1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo khoa học cấp cơ sở: Nghiên cứu điều kiện khởi sự kinh doanh của doanh nghiệp mới thành lập

114 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của đề tài là hệ thống hóa lý thuyết về điều kiện khởi sự kinh doanh của doanh nghiệp mới thành lập, phục vụ trực tiếp cho việc biên soạn giáo trình học phần Khởi sự kinh doanh. Vận dụng trong thực tiễn khi khởi sự kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ

NGHIÊN CỨU ĐIỀU KIỆN KHỞI SỰ KINH DOANH

CỦA DOANH NGHIỆP MỚI THÀNH LẬP

Mã số: CS - 18 - 01

Chủ nhiệm đề tài: ThS Trịnh Thị Nhuần

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành công trình nghiên cứu, tác giả đề tài xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu Nhà trường, Khoa quản trị doanh nghiệp và bộ môn quản trị doanh nghiệp

thương mại đã tạo mọi điều kiện cho tôi được đảm nhận và thực hiện nghiên cứu này

Đồng thời, tác giả nghiên cứu đề tài cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các giảng viên, các nhà nghiên cứu khoa học tại trường đại học Thương Mại và các doanh nghiệp đã giúp chúng tôi thu thập được những thông tin bổ ích, phục vụ cho việc

nghiên cứu đề tài

Xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp đang công tác tai bộ môn Quản trị doanh nghiệp thương mại đã góp ý, động viên tôi trong suốt thời gian thực hiện đề

tài nghiên cứu

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Chủ nhiệm đề tài

ThS Trịnh Thị Nhuần

Trang 4

MỤC LỤC TÓM LƯỢC ĐỀ TÀI Error! Bookmark not defined

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ vi

CHƯƠNG MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2

2.1 Trong nước 2

2.2 Ngoài nước 7

3 Mục tiêu nghiên cứu 18

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 19

4.1 Đối tượng nghiên cứu 19

4.2 Phạm vi nghiên cứu 19

5 Phương pháp nghiên cứu 19

5.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 19

5.2 Phương pháp xử lý dữ liệu 20

6 Ý nghĩa của nghiên cứu 20

7 Kết cấu đề tài nghiên cứu 21

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐIỀU KIỆN KHỞI SỰ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP MỚI THÀNH LẬP 22

1.1 Một số khái niệm cơ bản có liên quan 22

1.1.1 Khái niệm khởi sự kinh doanh 22

1.1.2 Người khởi sự kinh doanh, chủ DN, và doanh nhân 23

1.1.3 Khởi nghiệp (KN) 24

1.2 Các loại hình khởi sự kinh doanh 25

1.2.1 Theo tiêu chí nền tảng kiến thức khi khởi sự 25

1.2.2 Theo mục đích khởi sự 27

1.2.3 Theo phạm vi kinh doanh sau khởi sự 28

1.2.4 Theo tính chất của sản phẩm/dịch vụ sẽ kinh doanh 28

1.3 Quá trình khởi sự kinh doanh 30

1.4 Các điều kiện khởi sự kinh doanh của doanh nghiệp mới thành lập 32

1.4.1 Các điều kiện khởi sự kinh doanh thuộc về môi trường bên ngoài 34

1.4.2 Các điều kiện nguồn lực nội tại của doanh nghiệp mới 37

1.4.3 Các điều kiện KSKD thuộc về người chủ doanh nghiệp 47

Trang 5

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH ĐIỀU KIỆN KHỞI SỰ KINH DOANH TẠI MỘT

SỐ DOANH NGHIỆP MỚI THÀNH LẬP Ở VIỆT NAM 54

2.1 Khái quát chung về tình hình khởi sự kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay 54

2.2 Đánh giá khái quát các điều kiện khởi sự kinh doanh ở Việt Nam trong những năm gần đây (2013-2017) 55

2.3 Quan điểm đánh giá của các chủ DN về điều kiện khởi sự kinh doanh hiện nay đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp mới thành lập trong những năm gần đây (2015-2018) 65

2.3.1 Quan điểm của các chủ DN về điều kiện KSKD môi trường bên ngoài tác động đến hiệu quả hoạt động tại các doanh nghiệp mới thành lập ở Việt Nam 65

2.3.2 Quan điểm của các chủ DNvề sự ảnh hưởng của điều kiện nguồn lực nội tại ở một số doanh nghiệp mới Việt Nam thời gian qua 68

2.3.3 Đặc điểm của các cá nhân khởi sự kinh doanh ở một số doanh nghiệp mới ở Việt Nam thời gian qua 74

2.4 Một số kết luận về điều kiện khởi sự kinh doanh đối với doanh nghiệp mới ở Việt Nam trong những năm gần đây (2015-2018) 78

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM ỨNG DỤNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 81

3.1 Xu hướng về khởi sự kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2025 72

3.2 Đề xuất giải pháp ứng dụng kết quả nghiên cứu trong giảng dạy học phần Khởi sự kinh doanh 83

3.2.1 Đề xuất giải pháp hoàn thiện chương trình đào tạo 83

3.2.2 Đề xuất giải pháp hoàn thiện nội dung đào tạo của học phần Khởi sự kinh doanh 84

3.3 Đề xuất hỗ trợ khởi sự kinh doanh của các doanh nghiệp mới thành lập 85

3.3.1 Một số giải pháp đối với các nhà khởi sự kinh doanh tương lai 85

3.3.2 Một số giải pháp đối với doanh nghiệp mới thành lập 87

3.3.3 Một số đề xuất, kiến nghị với các cơ quan Nhà nước về các chính sách hỗ trợ khởi nghiệp nói chung, hỗ trợ các doanh nghiệp mới thành lập nói riêng 91

3.4 Một số hạn chế trong nghiên cứu 93

KẾT LUẬN 94 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CDN Chủ doanh nghiệp

DN Doanh nghiệp ĐMST Đổi mới sáng tạo

KN Khởi nghiệp

KS Khởi sự KSKD Khởi sự kinh doanh

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ

Sơ đồ 1.1 Quy trình thành lập và phát triển doanh nghiệp 30

Sơ đồ 1.2 Phát triển kinh doanh ở Việt Nam 32

Bảng 1.1 Các khoản chi phí thường xuyên của một doanh nghiệp……… 43 Bảng 1.2: Năm lý do cơ bản khiến đam mê trở thành một yếu tố quan trọng quyết định tới việc tạo lập, duy trì và phát triển một doanh nghiệp 51 Bảng 2.2 Thứ hạng các chỉ số trong hệ sinh thái khởi nghiệp ở Việt Nam trong giai đoạn 2014-2017 56 Bảng 2.3 Một số quyết định của Chính Phủ về hỗ trợ khởi sự kinh doanh và khởi nghiệp 57 Bảng 2.4 Một số hỗ trợ về thông tin khởi nghiệp 60 Bảng 2.5 Các cuộc thi về khởi nghiệp đã và đang được tổ chức từ 2003 –

2018 61 Bảng 2.6 Bảng tổng hợp ý kiến các chủ DN về mức độ ảnh hưởng của các điều kiện KSKD đến hiệu quả hoạt động của các DN mới 78

Hình 1.1 Các điều kiện KSKD của doanh nghiệp mới 34 Hình 2.2: Đầu tư cơ sở hạ tầng tại Châu Á (% GDP) 59

Trang 8

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1 Thông tin chung

- Tên đề tài: Nghiên cứu điều kiện khởi sự kinh doanh của doanh nghiệp mới thành lập

- Chủ nhiệm đề tài: Trịnh Thị Nhuần

- Thành viên tham gia: Nguyễn Thị Thanh Tâm

- Đơn vị công tác: Bộ môn Quản trị tác nghiệp kinh doanh – Khoa Quản trị kinh doanh

* Đề xuất giải pháp ứng dụng kết quả nghiên cứu trong giảng dạy học phần khởi

sự kinh doanh của bộ môn Quản trị tác nghiệp kinh doanh, đề xuất các giải pháp hỗ trợ các cá nhân/ nhóm người khởi sự kinh doanh tại các doanh nghiệp mới thành lập ở Việt Nam

3 Tính mới và sáng tạo

Trên cơ sở tổng quan và kế thừa từ các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, đề tài đã làm rõ và bổ sung một số vấn đề lý luận về điều kiện khởi sự kinh doanh của các doanh nghiệp mới thành lập, phân tích đánh giá một số điều kiện khởi sự kinh doanh nước ta hiện nay, đánh giá của các chủ doanh nghiệp về sự tác động của điều kiện khởi sự kinh doanh hiện nay đến các doanh nghiệp mới thành lập Trên cơ sở đó,

đề tài nghiên cứu đã chỉ ra một số đề xuất và ứng dụng kết quả nghiên cứu trong giảng dạy cũng như trong thực tiễn

4 Kết quả nghiên cứu

Trang 9

Bằng việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp và trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước, đề tài đã xây dựng được 3 nhóm điều kiện khởi sự kinh doanh chính tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp mới thành lập đó là: điều kiện môi trường kinh doanh bên ngoài (gồm 6 yếu tố như tác động của Chính phủ, cơ sở hạ tầng, thị trường gia nhập, giáo dục và đào tạo, văn hóa xã hội, kinh tế chính trị); điều kiện kinh doanh nội tại của doanh nghiệp mới (gồm nhân lực,

cơ sở vật chất kỹ thuật, tài chính, sản phẩm, văn hóa doanh nghiệp, marketing và bán hàng) và điều kiện khởi sự kinh doanh thuộc về bản thân người chủ doanh nghiệp (động cơ khởi sự kinh doanh, kinh nghiệm thực tế, năng lực lãnh đạo, kiến thức, kỹ năng, tố chất cá nhân)

Đề tài đã đánh giá được thực trạng các điều kiện khởi sự kinh doanh hiện nay trên một số điều kiện cơ bản môi trường bên ngoài

Đề tài đã tổng kết lại những đánh giá của các chủ doanh nghiệp đã khởi sự kinh doanh và hiện đang điều hành những doanh nghiệp của họ, những doanh nghiệp này đều là những doanh nghiệp được thành lập nhỏ hơn 3,5 năm nhằm làm rõ hơn sự ảnh hưởng của các điều kiện khởi sự kinh doanh đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp họ những năm đầu thành lập

Thông qua việc phân tích thực trạng và đánh giá của các chủ doanh nghiệp nói trên,

đề tài đã đề xuất được một số giải pháp chủ yếu để nhằm ứng dụng kết quả nghiên cứu trong giảng dạy học phần và trong thực tiễn đối với người chuẩn bị khởi sự kinh doanh, đối với doanh nghiệp mới thành lập

5 Đóng góp của đề tài

Thông qua kết quả nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã giúp các chủ doanh nghiệp

có cái nhìn toàn diện hơn về những điều kiện khởi sự kinh doanh tác động đến sự thành công và thất bại của DN họ trong những năm đầu mới khởi sự (cụ thể là 3,5 năm đầu tiên) Kết quả đề tài đã làm rõ, trong số 3 nhóm điều kiện khởi sự kinh doanh của DN mới thành lập, nhóm điều kiện thuộc về các đặc điểm cá nhân của người chủ doanh nghiệp là nhóm quyết định sự thành công của DN mới thành lập Cụ thể là các điều kiện về kiến thức; kinh nghiệm, năng lực lãnh đạo, tố chất cơ bản như chấp nhận mạo hiểm, khả năng chịu rủi ro trong kinh doanh, thị trường gia nhập, khả năng tài chính của DN Nhóm điều kiện khởi sự kinh doanh có ảnh hưởng và khả năng quyết định đến sự thành công của doanh nghiệp mới ít hơn là nhóm các yếu tố như khả năng liên minh giữa doanh nghiệp với đối tác, cơ sở hạ tầng, quy mô nhóm các nhà khởi

sự kinh doanh, văn hóa xã hội, … Trên cơ sở nghiên cứu này, các doanh nghiệp sẽ biết mình cần làm gì để cạnh tranh khi mới bắt đầu, mình còn thiếu và yếu những điều kiện nào, từ đó giúp các cá nhân/ nhóm người khởi sự kinh doanh cũng như doanh nghiệp mới nâng cao khả năng thành công trong khởi sự kinh doanh của mình

6 Công bố khoa học của người thực hiện

Trang 10

02 bài báo đăng hội thảo quốc gia (gồm 01 bài của chủ nhiệm đề tài và 01 bài của thành viên tham gia)

Ngày tháng năm 2019

Người thực hiện

Trịnh Thị Nhuần Nguyễn Thị Thanh Tâm

Trang 11

CHƯƠNG MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài

Khởi sự kinh doanh đang là chủ đề thời sự, nhận được sự quan tâm rộng rãi trong xã hội Việt Nam cũng như các nước khác trên thế giới Các doanh nghiệp khởi

sự đóng góp cho sự phát triển kinh tế chung của đất nước, tạo công ăn việc làm, phát huy nguồn nội lực và sức sáng tạo của mỗi người Đảng, Nhà nước và Chính phủ đã

và đang đề ra nhiều chính sách, biện pháp hỗ trợ, khuyến khích tinh thần đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp của các cá nhân, nhất là các bạn trẻ Với sự lựa chọn cho mình con đường lập thân, lập nghiệp, hoặc là đi “làm thuê”, hoặc là bản thân mình “làm chủ”? Với sự lựa chọn muốn “làm chủ”, khi bắt đầu khởi sự công việc kinh doanh của mình,

họ sẽ đứng trước nhiều câu hỏi Làm thế nào để hiện thực hóa ý tưởng, làm thế nào

để huy động các nguồn lực, khởi động và điều hành hoạt động kinh doanh mới… Đặc biệt, đâu là các yếu tố, các điều kiện cần thiết để khởi sự kinh doanh thành công, ngay

từ những giai đoạn đầu hình thành ý tưởng đến khi đưa doanh nghiệp vào hoạt động

và để doanh nghiệp hoạt động thành công trên thị trường vẫn là những câu hỏi lớn đặt ra đối với các cá nhân, tổ chức

