1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu giải phẫu học đám rối thần kinh cánh tay

95 39 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu giải phẫu học đám rối thần kinh cánh tay
Tác giả Đặng Khải Minh
Người hướng dẫn PGS.TS. Dương Văn Hải
Trường học Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngoại khoa (Chấn thương chỉnh hình)
Thể loại Luận văn thạc sĩ y học
Năm xuất bản 2018
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 3,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tùy vào mức độ nặng hay nhẹ của tổn thương mà cánh tay có thể bịliệt một phần hay hoàn toàn.Trên lâm sàng, việc nắm vững giải phẫu học đám rối thần kinh cánh taynhư: Nguyên ủy, phân nhán

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu mà tôi đã thực hiện,tất cả những số liệu do chính tôi thu thập, kết quả trong luận văn này làtrung thực và chưa có ai công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứunào khác

Tác giả

Đặng Khải Minh

Trang 3

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Danh mục chữ việt tắt

Danh mục đối chiếu thuật ngữ Anh – Việt

Danh mục bảng

Danh mục biểu đồ

Danh mục hình

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cấu tạo của đám rối cánh tay 4

1.2 Thân và bó của đám rối cánh tay 6

1.2.1 Các thân của đám rối cánh tay 6

1.2.2 Các bó của đám rối thần kinh cánh tay 6

1.2.3 Phân nhánh của đám rối thần kinh cánh tay 7

1.3 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 12

1.3.1 Khác nhau trong sự tham gia cấu tạo từ các rễ thần kinh 13

1.3.2 Sự liên quan của ĐRTKCT đến các cấu trúc giải phẫu xung quanh 18 1.3.3 Cấu tạo vi giải phẫu 22

1.4 Tình hình nghiên cứu tại việt nam 25

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 Đối tượng nghiên cứu 27

2.1.1 Đối tượng và thời gian nghiên cứu 27

Trang 4

2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu 27

2.1.3 Tiêu chuẩn loại mẫu 28

2.2 Phương pháp nghiên cứu 28

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 28

2.2.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu 28

2.2.3 Nội dung nghiên cứu 28

2.2.4 Phương pháp phẫu tích và đo đạc số liệu 29

2.2.5 Xử lý số liệu 40

2.3 Vấn đề y đức 41

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 42

3.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 42

3.2 Đặc điểm đám rối thần kinh cánh tay 43

3.3 Đặc điểm các mốc giải phẫu liên quan đến ĐRTKCT 47

3.4 Đặc điểm vi giải phẫu của ĐRTKCT 49

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 55

4.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 55

4.2 Đặc điểm giải phẫu học ĐRTKCT 55

4.3 Đặc điểm các mốc giải phẫu 61

4.4 Đặc điểm vi giải phẫu 67

4.5 Hạn chế của đề tài 71

KẾT LUẬN 72

KIẾN NGHỊ 74 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ ANH - VIỆT

Avulsion : Tổn thương nhổ rễ

Brachial plexus : Đám rối thần kinh cánh tay

Inferior Trunk : Thân dưới

Lateral cord : Bó ngoài

Medial cord : Bó trong

Microscopic anatomy : Vi giải phẫu

Middle Trunk : Thân giữa

Musculocutaneus nerve : Thần kinh cơ bì

Neurotisation : Chuyển ghép thần kinh

Omohyoid muscle : Cơ vai móng

Posterior cord : Bó sau

Postfixed : ĐRTKCT có sự tham gia của N2

Prefixed : ĐRTKCT có sự tham gia của C4

Scalene muscle : Cơ bậc thang

Superior Trunk : Thân trên

Suprascapular nerve : Thần kinh trên vai

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Phân nhánh của đám rối thần kinh cánh tay, vùng trên đòn 7

Bảng 1.2 Phân nhánh của đám rối thần kinh cánh tay, vùng dưới đòn 8

Bảng 1.3: Tỉ lệ các dạng của ĐRTKCT trong các nghiên cứu 16

Bảng 1.4: Số lượng sợi trục theo nghiên cứu của Bonnel 24

Bảng 1.5 Số lượng sợi trục trung bình theo nghiên cứu của Yong T L 25

Bảng 3.6 Nguyên ủy đám rối thần kinh cánh tay 44

Bảng 3.7 Chiều dài và chu vi của các thân 44

Bảng 3.8 Nguyên ủy của các bó 45

Bảng 3.9 Chiều dài và chu vi của các bó 46

Bảng 3.10 Sự phân nhánh của các bó 46

Bảng 3.11 Động mạch cổ ngang so với thân ĐRTKCT 47

Bảng 3.12 Vị trí so với cơ bậc thang trước của các thân 48

Bảng 3.13 Bụng dưới cơ vai móng so với TK trên vai 49

Bảng 3.14 Thân trên (bên phải) 50

Bảng 3.15 Thân trên (bên trái) 51

Bảng 3.16 Thân dưới (bên phải) 52

Bảng 3.17 Thân dưới (bên trái) 53

Bảng 3.18 So sánh sự khác biệt về số lượng sợi trục của các rễ thần kinh 54

Bảng 3.19 Số lượng sợi trục trung bình 54

Bảng 4.20 So sánh với một số nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam 57

Bảng 4.21 So sánh kết quả số sợi trục của mẫu nghiên cứu với kết quả của Yong T Liu và Cs năm 2015 tại Trung Quốc 68

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Phân bố tuổi 42Biểu đồ 3.2 Phân bố theo giới 43

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Liên quan đám rối cánh tay ở cổ và nách 4

