1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát tình hình sử dụng thuốc và sự tuân thủ sử dụng thuốc chống loãng xương trên bệnh nhân cao tuổi gãy cổ xương đùi tại bệnh viện chấn thương chỉnh hình tp hồ chí minh

93 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 2,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

viện và ngoại viện, khảo sát sự tuân thủ sử dụng thuốc chống loãng xương ở bệnh nhân vàcác yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ sử dụng thuốc.Phương pháp: Đây là phương pháp mô tả cắt ngang và

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai

công bố trong bất kỳ công trình nào khác

(ký tên và ghi rõ họ và tên)

Nguyễn Văn Cảnh

Trang 3

viện và ngoại viện, khảo sát sự tuân thủ sử dụng thuốc chống loãng xương ở bệnh nhân vàcác yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ sử dụng thuốc.

Phương pháp: Đây là phương pháp mô tả cắt ngang và nghiên cứu hồi cứu, tra cứu hồ sơ

bệnh án nội trú và toa thuốc ngoại trú của bệnh nhân trên 60 tuổi đã điều trị gãy cổ xươngđùi từ 1/2016 đến 6/2016 tại khoa Khớp, khoa Chi Dưới Bệnh viện Chấn Thương ChỉnhHình Thành phố Hồ Chí Minh, phỏng vấn bệnh nhân có chỉ định ít nhất một thuốc chốngloãng xương sau điều trị gãy cổ xương đùi Đánh giá tuân thủ sử dụng thuốc dựa trên tỷ lệ

% ngày sử dụng thuốc loãng xương Dữ liệu được nhập với phần mềm Microsoft Excel

2010 và được phân tích với phần mềm thống kê SPSS Sử dụng phép kiểm chi bìnhphương để khảo sát từng yếu tố lên sự tuân thủ sử dụng thuốc Sử dụng hồi quy logistic đabiến số để đánh giá mối tương quan giữa các yếu tố lên sự tuân thủ sử dụng thuốc Giá trị p

< 0,05 được xem là có ý nghĩa khác biệt về thống kê

Kết quả: Bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu có độ tuổi trung bình 75,35 ± 8,52 tuổi Trong

đó tỷ lệ bệnh nhân nữ là 76,5% và tỷ lệ bệnh nhân nam là 23,5% Đa số bệnh nhân có thểtrạng thừa cân béo phì (51,8%), bệnh nhân có thể trạng gầy chiếm tỷ lệ thấp (8,8%) Đa sốbệnh nhân có trình độ học vấn trung học và mắc nhiều bệnh kèm theo Trong đó, tănghuyết áp là bệnh chiếm tỷ lệ cao nhất Bệnh nhân được sử dụng phối hợp 3 loại thuốcchiếm tỷ lệ cao nhất (64,12% ở nội viện và 66,47% ở ngoại viện) Trong các nhóm thuốc

sử dụng, nhóm thuốc giảm đau kháng viêm chiếm tỷ lệ cao nhất (65,81% trong các thuốcnội viện và 53,09% ngoại viện) Nhóm thuốc chống loãng xương được kê đơn trong cáctoa xuất viện là calci và vitamin D với tỷ lệ 81,18% Mức độ tuân thủ sử dụng thuốc củabệnh nhân giảm dần theo thời gian Kết quả phân tích cho thấy có 2 yếu tố ảnh hưởng đến

sự tuân thủ sử dụng thuốc là trình độ học vấn và kinh nghiệm sử dụng thuốc chống loãngxương trước gãy xương (p < 0,05)

Kết luận: Tỷ lệ tuân thủ sử dụng thuốc chống loãng xương ở bệnh nhân sau gãy cổ xương

đùi còn thấp Đã xác định được 2 yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ là trình độ học vấn vàkinh nghiệm sử dụng thuốc loãng xương trước gãy xương

Từ khóa: tuân thủ sử dụng thuốc, gãy cổ xương đùi, loãng xương, bisphosphonat, không

tuân thủ sử dụng thuốc

Trang 4

AT HO CHI MINH CITY

Purpose: Investigating the use of medications, adherence to osteoporosis medications in

patients discharged after a hip fracture and to identify factors associated with adherence

Methods: This is a cross-sectional study and retrospective cohort study in inpatient records

and outpatient prescriptions of patients over 60 years who treated femoral neck fracturesfrom 1/2016 to 6/2016 at Hospital for Traumatology and Orthopaedics at HCMC;interviewing patients who were prescribed at least one osteoporotic medication afterdischarge Adherence to osteoporosis treatment was measured as the proportion of dayscovered during the time investigated following the hip fracture Data was imported withMicrosoft Excel 2010 software and analyzed using SPSS statistical software Use the Chi-squared test to examine each factor on adherence Use of multivariate logistic regression toassess the correlation between factors on adherence P <0.05 was considered statisticallysignificant

Results: Patients in the sample had a mean age of 75.35 ± 8.52 years In which the rate of

female patients was 76.5% and the rate of male patients was 23.5% Most patients areoverweight (51.8%), patients with low weight (8.8%) Most patients have secondary schooleducation and have many diseases Hypertension is the disease that accounts for thehighest rate Patients were treated with the combination of the three-drugs-classesaccounted for the highest (64.12% in the inpatient and 66.47% in the outpatient) The anti-inflammatory and pain medicines accounted for the highest proportion (65.81% in theinpatient and 53.09% in the outpatient) The osteoporosis drugs prescribed in the hospitaldischarge was calcium and vitamin D at 81.18% The patient's compliance with medicationdecreases over time There were 2 factors influencing the adherence to osteoporosismedications in patients discharged after a hip fracture to the level of education andexperience in using osteoporosis (p <0.05)

Conclusions: The adherence to osteoporosis medications in patients discharged after a hip

fracture is low Two factors that influence adherence have been identified: the level ofeducation and the experience of using osteoporosis before fracture

Keywords: medication adherence, femoral neck fracture, osteoporosis, bisphosphonate,

non-adherence

Trang 5

MỤC LỤC

MỤC LỤC v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC BẢNG ix

DANH MỤC HÌNH x

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 TỔNG QUAN GÃY CỔ XƯƠNG ĐÙI 3