Trên thực tế hiện nay tại Việt Nam cho thấy, số lượng người khởi sự kinh doanh hàng năm rất lớn, nhưng số lượng thành công thì chỉ là một phần nhỏ hoặc thậm chí rất nhỏ Bên cạnh đó không ít những doanh nghiệp khởi sự kinh doanh thất bại Theo số liệu thống kê của Trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp trẻ Việt Nam, 50% số công ty mới thành lập ở Việt Nam không thể tồn tại quá 5 năm So sánh với một số nước khác trên thế giới như tại nước Anh, tỷ lệ doanh nghiệp tồn tại sau 3-5 năm là 70%, còn tại Mỹ thì tỷ lệ DN tồn tại sau 5 năm hoạt động là dưới 50% Khi tìm hiểu

về những nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của các doanh nghiệp khởi sự, một trong những lý do chủ yếu là các điều kiện khởi sự kinh doanh chưa đảm bảo kể cả các điều kiện bên ngoài doanh nghiệp; lẫn các điều kiện bên trong doanh nghiệp chẳng hạn như các điều kiện về pháp lý, điều kiện về vốn, điều kiện về nhân lực và cả những yếu tố thuộc về cá nhân người khởi sự kinh doanh… Và đặc biệt khởi sự kinh doanh thất bại cũng là do người khởi sự kinh doanh đã không đánh giá đúng những gì họ cần học, thiếu kiến thức kỹ năng và kinh nghiệm cần thiết Đây thực sự là thách thức lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn khởi sự kinh doanh hiện nay Chưa kể, sau khi ý tưởng được hiện thực hóa thành một doanh nghiệp cụ thể, những người khởi sự kinh doanh mới thực sự thấy nhiều khó khăn chồng chất

Việc nghiên cứu lý thuyết về điều kiện khi khởi sự kinh doanh của doanh nghiệp mới thành lập hiện nay còn rất hạn chế, tuy đã được ít nhiều các tài liệu nghiên

Trang 12

cần thiết khi khởi sự kinh doanh của doanh nghiệp mới thành lập Đồng thời, cũng chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu cụ thể về điều kiện khởi sự kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung, của doanh nghiệp mới thành lập ở Việt Nam nói riêng

Tại Trường Đại học Thương mại, Khởi sự kinh doanh là một trong những học phần chuyên ngành quan trọng được Nhà trường phân công cho bộ môn Quản trị tác nghiệp kinh doanh giảng dạy từ năm học 2017 – 2018 Tuy nhiên, cũng giống như các tài liệu trong và ngoài nước hiện nay, tài liệu giảng dạy học phần Khởi sự kinh doanh của bộ môn vẫn chưa hoàn thiện Riêng nội dung về các điều kiện khởi sự kinh doanh của doanh nghiệp mới thành lập chỉ được đề cập đến ở mức rất khái quát và chưa có tính hệ thống cao Để đảm bảo và nâng cao chất lượng dạy và học, Nhà trường cũng đã có quyết định giao cho Bộ môn trong việc biên soạn giáo trình học phần này và hiện đang được bộ môn triển khai trong năm học giai đoạn 2018-2020

Vì vậy, đóng góp cho việc biên soạn giáo trình học phần Khởi sự kinh doanh trong thời gian tới, công tác nghiên cứu về khởi sự kinh doanh nói chung, các điều kiện khởi sự kinh doanh nói riêng là điều rất cần thiết Được bộ môn phân công nghiên cứu và viết một số nội dung liên quan đến học phần này, trong đó có nội dung nghiên

cứu về “điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mới thành lập” Tác giả

sẽ tiến hành nghiên cứu hệ thống hóa lý thuyết về điều kiện khởi sự kinh doanh của các doanh nghiệp mới thành lập và nghiên cứu thực trạng tại một số doanh nghiệp mới thành lập ở Việt Nam để nhằm cung cấp rõ hơn về lý thuyết cũng như thực tiễn

Với mục tiêu phục vụ trực tiếp cho việc biên soạn giáo trình giảng dạy học phần Khởi sự kinh doanh trong thời gian tới cùng với mong muốn hỗ trợ các doanh

nghiệp trong việc khởi sự kinh doanh thành công, tác giả lựa chọn đề tài “Nghiên cứu điều kiện khởi sự kinh doanh của doanh nghiệp mới thành lập” là đề tài nghiên

cứu khoa học cấp Trường

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

2.1 Trong nước

Hiện nay, trong nước có khá nhiều tài liệu và các công trình nghiên cứu về khởi nghiệp, khởi sự kinh doanh Các tài liệu và công trình nghiên cứu đó được xoay quanh các vấn đề chính như tinh thần khởi nghiệp, ý định khởi nghiệp, quá trình khởi nghiệp, ý định khởi sự kinh doanh… Về điều kiện khởi sự kinh doanh, các tài liệu đó cũng đã ít nhiều có đề cập đến các điều kiện khác nhau, bao gồm các điều kiện về bản thân người khởi sự kinh doanh, điều kiện nền tảng về vốn, pháp lý, nhân lực, cơ sở vật chất trang thiết bị… Nhưng nhìn chung, các tài liệu và công trình này đưa ra còn chưa mang tính hệ thống, chưa khoa học và chưa thực sự chi tiết về các điều kiện khởi sự kinh doanh Cụ thể:

Trang 13

Trong tài liệu của tác giả Nguyễn Ngọc Huyền Và Ngô Thị Việt Nga (2016) đã

cung cấp cho người đọc cái nhìn tổng quan về nghề kinh doanh, khởi sự kinh doanh,

tư duy khởi sự kinh doanh, phương thức, quy trình, chiến lược khởi sự kinh doanh Trong đó, nội dung các điều kiện khởi sự kinh doanh được tác giả đề cập đến theo các nội dung bao gồm: các điều kiện cần thiết để trở thành chủ DN (tư chất của một doanh nhân sẽ “thành đạt”, đến chuẩn bị các điều kiện về kiến thức, điều kiện về tố chất….), các điều kiện về nguồn lực cần thiết cho doanh nghiệp mới như điều kiện

về nguồn nhân lực, cơ sở vật chất trang thiết bị, điều kiện về tài chính cho việc tạo lập và duy trì doanh nghiệp mới… Để đảm bảo các nguồn lực cần thiết cho doanh nghiệp mới, theo nhóm tác giả việc lựa chọn nhóm các nhà quản trị để khởi sự kinh doanh là nhiệm vụ quan trọng nhất khi thành lập doanh nghiệp mới Tiếp đó là các vấn đề liên quan đến tuyển chọn nhân lực, huy động vốn, mua sắm tài sản phương tiện và trang thiết bị văn phòng Điều kiện về tài chính cần thiết, các yếu tố liên quan đến marketing như chọn thị trường mục tiêu, xác định vị thế của doanh nghiệp, xác định đối tượng khách hàng, xây dựng nhãn hiệu, marketing hỗn hợp cho doanh nghiệp mới, quá trình bán hàng… Ngoài ra, tác giả cũng đề cập đến khía cạnh để tạo dựng nền tảng cho một doanh nghiệp phát triển lâu dài, ổn định, bền vững ngay từ giai đoạn đầu khi thành lập chủ DN đã phải thực hiện các công việc thiết lập quan hệ với các đối tác chiến lược, bạn hàng, khách hàng, thiết lập các quan hệ nội bộ doanh nghiệp, với các cơ quan quản lý vĩ mô và thực thi chiến lược phát triển thích hợp lâu dài

Quy trình khởi sự kinh doanh được trình bày cụ thể bao gồm các bước từ khi hình thành, đánh giá và lựa chọn ý tưởng, đến khi lập kế hoạch kinh doanh và triển khai hoạt động kinh doanh mới Như vậy, đây là tài liệu rất hữu ích cung cấp cho độc giả những kiến thức và kỹ năng cơ bản nhất về khởi sự kinh doanh và điều kiện khởi

sự kinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên, tài liệu chưa nhấn mạnh được đâu là điều kiện có mức độ ảnh hưởng lớn nhất đến sự thành công của doanh nghiệp mới khởi sự, đâu là điều kiện quyết định sự thành công của cá nhân người khởi sự kinh doanh

Theo GEM (2018): (GEM được triển khai lần đầu vào năm 1999 với sự tham

gia của 10 nước phát triển, trong đó có 7 nước thuộc nhóm G7 là Canada, Pháp, Đức,

Ý, Nhật Bản, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ và ba nước khác là Đan Mạch, Phần Lan

và Israel Từ chỗ chỉ 10 quốc gia phát triển tham nghiên cứu chỉ số GEM trong năm đầu tiên, sau 19 năm triển khai, nghiên cứu GEM đã được thực hiện ở trên 100 nước

và trở thành nghiên cứu có quy mô lớn nhất về kinh doanh trên toàn cầu Với phương pháp nghiên cứu thống nhất được điều hành bởi các nhà nghiên cứu kinh tế hàng đầu

Trang 14

Research Association - GERA2 ), GEM có thể thu thập được bộ cơ sở dữ liệu đồng

bộ tại quốc gia thành viên, từ đó có thể giúp so sánh sự phát triển kinh doanh và các yếu tố tác động đến sự phát triển kinh doanh giữa các quốc gia, giữa các khu vực một cách chính xác và đề xuất các chính sách giúp nâng cao sự phát triển kinh doanh tại các quốc gia) Mối quan tâm chính của GEM là hoạt động thành lập doanh nghiệp mới, bao gồm những doanh nghiệp đang được thành lập hoặc mới hoạt động được dưới 3,5 năm Kết quả nghiên cứu của GEM trong báo cáo chỉ số khởi nghiệp của Việt Nam xuất bản năm 2018, là một trong những tài liệu chỉ ra rất cụ thể về các chỉ

số khởi nghiệp của Việt Nam, cơ hội, tiềm năng khởi nghiệp ĐMST, hoạt động khởi

sự kinh doanh tại Việt Nam năm 2018, triển vọng kinh doanh ở Việt Nam năm 2018 Khi đề cập đến các điều kiện để hỗ trợ cho khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và khởi sự kinh doanh tại Việt Nam, tài liệu đã đưa ra phân tích dựa trên hệ sinh thái khởi nghiệp, trong đó làm rõ các điều kiện kinh doanh tác động đến doanh nghiệp khởi sự kinh doanh Các điều kiện kinh doanh chính được sử dụng trong báo cáo bao gồm: năng lực của thị trường nội địa, văn hóa và chuẩn mực xã hội, chính sách chính phủ, cơ sở

hạ tầng, Quy định chính phủ, độ mở cửa của thị trường nội địa, chuyển giao công nghệ, dịch vụ hỗ trợ kinh doanh, giáo dục kinh doanh bậc phổ thông, giáo dục kinh doanh sau phổ thông, chương trình hỗ trợ chính phủ, tài chính cho kinh doanh… Ngoài ra, báo cáo cũng đánh giá về các yếu tố điều kiện kinh doanh của Việt Nam so với các nước khác trong khu vực ASEAN Tuy nhiên, báo cáo là những thông tin đánh giá chung toàn cảnh về các điều kiện kinh doanh của Việt Nam nói chung, chưa

có những phân tích chi tiết về từng điều kiện này đối với góc độ người khởi sự kinh doanh, các doanh nghiệp mới thành lập một cách cụ thể

Trong cuốn “Cẩm nang hiểu biết về kinh doanh”, của tác giả Trần Văn Trang

[7] có đề cập đến các nội dung cơ bản về khởi sự kinh doanh như những hiểu biết cơ bản về kinh doanh và khởi sự kinh doanh; quá trình khởi sự kinh doanh; những điều cần thiết để điều hành doanh nghiệp mới thành lập thành công… Đồng thời, khi khởi

sự kinh doanh tác giả có nhấn mạnh đến các yếu tố đảm bảo thành công trong công việc kinh doanh; đánh giá các điều kiện và yếu tố trước khi quyết định trở thành chủ doanh nghiệp như tính cách và điều kiện cá nhân, năng lực quản trị Các điều kiện đó bao gồm: quyết tâm, động cơ, thành thật, sức khoẻ, chấp nhận rủi ro, quyết đoán, điều kiện gia đình, tình hình tài chính, tay nghề kỹ thuật, năng lực quản trị Tài liệu cũng đánh giá về các điều kiện nguồn lực để điều hành doanh nghiệp mới bao gồm: nguồn nhân lực, nguồn lực tài chính, nguồn lực thiết bị, nguồn lực vật liệu, các kỹ năng quản

Trang 15

Kế thừa một số nghiên cứu từ nước ngoài, trong nghiên cứu gần đây của tác giả Nguyễn Quang Vĩnh, Trần Văn Trang (2018), nhóm nghiên cứu đã sử dụng phương pháp AHP (FAHP) nhằm xếp hạng thứ tự các yếu tố chủ yếu dẫn đến thành công trong khởi nghiệp sáng tạo Nhóm 1 là các yếu tố thuộc về doanh nhân - cá nhân hoặc nhóm khởi nghiệp/sáng lập doanh nghiệp Nhóm này đề cập tới các đặc điểm cá nhân của người/nhóm khởi nghiệp bao gồm kinh nghiệm làm việc trong ngành; kinh nghiệm khởi nghiệp trước đó; trình độ đào tạo; kinh nghiệm quản lý, khả năng lãnh đạo; động cơ khởi nghiệp Nhóm 2 là các yếu tố thuộc về doanh nghiệp, đề cập tới các đặc điểm của doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo như quy mô nhóm khởi nghiệp;

vị trí khởi nghiệp; liên minh và đối tác của doanh nghiệp khởi nghiệp Nhóm 3 là các yếu tố thuộc về môi trường, đây là các yếu tố bên ngoài như hỗ trợ từ chính phủ, quỹ đầu tư mạo hiểm, mức độ cạnh tranh và chính sách về khoa học và công nghệ Nhóm

