TỔNG QUAN Y VĂN
Một số khái niệm về rối loạn chuyển hóa lipid máu
1.1.1 Rối loạn chuyển hóa lipid máu
Rối loạn chuyển hóa lipid máu là tình trạng tăng nồng độ lipid trong máu, làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch và đột quỵ Có hai loại tăng lipid máu: tiên phát, thường gặp hơn, và thứ phát.
1.1.1.1 Rối loạn chuyển hóa lipid máu tiên phát
Năm 1965, Fredrickson đã sử dụng kỹ thuật điện di và siêu ly tâm để phân chia hội chứng rối loạn lipid máu thành 5 týp Từ năm 1970, phân loại này đã được công nhận là tiêu chuẩn quốc tế.
Bảng 1 1 Phân loại rối loạn chuyển hóa lipid, lipoprotein máu theo
RLCH lipid máu Độ trong huyết tương
Mức độ nguy hiểm với VXĐM
I CM ↑ TG ↑ Đục Rất hiếm ±
Iia LDL-C ↑↑ CT ↑↑ Trong Thường gặp ++++
BT, TG ↑↑ Đục Thường gặp +++
- Týp II: tăng lipoprotein beta máu, được phân làm 2 týp nhỏ là: IIa và IIb.
Týp IIa của tăng cholesterol máu nguyên phát đặc trưng bởi sự gia tăng cholesterol và LDL-C, bao gồm hai thể là đa gen và đơn gen Thể đa gen thường liên quan đến khuyết tật của thụ thể LDL, có thể xuất hiện dưới dạng đồng hợp tử hoặc dị hợp tử Trong khi đó, thể đơn gen chủ yếu là tăng cholesterol máu di truyền, bao gồm cả hình thức di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường và di truyền lặn.
Týp IIb là tình trạng tăng lipid máu hỗn hợp gia đình, đặc trưng bởi mức cholesterol và LDL-C rất cao, cùng với sự gia tăng triglycerid và VLDL-C Thể loại này thường đi kèm với rối loạn chuyển hóa glucid, tăng acid uric trong máu và huyết áp cao.
Týp III (rối loạn lipoprotein máu - tăng LDL-C) là một thể bệnh hiếm gặp, chỉ xuất hiện với tỷ lệ 1/10.000 Đặc trưng của bệnh là sự gia tăng cholesterol toàn phần, triglycerid máu và LDL-C Thường thì bệnh được phát hiện sau tuổi 20, nhưng ở trẻ em, tình trạng bệnh có thể rất nặng.
Týp IV (tăng triglycerid) thường không có triệu chứng lâm sàng và thường được phát hiện qua các cuộc điều tra di truyền Týp này nhạy cảm với rượu, glucid, chất béo và tình trạng béo phì Mức cholesterol thường thấp hơn so với triglycerid trong máu, và tăng triglycerid máu nội sinh có đặc điểm sinh vữa yếu, với mức triglycerid cao và HDL-C thấp.
Týp IV của tăng lipid máu có thể do di truyền đơn gen trội hoặc thiếu gen, với khoảng 10% bệnh nhân mắc phải Mặc dù vai trò của các yếu tố môi trường đã được hiểu rõ, nhưng vai trò của gen trong tình trạng này vẫn chưa được làm sáng tỏ.
Týp V là tình trạng tăng triglycerid máu hỗn hợp, đặc trưng bởi sự gia tăng của chylomicron và VLDL-C Tình trạng này rất nhạy cảm với mỡ ngoại sinh và có yếu tố di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường.
Bảng 1.2.Tăng lipid máu tiên phát
LP máu hỗn hợp gia đình
Thay đổi Thay đổi > 90 Hypo
CT do nhiều yếu tố
Thay đổi Thay đổi IIa/IIb 20- 25/
1.1.1.2 Rối loạn chuyển hóa lipid máu thứ phát
Hình thành lipid chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như béo phì, tiêu thụ thực phẩm giàu cholesterol (như mỡ và phủ tạng động vật), lối sống ít vận động, hút thuốc, uống rượu nhiều, rối loạn nội tiết, và các bệnh lý về gan, thận Ngoài ra, việc sử dụng thuốc lợi tiểu, chẹn beta và glucocorticoid trong thời gian dài cũng góp phần vào quá trình này.
