sự giới hạn dục vọng hơn là thỏa mãn dục vọng” Theo triết gia La Mã Lucrece: “Tạo hóa đã an bài hạnh phúc vừa đúng mức cho mọi người Chỉ cần biết lựa chọn nó mà thôi” Theo triết gia Heraclite: “Nếu hạnh phúc thật sự nằm ở khoái cảm của cơ thể, thì ta có thể nói rằng con bò có hạnh phúc thực sự khi nó gặm cỏ khô” Theo chính trị gia người Pháp De Tocqueville: “Chấp nhận sự bất hạnh có lẽ còn ít đau khổ hơn là sự mưu cầu hạnh phúc” Theo triết gia người pháp Deni Diderot: “Người hạnh phúc nhất là kẻ đã tạo được hạnh phúc cho nhiều người khác” Theo Abraham Licoln: “Chúng ta hạnh phúc vì tâm can ta cảm thấy vậy” (Hồ Sĩ Quý, 2007)
Trong quyển sách “Happier”, Tal Ben Shahar định nghĩa: “hạnh phúc là trải nghiệm niềm vui và ý nghĩa trọn vẹn” Tal Ben Shahar chỉ ra 2 yếu tố tạo nên hạnh phúc là: niềm vui và ý nghĩa Niềm vui là trải nghiệm những cảm xúc tích cực trước mắt, những lợi ích hiện tại và tiến tới mục tiêu cuối cùng là đạt được lợi ích trong tương lai qua những việc làm trong hiện tại Định nghĩa của ông dựa trên tư tưởng của Freud và Frankl Với Freud, niềm vui của con người xuất phát từ nhu cầu thuộc bản năng Còn Frankl cho rằng chúng ta được thúc đẩy bởi quyết tâm đạt mục tiêu của cuộc đời hơn là quyết tâm có được niềm vui Theo Frankl “đấu tranh để tìm ra ý nghĩa của cuộc đời là động lực thúc đẩy cao nhất của con người” Theo Tal Ben Shahar muốn có cuộc sống hạnh phúc trọn vẹn phải vừa có được cảm giác mãn nguyện với quyết tâm có được niềm vui trong hiện tại và quyết tâm đạt được mục tiêu trong cuộc đời (Ben-Shahar, 2007)
Nhà tâm lý học Martin Seligman – cha đẻ của Tâm lý học tích cực định nghĩa: “Hạnh phúc là sự kết hợp của một cuộc sống gắn với niềm vui, một cuộc sống có sự tham gia và một cuộc sống có ý nghĩa” Theo Martin Seligman có 5
Trang 25yếu tố cần thiết để hạnh phúc, năm yếu tố này hoàn toàn độc lập với nhau, mỗi yếu tố có một mục đích, mục tiêu riêng, lợi ích riêng của nó Yếu tố này không là
hệ quả của các yếu tố khác và không phải luôn luôn ảnh hưởng lên yếu tố khác Năm yếu tố này là (Seligman, 2002):
- Những cảm xúc tích cực (P – Positive Emotions)
- Sự gắn kết, sự tham gia (E – Engagement)
- Những mối quan hệ tích cực (R – Positive Relationships)
- Ý nghĩa cuộc sống (M – Meaning)
Trong khuôn khổ đề tài này, thuật ngữ được sử dụng là “Subjective being” tức hạnh phúc chủ quan hay còn gọi là cảm nhận hạnh phúc Theo đó, việc đánh giá cảm nhận hạnh phúc của sinh viên được đánh giá dựa trên trạng thái đánh giá chủ quan của mỗi cá nhân
Well-Dựa trên những quan điểm trên, đề tài quan niệm hạnh phúc như sau:
“Hạnh phúc là một trạng thái cảm xúc của con người khi được thỏa mãn một nhu ầu nào đó mang tính trường tượng.” Hạnh phúc là một cảm xúc bậc
cao, chỉ có ở loài người, thường chịu sự tác động của lý trí
Trang 261.2.1.2 Một số quan điểm về cảm nhận hạnh phúc
Quan điểm cảm nhận hạnh phúc của một số học thuyết
Hiện nay có rất nhiều quan điểm, cách tiếp cận khác nhau về cảm nhận hạnh phúc Vào năm 1984, Parfit đã phân loại các lý thuyết về cảm nhận hạnh phúc thành 3 loại: Thuyết khoái lạc, thuyết mong muốn, thuyết danh sách Năm 2013, Daniel M Haybron nhận định có 4 cách tiếp cận thuyết phục trong quyển sách