4 là các yếu tố liên quan tới sản phẩm và thị trường bao gồm mức độ đổi mới của sản phẩm; công nghệ của sản phẩm; tiềm năng chưa khai thác của thị trường; tốc độ tăng trưởng của thị trường Kết quả đã chỉ ra động lực khởi nghiệp có ảnh hưởng lớn nhất đến sự thành công của khởi nghiệp sáng tạo, xếp thứ 2 và thứ 3 là kinh nghiệm trong ngành và trình độ đào tạo Vị trí thứ tư là kinh nghiệm về quản trị, thứ 5 là khả năng lãnh đạo Xếp thứ 6 thuộc về mức độ đổi mới của sản phẩm Các nhân tố ít có ảnh hưởng thấp nhất thuộc về Quy mô nhóm khởi nghiệp và Liên minh Tuy nhiên nghiên cứu chưa cho thấy sự ảnh hưởng mạnh mẽ của các chỉ báo liên quan đến doanh nghiệp mặc dù trong các nghiên cứu trước đây một số nhà khoa học đã chứng minh mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này Hạn chế chính của nghiên cứu này là dừng lại ở mức khám phá với số lượng mẫu nghiên cứu nhỏ Hơn nữa khái niệm “khởi nghiệp thành công” trong khảo sát chưa được giải thích một cách cặn kẽ và thống nhất cách hiểu giữa những chuyên gia tham gia khảo sát Thực tế, người trả lời có thể hiểu thành công trong khởi nghiệp theo những cách rất khác nhau

Bộ sách của ILO cũng hướng dẫn người đọc lý thuyết cơ bản về khởi sự doanh nghiệp như đánh giá ý tưởng kinh doanh, đánh giá thị trường, lên kế hoạch về tổ chức nhân sự, ước tính vốn khởi sự [9], kinh nghiệm để có thể tự đánh giá bản thân với tư cách là người khởi sự kinh doanh [10] Trong đó, yếu tố nền tảng khi khởi sự doanh nghiệp được tài liệu đề cập đến dựa trên phân tích các điều kiện cần có để khởi sự đó

là các yếu tố thuộc về bản thân - với tư cách là người chủ doanh nghiệp bao gồm các yếu tố như: quyết tâm, động cơ, chữ tín, sức khỏe, chấp nhận rủi ro, ra quyết định, điều kiện gia đình, tay nghề kỹ thuật, kỹ năng quản lý kinh doanh, kiến thức về ngành kinh doanh

Trang 16

Trong những nghiên cứu của các tác giả khác như Hồ Sỹ Hùng [4], Bích Hạnh [1], Hoàng Văn Hoa [2], Lê Văn Nam [6] chủ yếu nghiên cứu về môi trường và chính sách hỗ trợ khởi nghiệp tại Việt Nam như môi trường đầu tư, pháp luật liên quan đến kinh doanh; mối liên kết giữa Trung tâm, viện nghiên cứu, trường đại học, chính quyền và các doanh nghiệp khởi sự trong hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam

Ngoài ra, theo báo cáo của Mekong Business Initiative trong tài liệu “Thông

lệ quốc tế tốt về hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp”[11], hệ sinh thái khởi nghiệp được

đề cập đến và phân tích khá chi tiết Theo tài liệu này, các điều kiện cần thiết để doanh nghiệp khởi nghiệp thành công bao gồm: doanh nghiệp khởi nghiệp cần một ý tưởng

và tầm nhìn rõ ràng; doanh nghiệp khởi nghiệp cần kiểm nghiệm sản phẩm và dịch

vụ của mình ra thị trường; doanh nghiệp khởi nghiệp cần mở rộng thị trường sau khi sản phẩm của mình được tung ra thị trường và có khách hàng; và để phát triển cần phải có nhiều nguồn lực khác nhau nhất là nguồn vốn…

Như vậy, qua các tài liệu đã đề cập trên đây, có thể thấy đã có sự nghiên cứu

của nhiều tác giả, nhóm tác giả về khởi nghiệp, khởi sự kinh doanh nói chung, các điều kiện khởi sự kinh doanh nói riêng Mỗi tài liệu có những quan điểm tiếp cận và hướng nghiên cứu khác nhau Tuy nhiên, đối với việc nghiên cứu về điều kiện khởi

sự kinh doanh , các tài liệu nghiên cứu còn chưa mang tính hệ thống và chưa bài bản, chủ yếu là những lý thuyết mang tính cẩm nang, chắc chắn sẽ còn nhiều khoảng trống cần khai thác và hoàn thiện

Danh mục các công trình nghiên cứu, tài liệu có liên quan đến đề tài được trích dẫn khi đánh giá tổng quan bao gồm:

1 Bích Hạnh (2009), Thành lập doanh nghiệp và kinh doanh tại Việt Nam

(Setting up enterprise and doing business in Vietnam)

2 Hoàng Văn Hoa (2010), Xây dựng đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong giai đoạn 2011-2020

3 Lương Minh Huân (2015), Báo cáo Chỉ số Khởi nghiệp Việt Nam

2015/2016, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), NXB Giao Thông

Vận Tải

4 Hồ Sỹ Hùng (2010), chủ đề “Vườn ươm doanh nghiệp” (Business incubator)

5 Nguyễn Ngọc Huyền, Ngô Thị Việt Nga (2016), “Giáo trình khởi sự kinh

doanh”, NXB Đại học Kinh tế quốc dân

6 Lê Văn Nam (2012), Chuyên đề “Kiến thức và kỹ năng cần thiết để thành lập doanh nghiệp”

Trang 17

7 Trần Văn Trang (2016), Cẩm nang hiểu biết về kinh doanh, Phòng Thương

mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)

8 Nguyễn Quang Vĩnh, Trần Văn Trang (2018), Ứng dụng phương pháp AHP

mờ (FAHP) trong xếp hạng thứ tự các yếu tố chủ yếu dẫn đến sự thành công trong

khởi nghiệp sáng tạo, “Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia: Khởi nghiệp và đổi mới

trong kinh doanh”, trường Đại học Thương Mại

9 ILO (2000), Nhận thức về kinh doanh và khởi nghiệp, Chương trình khởi

sự doanh nghiệp và tăng cường khả năng kinh doanh ở Việt Nam

10 ILO (2000), Lập kế hoạch kinh doanh, Chương trình khởi sự doanh nghiệp và tăng cường khả năng kinh doanh ở Việt Nam

11 Mekong Business Initiative, Thông lệ quốc tế tốt về hỗ trợ hệ sinh thái

khởi nghiệp

2.2 Ngoài nước

Các yếu tố thành công chính (Key success factors - KSFs) đề cập tới các yếu

tố chính giúp cho các dự án khởi nghiệp hoặc doanh nghiệp mới khởi sự thành công Nhiều yếu tố khác nhau được đề cập và chứng minh trong các nghiên cứu thực nghiệm José Santisteban và David Mauricio (2017) đã tiến hành hệ thống hoá các yếu tố ảnh hưởng đến thành công trong khởi nghiệp sáng tạo trên cơ sở tổng hợp 1.013 bài báo và 74 nghiên cứu thực nghiệm và đưa ra 21 yếu tố thành công quan trọng Các yếu tố này được xếp thành 3 nhóm chính liên quan tới doanh nhân, doanh nghiệp khởi nghiệp và môi trường bên ngoài và các yếu tố khác

Doanh nghiệp mới thành lập là một chủ thể hoạt động trong hệ sinh thái khởi nghiệp, bởi hoạt động của nó đều chịu sự ảnh hưởng từ hoạt động của các bộ phận cấu thành nên hệ sinh thái khởi nghiệp quốc gia Do đó, khi xem xét các điều kiện khởi sự kinh doanh, chúng ta cũng cần xem xét đến bối cảnh đặt nó trong HST khởi

nghiệp Theo quan điểm của OECD: Định nghĩa hệ sinh thái khởi nghiệp như là “tổng

hợp các mối liên kết chính thức và phi chính thức giữa các chủ thể khởi nghiệp (tiềm năng hoặc hiện tại), tổ chức khởi nghiệp (công ty, nhà đầu tư mạo hiểm, nhà đầu tư thiên thần, hệ thống ngân hàng,…) và các cơ quan liên quan (trường đại học, các cơ quan nhà nước, các quỹ đầu tư công,…) và tiến trình khởi nghiệp (tỉ lệ thành lập doanh nghiệp, số lượng doanh nghiệp có tỉ lệ tăng trưởng tốt, số lượng các nhà khởi nghiệp,…) tác động trực tiếp đến môi trường khởi nghiệp tại địa phương” Một hệ sinh thái khởi nghiệp được hình thành bởi con người, startup trong các giai đoạn và các loại hình tổ chức khác nhau tại cùng một địa điểm (địa điểm vật lý hoặc địa điểm ảo), tương tác như một hệ thống để xây dựng nên những công ty khởi nghiệp Các tổ

Trang 18

các tổ chức hỗ trợ (như vườn tự ươm, bộ máy gia tốc, không gian làm việc chung), các tổ chức nghiên cứu, các tổ chức cung cấp dịch vụ (như dịch vụ tài chính, pháp lý)

và tập đoàn lớn Các tổ chức khác nhau thường tập trung vào các phần khác nhau trong các giai đoạn phát triển cụ thể của chức năng của hệ sinh thái và hệ sinh thái khởi nghiệp Dễ nhận thấy hệ sinh thái khởi nghiệp sẽ bao gồm các yếu tố khác nhau tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, giáo dục,…của từng địa phương Isenberg (2014) cũng đã khẳng định rằng sẽ là sai lầm nếu tạo ra một bản copy của “Silicon Valley” bởi những khác biệt cốt lõi của Mỹ so với các quốc gia khác Tuy nhiên, về

cơ bản, ta có thể khái quát các yếu tố cấu thành một hệ sinh thái khởi nghiệp theo

định nghĩa của World Economic Forum (2012), gồm 8 yếu tố như sau: Thị trường;

Nguồn nhân lực; Nguồn vốn và tài chính; Hệ thống hỗ trợ khởi nghiệp (mentors, advisors,…); Khung pháp lý và cơ sở hạ tầng; Giáo dục và Đào tạo; Các trường đại học, học viện; Văn hóa quốc gia

Theo J Robert Baum và công sự (2001) nghiên cứu sự ảnh hưởng của ba nhóm

chính bao gồm: các yếu tố thuộc về bản thân người doanh nhân (hoặc người chủ doanh nghiệp) gồm tố chất cá nhân- kỹ năng- động lực (personal factors); các yếu tố thuộc về

tổ chức (organizational factors); các yếu tố thuộc về môi trường (environmental factors) tác động như thế nào đến sự phát triển cũng như thách thức của hoạt động đầu tư kinh doanh mới Có ba biến trong yếu tố môi trường bao gồm tính năng động; sự phức tạp;

sự đa dạng; 4 biến quản trị chiến lược trong yếu tố tổ chức gồm chiến lược tập trung hóa; chiến lược chi phí thấp; đổi mới; và chiến lược khác biệt về chất lượng; và có 10 đặc điểm cá nhân để kiểm chứng yếu tố thuộc về người sáng lập như: thiết lập mục tiêu, tầm nhìn, niềm đam mê, kỹ năng quản lý nguồn lực mới, sự kiên trì, tự tin vào năng lực của bản thân, độ tuổi, khả năng kiểm soát

Bên cạnh đó, ở góc độ phân tích của khởi nghiệp đổi mới - sáng tạo, theo

Magnus Klofsten (2003), có 8 yếu tố quan trọng không thể thiếu hỗ trợ nền tảng kinh

doanh (business platform) của một doanh nghiệp khởi nghiệp, cần thiết cho công ty

đó tiếp tục phát triển, có lợi nhuận và ổn định Các nền tảng đó được xác định bởi: ý tưởng (idea), sản phẩm (product), tiếp thị (market), chuyên môn của chủ doanh nghiệp (the Expertise) (người sáng lập hoặc người điều hành), động cơ thúc đẩy (motivation); quan hệ khách hàng (the Customer relations), cơ cấu tổ chức (the Organizational Development) và quan hệ với các đối tác khác

Với mô hình được coi là tiêu chuẩn (Bygrave 1994, 10-11, Ripsas 1997), mô

hình của Timmons (1994) tóm tắt các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến một doanh

nghiệp khởi nghiệp trong những năm đầu gồm ba nhóm chính đó là yếu tố con người (bao gồm cả những người sáng lập, đội ngũ quản trị); ý tưởng (khai thác và phát triển

Trang 19

các cơ hội thị trường); các tài nguyên (quan trọng cho việc thiết lập và phát triển doanh nghiệp)

Cũng tương tự như vậy, các yếu tố chính tạo nên sự thành công của doanh

nghiệp khởi nghiệp được tác giả Bertrand Brillois (2000) kiểm định thông qua nghiên

cứu thực tiễn tại một số doanh nghiệp khởi nghiệp thành công đó là: xây dựng và làm rõ ý tưởng; tập trung vào việc phát triển sản phẩm và thị trường; cơ cấu tổ chức; giá trị cốt lõi; sự cam kết; mối quan hệ với khách hàng; mối quan hệ với các đối tác khác, Ngoài ra, một số nghiên cứu về doanh nghiệp nhỏ cũng là những tài liệu cần thiết có liên quan tới nội dung nghiên cứu của bài viết Điển hình, có thể ứng dụng kết quả nghiên cứu của Bolton 1971, được đề cập đến bao gồm các vấn đề mà doanh nghiệp nhỏ cần xác định để thành công như: các vấn đề quản trị tài chính; quản trị và kiểm soát thông tin; tổ chức và phân quyền; marketing; quản trị hệ thống thông tin; quản trị nhân sự; quản trị công nghệ; lập kế hoạch sản xuất và quản trị mua hàng