1.1.1 Giải phẫu cổ xương đùi 3

1.1.2 Định nghĩa 4

1.1.3 Đặc điểm bệnh lý học 4

1.1.4 Phân loại 5

1.1.5 Yếu tố nguy cơ gãy cổ xương đùi 6

1.1.6 Chẩn đoán 7

1.1.7 Điều trị 7

1.1.8 Gãy cổ xương đùi và loãng xương 10

1.1.9 Thuốc sử dụng trong gãy cổ xương đùi 11

1.1.10 Vấn đề tuân thủ sử dụng thuốc chống loãng xương sau gãy cổ xương đùi 17

1.2 CÁC NGHIÊN CỨU TƯƠNG TỰ 18

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 Thiết kế nghiên cứu 21

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 21

2.1.2 Chọn mẫu 21

2.2 Phương pháp nghiên cứu 22

2.3 Công cụ thu thập số liệu 24

2.3.1 Hồ sơ bệnh án 24

2.3.2 Các thông tin của bệnh nhân 24

2.3.3 Đánh giá niềm tin của bệnh nhân vào điều trị 25

2.3.4 Đánh giá sự tuân thủ sử dụng thuốc 26

Trang 6

2.3.6 Vấn đề y đức trong nghiên cứu 27

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28

3.1 ĐẶC ĐIỂM DÂN SỐ BỆNH NHÂN GÃY CỔ XƯƠNG ĐÙI 28

3.1.1 Giới tính và tuổi tác 28

3.1.2 Cân nặng 29

3.1.3 Trình độ học vấn 30

3.1.4 Bệnh lý kèm theo 31

3.2 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC ĐIỀU TRỊ GÃY CỔ XƯƠNG ĐÙI 32

3.2.1 Tình hình sử dụng thuốc nội viện 32

3.2.2 Tình hình sử dụng thuốc xuất viện 37

3.3 SỰ TUÂN THỦ SỬ DỤNG THUỐC GÃY CỔ XƯƠNG ĐÙI 43

3.3.1 Tỷ lệ tuân thủ sử dụng thuốc 44

3.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ sử dụng thuốc 47

3.3.3 Mối tương quan giữa các yếu tố và sự tuân thủ sử dụng thuốc ở bệnh nhân 53

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 55

4.1 ĐẶC ĐIỂM DÂN SỐ BỆNH NHÂN GÃY CỔ XƯƠNG ĐÙI 55

4.1.1 Giới tính và tuổi tác 55

4.1.2 Cân nặng 56

4.1.3 Trình độ học vấn 57

4.1.4 Bệnh lý kèm theo 57

4.2 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC ĐIỀU TRỊ GÃY CỔ XƯƠNG ĐÙI 57

4.2.1 Chế độ điều trị 57

4.2.2 Tần suất sử dụng các nhóm thuốc 58

4.2.3 Tần suất sử dụng các thuốc giảm đau kháng viêm 58

4.2.4 Tần suất sử dụng thuốc chống loãng xương 60

4.2.5 Tần suất sử dụng kháng sinh 61

4.2.6 Tỷ lệ bệnh nhân sử dụng thuốc chống loãng xương khi xuất viện 61

4.3 SỰ TUÂN THỦ SỬ DỤNG THUỐC GÃY CỔ XƯƠNG ĐÙI 62

4.3.1 Tỷ lệ tuân thủ sử dụng thuốc 62

4.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ sử dụng thuốc 63

4.3.3 Mối tương quan giữa các yếu tố và sự tuân thủ sử dụng thuốc ở bệnh nhân 68

Trang 7

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70TÀI LIỆU THAM KHẢO 72PHỤ LỤC 1 PL 1PHỤ LỤC 2 PL 4

Trang 8

United States dollarWorld Health Organization

Mật độ xươngChỉ số khối cơ thể

Độ lọc cầu thậnThuốc kháng viêm không steroidHormon tuyến cận giáp

Đồng đô la Mỹ

Tổ chức Y Tế thế giới

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Các NSAID sử dụng 13

Bảng 1.2 Nghiên cứu đánh giá sự tuân thủ sử dụng thuốc của bệnh nhân 18

Bảng 2.1 Nội dung nghiên cứu và phương pháp tiến hành thu thập số liệu 22

Bảng 2.2 Phân loại thể trọng cho người châu Á của tổ chức Y tế thế giới 25

Bảng 3.1 Chế độ sử dụng thuốc trong đơn xuất viện 32

Bảng 3.2 Tỷ lệ các phối hợp trong phác đồ đa trị 33

Bảng 3.3 Tần suất sử dụng các nhóm thuốc nội viện 33

Bảng 3.4 Tần suất sử dụng các thuốc giảm đau kháng viêm 34

Bảng 3.5 Tần suất sử dụng các thuốc chống loãng xương 35

Bảng 3.6 Tần suất sử dụng kháng sinh 36

Bảng 3.7 Chế độ sử dụng thuốc trong đơn thuốc xuất viện 40

Bảng 3.8 Tỷ lệ các phối hợp trong phác đồ đa trị 40

Bảng 3.9 Tần suất sử dụng các nhóm thuốc xuất viện 40

Bảng 3.10 Tần suất sử dụng các thuốc giảm đau kháng viêm 41

Bảng 3.11 Tần suất sử dụng các thuốc chống loãng xương 42

Bảng 3.12 Tần suất sử dụng kháng sinh 43

Bảng 3.13 Tỷ lệ tuân thủ sử dụng thuốc sau 6 tháng 44

Bảng 3.14 Mô tả mối quan hệ giữa nhóm tuổi và sự tuân thủ sử dụng thuốc 47

Bảng 3.15 Mô tả mối liên hệ giữa giới tính và sự tuân thủ sử dụng thuốc 48

Bảng 3.16 Mô tả mối liên hệ giữa trình độ học vấn và sự tuân thủ sử dụng thuốc 49 Bảng 3.17 Mô tả mối liên hệ giữa số lượng thuốc sử dụng và sự tuân thủ sử dụng thuốc 50

Bảng 3.18 Mô tả mối liên hệ giữa tần suất sử dụng thuốc và sự tuân thủ sử dụng thuốc 51

Bảng 3.19 Mô tả mối liên hệ giữa tác dụng phụ của thuốc và sự tuân thủ sử dụng thuốc 51

Bảng 3.20 Mối liên hệ giữa kinh nghiệm sử dụng thuốc loãng xương và sự tuân thủ sử dụng thuốc 52

Bảng 3.21 Mô tả mối liên hệ giữa niềm tin điều trị và sự tuân thủ sử dụng thuốc 53 Bảng 3.22 Mối tương quan giữa các yếu tố và sự tuân thủ sử dụng thuốc 53

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Cấu tạo đầu trên xương đùi 3

Hình 1.2 Phân loại gãy cổ xương đùi theo Garden 5

Hình 1.3 Phác đồ điều trị gãy cổ xương đùi theo Hội Phẫu Thuật Học Hà Lan 8

Hình 3.1 Biểu đồ phân bố giới tính trong mẫu nghiên cứu 28

Hình 3.2 Biểu đồ phân bố nhóm tuổi ở bệnh nhân gãy cổ xương đùi 29

Hình 3.3 Biểu đồ phân bố thể trạng bệnh nhân gãy cổ xương đùi 30

Hình 3.4 Biểu đồ trình độ học vấn của bệnh nhân gãy cổ xương đùi 31

Hình 3.5 Biểu đồ số bệnh kèm theo ở bệnh nhân gãy cổ xương đùi 31

Hình 3.6 Biểu đồ tỷ lệ các bệnh kèm theo ở bệnh nhân 32

Hình 3.7 Tần suất phối hợp kháng sinh trong nội viện 37

Hình 3.8 Biểu đồ số thuốc trong đơn xuất viện 38

Hình 3.9 Biểu đồ tần suất sử dụng thuốc trong toa xuất viện 39

Hình 3.10 Biểu đồ tỷ lệ đơn thuốc xuất viện có thuốc chống loãng xương 39

Hình 3.11 Đồ thị biểu diễn sự tuân thủ sử dụng thuốc sau 12 tháng 44

Hình 3.12 Đồ thị biểu diễn sự tuân thủ sử dụng thuốc sau 18 tháng 45

Hình 3.13 Đồ thị biểu diễn sự tuân thủ sử dụng thuốc sau 24 tháng 46

Hình 3.14 Sự tuân thủ sử dụng thuốc theo các khoảng thời gian khảo sát 46

Trang 11

Hiện nay gãy cổ xương đùi được coi là một trong những vấn đề của sức khỏe cộngđồng, là một tình trạng gãy xương quan trọng của người cao tuổi vì tỷ lệ tử vong và