“Dẫn luận về hạnh phúc” (Happiness – A very short introduction): thuyết khoái lạc, thuyết mong muốn, thuyết danh sách và thuyết đạo đức(Haybron, 2013)
Năm 2017, tác giả Daniel M Haybron tiếp tục bổ sung thêm 1 cách tiếp cận mới trong quyển Khoa học về cảm nhận hạnh phúc “The Science of Subjective Well – Being”, cụ thể như sau:
Thuyết khoái lạc (Hedonistic theories): Theo thuyết khoái lạc, cảm nhận hạnh phúc chính là tổng các khoái lạc trong cuộc đời Học thuyết này nhấn mạnh tầm quan trọng của những trải nghiệm tạo nên khoái lạc và đau khổ Những tác giả theo chủ nghĩa này có những điểm khác nhau trong lý thuyết, một số tác giả tập trung vào sự hưởng thụ (enjoyment) và sự khó chịu (suffering), niềm vui (pleasure) và nỗi đau (pain), …Nhưng quan điểm chính của học thuyết vẫn là yếu tố khoái lạc trong kinh nghiệm mỗi cá nhân Học thuyết khoái lạc cho rằng sự dễ chịu trong trải nghiệm sống của mỗi cá nhân là điều quan trọng nhất của hạnh phúc Một số tác giả theo học thuyết này là Epicureans, Utilitarians (Eid & Larsen, 2008)
Thuyết mong muốn (Desire theories): Theo thuyết mong muốn, cảm nhận hạnh phúc chính là sự thỏa mãn thực tế những mong muốn của mỗi cá nhân Quan niệm này phổ biến với những nhà kinh tế học vì nó đem lại quyền xác định điều gì là tốt với bản thân Những cỗ máy trải nghiệm (cỗ máy trải
Trang 27nghiệm có khả năng tái tạo hiện thực mà cá nhân mong muốn, đem lại cảm giác như đang thực sự trải qua những sự việc thật) không ảnh hưởng đến học thuyết này vì trong cỗ máy cá nhân không thực sự có được điều họ muốn Tuy nhiên, thuyết mong muốn không đưa ra lời giải thích về lỗi lầm (Eid & Larsen, 2008)
Thuyết hạnh phúc đích thực (Authentic happiness theories): Hạnh phúc đích thực của LW Sumner đưa ra nhằm khắc phục những thiếu sót trong
lý thuyết khoái lạc và mong muốn nhưng vẫn nhấn mạnh vào kinh nghiệm chủ quan và chủ quyền cá nhân Theo Summer cảm nhận hạnh phúc chính là hạnh phúc đích thực: niềm vui, trong đó niềm vui được hiểu là các điều kiện của cuộc sống và tự chủ của một người, có nghĩa là nó phản ánh các giá trị thực sự
là của mỗi cá nhân và không phải là kết quả của thao túng hoặc áp bức điều kiện xã hội Hạnh phúc ở đây liên quan đến cả thái độ toàn diện về sự hài lòng của cuộc sống và ảnh hưởng tích cực (Eid & Larsen, 2008)
Thuyết đạo đức (Eudaimonistic theories): Theo thuyết này, cảm nhận hạnh phúc là một cuộc sống hành động đức hạnh Đức hạnh theo quan niệm này không đơn thuần là đức hạnh có tính chất luận lý mà đó là sự ưu tú của con người nói chung Sự ưu tú bao gồm phẩm chất tốt đẹp như công bằng, dũng cảm, khiếu hài hước, lòng tự trọng Cuộc sống với hành động đức hạnh có nghĩa là thực hiện đầy đủ năng lực của bản thân và chủ động theo đuổi cuộc sống phong phú, trọn vẹn Đó cũng là cuộc sống thỏa mãn, cuộc sống dễ chịu nhất mà con người có thể sống Tuy nhiên học thuyết này cũng bị nhiều tác giả phản đối, họ cho rằng cảm nhận hạnh phúc thuộc về cảm nhận của mỗi cá nhân(Eid & Larsen, 2008)
Thuyết danh sách (List theories): Cảm nhận hạnh phúc gắn liền với danh sách các tài sản khách quan như: tri thức, thành tựu, tình bạn và niềm vui