Trong số các yếu tố nội tại doanh nghiệp, vốn được đánh giá có ảnh hưởng

quyết định đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mới khởi nghiệp về quy mô

và năng lực kinh doanh (Lussier và Halabi, 2010) Cụ thể, vốn tác động đến các quyết định về đầu tư, mua sắm tài sản, từ đó ảnh hưởng đến quy mô vốn từ các tổ chức tín dụng Doanh nghiệp khởi nghiệp có tiềm lực mạnh về tài chính sẽ có điều kiện thuận lợi để đổi mới cơ sở vật chất, trang thiết bị, công nghệ, nâng cao khả năng cạnh tranh

và cơ hội phát triển trên thị trường

Mặt khác, nguồn nhân lực và phương pháp quản trị nhân lực được coi là nhân

tố chủ yếu tạo ra lợi nhuận cho mọi doanh nghiệp (Benzing, 2008) Doanh nghiệp với đội ngũ quản lý có kinh nghiệm và năng lực quản lý tốt cùng với đội ngũ nhân viên

có trình độ và khả năng sáng tạo sẽ tạo nên lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp trong quá trình phát triển

Chính sách marketing và bán hàng quyết định sự thành công đảm bảo doanh thu cho doanh nghiệp, cũng là yếu tố quyết định đến sự tồn tại, phát triển bền vững của doanh nghiệp khởi nghiệp Sản phẩm của doanh nghiệp dù có tốt nhưng chính sách marketing và bán hàng không được chú trọng sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả kinh doanh, đặc biệt trong thời đại công nghệ số phát triển như hiện nay (Parker, 2004)

Muốn đảm bảo sự thành công của doanh nghiệp trong giai đoạn khởi nghiệp, sản phẩm của doanh nghiệp cần được thường xuyên thay đổi theo nhu cầu xã hội, đồng thời cũng cần tạo ra những quy chuẩn mang tính ổn định nhằm định vị khách hàng cho doanh nghiệp (Baccohetti và Trovato, 2002)

Trang 20

Yếu tố văn hóa doanh nghiệp tác động tới doanh nghiệp khởi nghiệp được thể hiện rõ thông qua việc tạo nên một thương hiệu và điểm nhấn riêng cho doanh nghiệp (Marika và Hannu, 2013)

Trong nghiên cứu Chuthamas C., Aminul I., Thiyada, K., & Dayang, H M Y (2011) tác giả chỉ xem xét nghiên cứu dựa trên các yếu tố ảnh hưởng đến thành công trong kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Thái Lan thông qua việc nghiên cứu đã kiểm định sự ảnh hưởng của 8 yếu tố là: lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) (Kristiansen, Furuholt, & Wahid; 2003), quản trị và bí quyết (Swierczek & Ha, 2003), sản phẩm- dịch vụ (Wiklund 1998; và Hitt & Ireland 2000); khách hàng- thị trường (William, James & Susan; 2005); cách thức kinh doanh và hợp tác (Hitt & Ireland 2000; và Jarillo 1988); tài nguyên/ nguồn lực - tài chính (Swierczek & Ha, 2003; và Kristiansen, Furuholt & Wahid, 2003); chiến lược (McMahon, 2001) và môi trường bên ngoài (Huggins, 2000; và Nurul Indarti & Marja Langenberg, 2005) Kết quả kiểm định thông qua phân tích SPSS đã cho ra kết quả các yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự thành công của các doanh nghiệp vừa

và nhỏ ở Thái Lan là lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa; khách hàng

và thị trường; cách thức kinh doanh; tài nguyên (nguồn lực) và tài chính, môi trường bên ngoài Để thành công, sản phẩm đòi hỏi sự sáng tạo, đòi hỏi sự đổi mới về sản phẩm, chất lượng, chi phí, độ tin cậy và dịch vụ là chìa khóa trong chiến lược cạnh tranh thành công của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Thái Lan Sản phẩm đòi hỏi phải sáng tạo, có chất lượng, nhưng sự cân bằng giữa chất lượng và chi phí là yếu tố cần xác định phù hợp Các tài nguyên được đề cập đến gồm tài nguyên cơ sở vật chất

kỹ thuật, tài chính, thông tin, xã hội và kiến thức có thể được sử dụng và ảnh hưởng mạnh mẽ trong quá trình thiết lập và vận hành doanh nghiệp mới tại Úc (Davidsson, P., & Gordon, S R (2013)) Hay nói cách khác, tổng nguồn lực sẵn có cho công ty được phân loại thành bốn loại: vốn nhân lực, vốn xã hội, vốn tài chính, và lợi thế về tài nguyên Vốn nhân lực đề cập đến kiến thức mà một nhóm sáng lập có thể mang lại để tạo ra liên doanh mới Vốn xã hội đề cập đến các nguồn lực khác nhau được liên kết thông qua những người khác, tìm hiểu, khai thác thông tin và kết hợp với những người khác.Vấn đề then chốt là vốn xã hội mang lại lợi ích vì nó cho phép những người sáng lập có cơ sở vững chắc để tiếp cận nhiều thông tin hơn trong việc đưa ra quyết định của họ và cho phép tiếp cận những lợi ích khác mà họ không có Vốn tài chính đề cập đến số tiền và nguồn vốn huy động có thể có cho những người sáng lập công ty để đầu tư vào liên doanh của họ Báo cáo chỉ ra nguồn nhân lực của doanh nghiệp được xem xét trên khía cạnh kinh nghiệm, giáo dục đào tạo, và kỹ năng Kinh nghiệm là điều quan trọng cho việc tạo ra và duy trì liên doanh mới (new

Trang 21

venture) bao gồm kinh nghiệm kinh doanh và kinh nghiệm quản lý Nhất là các doanh nghiệp trong giai đoạn đầu mới thành lập, nhân lực có kỹ năng và kinh nghiệm càng nhiều thì càng thuận lợi cho hoạt động kinh doanh Ở những giai đoạn sau, khía cạnh giáo dục - đào tạo của nhân lực là yếu tố cũng quyết định đến sự thành công Những người được giáo dục - đào tạo nhiều hơn có thể sẽ đạt được nhiều thuận lợi hơn và thu được nhiều thành công hơn Những người sáng lập không nên sử dụng tiền tiết kiệm của riêng họ để khởi nghiệp trong công ty của họ Tuy nhiên, tìm kiếm nguồn tài chính từ quá nhiều nguồn, cũng không đảm bảo chắc chắn cho sự thành công Việc

sử dụng quá nhiều nguồn thông tin để điều hành công ty trong quá trình tạo ra hoạt động đầu tư mới có thể gây bất lợi cho sự thành công

Ảnh hưởng của các yếu tố thuộc về đặc điểm doanh nhân:

Đặc điểm, tính cách cá nhân của doanh nhân (người sáng lập/ chủ doanh nghiệp), các yếu tố thuộc về môi trường bên trong (vốn, nhân sự, chiến lược kinh doanh ) của tổ chức doanh nghiệp và các yếu tố môi trường bên ngoài là những yếu

tố đã được nghiên cứu bởi nhiều chuyên gia kinh tế, có ảnh hưởng đến sự thành công của các hoạt động đầu tư kinh doanh mới Tuy nhiên, từ 1961 đến 1990, có một số công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng đặc điểm của các doanh nhân có tác động nhỏ đến sự thành công của các doanh nghiệp mới thành lập (liên doanh mới) (Aldrich & Wiedenmayer,1993) Kết quả nghiên cứu này đã dẫn đến nhiều điều bất ngờ, bởi theo một số nghiên cứu khác, các doanh nhân đã chỉ ra đặc điểm cá nhân của doanh nhân

là yếu tố quan trọng nhất (chiếm vị trí then chốt) quyết định đến sự thành công của doanh nghiệp mới thành lập (Sexton, 2001; Smith & Smith, 2000) Theo Sexton (2001), Ray (1993) tính cách cá nhân là yếu tố quan trọng để khởi nghiệp thành công

và ngoài ra còn bao gồm kiến thức khởi nghiệp; kỹ năng khởi nghiệp và tài chính cho khởi nghiệp Trong giai đoạn gần đây, ngày càng tăng số lượng các công trình nghiên cứu của các chuyên gia dựa trên tâm lý học, họ không chỉ quan tâm đến đặc điểm cá nhân của doanh nhân, mà họ còn tập trung để nghiên cứu về năng lực, động lực, nhận thức và hành vi Các mô hình phức tạp hơn, công cụ nghiên cứu tốt hơn và các lý thuyết thực tế hơn về mặt quan hệ nhân quả đã được sử dụng (Baron, 2004; Baum, Locke, & Smith, 2001; Busenitz & Barney, 1997; Mitchell, Smith, Seawright,

& Morse, 2000) Và nhiều nghiên cứu đều chỉ ra rằng đặc điểm cá nhân, đặc điểm tính cách người chủ doanh nghiệp có ảnh hưởng khá tương đồng nhau ở các nước Ngoài ra, trong tài liệu “Principles of Entrepreneurship”, ấn phẩm của chương trình thông tin quốc tế, Bộ ngoại giao Hoa Kỳ; tháng 11/ 2007, các phẩm chất cá nhân cần thiết của một doanh nhân thành đạt bao gồm: tính sáng tạo, tính chăm chỉ, lòng quyết

Trang 22

nghiên cứu sau này, J Robert Baum and Edwin A Locke (2004), đã đi sâu về nghiên cứu các yếu tố đặc điểm cá nhân, kỹ năng và động lực của người chủ doanh nghiệp ảnh hưởng như thế nào tới sự tăng trưởng của hoạt động đầu tư kinh doanh mới Kết quả đã chỉ ra rằng: các yếu tố thuộc về đặc điểm cá nhân, kỹ năng và động lực (động

cơ thúc đẩy) của người chủ doanh nghiệp là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự tăng trưởng của doanh nghiệp mới thành lập trong giai đoạn 6 năm đầu tiên Với yếu

tố động lực của doanh nhân là yếu tố ảnh hưởng quan trọng nhất Ngoài ra, kỹ năng quản lý nguồn lực (tài nguyên) mới của doanh nghiệp có ảnh hưởng mạnh mẽ đến

sự tăng trưởng của doanh nghiệp mới hơn là các yếu tố sự tự tin của người chủ doanh nghiệp Nghiên cứu cũng tiến hành đo lường mối quan hệ giữa các yếu tố đặc điểm

cá nhân như tham vọng với tầm nhìn, mục tiêu và sự tự tin Một số nghiên cứu khác, được tiếp cận theo hướng đánh giá về vai trò của người chủ doanh nghiệp trong sự thành công của doanh nghiệp nhỏ Martyn P Driessen, Peter S Zwart (2002); Pontus Braunerhjelm (2010) Những khác biệt về tính cách giữa doanh nhân và một người làm thuê trung bình thường được mô tả về mặt lý thuyết với mô hình “thu hút - lựa chọn - tiêu hao” (Schneider, 1987) Theo mô hình này, người làm công bị thu hút vào các công việc mà yêu cầu và cơ hội của nó phù hợp với khả năng, động cơ, và đặc điểm tính cách của họ; người chủ hay người xuất vốn sau đó sẽ lựa chọn ứng viên có năng lực và động cơ phù hợp với tiêu chuẩn họ đề ra; và người làm công sau đó ở lại trong nhóm nghề nghiệp của họ khi họ thấy thực tế công việc của họ có lợi ích lớn hơn các vị trí thay thế khác Môi trường kinh doanh là cực kỳ nhiều rủi ro và khả năng bất lợi, đặc biệt với những người tìm kiếm sự phát triển cao Theo báo cáo của Åstebro và các cộng sự (2014), trên 400.000 cá nhân ở Hoa Kỳ mỗi năm bắt đầu doanh nghiệp của mình với ít nhất 1 nhân viên nhưng có tới hơn 50% các doanh nghiệp khởi nghiệp không còn hoạt động nữa sau 6 năm, và 75% số doanh nhân sau khi kết thúc công việc khởi nghiệp của mình mà không còn vốn chủ sở hữu Thảo luận về rủi ro và khởi nghiệp, trong nghiên cứu của Knight (1921) đã chỉ ra rằng sự khác biệt giữa doanh nhân với những người khác chính là sự nhận thức cũng như hành động của họ trước cơ hội, mặc dù cơ hội đó không chắc chắn và có tiềm ẩn rủi

ro Khilstrom and Laffont (1979), đã phát triển mô hình lý thuyết phổ biến dự đoán rằng hầu hết những người mà không thích mạo hiểm, không dám chấp nhận rủi ro thì

sẽ trở thành nhân viên trong khi những người có ác cảm với rủi ro thấp thì trở thành doanh nhân

Mô hình 5 yếu tố (Big-5) là một cách tiếp cận đa chiều đối với việc xác định tính cách, thông qua đo lường sự sẵn sàng trải nghiệm (độ mở đối với kiến thức), sự tận tâm, sự hướng ngoại, cá nhân có tính dễ chấp nhận, và sự nhạy cảm Nó đã và

Trang 23

đang là mô hình chiếm ưu thế cho các đặc điểm tính cách của người chủ doanh nghiệp

kể từ những năm 1980, và các đặc điểm Big-5 đã được cho thấy là có ảnh hưởng đến

sự lựa chọn nghề nghiệp và hiệu suất công việc, sự thành công của người doanh nhân