Hình 1.2: Các nhánh thông xám nối các hạch cổ với đám rối cánh tay 5

Hình 1.3: Sơ đồ đám rối thần kinh cánh tay 6

Hình 1.4: Thần kinh ngực dài và các nhánh của đám rối thần kinh cánh tay 9

Hình 1.5: Thần kinh trên vai và thần kinh nách 10

Hình 1.6: Liên quan của thần kinh cơ bì 11

Hình 1.7: Sơ đồ đám rối thần kinh cánh tay 13

Hình 1.8: Cơ bậc thang và ĐRTKCT 19

Hình 2.9: Các dụng cụ phẫu tích 29

Hình 2.10: Các kềm cắt xương 30

Hình 2.11: Thước đo Mytatoyo, hiển thị kết quả đến 0,01 mm 30

Hình 2.12: Sơ đồ các đường rạch da vùng cổ 31

Hình 2.13: Phẫu tích vùng cổ 32

Hình 2.14: Sơ đồ các đường rạch da vùng ngực 32

Hình 2.15: Phẫu tích vùng nách 33

Hình 2.16: Bộc lộ đám rối thần kinh cánh tay 33

Hình 2.17: Vector màu để phần mềm nhận diện sợi trục 35

Hình 2.18: Bó sợi được khoanh vùng (màu đỏ) (mẫu 16 C5 P) 36

Hình 2.19: Các sợi trục bắt màu trên tiêu bản 37

Hình 2.20: Một số sợi trục bị thoái hoá 38

Hình 2.21: Sợi thần kinh bị thoái hoá teo nhỏ 39

Hình 2.22: Sợi thần kinh thoái hoá do bị kéo giãn 40

Hình 3.23: Các rễ thần kinh từ C5 đến C8 43

Hình 3.24: Các thân và bó của ĐRTKCT 45

Trang 10

Hình 3.25: Cơ bậc thang trước và các rễ thần kinh 47

Hình 3.26: Bụng dưới cơ vai móng 48

Hình 3.27 : Các sợi trục bắt màu trên tiêu bản 49

Hình 4.28: Các rễ thần kinh của ĐRTKCT 56

Hình 4.29: Cơ vai móng 63

Hình 4.30: Cơ bậc thang và ĐRTKCT 65

Trang 11

là tổn thương thường gặp nhất, biểu hiện lâm sàng là yếu hoặc liệt cánh taycùng bên Tùy vào mức độ nặng hay nhẹ của tổn thương mà cánh tay có thể bịliệt một phần hay hoàn toàn.

Trên lâm sàng, việc nắm vững giải phẫu học đám rối thần kinh cánh taynhư: Nguyên ủy, phân nhánh, các biến thể thường gặp và các cấu trúc giảiphẫu liên quan của vùng này sẽ giúp ích rất nhiều cho phẫu thuật viên trongquá trình khám và chẩn đoán, từ đó đưa ra chỉ định điều trị thích hợp nhất chotừng trường hợp bệnh

Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu trên xác mô tả chi tiết giảiphẫu học từ đại thể đến vi thể của đám rối thần kinh cánh tay kèm theo cácmốc giải phẫu liên quan Những công trình nghiên cứu này đã góp phần to lớntrong việc nâng cao chất lượng điều trị của Bác sĩ trong các chuyên ngành Nộikhoa lẫn Ngoại khoa Một số chuyên ngành tiêu biểu ta có thể kể ra sau đây:Nội Thần kinh, Gây Mê Hồi Sức, phẫu thuật Cột sống, phẫu thuật can thiệptrên đám rối thần kinh cánh tay (người lớn và trẻ em)…

Tại Việt Nam theo nghiên cứu của Lê Văn Cường và Phan Văn Sử [1],

đã miêu tả các dạng điển hình của đám rối thần kinh cánh tay ở người ViệtNam Trong đó có mô tả chi tiết các rễ thần kinh tham gia tạo thành các thâncủa đám rối thần kinh

Trang 12

Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào mô tả cụ thể các mốc giải phẫu liênquan đến đám rối thần kinh cánh tay và các ứng dụng trên lâm sàng, cũng nhưchưa có nghiên cứu nào về vi giải phẫu của vùng này Vì vậy, chúng tôi tiếnhành nghiên cứu này với mong muốn mô tả cụ thể một số mốc giải phẫu củađám rối thần kinh cánh tay có ứng dụng nhiều trên lâm sàng Và cấu trúc vigiải phẫu của đám rối thần kinh cánh tay trên người Việt Nam Hi vọng có thểgóp một phần nhỏ cho y khoa nước nhà trong việc chẩn đoán và điều trị cácbệnh lý và tổn thương liên quan đến đám rối thần kinh cánh tay.

Trang 13

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả nguyên ủy, hình dạng, phân nhánh của đám rối thần kinh cánhtay và mối liên quan với các cấu trúc giải phẫu lân cận

2 Mô tả cấu trúc mô học của các rễ thần kinh tham gia cấu tạo nên đámrối thần kinh cánh tay

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU1.1 CẤU TẠO CỦA ĐÁM RỐI CÁNH TAY

Đám rối thần kinh cánh tay (ĐRTKCT) được tạo nên bởi nhánh trướccác dây thần kinh gai sống cổ 5 (C5) đến cổ 8 (C8) và đa số có sự đóng gópvới thần kinh gai sống ngực 1 (N1) Ở trên, đám rối thường nối với thần kinhgai sống cổ 4 (C4) và ở dưới nối với thần kinh gai sống ngực 2 (N2) Ở ViệtNam, theo nghiên cứu của Lê văn Cường và Phan văn Sử [1], có kết quả 7,9%thần kinh gai sống C4 nối với C5 để tham gia đám rối cánh tay, có 84,2%thần kinh gai sống N1 tham gia vào đám rối cánh tay, cũng trong nghiên cứunày, ở người Việt Nam không thấy thần kinh gai sống N2 tham gia vào đámrối cánh tay

Hình 1.1: Liên quan đám rối cánh tay ở cổ và nách.

Cơ thang

Cơ vai móng

Cơ bậc thang trước

Động mạch dưới đòn Động mạch nách

Trang 15

Ở tam giác cổ sau, nhánh trước thần kinh gai sống C5 và thần kinh gaisống cổ 6 (C6) nhận nhánh thông xám từ hạch giao cảm cổ giữa Nhánh trướcthần kinh gai sống cổ 7 (C7) và thần kinh gai sống C8 nhận nhánh thông xám

từ hạch giao cảm cổ dưới

Hình 1.2: Các nhánh thông xám nối các hạch cổ với đám rối cánh tay

(Nguồn: Atlat Giải phẫu người, Netter, 2011 [4])

Nhánh trước của thần kinh gai sống N1 nhận nhánh thông trắng từ hạchgiao cảm ngực 1 Nhánh lớn hơn của thần kinh N1 đi ra ngoài đến đáy cổ vàxuống xương sườn 1 và đi đến đỉnh màng phổi Từ đây góp phần tạo nên đámrối cánh tay

C7

C8

Các nhánh thông xám

Trang 16

1.2 THÂN VÀ BÓ CỦA ĐÁM RỐI CÁNH TAY

Đám rối cánh tay gồm các rễ, các rễ này hợp thành các thân, sau đó cácthân sẽ kết hợp để tạo nên các bó

1.2.1 Các thân của đám rối cánh tay

Thân trên (Superior trunk): Thân trên được tạo nên bởi nhánh trước

của thần kinh C5 và C6 hợp lại, đôi khi có thêm C4 tham gia

Thân giữa (Middle trunk): Thân giữa được tạo nên bởi nhánh trước

1.2.2 Các bó của đám rối thần kinh cánh tay

Hình 1.3: Sơ đồ đám rối thần kinh cánh tay

C4 C5 C6 C7

C8 T1

Thần kinh bì cẳng tay trong

Thần kinh bì cánh tay trong Thần kinh dưới vai trên

Thần kinh dưới vai dưới

Thần kinh ngực lưng Thần kinh ngực trong

Thần kinh trên vai

Nhánh đến cơ dưới đòn

Thần kinh ngực dài Thần kinh lưng vai

Nhánh đến cơ bậc thang và cơ dài cổ Thần kinh nách

Thần kinh quay

Trang 17

Đám rối cánh tay có 3 bó, được tạo nên như sau:

Bó ngoài (lateral cord) được tạo nên bởi ngành trước của thân trên

và thân giữa

Bó trong (medial cord) được tạo nên bởi ngành trước của thân dưới

(từ C8 và T1)

Bó sau (posterior cord) được tạo nên bởi nhánh sau của 3 thân (tất cả

các thân trên, giữa và dưới) của đám rối thần kinh cánh tay

1.2.3 Phân nhánh của đám rối thần kinh cánh tay [46]

Phân nhánh của đám rối thần kinh cánh tay, vùng trên đòn được trìnhbày trong bảng 1.1

Bảng 1.1 Phân nhánh của đám rối thần kinh cánh tay, vùng trên đòn

Trang 18

Phân nhánh của đám rối thần kinh cánh tay, vùng dưới đòn được trìnhbày trong bảng 1.2

Bảng 1.2 Phân nhánh của đám rối thần kinh cánh tay, vùng dưới đòn

Xuất phát từ bó ngoài

Thần kinh ngực ngoài C5, 6, 7Thần kinh cơ bì C5, 6, 7

Rễ ngoài thần kinh giữa C(5), 6, 7

Xuất phát từ bó trong

Thần kinh ngực trong C8, N1Thần kinh bì cánh tay

Thần kinh ngực dài [46]

Thần kinh (TK) ngực dài còn gọi là thần kinh thở ngoài của Bell, thầnkinh ngực dài chi phối cho cơ răng trước Thần kinh ngực dài thường xuấtphát từ 3 rễ thần kinh gai sống cổ C5, C6 và C7, rễ cuối cùng C7 đôi khikhông tham gia tạo nên thần kinh ngực dài, hai rễ trên đi ngang qua cơ bậcthang giữa, rễ từ C7 bắt chéo phía trước cơ bậc thang giữa Các nhánh củathần kinh từ hai rễ trên đến phần trên của cơ răng trước, những nhánh từ rễdưới nối với nhánh trên tạo thành một thân chung Từ thân chung của thần

Trang 19

kinh ngực dài đi xuống phía sau của đám rối cánh tay và phần đầu tiên củađộng mạch nách, thần kinh đi xuống dọc bề mặt của cơ răng trước cung cấpcho các răng của cơ răng trước.

Hình 1.4: Thần kinh ngực dài và các nhánh của đám rối thần kinh cánh tay

(Nguồn: Hollinshead,Texbook of Anatomy [33])

Cơ bậc thang trước Các nhánh của đám rối cổ

TK phụ Thần kinh lưng vai

sau, trong Thần kinh cơ bì

Thần kinh giữa

Thần kinh ngực dài

Thần kinh dưới vai dưới và thần kinh ngực lưng Thần kinh gian sườn cánh tay

Trang 20

Thần kinh trên vai (n Suprascapular) [46]

Thần kinh trên vai cung cấp cho cơ trên gai và cơ dưới gai Thần kinhnhận các sợi từ C5 và C6 (Hình 5) Thần kinh trên vai đi xuống ra sau, đisong song với thần kinh lưng vai, đi dọc bờ trên của bụng sau cơ vai móng,sau đó đi phía sau cơ này Thần kinh trên vai đi xuống qua phía trước cơthang để xuống khuyết vai, tại đây thần kinh liên quan với động mạch trên vai(Hình 7) Thần kinh và động mạch đi song song với nhau

Thần kinh và động mạch đi xuyên qua khuyết vai và sau đó đi vào hố trêngai, thần kinh cung cấp những nhánh đến cơ trên gai và có một nhánh đến khớpvai Thần kinh tiếp tục đi xuống qua khuyết vai lớn, đi giữa xương và dây chằngngang vai dưới đến hố dưới vai và tại đây đến cung cấp cho cơ dưới gai

Hình 1.5: Thần kinh trên vai và thần kinh nách

Trang 21

Thần kinh ngực ngoài (n.thoracicus anterior lateralis)

Thần kinh ngực ngoài còn được gọi là thần kinh ngực trước ngoài, thầnkinh bắt nguồn từ bó ngoài của đám rối thần kinh cánh tay, có nguồn gốc từthần kinh C5, C6 và C7 Một phần của thần kinh ngực ngoài hợp với nhữngsợi từ thần kinh ngực trong (thần kinh ngực trước trong) tạo nên một vònghay quai nằm trước phần đầu của động mạch nách Những sợi từ vòng hayquai này đến phân phối cho cơ ngực nhỏ, các sợi khác của thần kinh ngựcngoài đến mạc quạ đòn và tận hết ở phần trên trong của cơ ngực lớn để chiphối cho cơ này Thần kinh có các sợi đến vai và vào khớp quạ đòn

Hình 1.6: Liên quan của thần kinh cơ bì

(Nguồn: Atlat Giải phẫu người, Netter, 2011 [4])

Cơ đenta (đã cắt)

Cơ cánh tay

Thần kinh cơ bì

Cơ quạn cánh tay

Trang 22

Thần kinh cơ bì (n.musculo cutaneus) [46]

Thần kinh cơ bì là sự kết hợp chủ yếu từ thần kinh gai sống cổ C5 và C6

Có 50% kết hợp từ C4 và C7 Thần kinh chi phối cho cơ quạ cánh tay thường

có 2-3 nhánh của thần kinh cơ bì có nguyên ủy kế cận, đôi khi có những sợi

từ C7 đi xuyên qua cơ quạ cánh tay Thần kinh cơ bì đi sát phía ngoài và phầnđầu của đông mạch nách Thần kinh sau đó rời xa các mạch máu và đi xuyênqua cơ quạ cánh tay, đi xuống dưới nằm giữa cơ nhị đầu và cơ cánh tay

Thần kinh cung cấp nhánh cho đầu dài và đầu ngắn của cơ nhị đầu cánhtay, cho nhánh đến cảm giác cho khớp khuỷu Thần kinh cơ bì tiếp tục đixuống và ra nông, nhánh này có tên là thần kinh bì cẳng tay ngoài, thần kinhtiếp tục đi xuống giữa cơ nhị đầu và cơ cánh tay, đi xuyên qua mạc sâu ở bờngoài cơ nhị đầu Ở ngay trên nếp gấp khuỷu, thần kinh bì cẳng tay ngoài chialàm 2 nhánh đó là một nhánh trước và một nhánh sau:

 Nhánh trước chạy xuống phía ngoài và phía trước của cẳng tay cungcấp cảm giác cho vùng cẳng tay trước ngoài và tận hết ở cổ tay

 Nhánh sau nhỏ hơn chạy xuống ra sau nằm ở trước lồi cầu ngoài củaxương cánh tay, tiếp tục xuống cảm giác cho da vùng phía sau ngoài của cẳngtay, thần kinh này đi xuống tận cổ tay