Trang 28Nếu thiếu một trong các yếu tố trên, sự hài lòng của một cá nhân sẽ được xem
là không trọn vẹn dù cá nhân đó có thật sự cần yếu tố đó hay không Lợi thế của thuyết này cho phép mỗi người liệt kê bất cứ thứ gì được cho là quan trọng với bản thân vào danh sách, tạo nên một bức tranh bao quát nhất về những vấn
đề cần giải quyết Tuy nhiên, nó cũng bị đánh giá là khá tùy tiện và không hữu ích trong việc làm sáng tỏ bản chất của sự thỏa mãn
Tác giả Diener tiếp tục sắp xếp các học thuyết về cảm nhận hạnh phúc thành
ba nhóm, cụ thể như sau(Diener, 2009):
- Loại lý thuyết đầu tiên chứa những lý thuyết đi theo bước chân của những nhà tư tưởng cổ xưa, các nhà triết học và coi cảm nhận hạnh phúc là có được cảm xúc dương tính dựa trên sự hoàn thành và kích hoạt tham vọng cá nhân và sẽ dẫn đến tự thể hiện và tự thực hiện
- Lý thuyết thứ hai chứa các mô hình được gọi là từ trên xuống, nhấn mạnh vai trò về tính cách và sự giải thích kinh nghiệm sống trong định nghĩa của cảm nhận hạnh phúc Trong những lý thuyết này, cảm nhận hạnh phúc được xác định với sự hài lòng với cuộc sống, dựa trên những đánh giá chủ quan
và liên quan chặt chẽ đến chức năng đánh giá và quy kết của tính cách
- Nhóm lý thuyết thứ ba là nhóm lý thuyết xét cảm nhận hạnh phúc theo cách tiếp cận từ dưới lên Những lý thuyết này coi hạnh phúc chủ quan là tóm tắt các niềm vui của một người Một cá nhân hạnh phúc là kết quả của một
số lượng lớn cảm xúc tích cực, tâm trạng và khoảnh khắc hạnh phúc
Quan điểm cảm nhận hạnh phúc của một số Tôn giáo
Trong truyền thống của người Do Thái, hai tiếng Do Thái được dùng để chỉ hạnh phúc: “ashrey” (ירשא) và “smh" (חמש) “Ashrey” thường được dịch là may mắn hay hạnh phúc, mặc dù nó không đề cập đến trạng thái hay cảm giác dễ chịu
Trang 29chủ quan Từ này thường được tìm thấy trong sách Thánh Vịnh (book of Psalms)
và sách Châm ngôn (Book of Proverbs) Thông thường, từ này được sử dụng khi nhắc đến lời dạy của Chúa Trong tiếng Hy Lạp, “ashrey” được dịch là “macarios”, cũng có thể được định nghĩa là hạnh phúc hoặc may mắn Từ “macarios” là từ được sử dụng thường xuyên trong bài giảng của Chúa Jesus trên đỉnh núi Ở đây,
từ “macarios” được sử dụng theo cách tương tự như cách sử dụng của nó trong Cựu Ước (Old Testament), liên quan đến các lệnh của Chúa Từ “ashrey” (ירשא)
đã được định nghĩa ở đâu đó giữa hạnh phúc “hedonic” và “eudaimonic” Mặc dù
nó thường được dịch là hạnh phúc, nhưng ý nghĩa của nó chắc chắn khác với trạng thái cảm xúc dễ chịu mà người ta có thể trải nghiệm trong một bữa tiệc Có lẽ
“ashrey” (ירשא) có thể được coi là gần nghĩa hơn với “eudaimonia” vì nó đề cập
đến cảm giác về niềm vui bền bỉ, sự hài lòng, …nhưng điều này phải được kết nối với một cuộc sống được đặc trưng bởi sự tuân theo các mệnh lệnh của Chúa Trong
tiếng Do Thái “smh” (חמש) cũng có nghĩa là hạnh phúc và thường được tìm thấy trong sách Thánh Vịnh (book of Psalm) Tuy nhiên, trái ngược với “ashrey”,
“smh” có liên quan chặt chẽ hơn với cảm giác tích cực “Smh” cũng có thể được
sử dụng để chỉ một dạng hạnh phúc khoái lạc Như vậy hạnh phúc trong Cựu Ước