đó (ví dụ, Costa và McCrae, 1992; Digman, 1990; Goldberg, 1990; John et al, 2008; Rauch, 2014) Năm “đặc điểm” bao gồm một bộ đặc điểm riêng biệt, như được mô tả trong John et al (2008, trang 138): đó là sự sẵn sàng trải nghiệm, sự tận tâm, tính hướng ngoại, các nhân có tính dễ chấp nhận và sự nhạy cảm Về sự sẵn sàng trải nghiệm, Antoncic et al (2015) đã tìm cách đo lường đặc điểm của nhiều doanh nhân khác nhau hoặc có mức độ ý định khác nhau so với những người không phải là doanh nhân Nghiên cứu tiến hành 62 cuộc phỏng vấn trực tiếp tại các doanh nghiệp, với

501 bảng câu hỏi khảo sát tại các cơ sở giáo dục ở Slovenia, phân loại đối tượng điều tra thành bốn nhóm: các doanh nhân thực sự (practicing entrepreneurs) đã sở hữu một công ty (chiếm 30,2%); các doanh nhân tiềm năng có ý định thành lập công ty của riêng mình trong ba năm tiếp theo (9,9%); những người có vẻ sẽ trở thành doanh nhân

và có thể thành lập công ty của riêng họ trong tương lai (46,7%); hoặc những người không phải doanh nhân và không có ý định thành lập công ty của riêng họ (13,2%) Nghiên cứu tìm thấy các biến thể phản ánh kết quả khảo sát về sự sẵn sàng trải nghiệm: các doanh nhân thực sự sẵn sàng trải nghiệm nhất, các doanh nhân tiềm năng

ít sẵn sàng hơn, những người có thể có tiềm năng làm doanh nhân thậm chí ít ít sẵn sàng hơn và nhóm không phải doanh nhân ít sẵn sàng nhất Cùng sử dụng mô hình Big -5 trong nghiên cứu, kết quả điều tra doanh nghiệp nhỏ và vừa được trình bày trong “Báo cáo đặc điểm môi trường kinh doanh ở Việt Nam” (2016) chỉ ra: Tại Việt Nam, nhìn chung sự sẵn sàng đối mặt với rủi ro dường như là khá thấp với tỷ lệ chỉ khoảng 2,4- 2,8% (mức lớn nhất có thể là 10%) trong toàn bộ các nhóm điều tra được nêu ra Có sự khác biệt đáng kể giữa chủ doanh nghiệp là nam giới và nữ giới xét trên

cả hai khía cạnh là thái độ trước những rủi ro và tính cách cá nhân Chủ doanh nghiệp

là nữ thường thể hiện mức chấp nhận rủi ro thấp hơn so với đồng nghiệp nam giới xét

ở 5 góc độ “độ mở đối với kiến thức, sự tận tâm, tính hướng ngoại, cá nhân có tính

dễ chấp nhận cao, sự nhạy cảm” về tính cách cá nhân và có điểm cao hơn đáng kể về

sự tận tụy, tính dễ tiếp xúc và sự nhạy cảm Nữ giới thường có thiên hướng đầu tư mang tính ít rủi ro hơn so với nam giới Trong khi khung điểm tối đa cho cả nam và

nữ là 5, thì có nhiều hơn đáng kể tỷ lệ nữ giới lựa chọn trong nhóm từ 0-3 điểm Kết quả này tương đồng với lý thuyết về kinh tế hành vi cho rằng phụ nữ là những người

ít có chiều hướng chấp nhận rủi ro như nam giới (ví dụ: Croson and Gneezy 2009; Charness and Gneezy 2012) Như vậy, sự khác biệt quan trọng giữa hai giới với kết

Trang 24

tương tự cũng được Dohmen và cộng sự (2011) khẳng định trong nghiên cứu của mình Điều này có thể là một nhân tố trung gian để giải thích cho hiện tượng quan sát được là có ít hơn tỷ lệ tự kinh doanh và tỷ lệ tự kinh doanh thành công cũng thấp hơn

ở các doanh nghiệp do nữ giới làm chủ hoặc điều hành so với các đồng nghiệp là nam giới Những nhân tố này có thể là nguyên nhân giải thích những khác nhau về giới tính đối với kết quả hoạt động của doanh nghiệp

Ảnh hưởng của các yếu tố thuộc về môi trường bên ngoài

Ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh và nắm phần quyết định đến sự tồn tại của các doanh nghiệp trong thời gian khởi nghiệp đó chính là môi trường bên ngoài (Cooper, Gimeno Gascon và Woo, 1994)

Theo Kathryn Watson, Sandra Hogarth-Scott; Nicholas Wilson (1998) các yếu

tố đó bao gồm: các yếu tố môi trường bên ngoài (như chính phủ, ngân hàng, nhà cung cấp, đối thủ cạnh tranh, các chính sách hỗ trợ); các yếu tố thuộc về người sáng lập (kinh nghiệm, nền tảng kinh tế xã hội, kỹ năng và kiến thức chuyên môn, tố chất, đặc điểm cá nhân; động lực) và các yếu tố thuộc về kinh doanh như (lĩnh vực kinh doanh, nhân lực, công nghệ, tài chính, kế hoạch, chiến lược, quản lý và tài nguyên) Môi trường kinh doanh được chia làm 4 yếu tố (Pawan Kumar Jain): môi trường kinh tế, pháp luật, chính trị và văn hóa xã hội Các công ty và môi trường xung quanh nó có một mối quan hệ chặt chẽ với nhau Và sự thành công của một doanh nghiệp kinh doanh phụ thuộc đáng kể vào Nhà nước và tăng trưởng của nền kinh tế

Điều này cũng có nhiều điểm tương đồng với kết quả nghiên cứu của Chuthamas C., Aminul I., Thiyada, K., & Dayang, H M Y (2011) cho thấy: Yếu tố môi trường bên ngoài đóng một vai trò rất quan trọng cho sự thành công vững chắc của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) tại Thái Lan (cũng tương đồng với kết quả nghiên cứu của Yusuf 1995) Sự kết nối xã hội (social network); sự hỗ trợ của chính phủ, các yếu tố luật pháp - pháp lý (Mazzarol & Choo, 2003) là những yếu tố chiếm

vị trí then chốt, đóng vai trò quan trọng trong môi trường bên ngoài tác động đến sự thành công của SMEs bởi nó giúp hỗ trợ các SMEs trong từng giai đoạn từ khi khởi nghiệp - đến tăng trưởng và phát triển (thành công) trong kinh doanh ((Kristiansen, 2003)

Ngoài ra, thành công trong kinh doanh của SMEs tại Thái Lan được chỉ ra dựa trên cách thức kinh doanh và cách thức hợp tác với các đối tác khác Sự hợp tác, liên doanh tạo ra góp phần tích cực để cải thiện tính hợp pháp của công ty và vươn lên những vị trí danh giá hơn trên thị trường, bởi hợp tác cho phép các doanh nghiệp nhỏ cải thiện vị trí chiến lược của mình, tập trung vào những khía cạnh kinh doanh cốt lõi, tham gia thị trường quốc tế, giảm chi phí giao dịch, học hỏi các kỹ năng mới và

Trang 25

đối phó với những sự thay đổi về công nghệ một cách nhanh chóng Các công ty thành công thường dành nhiều thời gian hơn trong việc giao tiếp với các đối tác, khách hàng, nhà cung cấp và chính nhân viên của doanh nghiệp mình Vì thế, các SMEs Thái Lan cần đảm bảo xây dựng được sự kết nối xã hội (mạng xã hội) mạnh

mẽ, và mối quan hệ với Chính phủ tốt để đảm bảo sự thành công trong kinh doanh của họ Theo Thibault, Wilcock, và Kanetkar, (2002) cho rằng các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh có thể được quy cho các yếu tố cá nhân và nội bộ doanh nghiệp (các yếu tố như khả năng tài chính, sử dụng công nghệ, tên tuổi của doanh nghiệp, lĩnh vực hoạt động kinh doanh, cơ cấu kinh doanh và số lượng nhân viên toàn thời gian là nhân tố quan trọng Một cái nhìn có tính chất toàn diện trong nghiên cứu của Olabisi, Andrew, and Adewole, (2011) gồm: đặc điểm cá nhân của doanh nhân,

sự ảnh hưởng của cha mẹ, động lực/ động cơ và mục tiêu kinh doanh, chiến lược kinh doanh, mạng lưới kết nối và định hướng kinh doanh và các yếu tố khác là các yếu tố môi trường Môi trường bên ngoài là yếu tố không thể thiếu trong một loạt các nghiên cứu khác về yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mới thành lập hoặc hoạt động đầu tư kinh doanh mới ở nhiều quốc gia khác nhau Các nhân tố được Davidsson, P., & Gordon, S R (2013) kiểm định dựa trên nghiên cứu thực nghiệm tại Úc, trên nhiều loại hình doanh nghiệp khởi nghiệp với mô hình đánh giá các yếu tố thành công của doanh nghiệp mới thành lập bao gồm: Tài nguyên/ nguồn lực (resource), môi trường (environment) và quy trình (process) Trong đó, các yếu

tố môi trường đo lường thông qua sự ảnh hưởng của địa bàn doanh nghiệp hoạt động, lĩnh vực kinh doanh Kết quả chỉ ra: các yếu tố môi trường phần lớn có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các kết quả hoạt động, sự tăng trưởng của hoạt động đầu tư mới Địa bàn hoạt động sẽ có khả năng hỗ trợ hoặc cản trở hiệu quả hoạt động của những hoạt động đầu tư kinh doanh mới, ví dụ các công ty có trụ sở ở Adelaide ít có khả năng sống sót hơn so với các bang khác hay nói cách khác tinh thần khởi nghiệp khó khăn hơn để duy trì ở Adelaide Đồng thời, bằng chứng chỉ ra Brisbane cung cấp một môi trường tạo thuận lợi cho việc tạo ra việc làm của các công ty Ngành bán lẻ, dịch vụ khách hàng và sản xuất là những ngành khó khăn hơn để đạt được thành công khi so sánh với ngành xây dựng và tư vấn Cùng đo lường các yếu tố liên quan đến địa bàn hoạt động và lĩnh vực kinh doanh Trong báo cáo đặc điểm môi trường kinh doanh Việt Nam (2016), sự thay đổi doanh nghiệp, được đo lường bằng tỷ lệ số doanh nghiệp được thành lập mới và doanh nghiệp ra khỏi thị trường Kết quả cho thấy sự biến động của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng rất lớn từ các yếu tố: (i) quy mô doanh nghiệp; (ii) loại hình doanh nghiệp; (iii) địa bàn; và (iv) lĩnh vực, ngành nghề hoạt động Tỷ

Trang 26

nhìn chung là cao hơn và điều này có thể được lý giải bởi áp lực cạnh tranh lớn hơn

ở khu vực này Cạnh tranh khốc liệt hơn tại khu vực thành thị đã được khẳng định trong các nghiên cứu trước đây về DNNVV ở Việt Nam (Hansen et al 2009) Ngoài

ra, các doanh nghiệp trong ngành chế biến gỗ có tỷ lệ ra khỏi thị trường cao hơn tỷ lệ trung bình xét theo mức độ quy mô doanh nghiệp, trong khi đó tỷ lệ ra khỏi thị trường lại tương đối thấp trong ngành chế biến thực phẩm Điều này cũng lý giải được sự tăng trưởng của doanh nghiệp mới thành lập là ít nhiều bị ảnh hưởng bởi các yếu tố trên đã nêu

Danh mục các công trình nghiên cứu, tài liệu có liên quan đến đề tài được trích dẫn khi đánh giá tổng quan bao gồm:

1 Alexander Osterwalder and Yves Pigneur (2010), Business Model

Generation, Publish by John Wiley & Sons, Inc Hoboken, New Jersey

2 Alexander Osterwalder and Yves Pigneur (2016), Business Model Generation

-Tạo lập mô hình kinh doanh, Bản dịch tiếng Việt, Nhà xuất bản Lao Động

3 Aldrich, H E & Wiedenmayer, G (1993) From traits to rates: An ecological perspective on organizational foundings In J A Katz, & R H Brockhaus (eds.)