Bảng 1.3.Rối loạn chuyển hóa lipid máu thứ phát Bệnh lý RLCH lipid máu Rối loạn lipoprotein máu Đái tháo đường TG↑ CM↑ , VLDL↑ ,
Hội chứng thận hư CT↑
Tăng urê máu TG↑ VLDL-C↑, HDL-C ↓
Suy thận mạn TG↑ LDL-C ↑hoặc BT, VLDL-
Bệnh gan tắc nghẽn CT↑ LpX↑
Béo phì TG↑ CM↑ , VLDL-C↑
Chứng ăn vô độ TG↑ CM ↑, VLDL-C↑
Nghiện thuốc lá TG↑ và/ hoặc CT↑
Nghiện rượu TG↑ và/ hoặc CT↑
Dùng thuốc tránh thai TG↑ ↑VLDL-C, ↓ HDL-C
Thuốc ức chế bêta - giao cảm TG↑ ↑VLDL-C, ↓ HDL-C
Isotretinion (13 – cis - nicotinic acid) TG↑ ↑VLDL-C, ↑CM,
1.1.2 Chẩn đoán rối loạn chuyển hóa lipid máu
Rối loạn chuyển hóa lipid máu là vấn đề nghiêm trọng ở bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng hoặc biến chứng như bệnh xơ vữa động mạch Những dấu hiệu như bệnh xơ vữa động mạch xuất hiện sớm, tiền sử gia đình có người mắc bệnh động mạch, hoặc mức cholesterol máu trên 6,2 mmol/L (240 mg/dL) có thể chỉ ra rối loạn chuyển hóa lipid máu tiên phát Để chẩn đoán chính xác, cần thực hiện các xét nghiệm lipid máu, bao gồm cholesterol toàn phần (TC), triglycerides (TG), HDL-cholesterol (HDL-C) và LDL-cholesterol (LDL-C) Bảng chẩn đoán cũng hỗ trợ trong việc đánh giá mức độ rối loạn chuyển hóa lipid máu.
Bảng 1.4 Đánh giá các mức độ rối loạn chuyển hóa lipid máu theo
Xét nghiệm lipoprotein lúc đói Xét nghiệm lipoprotein lúc đói
1.1.3 Nguyên nhân rối loạn chuyển hóa lipid máu
1.1.3.1.Nguyên nhân tăng Cholesterol máu
- Ăn quá nhiều mỡ động vật.
- Ăn quá nhiều thức ăn chứa nhiều Cholesterol (phủ tạng động vật, mỡ động vật, trứng, bơ, sữa toàn phần…).
- Dư thừa năng lượng (béo phì).
- Thứ phát sau mắc các bệnh (Hội chứng thận hư, suy giáp…)
1.1.3.2.Nguyên nhân tăng Triglycerid máu
- Tăng TG có tính chất gia đình, dùng thuốc chẹn beta giao cảm kéo dài, thiếu hụt gen tiêu hủy lipoprotein hoặc apoprotein C-H.
1.1.3.3.Nguyên nhân yếu tố nguy cơ gây giảm HDL-C
- Lười vận động thể lực
- Đái tháo đường không phụ thuộc Insulin, tăng TG, dùng thuốc chẹn beta giao cảm kéo dài, rối loạn chuyển hóa HDL
1.1.4 Điều trị rối loạn chuyển hóa lipid máu
1.1.4.1.Nguyên tắc điều trị Điều trị tuỳ thuộc vào từng cá thể bệnh nhân trên cơ sở đánh giá tình trạng và mức độ rối loạn chuyển hóa lipid máu là chính [15, 31, 49] Xác định rối loạn chuyển hóa lipid máu là do thứ phát (lối sống, ăn nhiều chất béo bão hòa, đái tháo đường, suy thận mạn, suy giáp, do dùng thuốc,…) hay tiên phát (đột biến gen, có tính gia đình, …) Việc đánh giá mức cholesterol thích hợp với từng cá thể phải tính đến sự có mặt của các yếu tố nguy cơ khác Các yếu tố nguy cơ được xác định là góp phần gây bệnh mạch vành, phần lớn bệnh nhân bị bệnh mạch vành có cholesterol toàn phần và LDL-C ở mức giới hạn Vì vậy, nhiều chuyên gia coi cholesterol huyết tương
>160mg/dl là mức giá trị lý tưởng cao.
Bảng 1.5 Phân loại nồng độ cholesterol máu
Mức độ CT TG LDL- C
Tăng giới hạn 5,2 - 6,2 mmol/l 2,26 - 4,5 mmol/l
Ghi chú: HDL-C bình thường: > 0,9 mmol/l Rối loạn chuyển hóa lipid máu kiểu hỗn hợp khi cholesterol > 6,2 mmol/l và TG trong khoảng 2,26 - 4,5 mmol/l.
Xử trí rối loạn chuyển hóa lipid máu ở người cao tuổi cần lưu ý những điểm sau [7]:
Cá thể hóa điều trị cho người cao tuổi cần dựa trên tuổi niên đại, tuổi sinh học và các bệnh lý đi kèm Đối với những người cao tuổi có chức năng hoạt động suy yếu hoặc mắc nhiều bệnh lý, nên bắt đầu với liều thấp và tăng dần để đạt được mục tiêu điều trị tương tự như ở người trẻ tuổi.