và Tân Ước có thể nói đến hạnh phúc theo thuyết khoái lạc (hedonic) và hạnh phúc theo thuyết đạo đức (eudaimonic) (Newman, D.B., 2018)
Trong Hồi giáo, khái niệm hạnh phúc hay cảm nhận hạnh phúc cũng là một vấn đề phức tạp Nó thường được định nghĩa về mặt sức khỏe thể chất, xã hội, tinh thần Khái niệm hạnh phúc của người Hồi giáo được kết nối với việc có đức tin và
thực hành đức tin đó, tức là, bằng cách tuân theo các mệnh lệnh của chúa Hơn
nữa, văn hóa Hồi giáo coi hạnh phúc thực sự là sự bình an nội tâm xuất phát từ sự tận tâm với Chúa Xét về sự phân biệt giữa thuyết khoái lạc (hedonic) và thuyết đạo đức (eudaimonic), mục tiêu của đạo Hồi không phải là tối đa hóa cảm xúc tích
Trang 30cực hay giảm thiểu cảm xúc tiêu cực Vì vậy, điều này dường như sẽ ủng hộ thuyết đạo đức (eudaimonic) Tuy nhiên, Kinh Quran cũng nói rằng người Hồi giáo tuân theo phong tục, luật pháp và lối sống sẽ trải nghiệm những cảm xúc tích cực, gợi
ý một số lợi ích khoái lạc của cuộc sống sùng đạo Do đó, khái niệm hạnh phúc trong Hồi giáo bao gồm cả hai khía cạnh khoái lạc (hedonic) và đạo đức
(eudaimonic) (Newman, D.B., 2018)
Trong Phật giáo, khái niệm cảm nhận hạnh phúc thường được kết nối với thực hành và tu luyện để đạt được một tư duy bình thản thông qua thiền định Đề thực hiện việc tu tập thì trước tiên người ta phải nhận ra rằng cuộc sống là đau khổ (chân lý đầu tiên) Từ nhận thức này, có nhiều bước nên thực hiện, được nêu trong
Bát chánh đạo, chẳng hạn như thực tập chánh niệm và từ bi Một mục đích của các
bước này là tách bản thân khỏi những ham muốn của thế giới Theo những lời dạy này, hạnh phúc đôi khi được định nghĩa là trạng thái vượt ra ngoài hạnh phúc đạt được thông qua sự tập trung và thiền định đúng đắn Do đó, loại hạnh phúc người
ta nên cố gắng đạt được không đề cập đến định nghĩa khoái lạc của hạnh phúc được mô tả và tìm kiếm ở văn hóa phương Tây (Newman, D.B., 2018)
Theo Bradburn đề xuất rằng hạnh phúc bao gồm hai thành phần có thể tách rời đó là: cảm xúc tích cực và cảm xúc tiêu cực Bradburn đưa ra giả thuyết rằng
Trang 31hạnh phúc thực sự là một sự đánh giá toàn diện mà mọi người đưa ra bằng cách so sánh ảnh hưởng tiêu cực của họ với ảnh hưởng tích cực của họ (Zeichner, 2008)
Theo Cheko, đã mô tả hạnh phúc là một bộ sưu tập lớn gồm những khoảnh khắc hạnh phúc Hạnh phúc có thể được định nghĩa là một đặc điểm hoặc một trạng thái và những điều này có thể sẽ tuân theo các nguyên tắc khác nhau (Diener
Ed, 2009)
Theo Fromm, cảm nhận hạnh phúc là sự cởi mở, đáp ứng, nhạy cảm, tỉnh táo và trống rỗng Hạnh phúc có nghĩa là liên quan đầy đủ đến con người và thiên nhiên một cách hiệu quả, để vượt qua sự tách biệt và xa lánh, để đến với kinh nghiệm của đồng nhất với tất cả những gì tồn tại (Fromm, 1967)
Cảm nhận hạnh phúc được Diener định nghĩa là sự đánh giá nhận thức và tình cảm của một người đối với cuộc sống của họ Những đánh giá này bao gồm các phản ứng cảm xúc đối với các sự kiện, cũng như những đánh giá nhận thức về
sự hài lòng và thỏa mãn với cuộc sống Vì vậy, theo Diener, hạnh phúc chủ quan
là một khái niệm rộng bao gồm các trải nghiệm thỏa mãn, trạng thái cảm xúc tiêu cực ở mức thấp và sự hài lòng cuộc sống ở mức cao (Diener, 2000)