1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI

Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về giải phẫu học của đám rốithần kinh cánh tay về đại phẫu lẫn vi phẫu Hầu hết các nghiên cứu đều chothấy có sự khác biệt trong cấu tạo của đám rối thần kinh cánh tay Sự thay đổinày có thể về hình dạng đại thể hoặc vi thể (thành phần cấu tạo, kích thước,phân nhánh, các nhánh thông nối, và các nhánh tận…) Những sự thay đổi nàythường phụ vào vùng dịch tễ như: chủng tộc, giới tính, hay có thể thay đổi

Trang 23

theo bên phải hay bên trái trên cùng 1 cơ thể được nghiên cứu [6, 9, 10, 17,

38, 41, 45, 47]

1.3.1 Khác nhau trong sự tham gia cấu tạo từ các rễ thần kinh

Thông thường đám rối thần kinh cánh tay được cấu tạo từ các rễ thầnkinh gai sống từ C5 đến N1, thành phần cấu tạo này có thể thay đổi khi có sựtham gia của rễ C4 hoặc N2 dẫn đến hình thành nên các biến thể củaĐRTKCT (C4 cho các nhánh nối đến C5 và T2 cho nhánh nối đến T1)

Hình 1.7: Sơ đồ đám rối thần kinh cánh tay

(Nguồn: Atlat Giải phẫu người, Netter, 2011 [4])

Trang 24

Về mặt giải phẫu học định khu, ĐRTKCT có thể chia thành 2 vùng, đó

là vùng trên đòn (nằm ở tam giác cổ sau giữa các cơ bậc thang) và vùng nách(dưới xương đòn), tại đây ĐRTKCT sẽ cho ra các dây thần kinh chính đến chiphối các cơ vùng cánh tay đến bàn tay Vì đây là vùng giải phẫu tương đốiphức tạp nên có nhiều biến thể của ĐRTKCT cũng như có nhiều sự khác nhauvới các cấu trúc giải phẫu lân cận là điều bình thường và y văn đã ghi nhận rấtnhiều trường hợp Các nghiên cứu cũng ghi nhận sự khác nhau này, ở mụcnày chúng tôi chỉ đề cập đến sự khác nhau trong thành phần các rễ thần kinhtham gia cấu tạo nên đám rối thần kinh cánh tay

Dựa vào sự khác nhau của các rễ thần kinh tham gia hình thành nênđám rối thần kinh cánh tay, có nhiều cách phân loại khác nhau được các tácgiả áp dụng vào nghiên cứu của mình Tuy nhiên tất cả các phân loại này đềudựa trên số lượng sợi trục và kích thước của các rễ thần kinh tham gia cấu tạonên đám rối cánh tay, trong đó luôn chú trọng đến thành phần tham gia của rễC4 và N2 Phân loại các biến thể của ĐRTKCT thường gặp nhất trong cácnghiên cứu là: dạng cao (có C4 tham gia) và dạng thấp (có N2 tham gia),dạng đầu và đuôi (cephalic and caudal), hoặc dạng C4 chiếm ưu thế (prefixed)

và dạng N2 chiếm ưu thế (postfixed) [20]

Tuy nhiên với mỗi nghiên cứu khác nhau thì các tác giả lại đưa ra cácgiải thích khác nhau cho từng dạng biến của đám rối cánh tay mặc dù các giảithích này luôn dựa trên sự xuất hiện của C4 hoặc N2 Chính vì sự đa dạngtrong các nghiên cứu này mà năm 2010 Megan Pellerin và Cs [20] đã có mộtnghiên cứu dựa trên các nghiên cứu trước đây nhằm tổng hợp các phân loạichính của đám rối thần kinh cánh tay Sau đây là một số định nghĩa của cáctác giả khác nhau trong nghiên cứu của Megan Pellerin và Cs:

Trang 25

Theo Kerr [15]: Phân loại chủ yếu dựa trên hình dạng của đám rối cánhtay so với trục của cơ thể, theo đó nhóm 1 là dạng rễ C4 cho nhánh nối đếnĐRTKCT hay có thể gọi là dạng đầu (cephalic) Nhóm 3 là dạng rễ C5 chonhánh nối đến đám rối thần kinh cổ hay còn gọi là dạng đuôi (caudal) Đốivới trường hợp có rễ C8 hoặc C7 và C8 lớn nhất được phân loại nhóm 4(postfixed) còn lại là các trường hợp rễ C6 lớn nhất được phân nhóm 2(Prefixed).

Theo Slingluff và Cs [38]: Dạng 1 (prefixed) ĐRTKCT có thành phần

rễ C5 chiếm hơn 15% tổng số nhánh và N1 chiếm ít hơn 13% Dạng 2(postfixed) ĐRTKCT được cấu tạo chủ yếu từ C6 đến N2, đặc biệt hơn đó làC5 có tỉ lệ từ 6,8 - 12%, và N2 chiếm tỉ lệ 13,4 – 24,4%

Theo Uysal và Cs [45]: Dạng 1 (prefixed), nếu rễ C4 lớn và không có

sự tham gia của N2 kèm theo rễ N1 nhỏ Dạng 2 (postfixed), nếu rễ C4 rấtnhỏ hoặc không có, rễ C5 nhỏ trong khi N1 lớn hơn và có sự tham gia của N2

Theo Moore và Cs [22]: Nếu đám rối cánh tay cấu tạo chủ yếu từ C4đến C8 ta có dạng 1 (prefixed) Nếu thân trên được cấu tạo chủ yếu từ C6 vàthân dưới có sự tham gia của N2 chúng ta có dạng 2 (postfixed)

Romanes [32]: ĐRTKCT có sự tham gia của rễ C4, dạng 1 (prefixed).ĐRTKCT cấu tạo từ C5 hoặc có sự tham gia của N2, dạng 2 (postfixed)

Lee và Cs [16]: Khi rễ thần kinh từ C4 lớn và từ N1 nhỏ, ta có dạng 1(prefixed) Khi rễ thần kinh từ N1, N2 lớn ta có dạng 2 (postfixed)

Như vậy, chúng ta thấy rằng khi khảo sát các biến thể của đám rối thầnkinh cánh tay, hầu hết các tác giả đều tập trung mô tả các biến thể dựa trênthành phần tham gia của các rễ thần kinh Từ đó để phân loại đám rối thầnkinh cánh tay chúng ta có thể dựa vào bảng phân loại của Kerr và Lee [15,16], theo đó ĐRTKCT có 3 dạng chính:

Trang 26

- Dạng thứ 1: có sự tham gia của rễ TK C4 (prefixed).