4 Aldrich, H (1999) Organizations Evolving Thousand Oaks, CA: Sage

5 Åstebro, T., H Herz, R Nanda & R.A Weber (2014) Seeking the roots of entrepreneurship: Insights from behavioral economics Journal of Economic Perspectives, 28(3), 49-70

6 Baron, R.A (2004) The cognitive perspective: A valuable tool for answering entrepreneurship's basic “why” questions Journal of Business Venturing, 221-239

7 Bertrand Brillois (2000); Successful Start-ups & Key Success Factors: A study of the Fast Growing Firms

8 Bill Aulet (2016), Kinh điển về khởi nghiệp – 24 bước khởi sự kinh doanh

thành công, Bản dịch tiếng Việt, NXB Lao động

9 Bruce R Barringer and R Duane Ireland (2012), Entrepreneurship:

Successfully Launching New Ventures, 4/E, Pearson Education

10 Bolton Report (1971), Report of the Committee of Inquiry on Small Firms, chaired by J.E Bolton, Cmnd 4811, HMSO, London

11 Busenitz & Barney (1997) Differences between entrepreneurs and managers in large organizations: Biases and heuristics in strategic decision-making Journal of Business Venturing, vol 12, issue 1, 9-30

Trang 27

12 Charness and Gneezy (2012) Strong Evidence for Gender Differences in Risk Taking Journal of Economic Behavior & Organization, vol 83, issue 1, 50-58

13 Chuthamas C., Aminul I., Thiyada, K., & Dayang, H M Y (2011) Factors affecting business success of small and medium enterprises (SMEs) in Thailand Asian Social Science, Vol 7, No 5; May 2011

14 Croson and Gneezy (2009) Gender Differences in Preferences Journal of Economic literature Vol 47, No.2, June (pp.448-74)

15 Charles E.Bamford & Garry D.Bruton, Mc Graw Hill (2011),

Entrepreneurship – A Small Business Approach

16 Don Covey, Start a Business: Start Your Own Business and Get It Right

the First Time (How to Start a Small Business, Starting a Business, Starting a

Business Book, Startup, How to Write a Business Plan)

17 Davidsson, P., & Gordon, S R (2013); Identifying important success factors in new venture creation Prepared for the Department of Industry

18 Digman (1990) Personality structure: emergence of the five - factor model Annual review of Psychology, vol 41: 417-440 13 Dohmen và cộng sự (2011) Individual risk attitudes: measurement, determinants, and behavioral consequences Journal of the European Economic Association

19 Estrin S., Meyer K.E & Bytchkova M (2009), Entrepreneurship in

transiton, The Oxford Hand Book of Entrepreneurship, pp 693 – 725

20 John OP, Naumann LP, Soto CJ (2008) Paradigm shift to the integrative Big Five trait taxonomy: History, measurement, and conceptual issues In RWOP John, Handbook of personality: New York: Guilford Press Theory Res p114-158

21 Gartner William, Entrepreneurship theory and practice, University of

24 Katz J.A and Gartner W.B (1988), Properties of Emerging Organizations,

Academy of Management Review

25 Klofsten, Magnus (1993) The Business Platform: Entrepreneurship & Management, in the early stages of a firm’s development, TII - European Association for the Transfer of Technologies, Innovation and Industrial Information, Luxembourg, Belgium

Trang 28

26 Kathryn Watson, Sandra Hogarth-Scott and Nicholas Wilson (1998) Small business start-ups: success factors and support implications International Journal of Entrepreneurial Behaviour & Research, Vol 4 No 3, pp 217-238

27 Mitchell, R K., Smith, B., Seawright, K W., & Morse, E A (2000) cultural cognitions and the venture creation decision Academy of Management Journal, 43(5), 974-993

Cross-28 Martyn P Driessen, Peter S Zwart (2002), The Entrepreneur Scan Measuring Characteristics and Traits of Entrepreneurs

29 Nabi G & Linan F (2011), Graduate entrepreneurship in the developing

world: intentions, education and development, Education and Training 53, pp 325 - 334

30 Pawan Kumar Jain Entrepreneurship and environment School of open Learning (SOL)

31 Per Davidsson, Magnus Klofsten (2003) The business platform: Developing an instrument to gauge and to assist the development of young firms Journal of small business management

32 Pontus Braunerhjelm (2010) Entrepreneurship, Innovation and Economic Growth: Past Experiences, current knowledge and policy implications, February, 2010

33 Robert Baum J and Edwin A Locke (2004) The Relationship of Entrepreneurial Traits, Skill, and Motivation to Subsequent Venture Growth, Journal

of Applied Psychology Copyright 2004 by the American Psychological Association, Vol 89, No 4, 587-598

34 Sammut (2010), In Support of the Entrepreneur: From Isolation to the

Search for Legitimacy

35 Stevenson and Jarillo (1990), A Paradigm of Entrepreneurship:

Entrepreneurial Management, Strategic Management Journal Vol 11, pp 17-27

Tóm lại, các công trình nghiên cứu về khởi sự kinh doanh, khởi nghiệp là tương đối nhiều Điều kiện và các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công của doanh nghiệp mới được thành lập sau khi cá nhân/ nhóm người khởi sự kinh doanh ở mỗi quốc gia

là khác nhau, bắt nguồn từ nguyên nhân như do sự tác động của yếu tố văn hóa, kinh

tế, chính trị… Do đó, các nghiên cứu trên đây chỉ thích hợp phần nào khi ứng dụng nghiên cứu và triển khai khởi sự kinh doanh taị Việt Nam

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Mục tiêu chung: hệ thống hóa lý thuyết về điều kiện khởi sự kinh doanh của

doanh nghiệp mới thành lập, phục vụ trực tiếp cho việc biên soạn giáo trình học phần Khởi sự kinh doanh Vận dụng trong thực tiễn khi khởi sự kinh doanh của các doanh

nghiệp Việt Nam

Trang 29

* Đánh giá của các chủ doanh nghiệp về sự ảnh hưởng của các điều kiện khởi sự

kinh doanh này đến sự thành công của doanh nghiệp mới thành lập (3,5 năm đầu)

* Ứng dụng kết quả nghiên cứu trong giảng dạy học phần khởi sự kinh doanh của

bộ môn Quản trị tác nghiệp kinh doanh, đề xuất các giải pháp hỗ trợ các cá nhân/ nhóm

người khởi sự kinh doanh tại các doanh nghiệp mới thành lập ở Việt Nam

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính là các điều kiện khởi sự kinh doanh của doanh nghiệp mới thành lập (thành lập <3,5 năm) Bao gồm các điều kiện môi trường bên ngoài, điều kiện về nguồn lực của doanh nghiệp, điều kiện về đặc điểm cá nhân của người chủ doanh nghiệp/ người khởi sự kinh doanh

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về nội dung: Đề tài nghiên cứu hệ thống hóa lại lý thuyết khởi sự

kinh doanh, điều kiện khởi sự kinh doanh của doanh nghiệp mới thành lập, phân tích thực trạng điều kiện khởi sự kinh doanh của một số doanh nghiệp mới thành lập ở Việt Nam điển hình Từ đó, đề xuất giải pháp trong giảng dạy học phần Khởi sự kinh doanh của bộ môn Quản trị tác nghiệp kinh doanh và ứng dụng tại các doanh nghiệp Việt Nam trong thực tế

- Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu về điều kiện khởi sự kinh doanh

của 20 doanh nghiệp mới thành lập (với thời gian hoạt động <3,5 năm)

- Phạm vi về thời gian: Đề tài nghiên cứu lý luận về khởi sự kinh doanh thông

qua tổng quan lý thuyết từ các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước Đồng thời, khảo sát thực trạng tại một số doanh nghiệp khởi sự kinh doanh của Việt Nam trong những năm gần đây, từ năm 2015-2018, định hướng giải pháp giúp các nhà khởi sự tương lai, doanh nghiệp mới thành lập tạo lập điều kiện khởi sự kinh doanh thành công

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp thu thập dữ liệu

- Loại dữ liệu bao gồm các dữ liệu định tính và dữ liệu định lượng

- Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp (phỏng vấn); thứ cấp

Trang 30

+ Tìm kiếm và lập danh sách các tài liệu cần thiết, đọc và nghiên cứu để hệ thống hóa cơ sở lý luận

+ Các dữ liệu được sử dụng chính trong báo cáo bao gồm các dữ liệu thứ cấp

là văn bản bao gồm các tài liệu, các công trình nghiên cứu của các tác giả đã được xuất bản hoặc chưa xuất bản dưới dạng sách, giáo trình, bài báo khoa học, tài liệu giảng dạy và học tập có liên quan đến điều kiện khởi sự kinh doanh Các số liệu thống

kê tại các doanh nghiệp thực tế như các báo cáo tài chính, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, các văn bản của doanh nghiệp…

+ Các dữ liệu sơ cấp đã được tác giả sử dụng thông qua phỏng vấn chuyên sâu các cá nhân đã, đang khởi sự kinh doanh và các cá nhân hiện đang giữ các chức vụ quản lý tại các doanh nghiệp mới thành lập trong 3 năm gần đây Số lượng phỏng vấn

là 20 người chủ DN, trên địa bàn Hà Nội và một số tỉnh thành lân cận

Các đối tượng phỏng vấn đến từ các doanh nghiêp vừa và nhỏ mới thành lập trong các lĩnh vực kinh doanh khác nhau như sản xuất cơ khí, sản xuất phần mềm, sản xuất vật liệu xây dựng, lĩnh vực xây dựng, giáo dục, du lịch, kinh doanh bất động sản, thực phẩm, thiết bị giáo dục… Máy thu âm được sử dụng trong quá trình phỏng vấn nhằm ghi lại chân thực câu trả lời của cuộc phỏng vấn

5.2 Phương pháp xử lý dữ liệu

Phương pháp phân tích dữ liệu định tính được nhóm nghiên cứu sử dụng dựa theo quy trình của Creswell (2014) để phân tích dữ liệu định tính sơ cấp trong nghiên cứu này Nhóm nghiên cứu tiến hành tổ chức dữ liệu, đọc các bản ghi phỏng vấn, mã hóa, phát triển chủ đề và sắp xếp dữ liệu theo các nhóm chủ đề, diễn giải và trình bày kết quả nghiên cứu Theo đó, sau khi các băng ghi âm các cuộc phỏng vấn được chuyển thể thành các bản ghi phỏng vấn, nhóm nghiên cứu đọc qua tất cả các bản ghi phỏng vấn để có cái nhìn bao quát về tổng thể dữ liệu điều tra Sau đó, các bản ghi này được tóm tắt bằng cách tóm gọn các đoạn phỏng vấn dài dưới dạng một số câu ngắn thể hiện nội dung của cả đoạn Thông qua đó, nhà nghiên cứu bắt đầu có ý tưởng

về các chủ đề, và có sự tổ chức tổng thể dữ liệu Kết quả của các quá trình này là nhóm nghiên cứu có một danh sách các chủ đề nghiên cứu, và tiến hành mã hóa dữ liệu Các kết quả nghiên cứu được thể hiện dưới dạng miêu tả, dựa trên các chủ đề và đưa ra các ví dụ minh chứng, các quan điểm đa chiều từ các đối tượng phỏng vấn Các chủ đề miêu tả chủ yếu dựa trên nội dung đã được phân tích từ các cuộc phỏng vấn

6 Ý nghĩa của nghiên cứu

Nghiên cứu đã chỉ ra những điều kiện cần thiết đối với người khởi sự khi bắt đầu điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mới Và đánh giá mức độ ảnh

Trang 31

hưởng của các điều kiện KSKD này tới kết quả hoạt động kinh doanh của DN mới thành lập (<3,5 năm) Điều này đặc biệt có ý nghĩa cho những người lần đầu làm khởi

sự kinh doanh, giúp họ biết được mình cần đảm bảo những điều kiện kinh doanh nào, đâu là cái mình còn thiếu, còn yếu để có được hành trang tốt nhất điều hành doanh nghiệp mới của mình thành công và phát triển

7 Kết cấu đề tài nghiên cứu

Ngoài tóm lược, lời cảm ơn, mục lục, danh mục bảng biểu sơ đồ hình vẽ, danh mục từ viết tắt, kết cấu đề tài nghiên cứu bao gồm chương mở đầu và 3 chương nghiên cứu chính:

Chương mở đầu: bao gồm tính cấp thiết của đề tài, tổng quan tình hình nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu,

ý nghĩa của nghiên cứu và kết cấu đề tài nghiên cứu

Chương 1: Cơ sở lý thuyết về điều kiện khởi sự kinh doanh của doanh nghiệp mới thành lập

Chương 2: Phân tích điều kiện khởi sự kinh doanh tại một số doanh nghiệp mới thành lập ở Việt Nam

Chương 3: Một số đề xuất nhằm ứng dụng kết quả nghiên cứu trong giảng dạy

và trong thực tiễn

Trang 32

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐIỀU KIỆN KHỞI SỰ KINH DOANH

CỦA DOANH NGHIỆP MỚI THÀNH LẬP 1.1 Một số khái niệm cơ bản có liên quan

1.1.1 Khái niệm khởi sự kinh doanh

Khởi sự theo từ điển tiếng Việt là bắt đầu một cái gì mới Khởi sự kinh doanh theo nghĩa tiếng Việt là việc bắt đầu tạo lập một công việc kinh doanh mới Từ trước tới nay có 2 cách tiếp cận:

Từ góc độ lựa chọn nghề nghiệp: "Khởi sự kinh doanh là một sự lựa chọn

nghề nghiệp của cá nhân giữa việc đi làm thuê hoặc tự tạo việc làm cho mình" hoặc

“Khởi sự kinh doanh là lựa chọn nghề nghiệp của những người không sợ rủi ro, tự làm chủ công việc kinh doanh của chính mình và thuê người khác làm công cho họ” Làm thuê được hiểu là cá nhân sẽ làm việc cho một doanh nghiệp hoặc tổ chức do

người khác làm chủ Như vậy, khởi sự kinh doanh được hiểu là tự tạo việc làm theo

nghĩa trái với đi làm thuê, là tự làm chủ – tự mở doanh nghiệp

Từ góc độ tạo dựng doanh nghiệp mới:

Wortman định nghĩa "Khởi sự kinh doanh là việc một cá nhân chấp nhận rủi

ro để tạo lập một doanh nghiệp mới và tự làm chủ nhằm mục đích làm giàu"

Hoặc "Khởi sự kinh doanh là việc bắt đầu tạo lập một công việc kinh doanh mới bằng đầu tư vốn kinh doanh, hay mở cửa hàng kinh doanh"

Theo Nguyễn Ngọc Huyền, Ngô Thị Việt Nga (2016): “Hiểu thông thường khởi

sự kinh doanh là bắt đầu công việc kinh doanh Nếu hiểu thật đầy đủ, khởi sự kinh doanh là quá trình thực hiện toàn bộ các công việc cần thiết để triển khai một hoạt động kinh doanh nào đó Cũng cần lưu ý rằng trong thuật ngữ tiếng việt chỉ có thể có khởi sự kinh doanh vì là bắt đầu một hoạt động kinh doanh Để tiến hành hoạt động kinh doanh thì người ta phải thành lập doanh nghiệp Như thế, từ hành vi khởi sự kinh doanh dẫn đến hành vi thành lập doanh nghiệp”