Theo tác giả Keyes, Cảm nhận hạnh phúc là một kía cạnh của chất lượng cuộc sống Cảm nhận hạnh phúc là sự tích hợp giữa thuyết cảm nhận hạnh phúc khoái lạc (hendonic) và thuyết cảm nhận hạnh phúc đạo đức (eudaimonic) Cảm nhận hạnh phúc là chất lượng các mặt của cuộc sống do mỗi cá nhân tự đánh giá (Keyes, 2006)
Quan điểm cảm nhận hạnh phúc của một số nhà Tâm lý học nước ta Theo tác giả Phan Thị Mai Hương: "cảm giác hạnh phúc chủ quan được coi
là đánh giá chủ quan của con người về sự hài lòng, dễ chịu với cuộc sống của mình.” Cảm giác này vừa thể hiện sự nhìn nhận, đánh giá (mang tính nhận thức)
Trang 32vừa thể hiện tình cảm (mang tính cảm xúc), vì thế nó vừa chịu sự chi phối của nhận thức lý tính và nhận thức cảm tính Chính sự cảm tính này khiến cho đánh giá đó mang nhiều tính chủ quan, mang quan điểm cá nhân của con người về chất lượng cuộc sống của mình (Phan Thị Mai Hương, 2014)
Thành phần nhận thức của cảm giác này hướng đến việc con người nghĩ như thế nào về sự hài lòng với cuộc sống của họ nói chung (toàn bộ cuộc sống) và
ở cả những lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống (công việc, điều kiện vật chất, gia đình, bạn bè,…) Cảm xúc bao gồm dương tính (khi người ta trải nghiệm cảm giác hài lòng như vui vẻ, hạnh phúc, … ) và âm tính (khi người ta cảm thấy khó chịu như buồn chán, tức giận, tội lỗi, …) Đồng quan điểm với tác giả Phan Thị Mai Hương, tác giả Hoàng Thị Trang định nghĩa: “Cảm nhận hạnh phúc là những nhận định và đánh giá của cá nhân về sự hài lòng, dễ chịu với cuộc sống của mình.” (Hoàng Thị Trang, 2015)
Cũng trên quan điểm đó, tác giả Nguyễn Văn Lượt định nghĩa cảm nhận hạnh phúc chủ quan được coi là đánh giá chủ quan của con người về sự hài lòng,
dễ chịu với cuộc sống của mình Cảm nhận này vừa thể hiện sự nhìn nhận, đánh giá (mang tính nhận thức), vừa thể hiện tình cảm (mang tính cảm xúc) Vì thế nó vừa chịu sự chi phối của nhận thức lý tính và cảm tính Chính sự cảm tính này khiến cho đánh giá đó mang nhiều tính chủ quan, mang quan điểm cá nhân của con người để nhìn nhận chất lượng cuộc sống của mình Do đó, sự cảm nhận chủ quan về hạnh phúc của mỗi người là không giống nhau và mỗi người lại có những tiêu chí riêng để đánh giá bản thân mình hạnh phúc hay không (Nguyễn Văn Lượt, 2016)
Qua việc phân tích quan niệm về cảm nhận hạnh phúc chủ quan của các tác giả trên có thể rút ra một số điểm đáng lưu ý như sau: (1) Cảm nhận hạnh phúc là
Trang 33đánh giá mang tính chủ quan của mỗi cá nhân về sự hài lòng đối với cuộc sống của chính bản thân họ (2) Cảm nhận hạnh phúc có hai thành phần chính là nhận thức và cảm xúc Thành phần nhận thức thể hiện ở việc chủ thể đánh giá sự hài lòng ở những lĩnh vực khác nhau cũng như cuộc sống nói chung; thành phần cảm xúc bao gồm những cảm xúc dương tính và cảm xúc âm tính
Đồng quan điểm với những tác giả trên, nghiên cứu này chủ yếu tập trung đến tính chủ quan trong nhận thức và cảm xúc của mỗi cá nhân về cảm nhận hạnh
phúc Vì thế trong đề tài này, cảm nhận hạnh phúc được phát biểu là: “cảm nhận hạnh phúc là sự đánh giá chủ quan của mỗi cá nhân về sự hài lòng trong cuộc sống thông qua các mặt khác nhau (cảm xúc, nhận thức).