tỷ lệ tàn phế tăng cao đồng thời làm giảm chất lượng cuộc sống của người bệnh mộtcách đáng kể Sau gãy cổ xương đùi chỉ có khoảng 20 - 60% bệnh nhân có khả nănghoạt động như trước Có khoảng 10 - 20% bệnh nhân nữ tử vong sau 6 tháng vàkhoảng 30 - 40% trường hợp bị tàn phế khó di chuyển [14]

Ngày nay phương pháp điều trị gãy cổ xương đùi chủ yếu là phẫu thuật Dù bệnhnhân được phẫu thuật thay khớp háng nhưng nếu không điều trị sau phẫu thuật thìtình trạng gãy xương sẽ tái phát và tăng nguy cơ tử vong [41] Để giảm thiểu tối đacác biến chứng nghiêm trọng trên, cần điều trị loãng xương cho bệnh nhân gãy cổxương đùi ngay sau khi gãy xương [41] Việc điều trị sau gãy xương có hiệu quảgiúp giảm nguy cơ gãy xương lần hai và giảm nguy cơ tử vong [41] Do đó việctuân thủ sử dụng thuốc loãng xương rất quan trọng ở bệnh nhân sau phẫu thuật gãy

cổ xương đùi [41],[5] Tuy nhiên, ở Việt Nam và đặc biệt là bệnh viện Chấn thươngchỉnh hỉnh Tp Hồ Chí Minh chưa có một nghiên cứu cụ thể nào về việc tuân thủ sửdụng thuốc, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ sử dụng thuốc ở bệnh nhângãy cổ xương đùi Việc đánh giá sự tuân thủ và khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến

Trang 12

tuân thủ sử dụng thuốc sẽ chỉ ra được các nguyên nhân từ đó cho phép bác sĩ nhậndiện các bệnh nhân không tuân thủ sớm và thiết kế các can thiệp cá nhân để cảithiện việc quản lý sử dụng thuốc [5].

Với mong muốn tìm hiểu các nguyên nhân ảnh hưởng đến sự tuân thủ sử dụngthuốc; nâng cao hiệu quả điều trị, chất lượng cuộc sống cũng như tìm hiểu về việc

sử dụng thuốc điều trị gãy cổ xương đùi, đề tài “Khảo sát tình hình sử dụng thuốc

và sự tuân thủ sử dụng thuốc chống loãng xương trên bệnh nhân cao tuổi gãy

cổ xương đùi tại bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình TP Hồ Chí Minh” được

thực hiện với các mục tiêu:

1 Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị gãy cổ xương đùi ở bệnh nhân nội viện

và ngoại viện

2 Khảo sát sự tuân thủ sử dụng thuốc chống loãng xương ở bệnh nhân

3 Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ sử dụng thuốc

Trang 13

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 TỔNG QUAN GÃY CỔ XƯƠNG ĐÙI

1.1.1 Giải phẫu cổ xương đùi [2]

Đầu trên của xương đùi gồm có 4 phần: chỏm đùi, cổ đùi, mấu chuyển lớn và mấuchuyển bé

Hình 1.1 Cấu tạo đầu trên xương đùi

Cổ xương đùi là phần nối chỏm với hai mấu chuyển, nghiêng lên trên và vào trong.Trục cổ hợp với trục thân xương đùi một góc khoảng 130o (nam lớn hơn nữ) gọi làgóc nghiêng hay góc cổ thân Chính góc nghiêng này giúp cho xương đùi hoạt động

dễ dàng quanh khớp háng Tuy nhiên về mặt lý thuyết, nếu so với trường hợp cổthẳng hàng với chân, góc nghiêng như vậy làm cho xương đùi kém vững chắc hơn.Vùng cổ xương đùi được chi phối bằng 3 hệ mạch máu chính: động mạch mũ đùingoài và mũ đùi trong, các động mạch tủy xương đi lên từ ống tủy, động mạch dâychằng tròn

Trong gãy cổ xương đùi thì hầu hết các nhánh mạch nuôi cấp máu cho vùng cổ vàchỏm xương đùi đều bị chèn ép hoặc tổn thương vì vậy việc nắn chỉnh giải phẫusớm và cố định trong là rất quan trọng đối với sự cấp máu và tái lập tuần hoàn,tránh các biến chứng tiêu cổ, khớp giả và hoại tử chỏm đùi

Mấu chuyển lớnChỏm

Trang 14

có ăn thông với nhau bằng các mạch máu nhỏ Vì vậy, khi bị gãy cổ xương đùi,ngay cả không bị di lệch, các mạch máu nuôi chính cũng bị tổn thương một phần,tạo nên tình trạng không liền hay hoại tử chỏm nhất là khi có di lệch.

Cần điều trị phẫu thuật

Cổ xương đùi nằm giữa hai lực nghịch chiều: một là từ đầu xương đùi xuống do sứcnặng của cơ thể, hai là từ vùng mấu chuyển đẩy lên do sức dội lại từ mặt đất Do đó,

cổ xương đùi nằm trong vùng tác động của lực xé nên di lệch thứ cấp dù đã đượckết hợp xương bên trong Gãy cổ xương đùi điều trị bảo tồn thường dễ bị di lệch thứcấp nên cần phải điều trị phẫu thuật

Trang 15

Thường gặp ở người lớn tuổi

Gãy cổ xương đùi là hậu quả hay gặp đứng hàng thứ 3 của loãng xương [16], là mộttình trạng gãy xương quan trọng của người cao tuổi vì tỷ lệ tử vong và tỷ lệ tàn phếtăng cao, làm giảm chất lượng cuộc sống của người bệnh đáng kể Hiện nay tỷ lệngười cao tuổi ngày càng tăng, số lượng người loãng xương càng nhiều, do đó tỷ lệgãy cổ xương đùi cũng gia tăng Trong một nghiên cứu ở Bỉ [42] tần suất gãy cổxương đùi hằng năm đối với nam trên 50 tuổi là 1,2% và nữ trên 50 tuổi là 1,6%.Tại Bệnh Viện Chấn Thương Chỉnh Hình thành phố Hồ Chí Minh, cứ 10 người bịgãy cổ xương đùi là có 9 người trên 50 tuổi, số liệu này tương đương với các số liệu

từ nước ngoài

1.1.4 Phân loại

Theo Garden, gãy cổ xương đùi chia làm 4 typ [10]