- Dạng thứ 2: Dạng thông thường (typically), chỉ có sự tham gia củaC5 đến N1 Không có sự tham gia của rễ TK C4 và N2

- Dạng thứ 3: có sự tham gia của rễ Tk N2 (postfixed)

Cũng theo thống kê trong nghiên cứu của Megan Pellerin và Cs, tỉ lệcác dạng của đám rối thần kinh cánh tay trong từng nghiên cứu của từng quốcgia là tương đối khác nhau Điều này theo tác giả ít nhiều sẽ ảnh hưởng đếncác biểu hiện trên lâm sàng trong một số bệnh lý hoặc tổn thương liên quanđến đám rối thần kinh cánh tay, vì mỗi rễ thần kinh sẽ cho số lượng các sợitrục khác nhau đến các thân của ĐRTKCT Chính vì vậy, khi có tổn thươngliên quan đến các rễ thần kinh, tùy theo mức độ và vị trí của tổn thương sẽcho các biểu hiện lâm sàng khác nhau Tương ứng với các cơ được chi phốibởi các sợi thần kinh mà nguyên ủy của các dây thần kinh này thay đổi theodạng cấu tạo của đám rối thần kinh cánh tay sau đây là bảng thống kê trongnghiên cứu của tác giả:

Bảng 1.3: Tỉ lệ các dạng của ĐRTKCT trong các nghiên cứu [20]

N C4 (%) N2 (%)Loukas và Cs [18] 214 56 (26) 8 (4)

Uysal và Cs [45] 107 (25,5) (2,5)

Lee và Cs [16] 152 (21,7) 1 (0,6)Kerr [15] 175 110 (62,85) (7,42)

Bonnel [8] 100 41 (41) 4(4)

Tubbs và Cs [43] 60 9(15) (0)

Trang 27

Như vậy theo bảng thống kê của Megan Pellerin và Cs [20], ta thấyrằng hầu hết các biến thể của đám rối thần kinh cánh tay là dạng thứ 1 có tỉ lệcao nhất Trong khi dạng thứ 3 (có N2 tham gia) chiếm tỉ lệ rất ít hoặc không

có Điều này có thể khẳng định đây là một đặc trưng của giải phẫu đám rốithần kinh cánh tay Chính vì vậy vấn đề cần đặt ra cho chúng ta khi tiến hànhnghiên cứu là mỗi dạng cấu tạo của đám rối thần kinh cánh tay sẽ có baonhiêu sợi trục của từng rễ thần kinh tham gia, và xa hơn nữa làm sao chúng ta

vẽ được sơ đồ phần trăm của các sợi trục từ rễ thần kinh đến các cơ tươngứng

Theo một nghiên cứu khác trên 200 mẫu ĐRTKCT trên bào thai tại HyLạp của Elizabeth O Jonhson được công bố năm 2010 [10], có 46,5%ĐRTKCT có cấu tạo bình thường (typically), 53,5% bao gồm dạng thứ 1(prefixed) và dạng thứ 3 (postfixed), mà trong số 53,5% này hết 48% là dạngthứ 1 (prefixed), còn lại là 0,5 – 4% của dạng thứ 3 (postfixed) Theo tác giảtrong nghiên cứu này thì hầu hết các mẫu có C4 tham gia đều ghi nhận sốlượng sợi trục của C4 và C5 tương đối lớn hơn so với N1 và N2 Và cũng ghinhận số lượng sợi trục của thần kinh trên vai chủ yếu xuất phát từ C4, C5

Cũng theo một nghiên cứu của Singluff và cs [38], tỉ lệ ĐRTKCT có sựtham gia của N2 trong nghiên cứu này là 2,5% ở bào thai và 4% ở người lớn.Mặc dù các nghiên cứu cho chúng ta thấy tỉ lệ tham gia của N2 rất ít (dưới5%), tuy nhiên chúng ta không loại trừ được vai trò của rễ N2 trong một sốbệnh lý liên quan đến ĐRTKCT

Đặc biệt, một nghiên cứu tại Ấn Độ công bố năm 2015 [21], báo cáomột trường hợp đám rối thần kinh cánh tay chỉ bao gồm 2 thân trên và dưới,trong đó thân trên được cấu tạo bởi C5 và C6, thân dưới cấu tạo bởi C7, C8,

Trang 28

N1 Tuy nhiên các phân nhánh thần kinh chi phối cho cánh tay vẫn bìnhthường.

1.3.2 Sự liên quan của ĐRTKCT đến các cấu trúc giải phẫu xung quanh

Nhóm Cơ bậc thang trước, giữa, sau [46]:

Nhóm cơ bậc thang bao gồm 3 cơ nằm ở vùng cổ bên có nguyên ủy làcác mỏm ngang đốt sống cổ từ C2 đến C7, bám tận ở xương sườn thứ nhất vàthứ hai Theo vị trí giải phẫu lần lượt có tên gọi là cơ bậc thang trước, giữa vàsau Nhiệm vụ của cơ bậc thang là giúp nâng các xương sườn và xoay cổ.Ngoài ra đôi khi xuất hiện cơ bậc thang bé (scalenus minimus) nằm ngay sau

cơ bậc thang trước

Theo giải phẫu học định khu, tam giác cổ sau được hình thành bởi cơbậc thang trước ở phía trước, phía sau là cơ bậc thang giữa và đáy là xươngsườn thứ 1 Đây là vùng giải phẫu quan trọng trên lâm sàng vì nó bao bọcxung quanh các cấu trúc giải phẫu dễ bị tổn thương đi qua nó như: Các rễ vàthân của đám rối thần kinh cánh tay, một phần của động mạch dưới đòn.Chính vì vậy khi có sự thay đổi kích thước các cơ bậc thang (phì đại) hoặcxuất hiện các biến thể của cơ bậc thang (xuất hiện cơ bậc thang bé), có thểlàm thay đổi không gian của vùng này, ảnh hưởng đến các rễ thần kinh Từ đó

sẽ xuất hiện các triệu chứng hoặc hội chứng tương ứng trên lâm sàng Nhữngthay đổi về mặt giải phẫu thường gặp nhất đó là nguyên ủy và bám tận củacác cơ bậc thang, thần kinh và mạch máu nuôi

Trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ đề cập những bất thường liên quanđến mối tương quan giữa các cơ bậc thang và các cấu trúc giải phẫu trong tamgiác cổ sau

Trang 29

Hình 1.8: Cơ bậc thang và ĐRTKCT

Theo y văn thế giới tỉ lệ xuất hiện của cơ bậc thang bé vào khoảng trên30% (scalenus minimus) các mẫu nghiên cứu [35] Với sự xuất hiện của cơbậc thang bé sẽ làm giảm kích thước của tam giác cổ sau, có thể chèn ép lênđám rối thần kinh cánh tay và động mạch dưới đòn Từ đó lâm sàng sẽ gây racác hiện tượng như tê, ngứa, hoặc mất cảm giác vùng cánh tay

Những thay đổi vị trí thường gặp của các cơ bậc thang so với đám rốithần kinh cánh tay thường là của thân trên (C5, C6) với cơ bậc thang trước vàgiữa, tiếp theo từ trên xuống dưới sẽ là thân giữa và thân dưới Thông thườngchúng ta sẽ thấy rễ C5, C6 nằm phía sau cơ bậc thang trước và phía trước cơbậc thang giữa, tuy nhiên có trường hợp rễ thần kinh đi xuyên qua cơ bậc

Trang 30

thang trước hoặc nằm hoàn toàn về phía trước của cơ bậc thang trước.[33,47].