- Cuộc sống có ý nghĩa: cuộc sống có ý nghĩa liên quan đến ý thức về
sự trọn vẹn sâu sắc xuất phát từ việc dùng tài năng của chủ thể để phục vụ những điều tốt đẹp hơn: theo cách có lợi cho cuộc sống của người khác hoặc làm cho thế giới trở nên tốt đẹp (Mark, 2004)
Theo Diener, cảm nhận hạnh phúc có 3 thành phần riêng biệt: (1) Sự hài lòng trong cuộc sống (đánh giá của cá nhân về toàn bộ cuộc sống của mình nói
Trang 34chung); (2) Sự có mặt của những cảm xúc tích cực; (3) Không xuất hiện các cảm xúc tiêu cực Như vậy, một cá nhân có mức độ cảm nhận hạnh phúc cao khi:
- Cá nhân đó hài lòng với cuộc sống của mình
- Thường xuyên trải qua những cảm xúc tích cực và hiếm khi cảm thấy những cảm xúc tiêu cực
- Một biểu hiện nữa của cảm nhận hạnh phúc là nó được đánh giá dựa trên quan điểm riêng của cá nhân Như vậy, trong cảm nhận hạnh phúc, nhận thức chủ quan của một người về hạnh phúc của riêng mình là rất quan trọng
Theo tác giả Keyes, bản chất của hạnh phúc chủ quan đã được chia thành cảm xúc tích cực (hay cảm xúc) và nhận thức tích cực (nhận thức tích cực nghĩa
là tiềm năng của con người, khi được trau dồi, sẽ dẫn đến hoạt động tốt trong cuộc sống) Hai thành phần của cảm nhận hạnh phúc này phát triển từ hai quan điểm triết học khác nhau về hạnh phúc Thành phần “cảm xúc tích cực” dựa trên lý thuyết khoái lạc (hendonic), thành phần “nhận thức tích cực” dựa trên lý thuyết đạo đức (eudaimonic) cố gắng hướng tới sự xuất sắc trong nhận thức của một cá nhân
- Thành phần “cảm xúc” dựa trên lý thuyết khoái lạc (hendonic) bao gồm
sự hài lòng với cuộc sống và cảm xúc tích cực
- Thành phần “nhận thức tích cực” dựa trên lý thuyết đạo đức (eudaimonia) bao gồm tâm lý cá nhân và xã hội (Hämmig, 2014)
Trong nghiên cứu này, đề tài tiếp cận cấu trúc 3 mặt của cảm nhận hạnh phúc do Keyes đề xuất Cụ thể gồm các mặt như sau:
- Mặt thứ nhất: Mặt hạnh phúc xã hội
Trang 35- Mặt thức hai: Mặt hạnh phúc tâm lý
- Mặt thứ ba: Mặt cảm xúc hạnh phúc
Trong đó, mặt thứ nhất & mặt thức hai đều thuộc về phương diện đánh giá khía cạnh nhận thức và mặt thứ ba thuộc phương diện đánh giá khía cạnh cảm xúc
Kết quả phân tích của Keyes về các yếu tố của cảm nhận hạnh phúc chủ quan, cho thấy những đánh giá hạnh phúc tinh thần được hình thành trên 3 yếu tố riêng biệt: hạnh phúc xã hội, hạnh phúc tâm lý và hạnh phúc cảm xúc
Bảng 1.1 Biểu hiện của cảm nhận hạnh phúc
Hạnh phúc xã hội
Gắn kết xã hội (Social coherence)
Có khả năng tạo ra ý nghĩa của những gì đang diễn ra trong xã
hội
Chấp nhận xã hội (Social acceptance)
Thái độ tích cực hướng đến người khác trong sự nhận biết những khó khăn của họ
Trang 36Tiềm năng xã hội (Social actualization)
Niềm tin rằng cộng đồng có những tiềm năng và có thể phát triển tích cực
Đóng góp xã hội (Social contribution)
Cảm xúc rằng những hoạt động của chính mình đóng góp đến và
có giá trị đối với xã hội
Hòa hợp xã hội (Social integration)
Cảm nhận về sự thuộc về một cộng đồng
Hạnh phúc tâm lý
Tự Chấp nhận (Self-Acceptance)
Thái độ của cá nhân đối với sự
tự thừa nhận, chấp nhận các khía cạnh của bản thân, các phẩm chất nhân cách, với cuộc sống hiện tại cũng như những gì
đã xảy ra trong quá khứ
Quan hệ tích cực với người khác (Positive Relations with Others)
Cá nhân có mối quan hệ ấm áp, tin tưởng với những người xung quanh và có khả năng duy trì các mối quan hệ
Tự do cá nhân (Autonomy)