Hình 1.2 Phân loại gãy cổ xương đùi theo Garden

Typ 1: gãy gày, gãy không di lệch, gãy vững

Typ 2: gãy hoàn toàn, không di lệch

Typ 3: gãy di lệch, không vững, thân xương đùi xoay ngoài, đầu xương đùi xoaytrong dạng di lệch vẹo trong, thớ xương trong không thẳng hàng với thớ xương ổcối

Trang 16

Typ 4: gãy hoàn toàn di lệch, không vững, thân xương đùi không những xoay ngoài

mà còn di lệch lên trên, nằm phía trước đầu xương đùi Đầu xương tách hoàn toànkhỏi thân xương đùi nhưng vẫn còn nằm trong ổ cối do đó thớ xương trong thẳnghàng với thớ xương ổ cối

Theo Pauwels, gãy cổ xương đùi chia làm 3 loại

Pauwels I: đường gãy tạo với đường nằm ngang 1 góc tương đương 30o, dễ liềnxương

Pauwels II: góc này tương đương 50o, tiên lượng liền xương khó

Pauwels III: góc này tương đương 70o, nguy cơ hoại tử chỏm cao

1.1.5 Yếu tố nguy cơ gãy cổ xương đùi

Các yếu tố nguy cơ gãy cổ xương đùi chia làm ba nhóm [37], [15]

Nhóm 1: những yếu tố nguy cơ liên quan tới khung xương

- Hình thái cổ xương đùi

- Khối lượng xương

- Cấu trúc vi thể của xương

- Cấu trúc khoáng chất của xương

- Chu chuyển xương

Nhóm 2: những yếu tố liên quan đến té ngã

- Khiếm khuyết chức năng thần kinh cơ

- Tiền sử gia đình bên ngoại có người gãy cổ xương đùi sau 50 tuổi

Gãy cổ xương đùi là hậu quả của nhiều yếu tố, thể hiện xương không đủ chắc đểchịu đựng một chấn thương nhẹ như té ngã tại chỗ

Trang 18

Hình 1.3 Phác đồ điều trị gãy cổ xương đùi theo Hội Phẫu Thuật Học Hà Lan

Các phương pháp điều trị gãy cổ xương đùi bao gồm [44]:

Điều trị bảo tồn: Có nhiều cách như bất động ở tư thế dạng, kéo liên tục hoặc bó

Trang 19

+ Tỷ lệ liền xương thấp, tỷ lệ hoại tử chỏm cao.

+ Bệnh nhân dễ tử vong do các biến chứng của nằm lâu hoặc bất động kéo dàinhư: nhiễm khuẩn (hô hấp, tiết niệu…), tắc mạch, loét…

Với sự phát triển của thuốc men, kỹ thuật gây mê hồi sức, phương pháp điều trị bảotồn hiện nay ít được lựa chọn

Phẫu thuật kết hợp xương

Là phương pháp dùng dụng cụ như đinh, vít, nẹp… để cố định ổ gãy tạo điều kiệnliền xương

Ưu điểm:

+ Cố định vững, bệnh nhân có thể vận động sớm sau mổ, tránh được biến chứngbất động lâu

+ Tỷ lệ liền xương khá cao (khoảng 70%)

+ Nếu thành công, bảo tồn được chỏm

Nhược điểm:

+Khoảng 30% bệnh nhân không liền xương và một tỷ lệ lớn bệnh nhân bị hoại tử

chỏm gây thoái hóa khớp sau khi ổ gãy đã liền Với những bệnh nhân lớn tuổi, tỷ

Trang 20

Thay khớp háng toàn phần

Thay khớp háng toàn phần là phương pháp thay cả chỏm, cổ và ổ cối bằng khớpnhân tạo Có nhiều loại khớp khác nhau, mỗi loại đều có những ưu, nhược điểmriêng

+ Thời gian phẫu thuật kéo dài hơn nên tăng mất máu, tăng nguy cơ rủi ro do gây

mê, tăng nguy cơ nhiễm trùng sau mổ

+ Giá thành đắt hơn

+ Biên độ vận động khớp háng sau mổ hạn chế hơn biên độ khớp háng bìnhthường

1.1.8 Gãy cổ xương đùi và loãng xương

Loãng xương là một tình trạng rối loạn chuyển hóa của bộ xương, đặc trưng bởi sựsuy giảm sức mạnh của xương và giảm mật độ xương, khiến xương trở nên giòn và

dễ gãy Loãng xương được chia làm 2 loại: nguyên phát và thứ phát Loãng xươngnguyên phát là tình trạng loãng xương tìm thấy căn nguyên như tuổi cao và ở phụ

nữ mãn kinh Loãng xương thứ phát là thể loãng xương tìm thấy nguyên nhân domột số bệnh hoặc do điều trị một số thuốc gây nên Hậu quả nghiêm trọng nhất củaloãng xương là các biến chứng gãy xương như gãy cổ xương đùi, gãy lún đốt sống,gây tàn phế, giảm tuổi thọ, ảnh hưởng lớn đến kinh tế của quốc gia [1]

Tuổi càng lớn xương càng trở nên dễ gãy Hình ảnh loãng xương trên X-quang ởngười già cho thấy: vỏ xương mỏng, thớ xương mất nhiều, xương trở nên trong hơn.Điều đó chứng tỏ tỷ trọng khoáng chất trong xương (BMD) giảm Các nghiên cứugần đây cho thấy từ 30 tuổi trở đi mật độ xương bắt đầu giảm, nhiều nhất từ 60 tuổidẫn đến tình trạng loãng xương Do đó, cũng đồng thời là té ngã nhưng ở người trẻ

Trang 21

thì ít khi có hậu quả tầm trọng, trong khi đó ở người già có thể gãy ít nhất một chổngay cổ xương đùi hay mấu chuyển, có khi gãy ở đầu dưới xương quay, gãy cộtsống lưng-thắt lưng, [4]

Thực tế có đến 51% phụ nữ và 24% nam giới bị gãy xương do loãng xương [23] Ở

Mỹ, có khoảng 1,5 triệu ca bị gãy xương do loãng xương được ghi chép hàng năm,bao gồm 250.000 ca gãy xương vùng háng [32] Hậu quả là, ước tính gánh nặngkinh tế của chứng loãng xương ở Mỹ tăng lên đến mức 17 tỷ USD mỗi năm [20].Hơn nữa, ở Thụy Sĩ, loãng xương chiếm tỷ lệ số giường bệnh nhiều hơn nhồi máu

cơ tim, đột quỵ hoặc ung thư vú [21] Ngoài các hậu quả kinh tế, gãy xương hôngnói riêng có liên quan đến tình trạng tàn tật trầm trọng và di chứng tâm lý xã hội.Chẳng hạn, 50% bệnh nhân gãy xương hông mất khả năng đi bộ nếu không có sựtrợ giúp và 25% cần chăm sóc tại nhà sau đó Hơn nữa, tỷ lệ tử vong trong 6 thángsau gãy xương hông có thể lên đến 30% [16], [11]