Fred Wilson định nghĩa khởi sự kinh doanh là nghệ thuật biến ý tưởng thành

một hoạt động kinh doanh Thực chất, khởi sự kinh doanh là hành vi doanh nhân xác định cơ hội và đưa ra ý tưởng hữu ích vào thực tiễn Nhiệm vụ này có thể thực hiện bởi một cá nhân, một nhóm người và thường đòi hỏi sự sáng tạo, động cơ và sự sẵn sàng chấp nhận rủi ro

Giữa khởi sự kinh doanh góc độ tự tạo việc làm và theo góc độ tạo lập doanh nghiệp mới có sự khác biệt đôi chút Tự tạo việc làm nhấn mạnh tới khía cạnh tự làm chủ chính mình, không đi làm thuê cho ai cả trong khi khởi sự kinh doanh theo góc

độ thứ hai còn bao gồm cả những người thành lập doanh nghiệp mới để tận dụng cơ

Trang 33

hội thị trường nhưng lại không quản lý mà thuê người khác quản lý nên anh ta vẫn có thể đi làm thuê cho doanh nghiệp khác Tuy có sự khác biệt nhưng khởi sự kinh doạnh đều đề cập tới việc một cá nhân (một mình hoặc cùng người khác) tạo dựng một công việc kinh doanh mới

Như vậy có thể hiểu, khởi sự kinh doanh là quá trình một cá nhân hoặc một

nhóm người thực hiện toàn bộ các công việc cần thiết để triển khai một hoạt động kinh doanh nào đó (có thể với mục đích tự tạo việc làm cho bản thân/ hoặc tận dụng

cơ hội trên thị trường)

1.1.2 Người khởi sự kinh doanh, chủ DN, và doanh nhân

Người thực hiện hành vi khởi sự kinh doanh được gọi là người khởi sự kinh

doanh Có doanh nghiệp do một người khởi sự; cũng có doanh nghiệp do một nhóm

người cùng nhau khởi sự Trong nghiên cứu này, tác giả thống nhất sử dụng thuật ngữ “người khởi sự” để chỉ một người/ một nhóm người cùng nhau khởi sự kinh

doanh Sau khi khởi sự kinh doanh, người khởi sự trở thành chủ doanh nghiệp Như

vậy, với doanh nghiệp mới thành lập, trong phạm vi nghiên cứu của mình, chúng tôi

sử dụng cụm từ “chủ DN” để chỉ người đồng thời là người sáng lập và điều hành doanh nghiệp mới thành lập của mình

Trong cuốn Entrepreneurship – Successfully Launching New Ventures, từ doanh nhân bắt nguồn từ tiếng Pháp là entre Từ này vốn để mô tả những người sẵn sàng “chấp nhận rủi ro” giữa những người mua và người bán và những người “đảm nhận” nhiệm vụ như bắt đầu một thương vụ mới Người sáng tạo và doanh nhân là

khác nhau Một người sáng tạo sẽ đưa cái gì đó mới Còn một doanh nhân tập hợp và

sử dụng tất cả các nguồn lực cần thiết- tiền, con người, mô hình kinh doanh, chiến lược và khả năng chịu đựng rủi ro để biến một phát minh thành một hoạt động kinh doanh khả thi Từ đó, các tác giả trong cuốn sách trên quan niệm khởi sự kinh doanh

là một quá trình mà các cá nhân theo đuổi cơ hội kinh doanh mà không phục thuộc vào các nguồn lực mà họ đang có trong tay

Cần phân biệt phạm trù doanh nhân và chủ DN Doanh nhân sẽ tiến hành hoạt

động kinh doanh bất kỳ để thu lợi nhuận Hiểu theo nghĩa rộng hơn, người ta còn quan niệm mọi nhà quản trị cao cấp – những người không sở hữu mà chỉ làm thuê ở cương vị cao trong doanh nghiệp – là doanh nhân Như thế doanh nhân có thể sở hữu hoặc sẽ không sở hữu một/ nhiều doanh nghiệp Chủ DN là người chủ của doanh nghiệp Một doanh nhân khởi sự, tạo lập và đưa doanh nghiệp do anh ta tạo lập vào

hoạt động được gọi là Chủ DN

Để khởi sự hoạt động kinh doanh, có thể chỉ có một người thực hiện; trong

Trang 34

công việc khởi sự kinh doanh Trong trường hợp có từ hai người trở lên cùng nhau khởi sự kinh doanh, những người tham gia khởi sự cần cùng nhau bàn bạc, phân công tiến hành các công việc cần thiết cho khởi sự

1.1.3 Khởi nghiệp (KN)

Khởi nghiệp có nhiều quan điểm tiếp cận khác nhau

Theo Timmons (1994, p.7), “Khởi nghiệp là quá trình tạo ra hoặc nắm bắt cơ hội và theo đuổi nó bất chấp các nguồn lực hiện đang kiểm soát” Venkataraman (1997) thì nhấn mạnh rằng, “trường phái này nghiên cứu các cơ hội (tạo ra sản phẩm, dịch vụ trong tương lai) được phát hiện, đánh giá và khai thác như thế nào, bởi ai và với kết quả/hậu quả gì”

Shane, Venkataraman, (2000, p.218) đề cập cụ thể hơn, cho rằng “khởi nghiệp bao gồm việc nghiên cứu nguồn gốc của các cơ hội kinh doanh; quá trình phát hiện, đánh giá và khai thác cơ hội và các cá nhân phát hiện, đánh giá và khai thác các cơ hội này” Điểm quan trọng của cách tiếp cận này là nghiên cứu quá trình tương tác (gặp gỡ) giữa cơ hội kinh doanh và doanh nhân - người phát hiện và khai thác cơ hội Tuy nhiên, thế nào là một cơ hội kinh doanh? Cơ hội kinh doanh thực sự tồn tại trước khi doanh nhân bắt đầu tìm kiếm hay nó được hình thành cùng với quá trình tìm kiếm của doanh nhân (doanh nhân tạo ra cơ hội cho chính mình)? Theo Verstraete et Fayolle (2005), các học giả về cơ bản thống nhất với nhau về cách hiểu khi cho rằng

“cơ hội kinh doanh là một bối cảnh thị trường thuận lợi ở đó có nhu cầu thị trường đối với một sản phẩm, dịch vụ và cá nhân (doanh nhân) có sẵn các nguồn lực cần thiết để tận dụng cơ hội”

Có nhiều quan điểm khác về khởi nghiệp thì nhấn mạnh tới khía cạnh “tạo giá trị” và cho rằng quá trình khởi nghiệp là quá trình tạo ra giá trị cho chính chủ doanh nghiệp; cho khách hàng và cho cộng đồng Theo Gartner (1990), tạo giá trị đã là chủ

đề được nghiên cứu thực nghiệm như là một vấn đề trọng tâm của quá trình khởi nghiệp Trong giới nghiên cứu pháp ngữ, Bruyat (1993) là tác giả tiên phong đi theo trường phái này Theo Bruyat (1993), “đối tượng nghiên cứu của khởi nghiệp là mối liên hệ giữa cá nhân và việc tạo ra giá trị”1 và cần định nghĩa khởi nghiệp dựa trên mối liên hệ này Khởi nghiệp bắt đầu từ cá nhân, cần có cá nhân để khởi xướng quá trình khởi nghiệp, nhưng đã là khởi nghiệp thì phải tạo ra giá trị, nếu không tạo ra giá trị cho các bên liên quan (người chủ, khách hàng và cộng đồng) thì không đúng nghĩa

là khởi nghiệp Tạo ra giá trị ở mức cao nhất thường gắn với khả năng đổi mới, sáng tạo Một doanh nghiệp tạo ra giá trị và chuyển giao giá trị đó cho khách hàng khi làm

ra sản phẩm, dịch vụ ngày càng tốt hơn, rẻ hơn, nhanh hơn, tiện lợi hơn và khác biệt

Trang 35

hơn so với đối thủ cạnh tranh Hoạt động khởi nghiệp tạo ra giá trị cho người chủ khi

tỷ lệ lợi nhuận mang lại lớn hơn chi phí đầu tư và các rủi ro có thể gặp phải

Như vậy, có thể hiểu “khởi nghiệp” là: giai đoạn đầu 1 cá nhân / nhóm cá nhân

có ý tưởng kinh doanh và tìm cách gây dựng một tổ chức/ doanh nghiệp để triển khai

ý tưởng kinh doanh đó trong các điều kiện thiếu chắc chắn Ý tưởng kinh doanh có thể đơn giản là một hoạt động buôn bán những sản phẩm hiện có trên thị trường hoặc cũng có thể là ý tưởng về việc tự sản xuất một sản phẩm mới; cung cấp 1 dịch vụ mới

có khả năng đáp ứng 1 nhu cầu nào đó của xã hội

Đặc điểm chung của tất cả những ý tưởng này khi được gọi tên là khởi nghiệp

đó là ý tưởng "mới" (có thể chỉ cần mới đối với người thực hiện), chưa biết có chắc chắn thành công hay không

1.2 Các loại hình khởi sự kinh doanh

Khởi sự kinh doanh qua việc tạo lập một doanh nghiệp mới có thể có các đặc điểm, mục đích, phạm vi khác nhau Có thể phân biệt các dạng khởi sự khác nhau theo các tiêu chí khác nhau

1.2.1 Theo tiêu chí nền tảng kiến thức khi khởi sự

Có thể phân biệt khởi sự theo hai loại: doanh nghiệp hoạt động vì kế sinh nhai (khởi sự thiếu kiến thức nghề nghiệp) và doanh nghiệp khởi sự trên cơ sở tận dụng

cơ hội thị trường (khởi sự có kiến thức nghề nghiệp)

o Thứ nhất, khởi sự vì kế sinh nhai

Loại khởi sự này thường gắn với việc cá nhân bị bắt buộc phải khởi sự do yếu

tố môi trường, hoàn cảnh như bị thất nghiệp, bị đuổi việc, gia đình khó khăn Khởi

sự không phải để nắm bắt cơ hội làm giàu do thị trường mang lại mà khởi sự là phương thức duy trì sự sống, thoát nghèo, chống đói Doanh nghiệp do những người này tạo lập về cơ bản có thể cung cấp cho người chủ của nó thu nhập tương tự với thu nhập họ có thể kiếm được khi làm một công việc thông thường Về cơ bản khởi

sự vì kế sinh nhai là hình thức khởi sự trên cơ sở thiếu kiến thức nghề nghiệp cần thiết nên ít được người khởi sự cân nhắc, tính toán kỹ lưỡng Thông thường những người khởi sự thuộc loại này là những người không được trang bị các kiến thức cần thiết nên không quan niệm kinh doanh là một nghề; hoặc họ quan niệm đơn thuần ai cũng có thể kinh doanh được, hoặc anh ta bị dồn vào đường cùng nên buộc phải khởi

sự (thất nghiệp, rất cần thu nhập cho cuộc sống,…) Vì khởi sự với ước mơ rất nhỏ là

có việc, có thu nhập nên tuyệt đại bộ phận doanh nghiệp do những người thuộc loại này thành lập là doanh nghiệp thuộc loại siêu nhỏ, một số trong đó có thể có qui mô nhỏ Ví dụ điển hình loại này là các cửa hàng tạp hóa, tiệm gội đầu cắt tóc, quán ăn,…

Trang 36

sự vì kế sinh nhai càng nhiều bấy nhiêu Do không khởi sự trên cơ sở có kiến thức, tính toán cẩn thận nên những doanh nghiệp khởi sự thuộc loại này tạo ra các sản phẩm/dịch vụ thông thường, đơn giản, đã có trên thị trường mà không có sự cải tiến nào Thường thấy là các, sản phẩm/dịch vụ này có nhiều sản phẩm được sao chép từ những sản phẩm/dịch vụ đã có Do họ thiếu kiến thức mà đi sao chép nên trong nhiều trường hợp sản phẩm/dịch vụ do các doanh nghiệp này tạo ra có chất lượng và cách thức phục vụ còn kém hơn nhiều so với sản phẩm/dịch vụ của các doanh nghiệp “bị”

họ sao chép Nhìn chung, khi mới khởi sự, các doanh nghiệp này có tác dụng giảm gánh nặng lo “công ăn, việc làm” cho xã hội và trong chừng mực nhất định cũng làm cho xã hội đỡ tệ nạn hơn Song xét về lâu dài, những doanh nghiệp khởi sự loại này

có đặc trưng là dễ thất bại và khó phát triển bền vững hoặc khởi sự được thời gian ngắn là rơi vào tình trạng khó khăn, có thể thất bại; hoặc nếu không thất bại cũng chỉ tồn tại ở dạng siêu nhỏ, tạo ra thị trường với nhiều hạn chế nên khó thích hợp với thị trường ngày nay Nếu nhiều người khởi sự vì kế sinh nhai, xét về lâu dài, còn gây ra nhiều bất lợi đối với sự phát triển kinh tế – xã hội

o Thứ hai, khởi sự kinh doanh trên cơ sở có kiến thức nghề nghiệp

Công ty này sẽ đưa ra thị trường những sản phẩm và dịch vụ mới bằng cách sáng tạo và tận dụng tất cả những nguồn lực mà họ đang có Khởi sự kinh doanh nhằm tìm kiếm, khám phá, khai thác cơ hội để kiếm lợi nhuận Doanh nghiệp phát triển hoạt động kinh doanh mới đưa ra thị trường những sản phẩm và dịch vụ mới