Khả năng tự chủ (tự quyết) và độc lập, đánh giá mọi việc theo quan điểm của bản thân hay khả năng đối phó với các áp lực xã hội
Trang 37Làm chủ môi trường (Environmental Mastery)
Khả năng tự chủ, kiểm soát môi trường xung quanh, tự lựa chọn (quyết định) môi trường phù hợp cho giá trị của bản thân, nắm bắt được các cơ hội một cách hiệu quả
Mục đích trong cuộc
sống (Purpose in Life)
Có định hướng, có mục tiêu cho cuộc sống, cảm nhận được ý nghĩa của cuộc sống
Phát triển cá nhân (Personal Growth)
Nhận ra khả năng (tiềm năng) của bản thân, sẵn sàng học tập, thay đổi để phát triển và trở thành người tốt hơn
Nhà tâm lý học Martin Seligman cho rằng có 3 yếu tố ảnh hưởng đến hạnh phúc là: gen và sự giáo dục ảnh hưởng khoảng 50% đến sự biến đổi cảm nhận hạnh phúc của mỗi cá nhân; hoàn cảnh môi trường xung quanh, thu nhập chỉ tác động khoảng 10%; còn 40% những nhân tố ảnh hưởng khác đến từ cách nhìn nhận
và hoạt động của mỗi cá nhân, những điều đó bao gồm: các mối quan hệ, tình bạn, công việc, liên kết trong cộng đồng, tham gia vào thể thao và những thói quen (Mark, 2004)
Đồng quan điểm với Seligman, Tal Ben – Shahar (2009) cũng đề cập đến các yếu tố: gen, các quan hệ gia đình, công việc, tình bạn, liên kết cộng đồng Bên
Trang 38cạnh đó ông còn bổ sung thêm các nhân tố mà theo ông nhận định là có ảnh hưởng rất lớn đến hạnh phúc của chúng ta bao gồm: tình trạng tài chính, sức khỏe, tự do
cá nhân và các giá trị cá nhân (Ben-Shahar, 2007)
Ảnh hưởng của gen đến cảm nhận hạnh phúc
Công trình nghiên cứu của Lykken về ảnh hưởng của gen đến cảm nhận hạnh phúc đặt cơ sở trên nghiên cứu so sánh sâu rộng nhất từng được tiến hành trên các cặp song sinh Tác giả đã thực hiện một cuộc khảo sát điều tra xem 1.500 cặp sinh đôi trưởng thành hài lòng đến mức độ nào đối với cuộc sống của mình
700 cặp trong số đó là sinh đôi cùng trứng, nghĩa là vật chất di truyền của họ giống hệt nhau Dù người này không biết câu trả lời của người kia nhưng những anh em sinh đôi cùng trứng thường trả lời giống nhau hơn nhiều so với những cặp anh em sinh đôi khác trứng (bộ gen khác nhau) Theo Lykken, đây là bằng chứng cho thấy rằng hạnh phúc có thể bị ảnh hưởng bởi di truyền (Lykken, 1999)
Sau đó tác giả đã tiến hành nghiên cứu sâu hơn Trong kho dữ liệu về các cặp song sinh của Lykken có 69 cặp song sinh cùng trứng bị tách ra ngay sau khi sinh và được nuôi dưỡng trong những gia đình khác nhau Nghiên cứu của Lykken cho thấy câu trả lời của các cặp đôi này cũng gần tương tự như các cặp đôi được lớn lên cùng nhau Từ đó đi đến kết luận, trạng thái vui vẻ và hạnh phúc ít nhất 50% là do di truyền (Lykken, 1999)
Ảnh hưởng của công việc đến cảm nhận hạnh phúc
Một cuộc nghiên cứu vào năm 1958 do George Callup tiến hành cho thấy niềm vui trong công việc là một trong những điều khác biệt chính yếu giúp con người sống qua tuổi 90 Gallup đã thực hiện các cuộc phỏng vấn sâu hàng trăm người Mỹ từ 95 tuổi trở lên Kết quả cho thấy trong khi tuổi nghỉ hưu quy định đối với nam giới vào thập niên 50 của thế kỉ 20 là gần 65 tuổi, thì những người sống
Trang 39đến 95 tuổi vẫn chưa nghỉ hưu cho đến khi họ 80 tuổi Đáng lưu ý hơn, 93% số người này cho rằng họ vô cùng hài lòng với công việc mình làm và 86% cho biết
họ cảm thấy rất vui vẻ khi làm (Rath, Harter, & Harter, 2010)