Gãy cổ xương đùi là một trong những biến chứng nặng của loãng xương Hầu hếtcác hướng dẫn thực hành lâm sàng đều được khuyến cáo điều trị dự phòng thứ phátsau khi gãy cổ xương đùi với bisphosphonat hoặc các thuốc chống loãng xươngthay thế khác Tuy nhiên, một số nghiên cứu cho thấy điều trị loãng xương sau gãyxương chiếm tỷ lệ vẫn còn thấp, chỉ có 20% đến 30% bệnh nhân nhận được ít nhấtmột loại thuốc chống loãng xương sau khi gãy xương Tỷ lệ này không cải thiệntheo thời gian theo kết quả của nhiều nghiên cứu ở nhiều quốc gia khác nhau [41],[5]

1.1.9 Thuốc sử dụng trong gãy cổ xương đùi

Tất cả các bệnh nhân gãy cổ xương đùi đều bị đau đáng kể Do đó nhóm thuốc giảmđau như paracetamol, NSAID, opioid, giảm đau hướng thần kinh được sử dụng đểmang lại cảm giác dễ chịu, thoải mái cho bệnh nhân Bên cạnh đó, các kháng sinhcũng được sử dụng để dự phòng nhiễm khuẩn trong phẫu thuật cũng như trong thờigian bệnh nhân nằm viện [45]

Trang 22

Gãy cổ xương đùi là một trong những biến chứng nặng của loãng xương Mặc dù dữliệu còn hạn chế nhưng có đủ bằng chứng để hỗ trợ cho việc bắt đầu điều trị loãngxương bằng thuốc đối với việc phòng ngừa gãy xương ở những bệnh nhân bị gãyxương cổ xương đùi Mục tiêu điều trị loãng xương là giảm nguy cơ gãy xương táiphát Các lợi ích khác bao gồm cải thiện chất lượng cuộc sống, giảm nguy cơ ngã,giảm tỷ lệ tử vong [41], [5], [42], [34].

Liều paracetamol khuyến cáo cho người lớn khỏe mạnh là tối đa 4 g/ngày Đối vớibệnh nhân suy gan, suy thận cần giảm liều

Thuốc chống viêm không steroid (NSAID)

Các thuốc chống viêm không steroid chỉ làm giảm các triệu chứng viêm mà khôngloại trừ được các nguyên nhân gây viêm, không làm thay đổi tiến triển của quá trìnhbệnh lý chính NSAID giúp giảm đau với tác dụng nhanh chỉ trong vài giờ Cácthuốc NSAID phù hợp để điều trị ngắn hạn cho bệnh nhân bị đau do gãy xương.Tuy nhiên các NSAID kiểm soát kém các cơn đau thần kinh và làm tăng nguy cơmắc bệnh tim mạch do hình thành huyết khối khi sử dụng lâu dài, đặc biệt sử dụngliều cao Một số nghiên cứu còn cho thấy ibuprofen và các NSAID chọn lọc trênCOX-2 có thể làm chậm quá trình làm lành xương

Trang 23

Các thuốc NSAID khuyến cáo sử dụng:

500 mg x 2 lần/ngày

220 - 440 mg x 2 lần/ngày1.200 mg/ngày

150 - 200 mg x 2 lần/ngày

Giảm đau opioid

Opioid được khuyến cáo khi sử dụng các thuốc giảm đau khác không đáp ứng hoặc

có chống chỉ định Opioid có tác dụng lên thần kinh, ngăn chặn các tính hiệu đau từngoại biên về thần kinh Các thuốc opioid chủ yếu được sử dụng là: codein,tramadol Hiện nay có nhiều chế phẩm phối hợp giữa paracetamol và codein hoặcgiữa paracetamol và tramadol

Tác dụng giảm đau chủ yếu của codein là kết quả từ chuyển hóa thành morphin vàmorphin-6-glucuronic Thông thường khoảng 5 - 10% codein chuyển thànhmorphin Liều giảm đau của codein phosphat là 30 mg tương đương với 3 mgmorphin Tuy nhiên khả năng chuyển hóa của codein thành morphin phụ thuộc vàochủng tộc và từng bệnh nhân

Tramadol là thuốc giảm đau được sử dụng trong đau bậc II theo WHO Tramadolthích hợp cho những cơn đau từ nhẹ đến trung bình ở người cao tuổi, kể cả ở nhữngbệnh nhân đau xương hay đau thần kinh Các nghiên cứu cho thấy tramadol an toàn

và dung nạp tốt hơn các opioid khác Tramadol kết hợp với paracetamol cho tácdụng giảm đau mạnh và kéo dài hơn nếu chỉ dùng tramadol hoặc paracetamol.

Trang 24

Khi bị đau nặng hơn, bệnh nhân cần được chuyển sang giảm đau bước III theoWHO Trong trường hợp này, các thuốc giảm đau opioid mạnh đường uống được sửdụng như: morphin, oxycodon, hydromorphon, methadon, tapantadol, hoặc opioidqua da như: buprenorphin, fentanyl.

Giảm đau hướng thần kinh

Các thuốc nhóm gabapentinoid và ức chế tái thu hồi serotonin-norepinephrin(SNRI) là hai nhóm chính được sử dụng giảm đau thần kinh ở bệnh nhân gãyxương Gabapentin và pregabalin là hai thuốc nhóm gapapentinoid được sử dụngphổ biến Nhóm SNRI bao gồm duloxetin và dilnacipran Tuy nhiên theo một sốnghiên cứu, các thuốc giảm đau hướng thần kinh có thể làm giảm mật độ xương vàtăng nguy cơ té ngã

Các nhóm thuốc chống loãng xương [1]

Các thuốc bổ sung calci-vitamin D

Calci là thành phần khoáng chất chính của xương Lượng calci có trong bộ xươngphụ thuộc vào dinh dưỡng và khả năng hấp thu của cơ thể Ở mức hấp thu calci thấp

và vừa phải, phần lớn lượng calci hấp thu vào cơ thể thông qua cơ chế vận động chủđộng của cơ thể, được kích thích bởi 1,25-(OH)2-D, hormon tuyến cận giáp (PTH).Lượng calci hấp thu giảm theo tuổi Do đó, lượng calci bổ sung hằng ngày làm giảmmất xương ở phụ nữ lớn tuổi và lợi ích đạt được lớn nhất trên những người có lượngcalci đưa vào cơ thể thấp Vitamin D có vai trò quan trọng trong phòng ngừa loãngxương nhờ quá trình điều hòa vận chuyển calci qua ruột và kích thích tái hấp thucalci ở ống thận Khả năng hấp thu vitamin D từ thức ăn và tổng hợp vitamin D sụtgiảm dần theo tuổi tác Sự hấp thu vitamin D từ bữa ăn giảm khoảng 10% ở ngườiphụ nữ tuổi 68 - 94 so với lứa tuổi 30 - 58 [7]