Theo nghiên cứu của Harry và cs năm 1997 [47], nghiên cứu trên 102mẫu (51 xác), có 46% mẫu xuất hiện cơ bậc thang bé (scalenus minimus),15% mẫu có rễ C5, C6 xuyên qua cơ bậc thang trước và không tách rời, 13%mẫu chỉ có rễ C5 xuyên qua cơ bậc thang trước, 6% mẫu có rễ C5, C6 xuyênqua cơ bậc thang trước và tách rời, 3% mẫu rễ C5 nằm hoàn toàn về phíatrước so với cơ bậc thang trước

Đặc biệt một nghiên cứu năm 2014 của Silva A T [36] báo cáo mộttrường hợp ghi nhận rễ C7 của đám rối cánh tay xuyên qua cơ bậc thang giữa,trong khi các báo cáo trước đó thường chỉ có thần kinh ngực dài xuyên qua cơbậc thang giữa

Chính vì sự đa dạng trong cấu trúc giải phẫu của các cơ bậc thang và

có nhiều biến thể về mối tương quan giữa cơ bậc thang với các thành phầntrong tam giác cổ sau nên đây là một mốc giải phẫu rất quan trọng khi phẫutích ở vùng này Đăc biệt trong phẫu tích bộc lộ các rễ thần kinh củaĐRTKCT vì đây là mốc giải phẫu quan trọng để tìm thấy rễ C5, C6 của thântrên Việc nắm rõ mốc giải phẫu giúp ta có định hướng tốt hơn trong quá trìnhphẫu tích hoặc chẩn đoán một số bệnh lý trên lâm sàng

Cơ vai móng:

Cơ vai móng là một cấu trúc giải phẫu quan trọng ở vùng cổ, vì nó chiatam giác cổ trước và sau thành những phần nhỏ hơn, là mốc giải phẫu quantrọng không thể thiếu trong quá trình phẫu tích Cơ vai móng thông thường có

2 phần đó là bụng trên và bụng dưới, có nguyên ủy là bờ trên xương vai vàbám tận ở bờ dưới xương móng

Trang 31

Theo y văn, ghi nhận rất nhiều trường hợp biến thể của cơ vai móng [9,30], các biến thể này thường xảy ra ở bụng trên cơ vai móng nơi bám tận vào

bờ dưới của xương móng Vì các cơ này tương đối nhỏ và bờ dưới xươngmóng cũng là nơi bám của nhiều cơ như: cơ giáp móng, cơ ức móng; Dẫn đếncác biến dạng thường gặp đó là sự hợp nhất của các cơ này Ngoài ra y văncũng ghi nhận các trường hợp khuyết hẳn cơ vai móng [9, 30], hoặc đặc biệthơn nữa là xuất hiện cơ sinh đôi của cơ vai móng (double) ở phần bụng dưới[30]

Trên lâm sàng, khi phẫu tích các bệnh lý hoặc tổn thương liên quan đếnđám rối thần kinh cánh tay thì bụng dưới cơ vai móng là mốc giải phẫu quantrọng để xác định nơi xuất phát của thần kinh trên vai từ thân trên Thôngthường nằm phía sau trên so với bụng dưới cơ vai móng chính là nơi xuấtphát của thần kinh trên vai Một số tổn thương của ĐRTKCT sẽ làm cho thầnkinh trên vai tụt xuống thấp hơn cơ vai móng thậm chí nằm dưới xương đòn.Các trường hợp này khi phẫu tích thường sẽ phải căt ngang bụng dưới cơ vaimóng

Trong nghiên cứu này chúng ta chỉ đề cập đến vị trí của cơ vai móng sovới đám rối thần kinh cánh tay (thân trên), nên sẽ không đi sâu nói về các biếnthể của cơ vai móng Còn mối tương quan như thế nào giữa cơ vai móng vàthần kinh trên vai chúng ta sẽ nói nhiều hơn ở phần kết quả và bàn luận

Động mạch ngang cổ [24]:

Đây là động mạch tương đối lớn ở vùng cổ và thường nằm nông nhất

so với các cấu trúc giải phẫu khác như: cơ vai móng, các thân của đám rốithần kinh cánh tay, là cấu trúc giải phẫu thường dễ bị tổn thương nhất khiphẫu tích bộc lộ ĐRTKCT ĐM ngang cổ thường cho 2 nhánh nông và sâu

Trang 32

đến nuôi 1 số cơ vùng vai và cổ, 2 nhánh này sẽ ôm lấy các thân củaĐRTKCT.

Động mạch ngang cổ theo y văn cũng có nhiều biến thể, tuy nhiên ởđây chúng ta sẽ không đề cập đến vấn đề này Trên lâm sàng ĐM cổ ngang cóthể ứng dụng trong 1 số trường hợp như làm cuốn mạch máu chính cho cácvạt da ở vùng cổ trong một số trường hợp thẩm mỹ Hiện tại có rất ít nghiêncứu khảo sát vị trí của ĐM cổ ngang so với ĐRTKCT, chỉ có các nghiên cứu

mô tả các nhánh tận của ĐM cổ ngang mà các nghiên cứu này thường phảithực hiện trên xác tươi và đòi hỏi phải tiêm thuốc cản quang

Trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ khảo sát ĐM cổ ngang như là mộtmốc giải phẫu quan trọng trong quá trình phẫu tích liên quan đến đâm rối thầnkinh cánh tay Kết quả sẽ được trình bày ở chương sau

1.3.3 Cấu tạo vi giải phẫu

Đây là một chuyên đề đã được nghiên cứu từ rất lâu trên thế giới, điểnhình như nghiên cứu của Martinoni năm 1977 [19], F Bonnel năm 1984 [8]

Để tiến hành nghiên cứu giải phẫu học ĐRTKCT ở mức độ vi phẫu cần trang

bị đầy đủ phương tiện như kính hiển vi điện tử, các hóa chất chuyên biệt dùng

để nhuộm mô thần kinh… Ngoài ra cần tốn rất nhiều thời gian từ lúc phẫutích đến khi nhuộm mô và đọc kết quả

Với phương pháp này sẽ cho chúng ta biết chính xác xuất phát của cácsợi thần kinh cũng như thành phần cấu tạo nên các dây thần kinh ngoại biên(mỗi nhánh được hình thành từ các sợi thần kinh xuất phát từ rễ nào củaĐRTKCT) Và biết được chính xác số lượng sợi trục của từng bó thần kinhđược khảo sát ví dụ như biết được số lượng sợi trục vận động và cảm giáctham gia cấu tạo nên rễ thần kinh gai sống như mô tả của 1 nghiên cứu năm

Trang 33

Kết quả của F.Bonnel năm 1984 [8]:

Nghiên cứu của F Bonnel có thể gọi là một nghiên cứu điển hình củathế giới mà kết quả của nghiên cứu này vẫn còn được ứng dụng cho đến ngàynay Qua nghiên cứu này, tác giả đã cho chúng ta có một cái nhìn cụ thể vềcấu trúc giải phẫu học đám rối thần kinh cánh tay ở mức độ đại thể lẫn vi thể.Bằng nhiều phương pháp khác nhau tác giả đã mô tả độ dài và đường kínhcủa các rễ thần kinh gai sống, mô tả các gốc của các rễ thần kinh so với tủysống, xác định được xuất phát của các sợi trục đến các dây thần kinh vùng vai

và cánh tay, đếm được số lượng sợi trục của các rễ thần kinh Sau đây là một

số kết quả vi giải phẫu của nghiên cứu:

a Xuất phát của các sợi trục thần kinh:

 TK cho cơ tròn lớn xuất phát từ C5, C6, đôi khi từ C7

 TK nách xuất phát từ C5, C6, hiếm khi có C7 tham gia

 TK trên vai có các sợi xuất phát hầu hết từ C5 đôi khi có sợi từ C6

 TK trụ có xuất phát từ C7, C5, N1

 TK quay có xuất phát từ C5, C6, C7, C8, N1

 TK giữa có xuất phát từ C5, C6, C7, C8, N1

 TK cơ bì cánh tay có các sợi từ C5,6 và một số rất ít các sợi từ C7

b Số lượng trung bình của bao bó sợi và bó sợi trên từng rễ thần kinh:

Nghiên cứu mô tả được trung bình số lượng của từng bó sợi trục trongcác rễ thần kinh, tuy nhiên kết quả này không có ý nghĩa nhiều lắm về mặtlâm sàng nên chúng tôi cũng không đề cập ở đây

c Số lượng sợi trục trên từng rễ thần kinh:

Tác giả sử dụng kỹ thuật Weigert-Landau để đếm số lượng sợi trục,phương pháp này hạn chế ở chỗ chỉ xác định được sợi trục còn bao myelin,

Trang 34

tuy nhiên tại thời điểm nghiên cứu thì phương pháp này có thể nói là chínhxác nhất.

Tác giả đếm số lượng sợi trục trung bình của 21 mẫu ĐRTKCT và sauđây là bảng kết quả:

Bảng 1.4: Số lượng sợi trục theo nghiên cứu của Bonnel

Kết quả của Yong Tao Liu năm 2015 [49]:

Đây là một nghiên cứu được tiến hành nhằm mục tiêu mô tả chi tiết vềkích thước bao gồm đường kính và chiều dài của các rễ lưng và rễ bụng củacác rễ thần kinh, mô tả số lượng sợi trục của từng rễ lưng và rễ bụng của thầnkinh gai sống Có thể nói đây là một nghiên cứu khá đầy đủ về cấu trúc vi giảiphẫu tại thời điểm nghiên cứu mà tác giả dựa trên nền tảng các nghiên cứu đã

có Ngoài ra nhờ vào các phương pháp nhuộm mô hiện đại kết hợp với cácphương tiện kỹ thuật, tác giả đã xác định được số lượng sợi trục của từng rễlưng và rễ bụng của các rễ thần kinh gai sống

Để làm nền tảng cho nghiên cứu của chúng tôi, trong nghiên cứu nàychúng tôi chỉ sử dụng kết quả số lượng sợi trục trung bình của rễ TK C5, C6,C8, N1 để so sánh Sau đây là bảng kết quả của tác giả:

Trang 35

Bảng 1.5 Số lượng sợi trục trung bình theo nghiên cứu của Yong T L

SL sợi trục TB

C5 7841 ± 1020 23300 ± 2856C6 7048 ± 1157 36353 ± 7451C7 8467 ± 1019 39653 ± 8458C8 5883 ± 1000 31156 ± 8273N1 5788 ± 1186 26507 ± 7617

Theo nghiên cứu này thì rễ C7 có số lượng sợi trục nhiều nhất, kế đến

là rễ C6, lần lượt tiếp theo là C8, N1, C5

Với tình hình hiện nay các bệnh lý và tổn thương liên quan đếnĐRTKCT có xu hướng gia tăng, trong khi chưa có phương pháp triệt để giúpphục hồi các tổn thương này Việc hiểu biết giải phẫu học đám rối cánh tay ởmức độ vi giải phẫu là hết sức cần thiết đặc biệt là các phẫu thuật viên Giúpcho công việc chẩn đoán được chính xác hơn từ đó đưa ra phương án điều trịhiệu quả nhất

1.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TẠI VIỆT NAM

Tại Việt Nam một số nghiên cứu về giải phẫu học của ĐRTKCT đãđược thực hiện điển hình là nghiên cứu của Lê Văn Cường và Phan Văn Sử[1] mô tả chi tiết nguyên ủy ĐRTKCT và các biến thể, mô tả sự tạo thành các

bó và nhánh tận

Tuy nhiên tất cả các nghiên cứu hiện nay cũng chỉ mới dừng lại ở mức

độ mô tả đại thể của đám rối thần kinh cánh tay Chúng tôi chưa thấy có

Trang 36

nghiên cứu nào thực hiện ở mức độ vi giải phẫu, mô tả chính xác thành phầntham gia cấu tạo nên các dây thần kinh ngoại biên xuất phát từ rễ thần kinhnào Cũng chưa có nghiên cứu nào mô tả số lượng sợi trục trên từng rễ thầnkinh cũng như phần trăm tham gia của các rễ thần kinh trong cấu tạoĐRTKCT.

Giải thích về điều này một phần có thể do điều kiện về thời gian, trangthiết bị và các phương tiện kỹ thuật, không cho phép Mặc khác tại Việt Namhiện nay việc chẩn đoán và điều trị các bệnh lý liên quan đến ĐRTKCT cònhạn chế, chủ yếu là chuyên ngành phẫu thuật vi phẫu can thiệp trên ĐRTKCTđối với các trường hợp tổn thương ĐRTKCT Chính vì vậy động lực đểnghiên cứu giải phẫu học mà cụ thể là vi giải phẫu của ĐRTKCT còn thiếu, vì

để tiến hành 1 nghiên cứu vi giải phẫu vùng này đòi hỏi phải bỏ thời gian vàcông sức rất nhiều

Trang 37

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.1.1 Đối tượng và thời gian nghiên cứu

- Đối tượng: Xác người Việt Nam trưởng thành được bảo quản bằngformol

- Địa điểm nghiên cứu: tại Bộ môn Giải Phẫu học, Đại học Y DượcThành phố Hồ Chí Minh

- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 11/2017 đến tháng 09/2018

+ Tháng 11/2017: báo cáo đề cương nghiên cứu

+ Từ tháng 01/2018 đến tháng 06/2018: phẫu tích trên xác, thu thập sốliệu, chờ kết quả nhuộm mô

+ Từ tháng 06/2018 đến tháng 09/2018: xử lý số liệu, hoàn thành luậnvăn

2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu

- Các thi thể người Việt Nam trưởng thành được bảo quản bằng formoltại Bộ môn Giải phẫu học, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