Sứ mệnh của một doanh nghiệp là tạo ra giá trị mới và mang giá trị đó đến đông đảo người tiêu dùng Google, Facebook là những hãng nổi tiếng, thành công và là ví dụ điển hình cho một doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh mới Khi nhận ra một cơ hội kinh doanh, những người đứng đầu công ty này đã tạo ra những sản phẩm, dịch vụ có giá trị, khác biệt và quan trọng với khách hàng, cung cấp các tiện ích không thể tìm thấy ở những nơi khác cho khách hàng của họ Ngược với khởi sự vì kế sinh nhai, những người tạo lập doanh nghiệp loại này là những người có kiến thức, họ coi kinh doanh là một nghề và họ có sẵn chủ đích, thận trọng cân nhắc khi tiến hành khởi

sự Xã hội càng phát triển, thị trường càng mở rộng thì những người khởi sự trên cơ

sở có kiến thức nghề nghiệp cần thiết ngày càng nhiều Các doanh nghiệp được tạo lập từ những người có đủ kiến thức cần thiết thường dễ thành công và tạo ra sự phát triển bền vững trong tương lai Càng ngày, chính phủ các nước phát triển càng nhận thức được điều này và tạo khung khổ pháp lý để loại hình này phát triển

Trang 37

1.2.2 Theo mục đích khởi sự

Có thể phân biệt khởi sự theo hai loại với mục đích của người tạo lập doanh nghiệp khác nhau: tạo lập doanh nghiệp nhằm mục đích lợi nhuận (kiếm tiền) và thành lập doanh nghiệp không vì mục đích lợi nhuận (xã hội)

Thứ nhất, khởi sự tạo lập doanh nghiệp vì mục đích lợi nhuận Chủ doanh

nghiệp thành lập doanh nghiệp để làm giàu cho bản thân, kiếm lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Khởi sự kinh doanh thường bắt nguồn từ sự hấp dẫn

về tiền bạc Những người như Jeff Bezos của Amazone.com, Mark Zuckerberg của Facebook, Larry Page và Sergey Brin của Google đã kiếm được hàng trăm triệu đôla khi xây dựng công ty riêng Kiếm lợi nhuận và gia tăng giá trị của doanh nghiệp là mục đích chính của nhiều người khi khởi sự kinh doanh Phần lớn các doanh nhân khởi sự kinh doanh vì mục đích này

Thứ hai, người khởi sự không vì mục tiêu lợi nhuận Mục tiêu khởi sự của chủ

doanh nghiệp là không phải là tối đa hóa lợi nhuận mà nghiêng về những lợi ích đóng góp cho xã hội Những người này phát triển kinh doanh các sản phẩm/dịch vụ nhưng không vì lợi ích cá nhân mình mà nhằm nhấn mạnh đến các khía cạnh và giá trị xã hội nhiều hơn Khác với doanh nhân kinh doanh, doanh nhân xã hội không có mục đích lợi nhuận mà họ hoàn toàn tự nguyện cống hiến cuộc đời mình cho hoạt động và những giá trị mang tính nhân đạo, xã hội và cộng đồng Xã hội đánh giá thành công của họ không phải qua lợi nhuận mà bằng những tiến bộ xã hội mà họ đóng góp cho cộng đồng Doanh nghiệp xã hội đã xuất hiện trong một thời gian khá dài nhưng gần đây mới được biết tới như là một cách tiếp cận sáng tạo và có định hướng thị trường

để giải quyết các vấn đề xã hội Doanh nghiệp xã hội lấy lợi ích xã hội làm mục tiêu chủ đạo, dùng mục tiêu kinh tế để đạt được mục tiêu xã hội/môi trường Doanh nghiệp

xã hội có thể dưới dạng các tổ chức từ thiện, các tổ chức xã hội, các tổ chức vì cộng đồng phi lợi nhuận hoặc doanh nghiệp xã hội có lợi nhuận hoặc là kết hợp cả hai mô hình trên thành mô hình doanh nghiệp xã hội hỗn hợp Điều này tuỳ thuộc vào mục tiêu mà doanh nghiệp muốn đạt được và cách thức mà doanh nghiệp cho rằng hiệu quả nhất để đạt mục tiêu Những người khởi sự doanh nghiệp xã hội có thể là doanh nhân, nhân viên xã hội, nhà hoạt động từ thiện, tùy thuộc mô hình hoạt động của

họ Tuy nhiên, doanh nhân xã hội khác với những người hoạt động xã hội – từ thiện kiểu truyền thống ở chỗ họ sở hữu những phẩm chất, kỹ năng như của một doanh nhân thực thụ Họ nhạy bén trong việc phát hiện, sử dụng các nguồn lực tiềm năng; đam mê, khát vọng tạo ra sự thay đổi; trực tiếp tạo lập, điều hành các tổ chức/doanh nghiệp xã hội; dám chấp nhận thách thức Doanh nhân xã hội là người có đầu óc sáng

Trang 38

hội lại hoàn toàn không nhằm mục đích kiếm tiền mà vì mục đích xã hội; doanh nghiệp do họ lập ra phát triển bất cứ sản phẩm/dịch vụ nào nền kinh tế cần để có lợi nhuận nhưng lợi nhuận không dành cho người tạo lập mà dành cho việc tái thiết lập doanh nghiệp nhằm đầu tư cho các hoạt động xã hội Như thế, doanh nghiệp xã hội lại tối đa hóa lợi ích xã hội nhưng bằng con đường kinh doanh

1.2.3 Theo phạm vi kinh doanh sau khởi sự

Thứ nhất, khởi sự kinh doanh ở phạm vi quốc tế

Khởi sự kinh doanh ở phạm vi quốc tế nếu chủ doanh nghiệp thực hiện các hoạt động khởi sự tạo lập doanh nghiệp đáp ứng cầu của thị trường nước ngoài Các hoạt động của doanh nghiệp mới thành lập đều nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng mục tiêu trên thị trường ngoài nước Doanh nghiệp được thành lập trong nước nhưng doanh nghiệp tiến hành xuất khẩu, mở chi nhánh nước ngoài, quảng cáo trên báo chí nước ngoài… Việc khởi sự kinh doanh quốc tế hoàn toàn phụ thuộc vào việc chủ doanh nghiệp có phát hiện và nắm bắt được cơ hội kinh doanh trên các thị trường ngoài nước hay không Khởi sự quốc tế có thể đem lại lợi ích lớn nếu nền kinh tế nước ngoài có độ tăng trưởng cao, hệ thống pháp luật phù hợp và doanh nghiệp có năng lực đặc biệt mà các đối thủ bản địa không có Tuy nhiên gặp nhiều rào cản liên

quan tới luật pháp, ngôn ngữ, môi trường kinh doanh và công nghệ Thứ hai, khởi sự

kinh doanh phạm vi thị trường trong nước

Theo cách này doanh nghiệp mới thành lập thực hiện tất cả các hoạt động kinh doanh từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm/dịch vụ tại thị trường trong nước Hiện nay,

do tư duy và khả năng của người khởi sự dẫn đến ở nước ta số đông người tạo lập

doanh nghiệp khởi sự theo cách này Sẽ có doanh nghiệp xác định ngay từ đầu là thị

trường trong nước (cả nước); cũng có những doanh nghiệp khi khởi sự chỉ xác định cung cấp sản phẩm/dịch vụ cho một thị trường bộ phận ở trong nước như Công ty Bia Yên Bái chỉ cung cấp bia chủ yếu cho thị trường Tây Bắc

Thứ ba, khởi sự kinh doanh phạm vi thị trường cả trong nước và quốc tế

Toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới còn cho phép và đòi hỏi doanh nhân có tư duy không phân biệt thị trường trong hay ngoài nước: khởi sự kinh doanh tạo lập doanh nghiệp ngay từ đầu hướng đến cả thị trường trong và ngoài nước Vấn đề là ở chỗ người tạo lập doanh nghiệp phải đặt ra và trả lời câu hỏi kinh doanh sản phẩm/dịch vụ gì mà Việt Nam có lợi thế? Trả lời câu hỏi này không dễ nhưng lại là

điều kiện để khởi sự kinh doanh thành công

1.2.4 Theo tính chất của sản phẩm/dịch vụ sẽ kinh doanh

Thứ nhất, khởi sự kinh doanh với sản phẩm/dịch vụ hoàn toàn mới

Trang 39

Khởi sự kinh doanh sản phẩm/dịch vụ hoàn toàn mới là hình thức mà người tạo lập doanh nghiệp trên cơ sở sẽ sản xuất và cung cấp loại sản phẩm/dịch vụ hoàn toàn mới, chưa hề có trước đó Hiểu đúng nghĩa phải có quan niệm toàn cầu, sản phẩm/dịch vụ mới là sản phẩm mà thị trường thế giới chưa có Đây là cách quan niệm hiện đại, chỉ coi phẩm/dịch vụ chưa bao giờ có là sản phẩm/dịch vụ hoàn toàn mới Cần chú ý rằng khởi sự với sản phẩm/dịch vụ hoàn toàn mới thường chứa đựng tính rủi ro rất cao vì nhiều nguyên nhân:

- Phải gắn với người có tính sáng tạo cao nhưng những con người này thường say mê nghiên cứu; nhiều người trong số đó ít hiểu biết cũng như hứng thú kinh doanh Do đó, thường đòi hỏi có sự gặp nhau giữa người nghiên cứu và người kinh doanh mà không phải lúc nào cũng thực hiện được

- Phải gắn với nguồn kinh phí cho nghiên cứu lớn cho nên lượng sản phẩm/dịch

vụ mới thường xuất hiện ở các cơ quan nghiên cứu, các công ty đã phát triển và còn phải ở các quốc gia có truyền thống sáng tạo

- Cần đầu tư lớn khi khởi sự và gắn với rủi ro không bán được sản phẩm/dịch

vụ là rất cao Vì thế, hầu như số người khởi sự với sản phẩm/dịch vụ hoàn toàn mới chiếm tỉ trọng rất khiêm tốn; thậm chí khá hãn hữu ở nước ta

Thứ hai, khởi sự kinh doanh với sản phẩm/dịch vụ đã có

Khởi sự kinh doanh sản phẩm/dịch vụ đã có là hình thức mà người tạo lập doanh nghiệp trên cơ sở sẽ sản xuất và cung cấp loại sản phẩm/dịch vụ đã có trên thị trường Nếu xét tại một thị trường hẹp, người ta hay quan niệm sản phẩm/dịch vụ đã có là sản phẩm/dịch vụ mà thị trường đang có rồi Như thế, mọi sản phẩm/dịch vụ đang có được người tạo lập doanh nghiệp sản xuất và cung cấp cho thị trường

Khởi sự với sản phẩm/dịch vụ đã có trên thị trường thường được áp dụng phổ biến, chứa đựng tính rủi ro không cao vì nhiều nguyên nhân:

- Không cần gắn với người có tính sáng tạo cao mà chỉ cần có trình độ sao chép kết hợp với cải tiến, nâng cao giá trị cho khách hàng

- Không đòi hỏi nguồn kinh phí cho nghiên cứu lớn

- Rủi ro không bán được sản phẩm/dịch vụ thấp Tuy nhiên, tính rủi ro đầu tiên

là rủi ro khó thâm nhập thị trường vì người tiêu dùng đã quá quen biết với sản phẩm/dịch vụ cùng loại khác

- Mặt khác, rủi ro cao lại nằm ở sự phát triển dài hạn: nếu người khởi sự không

đủ sức cải tiến, hoàn thiện, nâng cao giá trị phục vụ khách hàng thì sau khởi sự khó

có thể tiếp tục phát triển, thậm chí nếu “an phận thủ thường” sẽ dẫn đến hầu như sau khởi sự chỉ có thể duy trì cuộc sống mà không tạo ra điều gì khác biệt cả cho mình

Trang 40

1.2.5 Theo nguồn gốc người khởi sự

Thứ nhất, khởi sự bằng cách tạo doanh nghiệp mới độc lập Doanh nghiệp mới

được tạo dựng bởi một hoặc nhiều cá nhân độc lập, không bị kiểm soát hoặc tài trợ bởi các doanh nghiệp đang hoạt động khác Như vậy doanh nghiệp độc lập thuộc sở hữu của cá nhân các sáng lập viên và các nhà đầu tư

Thứ hai, khởi sự trong doanh nghiệp (intrapreneurship) Theo cách này sẽ tạo

dựng một doanh nghiệp mới từ việc khai thác các cơ hội phát sinh từ doanh nghiệp hiện đang hoạt động Khởi sự doanh nghiệp mới phát sinh do:

- Ý tưởng mới được hình thành trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp

- Do doanh nghiệp hiện tại không khai thác hiệu quả một nguồn lực nào đó Hoạt động khởi sự trong doanh nghiệp này lại được hỗ trợ và sở hữu (một phần) bởi các công ty hiện đang hoạt động Khởi sự doanh nghiệp trong doanh nghiệp đòi hỏi các doanh nghiệp đang hoạt động có môi trường, văn hóa và cơ chế khuyến khích việc nhân viên theo đuổi các ý tưởng cơ hội kinh doanh

1.3 Quá trình khởi sự kinh doanh

Nguyễn Ngọc Huyền, Ngô Thị Việt Nga, “Quá trình khởi sự kinh doanh bao

gồm nhiều hoạt động Có thể chia quá trình này thành 4 giai đoạn (Hình 1.1)

Sơ đồ 1.1 Quy trình thành lập và phát triển doanh nghiệp

Nguồn: Nguyễn Ngọc Huyền, Ngô Thị Việt Nga (2016)

+ Ở giai đoạn chuẩn bị khởi sự, tài liệu đã đề cập “một cá nhân quyết định

tham gia hoạt động kinh doanh là do họ muốn trở thành nghiệp chủ, theo đuổi ý tưởng bản thân và tìm kiếm lợi nhuận” Tài liệu cũng đề cập đến quan điểm của Sapero cho rằng “quyết định khởi sự kinh doanh sẽ xuất hiện khi xuất hiện những thay đổi trong

Điều hành và phát triển doanh nghiệp

Chuẩn bị khởi sự

Hình thành ý tưởng kinh doanh và lập kế hoạch kinh doanh

Triển khai hoạt động kinh doanh

Ngày đăng: 09/05/2021, 14:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w