Trong một nghiên cứu có nhóm chứng trên 3.270 phụ nữ lớn tuổi được chăm sóc tạinhà ở miền nam nước Pháp, bổ sung 1,2 g calci nguyên tố và 800 UI vitamin D mỗingày đã làm giảm 43% nguy cơ gãy xương hông [9] Lips và cộng sự gần đây đãphát hiện rằng bổ sung 400 UI vitamin D trên 2.578 người lớn tuổi ở Hà Lan đã cải

Trang 25

thiện được mật độ xương đùi nhưng không hạ đáng kể tỷ lệ gãy vùng khớp háng[25] Từ những nghiên cứu này, rõ ràng trong một dân số nguy cơ cao, bổ sung calci

và vitamin D dù rất muộn vẫn có lợi rõ rệt vì hạ thấp tỷ lệ gãy xương

Vitamin D là chìa khóa để hấp thụ calci trong ruột, do đó đảm bảo độ đầy đủ calci

và vitamin D là một phần quan trọng trong quy trình quản lý chống gãy xương Bổsung calci và vitamin D giúp cải thiện khoáng hoá xương, giảm sự hồi phục xương

và ngăn ngừa té ngã Cũng có bằng chứng cho thấy calci và vitamin D làm tăng hiệuquả chống mất xương của các thuốc bisphosphonat [41] Do đó việc bổ sung calci

và vitamin D là một thành phần quan trọng trong việc phòng ngừa và điều trị loãngxương, trừ khi lượng calci và vitamin D được biết là tối ưu

Theo khuyến cáo của Bộ Y tế, bổ sung calci và vitamin D mỗi ngày với liều lượngnhư sau [1]:

+ Calci: cần bổ sung calci 500 – 1.500 mg hàng ngày

+ Vitamin D 800 - 1.000 UI hàng ngày (hoặc chất chuyển hoá của vitamin D làcalcitriol 0,25 – 0,5 µg, thường chỉ định cho các bệnh nhân lớn tuổi hoặc suy thận vìkhông chuyển hóa được vitamin D)

Các thuốc chống hủy xương:

+ Nhóm bisphosphonat: hiện là nhóm thuốc được lựa chọn đầu tiên trong điều trịcác bệnh lý loãng xương và ưu tiên sử dụng cho những bệnh nhân đã bị gãy cổxương đùi Trong một nghiên cứu HORIZON-RFT cho thấy acid zoledronic làmgiảm nguy cơ gãy xương tái phát 35%, với sự giảm tương ứng trong tất cả các dạngnứt gãy và trên nhiều phân nhóm bệnh nhân Tỷ lệ tử vong giảm đáng kể (28%) ởnhững bệnh nhân được điều trị Mật độ xương (BMD) được cải thiện đáng kể cũngnhư cải thiện chất lượng cuộc sống liên quan đến đau đớn và di chuyển [27]

Alendronat 70 mg hoặc alendronat 70 mg + cholecalciferol 2.800 UI uống sángsớm, khi bụng đói, một tuần uống một lần, uống kèm nhiều nước Sau uống nên vậnđộng, không nằm sau uống thuốc ít nhất 30 phút Tác dụng phụ chủ yếu của

Trang 26

bisphosphonat dạng uống là kích ứng đường tiêu hóa như: viêm thực quản, loét dạdày, nuốt khó [1]

Acid zoledronic 5 mg truyền tĩnh mạch một năm chỉ dùng một liều duy nhất Thuốc

có khả dụng sinh học vượt trội hơn đường uống, không gây kích ứng đường tiêu hóa

và cải thiện được sự tuân thủ sử dụng thuốc của người bệnh Chú ý bổ sung đầy đủnước, calci và vitamin D trước khi truyền Có thể dùng paracetamol để làm giảmcác phản ứng phụ sau truyền thuốc (như đau khớp, đau đầu, đau cơ, sốt) [1]

Nhóm bisphosphonat chống chỉ định cho phụ nữ có thai và cho con bú, dưới 18 tuổi(cần xem xét từng trường hợp cụ thể), suy thận với mức lọc cầu thận (GFR) < 35ml/phút [1]

+ Calcitonin (chiết xuất từ cá hồi) 100 UI tiêm dưới da hoặc 200 UI xịt qua niêmmạc mũi hàng ngày Chỉ định ngắn ngày (2 – 4 tuần) trong trường hợp mới gãyxương, đặc biệt khi có kèm triệu chứng đau Không dùng dài ngày trong điều trịloãng xương, khi bệnh nhân giảm đau, điều trị tiếp bằng nhóm bisphosphonat (uốnghoặc truyền tĩnh mạch) [1]

+ Liệu pháp sử dụng các chất giống hormon: chỉ định đối với phụ nữ sau mãn kinh

có nguy cơ cao hoặc có loãng xương sau mãn kinh: raloxifen, chất điều hoà chọnlọc thụ thể estrogen: 60 mg uống hàng ngày, trong thời gian ≤ 2 năm [1]

Thuốc có tác dụng kép: strontium ranelat

Thuốc vừa có tác dụng tăng tạo xương vừa có tác dụng ức chế hủy xương, đangđược coi là thuốc có tác động kép phù hợp hoạt động sinh lý của xương Liều dùng

2 g uống ngày một lần vào buổi tối (sau bữa ăn 2 giờ, trước khi đi ngủ tối) Thuốcđược chỉ định khi bệnh nhân có chống chỉ định hoặc không dung nạp nhómbisphosphonat [1]

Thuốc ức chế osteocalcin: menatetrenon (vitamin K2).

Nhóm thuốc khác: thuốc làm tăng quá trình đồng hoá: deca durabolin, durabolin.

Trang 27

1.1.10 Vấn đề tuân thủ sử dụng thuốc chống loãng xương sau gãy cổ xương đùi

Việc sử dụng thuốc chống loãng xương sau gãy cổ xương đùi là rất cần thiết đểngăn ngừa gãy xương thứ phát, giảm nguy cơ té ngã và giảm tỷ lệ tử vong Tuynhiên, ngay cả khi điều trị loãng xương được quy định, vấn đề không tuân thủ sửdụng thuốc sẽ xuất hiện Có một số yếu tố liên quan đến việc ngưng dùng hoặc tuânthủ thấp như nhận thức về nguy cơ, nhận thức về lợi ích và bất lợi của thuốc, sự tintưởng vào bác sĩ điều trị, [5], [42] Nhận được kiến thức về các yếu tố liên quanđến tuân thủ sử dụng thuốc loãng xương có thể cho phép các tổ chức chăm sóc sứckhoẻ nhận diện các bệnh nhân không tuân thủ sớm và thiết kế các can thiệp cá nhân