- Vùng cổ và vùng nách còn nguyên vẹn, chưa được phẫu tích

- Không chấn thương hay dị tật gây biến dạng vùng cổ và ngực

- Không ghi nhận tiền căn phẫu thuật vùng ngực và vùng cổ thông quaviệc ghi nhận sẹo da khi phẫu tích các vùng này

Trang 38

2.1.3 Tiêu chuẩn loại mẫu

- Khi lấy mẫu: phẫu tích làm đứt rách thần kinh và các thành phần liênquan và các thành phần liên quan đến đám rối thần kinh cánh tay

- Không nhuộm được tiên bản mô thần kinh

- Ghi nhận các khối u vùng cổ, nách khi phẫu tích

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca

2.2.3 Nội dung nghiên cứu

2.2.3.1 Nội dung phẫu tích

Phẫu tích vùng cổ và vùng nách, ghi nhận:

- Các rễ thần kinh gai sống tham gia tạo thành đám rối thần kinh cánhtay

- Sự tạo thành của các thân: thân trên, thân giữa và thân dưới

- Sự tạo thành các bó: bó ngoài, bó trong và bó sau

- Sự phân nhánh của đám rối thần kinh cánh tay

- Liên quan của đám rối thần kinh cánh tay với những cấu trúc xung

Trang 39

2.2.3.1 Nội dung nghiên cứu mô học

- Cắt các rễ thần kinh tham gia tạo thành đám rối thần kinh cánh tay vàcác thân thần kinh để nhuộm hematoxylin-eosin

- Trên tiêu bản mô học, đếm số lượng sợi trục của các rễ thần kinh C5,C6 (thân trên), các rễ thần kinh C8, N1 (thân dưới)

2.2.4 Phương pháp phẫu tích và đo đạc số liệu

Ngày đăng: 09/05/2021, 10:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Văn Cường (2013), Bài giảng giải phẫu học, tập 2, Nhà xuất bản y học, thành phố Hồ Chí Minh, Tr 319 – 358 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng giải phẫu học
Tác giả: Lê Văn Cường
Nhà XB: Nhà xuất bản yhọc
Năm: 2013
2. Nguyễn Quang Quyền (2011), Bài giảng giải phẫu học, tập 1, tái bản lần thứ 13, nhà xuất bản Y học, thành phố Hồ Chí Minh, tr. 319 – 328 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng giải phẫu học
Tác giả: Nguyễn Quang Quyền
Nhà XB: nhà xuất bản Y học
Năm: 2011
3. Trần Công Toại (2016), Mô học, in lần thứ nhất, nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, trang 238 – 250 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô học
Tác giả: Trần Công Toại
Nhà XB: nhà xuất bản Đại họcQuốc gia TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2016
4. Netter F. (2011), Atlas Giải phẫu người, Vietnamese edition, Nhà xuất bản Y học, TP. Hồ Chí Minh.Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Atlas Giải phẫu người
Tác giả: Netter F
Nhà XB: Nhà xuấtbản Y học
Năm: 2011
5. Alparslan K., et al. (2017), ―Anatomical Variations of Brachial Plexus in Fetal Cadavers‖. JTNS, P.5017-5024 Sách, tạp chí
Tiêu đề: JTNS
Tác giả: Alparslan K., et al
Năm: 2017
6. Anjali A., Nidhi P., et al. (2010), ―Anatomical variation in formation of brachial plexus and its branching‖. Springer-Verlag, P.891-894 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Springer-Verlag
Tác giả: Anjali A., Nidhi P., et al
Năm: 2010
7. Anson B., et al. (1966), Morris’ human anatomy, 18 th edition, The Blackiston division McGraw – Hill book company, New York, pp.704 – 706 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Morris’ human anatomy
Tác giả: Anson B., et al
Năm: 1966
8. Bonnel F., (1984), ―Microscopic anatomy of the adult human brachial plexus: an anatomical and histological basis for microsurgery‖.Pubmed, p.107-117 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pubmed
Tác giả: Bonnel F
Năm: 1984
9. Deog-Im K., et al. (2010), ―Variation of the Infrahyoid Muscle:Duplicated Omohyoid and Appearance of the Levator Glandulae Thyroideae Muscles‖. Yonsei Med J, 51(6): P.984-986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yonsei Med J
Tác giả: Deog-Im K., et al
Năm: 2010
10. Elizabeth O. Jonhson, et al. ―Neuroanatomy of the brachial plaxus:normal and variant anatomy of its formation‖. Springer Verlag 2010, 32: 291-297 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Springer Verlag
11. Eyup Savas- Hatipoglu, et al. (2006), ―An unusual variation of the omohyoid muscle and review of literature‖. Ann Anat, 188 p.469—472 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ann Anat
Tác giả: Eyup Savas- Hatipoglu, et al
Năm: 2006
12. F. Yazar., et al. (2009), ―The Long Thoracic Nerve: Its Origin, Branches, and Relationship to the Middle Scalene Muscle‖. Clinical Anatomy 22:476–480 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clinical Anatomy
Tác giả: F. Yazar., et al
Năm: 2009
13. Joris Van de Velde, et al. (2016), ―Brachial plexus 3D reconstruction from MRI with dissection validation: a baseline study for clinical applications‖. Surg Radiol Anat, 38:229–236 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Surg Radiol Anat
Tác giả: Joris Van de Velde, et al
Năm: 2016
14. J. P.Xiang, et al. (2008), ―Microsurgical anatomy of dorsal root entry zone of brachial plexus”. Microsurgery 28:17–20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ”. Microsurgery
Tác giả: J. P.Xiang, et al
Năm: 2008
15. Kerr AT. (1918), ―The brachial plexus of nerves in man, the variations in its formations and branches‖. Am J Anat, 23:285–395 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Am J Anat
Tác giả: Kerr AT
Năm: 1918
16. Lee HY., et al. (1992), ― Variations of the ventral rami of the brachial plexus‖. J Korean Med Sci, 7:19–24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Korean Med Sci
Tác giả: Lee HY., et al
Năm: 1992
17. Marios L., et al. (2010), ―Anatomy and landmarks for branches of the brachial plexus: a vade mecum‖. Springer- Verlag, 32: p.61–270 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Springer- Verlag
Tác giả: Marios L., et al
Năm: 2010
18. Marios L., et al. (2007), ―T2 contributions to the brachial plexus‖.Neurosurgery 60, [ONS Suppl 1]:ONS-13–ONS-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Neurosurgery 60
Tác giả: Marios L., et al
Năm: 2007
19. Martinoni G., (1977), ―Distribution fasciculaire dans le plexus Brachial Humain‖. Thèse Berne, P108 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thèse Berne
Tác giả: Martinoni G
Năm: 1977
20. Megan Pellerin, et al. (2010), ―The prefixed and postfixed brachial plexus: a review with surgical implications‖. Surg Radiol Anat, 32:251–260 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Surg Radiol Anat
Tác giả: Megan Pellerin, et al
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w