Điều trị rối loạn chuyển hóa lipid máu ở người cao tuổi mang lại lợi ích tương tự như ở người trẻ Tuy nhiên, hiệu quả của liệu pháp Statin ở bệnh nhân trên 75 tuổi vẫn chưa có đủ chứng cứ thuyết phục Do đó, liều điều trị cần được giảm xuống dưới một nửa so với liều dùng cho người trẻ.
Người dưới 75 tuổi không bị suy yếu chức năng hoạt động và ít bệnh đi kèm có thể sử dụng liều thuốc tương đương với người trẻ hơn Trong trường hợp không dung nạp thuốc, cần giảm liều một cách phù hợp.
Người cao tuổi không mắc bệnh tim mạch nhưng có ít nhất một yếu tố nguy cơ tim mạch khác ngoài tuổi tác có thể xem xét và điều chỉnh phương pháp điều trị một cách cá thể hóa.
- Có thể cân nhắc điều trị thuốc ngoài Statin tùy trường hợp cụ thể, khi không dung nạp Statin hoặc mục tiêu điều trị chưa đạt.
Thực trạng và các yếu tố liên quan đến rối loạn chuyển hóa lipid máu
1.2.1 Thực trạng rối loạn chuyển hóa lipid máu trên thế giới
Bảng 1.6 Một số nghiên cứu về rối loạn chuyển hóa lipid máu ở
Stt Địa điểm Năm Cỡ mẫu Tỷ lệ RLCH lipid máu Yếu tố liên quan
Béo phì trung tâm, tăng huyết áp, đường huyết lúc đói cao
Tăng chỉ số BMI, trầm cảm
Tuổi, chỉ số BMI,chu vi vòng eo,đường huyết lúc đói, huyết áp
Bảng 1.7 Một số nghiên cứu về rối loạn chuyển hóa lipid máu ở Châu Á
Stt Địa điểm Năm Cỡ mẫu Tỷ lệ RLCH lipid máu
Nguy cơ bệnh tim mạch là 34%.
Tuổi cao, giới tính nữ, khu vực thành thị, chỉ số BMI, thu nhập cao, đường huyết, huyết áp tâm trương cao và hút thuốc.
Chỉ số BMI, chỉ số vòng eo, huyết áp tâm thu và tâm trương, sử dụng rượu.
1.2.2 Thực trạng rối loạn chuyển hóa lipid máu tại Việt Nam
Bảng 1 8 Một số nghiên cứu về rối loạn chuyển hóa lipid máu ở
Stt Địa điểm Năm Cỡ mẫu Tỷ lệ RLCH lipid máu Yếu tố liên quan
1 Gia Lai[9] 2011 189 79,8% Tăng huyết áp, chỉ số BMI.
Chỉ số BMI, gan nhiễm mỡ, kiến thức phòng
Huế [14] 2012 100 54% Đường huyết, chỉ số BMI
Tăng huyết áp, đái tháo đường, béo phì, hút thuốc lá.
Giới tính, hút thuốc lá, huyết áp.
[23] 2015 345 53,3% Giới tính, thừa cân béo phì.
Chỉ số BMI, béo bụng, gan nhiễm mỡ.
Stt Địa điểm Năm Cỡ mẫu Tỷ lệ RLCH lipid máu Yếu tố liên quan
Giới tính, vòng eo, chỉ số BMI, tăng huyết áp, đái tháo đường.
[27] 2016 420 76,6% Tuổi, chỉ số BMI, béo bụng.
Tuổi, giới tính, chỉ số BMI, đường huyết lúc đói và HbA1c.
1.2.3 Một số yếu tố liên quan đến rối loạn chuyển hóa lipid máu trên thế giới
1.2.3.1.Rối loạn chuyển hóa lipid máu theo tuổi và giới
Nghiên cứu tại Hoa Kỳ với 1487 bệnh nhân có độ tuổi trung bình khoảng 65,7 cho thấy 51,0% nam giới mắc rối loạn LDL-C cao hơn so với 36,7% ở phụ nữ (p = 0,021), cho thấy sự khác biệt đáng kể trong rối loạn chuyển hóa lipid máu giữa hai giới.
Nghiên cứu năm 2010 tại Nhật Bản cho thấy 16,6% nam giới mắc rối loạn chuyển hóa lipid máu, trong khi tỷ lệ này ở nữ giới chỉ là 3% Tại Trung Quốc, một nghiên cứu với 97.409 người lớn từ 31 tỉnh thành vào năm 2010 cho thấy tỷ lệ rối loạn lipid máu là 10,93%, với tỷ lệ phân tầng lần lượt là 6,00%, 16,75% và 18,74% ở các nhóm tuổi từ 18 trở lên Tổng cộng có 51.818 trường hợp rối loạn lipid máu, bao gồm 2.235 người đã từng mắc nhưng hiện tại đã kiểm soát lipid máu bình thường.
44, 45 - 59 và trên 60 tuổi, tương ứng (χ² = 12,93; P