để cải thiện việc quản lý sử dụng thuốc của họ

Theo kết quả nghiên cứu của Seoyoung C Kim và cộng sự, sự tuân thủ sử dụngthuốc chống loãng xương sau khi gãy xương ở các nhóm bệnh nhân nghiên cứu làkhông tối ưu, với tỷ lệ ngày được sử dụng thuốc trong 1 năm đầu tiên dưới 0,70.Việc sử dụng các thuốc chống loãng xương sau gãy xương hông dường như khôngtăng theo thời gian ở bất kỳ nhóm bệnh nhân nào [34] Theo Umberto Tarantino vàcộng sự, trong số những người được điều trị với bisphosphonat, chỉ có 21,1% đượctìm thấy đã tuân thủ sử dụng thuốc Tuổi càng cao sự tuân thủ càng kém [42] Mộtnghiên cứu với các bệnh nhân ở Tây Ban Nha của tác giả Aníbal García Semperecho thấy, tỷ lệ bệnh nhân không tuân thủ sử dụng thuốc chiếm tỷ lệ khá cao 25,2%sau 12 tháng và tăng lên ở mức 33,9% sau 48 tháng Sau 1 năm, có 54,5% bệnhnhân ngưng sử dụng thuốc và sau 4 năm tỷ lệ này tăng lên 75,4% [5] Sự khôngtuân thủ sử dụng thuốc chống loãng xương sau gãy xương làm giảm hiệu quả điềutrị, ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống và tử vong của bệnh nhân [41], [34]

Trang 28

1.2 CÁC NGHIÊN CỨU TƯƠNG TỰ

Bảng 1.2 Nghiên cứu đánh giá sự tuân thủ sử dụng thuốc của bệnh nhân

lệ ngày bệnh nhân sử dụng thuốc loãng xươngtrong năm đầu tiên sau gãy xương hông

Tổng cộng 5.167 bệnh nhân được phân tích có tuổitrung bình 82,3 ± 7,4 năm Tỷ lệ bệnh nhân được sửdụng thuốc điều trị loãng xương chiếm 33,9%.Thuốc nhóm bisphosphonat được sử dụng nhiềunhất 22,7%, tiếp đến vitamin D 19,0%

Trong số những người được điều trị vớibisphosphonat, chỉ có 21,1% được tìm thấy đã tuânthủ sử dụng thuốc Tuổi càng cao sự tuân thủ càngkém

2 Seoyoung C Kim

và cộng sự (2015)

[34]

Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu trên bệnh nhân ≥

65 tuổi nhập viện do gãy xương hông trước đó

ít nhất 365 ngày Mục tiêu của nghiên cứu làtính toán tỷ lệ bệnh nhân được kê ít nhất mộtthuốc điều trị loãng xương trong 3 tháng đầu

Tuổi thọ trung bình của mẫu nghiên cứu là 77 - 83tuổi và 74 - 78% là nữ giới Trong vòng 3 tháng đầutiên sau gãy xương có 11 - 39% bệnh nhân được kêđơn có sử dụng thuốc điều trị loãng xương Nhómthuốc bisphosphonat đường uống được ưu tiên sử

Trang 29

sử dụng thuốc trong 6 tháng đầu và 1 năm saungày điều trị ở những bệnh nhân được kêthuốc điều trị loãng xương Mức độ tuân thủđược xác định bằng tỷ lệ ngày bệnh nhân sửdụng thuốc loãng xương trong 6 tháng đầu vàtrong năm đầu tiên sau gãy xương hông.

Việc sử dụng các thuốc chống loãng xương sau gãyxương hông dường như không tăng theo thời gian

Ở những bệnh nhân được kê toa thuốc loãng xươngsau khi gãy xương hông, sự tuân thủ không tối ưu,với tỷ lệ ngày được sử dụng thuốc trong 1 năm dưới0,70

Đánh giá sự tuân thủ và không tuân thủ theo tỷ

lệ phần trăm ngày được sử dụng thuốc loãngxương so với tổng ngày được theo dõi Bệnhnhân được gọi là tuân thủ đầy đủ nếu tỷ lệ ≥80%, tuân thủ một phần nếu tỷ lệ nằm trong

Tỷ lệ bệnh nhân được kê ít nhất một loại thuốcloãng xương trong vòng 6 tháng đầu tiên sau gãyxương là 28,3% Trong đó có 55% bệnh nhân đã sửdụng thuốc chống loãng xương trước khi gãyxương

Tỷ lệ bệnh nhân không tuân thủ là 25,2% ở nhómkhông có kinh nghiệm và 14,9% ở nhóm có kinhnghiệm sử dụng thuốc chống loãng xương trước gãyxương Tỷ lệ này tăng lên ở mức 33,9% và 20,8%sau 48 tháng Một số yếu tố có ảnh hưởng tới tuânthủ sử dụng thuốc bao gồm giới tính, tuổi, việc đãdùng thuốc loãng xương trước gãy xương, bệnh

Trang 30

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

2.1 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu cắt ngang mô tả và nghiên cứu hồi cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Hồ sơ bệnh án nội trú và toa thuốc ngoại trú của bệnh nhân trên 60 tuổi đã điều trịgãy cổ xương đùi từ 1/2016 đến 6/2016 tại khoa Khớp, khoa Chi Dưới Bệnh việnChấn Thương Chỉnh Hình Thành phố Hồ Chí Minh

- Bệnh nhân có chỉ định ít nhất một thuốc chống loãng xương sau điều trị gãy cổxương đùi (phỏng vấn)

2.1.2 Chọn mẫu

Tiêu chuẩn chọn mẫu

+ Chọn mẫu khảo sát tình hình sử dụng thuốc

Hồ sơ bệnh án của bệnh nhân trên 60 tuổi đã điều trị gãy cổ xương đùi từ 1/2016đến 6/2016 tại khoa Khớp, khoa Chi Dưới Bệnh Viện Chấn thương Chỉnh hình TP

Hồ Chí Minh

+ Chọn mẫu đánh giá sự tuân thủ sử dụng thuốc

Bệnh nhân có chỉ định ít nhất một loại thuốc chống loãng xương khi xuất viện

Tiêu chuẩn loại trừ

- Bệnh nhân gãy cổ xương đùi do bệnh lý (ung thư nguyên phát hay do di căn)

- Bệnh nhân gãy cổ xương đùi do một chấn thương quá mạnh như: té cầu thang, tainạn giao thông

- Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu

- Bệnh nhân không có khả năng nghe hay trả lời

- Bệnh nhân không cung cấp đầy đủ thông tin hoặc không trả lời đầy đủ trong bảngcâu hỏi

- Bệnh nhân đã tử vong

Trang 31

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Bảng 2.1 Nội dung nghiên cứu và phương pháp tiến hành thu thập số liệu

STT Nội dung nghiên cứu Phương pháp tiến hành

1 Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị gãy cổ xương đùi

1.1 Khảo sát đặc điểm dân số của bệnh

nhân gãy cổ xương đùi điều trị tại

Bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình

TP Hồ Chí Minh

Các thông tin khảo sát gồm: tuổi,

giới tính, BMI, bệnh kèm theo

- Thu thập thông tin: số hồ sơ, tên, tuổi,chiều cao, cân nặng, tiền sử bệnh, chẩnđoán từ các bệnh án được lưu trữ tạiPhòng Kế hoạch tổng hợp