Ảnh hưởng của các mối quan hệ xã hội đến cảm nhận hạnh phúc Theo nghiên cứu trên 12000 người kéo dài 30 năm về ảnh hưởng của các mối quan hệ đến niềm vui và hạnh phúc do Đại học Harvard thực hiện cho thấy: Mức độ hạnh phúc của một người sẽ tăng 15% nếu người quen của họ hạnh phúc
Có nghĩa là giao tiếp thường xuyên với người có mức độ hạnh phúc cao sẽ nâng cao khả năng hạnh phúc của bản thân Nghiên cứu còn phát hiện ra hiệu ứng tương
tự của các mối quan hệ gián tiếp ở cấp độ thứ hai Nghĩa là bạn của người quen của một cá nhân được hạnh phúc thì khả năng hạnh phúc của người quen sẽ tăng 15% và cá nhân đó sẽ tăng 10% cho dù cá nhân đó không quen biết hoặc không
có mối quan hệ với người kia (Rath và c.s., 2010)
Viện thăm dò dư luận Gallup đã tiến hành các nghiên cứu trên phạm vi rộng về giá trị của tình bạn ở nơi làm việc với câu hỏi “Bạn có người bạn thân ở nơi làm việc không?” Nghiên cứu cho thấy chỉ 30% nhân viên có bạn thân ở nơi làm việc Những cá nhân có bạn thân ở nơi làm việc có khuynh hướng gắn bó với công việc cao gấp 7 lần, hạnh phúc hơn và ít khả năng bị tốn thương trong công việc hơn(Rath và c.s., 2010)
Tài chính ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc
Theo nghiên cứu về mức độ hạnh phúc của Gallup trên 132 quốc gia cho thấy hạnh phúc và tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân trên đầu người có liên hệ với nhau Ở các quốc gia có thu nhập thấp, sự đau đớn là một trong những nguyên nhân chính khiến con người khổ sở Việc có tiền chi trả cho các dịch vụ chăm sóc y tế tối thiểu để làm vơi bớt những cơn đau về thể xác giúp con người
Trang 40hạnh phúc hơn Ở các quốc gia có mức thu nhập trung bình và cao, sự khác biệt
về mức độ hạnh phúc có thể được lý giải bằng sự hưởng thụ hằng ngày và những tiện nghi mua được bằng tiền Tiền có thể làm gia tăng hạnh phúc bằng cách giúp con người kiểm soát cách sử dụng thời gian như chọn phương tiện đi lại nhanh chóng, có nhiều thời gian ở cùng gia đình hoặc bạn bè
Một nghiên cứu khác của Michael Nortankhảo sát cá nhân chi tiêu cho bản thân, chi tiêu cho người khác và mức độ hạnh phúc của họ Nghiên cứu phát hiện
ra rằng chi tiêu cho người khác đem đến mức độ hạnh phúc cao hơn những người chi tiêu cho bản thân và việc chi tiêu bao nhiêu tiền không ảnh hưởng đến mức độ hạnh phúc bằng việc chi tiền cho người hay cho bản thân (Michael, 2014)
Ảnh hưởng của giấc ngủ đến cảm nhận hạnh phúc
Nghiên cứu giá trị của một giấc ngủ ngon được tiến hành bằng cách theo dõi ảnh hưởng của việc ngủ tròn giấc (hay thiếu ngủ) vào ngày hôm sau Những người cáu giận trước lúc ngủ nhưng sau đó có một giấc ngủ sâu sẽ có tâm trạng trên mức trung bình vào suốt ngày hôm sau Ngược lại, những người vui vẻ vào cuối ngày hôm trước nhưng không ngủ đủ giấc, tâm trạng sẽ rơi xuống mức trung bình và trở nên dễ kích động hơn vào ngày hôm sau (Rath và c.s., 2010)
Ảnh hưởng của luyện tập thể dục đến cảm nhận hạnh phúc
Theo nghiên cứu, những người tập thể dục ít nhất hai ngày mỗi tuần thấy hào hứng và ít bị căng thẳng hơn Các nhà nghiên cứu đã thực hiện thử nghiệm theo dõi nhóm đạp xe với cường độ vừa phải và một nhóm nhóm không tập thể dục Kết quả cho thấy sau 20 phút đạp xe tinh thần của nhóm đạp xe đã thay đổi tích cực sau 2, 4, 8 và 12 tiếng so với nhóm không đạp xe Một nghiên cứu khác cũng cho thấy việc tập thể dục làm giảm sự mệt mỏi hiệu quả hơn so với dung thuốc bồi bổ sức khỏe (Rath và c.s., 2010)