1.2 Phân tích tình hình sử dụng thuốc

gồm các nội dung:

- Tần suất sử dụng các thuốc điều trị

- Tần suất lựa chọn chế độ đơn trị

hay phối hợp

- Loại thuốc, liều dùng, cách dùng

- Thu thập đơn thuốc trong hồ sơ dữ liệucủa bệnh nhân Đơn thuốc gồm đơn nộiviện và ngoại viện

- Dựa vào đơn thuốc, thống kê lại loạithuốc, liều dùng, cách dùng, tần suất sửdụng thuốc, tần suất lựa chọn đơn trị hayphối hợp

1.3 Tỷ lệ bệnh nhân được chỉ định ít

nhất một thuốc chống loãng xương

khi xuất viện

- Thu thập thông tin: số bệnh nhân có kê ítnhất một thuốc chống loãng xương trongđơn thuốc xuất viện

- Tính tỷ lệ bệnh nhân sử dụng thuốcchống loãng xương trên dân số nghiêncứu

2 Đánh giá sự tuân thủ sử dụng thuốc ở bệnh nhân có chỉ định thuốc chống loãng

xương sau gãy xương [5]

2.1 - Sự tuân thủ sử dụng thuốc được

đánh giá trên nhóm bệnh nhân được

kê ít nhất một thuốc chống loãng

- Phỏng vấn bằng tiếp xúc trực tiếp hoặcgián tiếp bằng cách gọi điện thoại cho cácbệnh nhân trong nhóm nghiên cứu

Trang 32

xương khi xuất viện.

- Tính tỷ lệ % số ngày sử dụng thuốcloãng xương ở trên so với tổng số ngàyđược khảo sát (180 ngày, 365 ngày, 540ngày, 730 ngày)

- Đánh giá tuân thủ sử dụng thuốc theophương pháp của Aníbal García-Sempere

và cộng sự Phương pháp đánh giá sự tuânthủ dựa trên tỷ lệ % ngày sử dụng thuốcloãng xương [5]

- Tỷ lệ % ngày sử dụng thuốc loãng xương

< 20% được xem là không tuân thủ, từ 20

- 80% là tuân thủ một phần, ≥ 80% làtuân thủ đầy đủ

- Đánh giá tỷ lệ tuân thủ sau 6 tháng, 12tháng, 18 tháng và 24 tháng kể từ ngàyxuất viện

3 Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ sử dụng thuốc

3.1 - Thu thập các thông tin về bệnh

nhân

- Phỏng vấn bằng tiếp xúc trực tiếp hoặcgián tiếp bằng cách gọi điện thoại cho cácbệnh nhân trong nhóm nghiên cứu Thuthập các thông tin thông qua bộ câu hỏi

- Ghi chép các thông tin gồm: tuổi, giớitính, trình độ học vấn, tình trạng nghềnghiệp, thời gian mắc bệnh, số loại thuốcđiều trị, tần suất sử dụng thuốc (lần/ngày),

Trang 33

tác dụng phụ thường gặp, kinh nghiệm sửdụng thuốc chống loãng xương trước gãyxương.

3.2 Đánh giá niềm tin của bệnh nhân

+ Số loại thuốc điều trị

+ Tuần suất sử dụng thuốc

(lần/ngày)

+ Tác dụng phụ

+ Kinh nghiệm sử dụng thuốc chống

loãng xương trước gãy xương

+ Niềm tin của bệnh nhân vào thầy

thuốc

- Phân tích hồi qui đa biến các yếu tố ảnhhưởng đến sự tuân thủ Tính p, nếu p <0,05, nhóm tuân thủ và không tuân thủkhác nhau có ý nghĩa thống kê Mối liênquan giữa sự không tuân thủ và các yếu tốkhảo sát được đánh giá bằng cách tính tỷ

số OR khoảng tin cậy 95%

2.3 CÔNG CỤ THU THẬP SỐ LIỆU

Trang 34

- Trọng lượng cơ thể dựa trên phân loại thể trọng dành cho người châu Á của tổchức Y tế thế giới (WHO).

Bảng 2.2 Phân loại thể trọng cho người châu Á của tổ chức Y tế thế giới

□ Sau trung học phổ thông

2.3.3 Đánh giá niềm tin của bệnh nhân vào điều trị

Bộ câu hỏi Beliefs about Medicines (BMQ) dùng để đánh giá mức độ tin tưởng củangười tham gia nghiên cứu vào thuốc điều trị [21]

Bệnh nhân cho biết mức độ đồng ý của mình theo thang điểm sau: 1 điểm = rấtkhông đồng ý, 2 điểm = không đồng ý, 3 điểm = không chắc chắn, 4 điểm = đồng ý,

5 điểm = rất đồng ý Tổng điểm được tính bằng cách cộng điểm của 18 câu hỏi.Bệnh nhân có tổng số điểm < 47: niềm tin tích cực vào việc điều trị, tổng điểm ≥47: niềm tin tiêu cực vào việc điều trị

Đánh giá niềm tin của bệnh nhân bằng 18 câu hỏi sau:

1 Hiện tại sức khỏe của tôi phụ thuộc vào thuốc

2 Cuộc sống của tôi không thể nếu không có thuốc

3 Không có thuốc tôi sẽ cảm thấy rất ốm yếu

4 Sức khỏe của tôi trong tương lai sẽ phụ thuộc vào thuốc

5 Thuốc bảo vệ tôi không tiến triển bệnh nặng hơn

6 Phải uống thuốc làm cho tôi lo lắng

Trang 35

7 Thỉnh thoảng tôi lo lắng về ảnh hưởng của thuốc khi sử dụng lâu dài

8 Tôi có rất ít kiến thức về thuốc Tôi vẫn chưa hiểu hết về các thuốc mình đangdùng

9 Thuốc gây bất tiện cho cuộc sống của tôi

10 Thỉnh thoảng ông/bà có lo lắng về việc sẽ sống phụ thuộc vào thuốc

11 Hầu hết các thuốc đều gây nghiện

12 Thuốc có hại nhiều hơn lợi ích

13 Tất cả các loại thuốc đều có khả năng gây độc

14 Bác sĩ sử dụng quá nhiều loại thuốc cho bệnh nhân

15 Bác sĩ đặt quá nhiều niềm tin vào thuốc

16 Nếu bác sĩ có nhiều thời gian với bệnh nhân, họ sẽ kê ít thuốc hơn

17 Điều trị bằng phương pháp tự nhiên, dân gian an toàn hơn thuốc tân dược

18 Những người đang dùng thuốc nên thỉnh thoảng tạm ngưng điều trị trong mộtthời gian ngắn

2.3.4 Đánh giá sự tuân thủ sử dụng thuốc

Sự tuân thủ sử dụng thuốc được đánh giá trên nhóm bệnh nhân được kê ít nhất mộtthuốc chống loãng xương khi xuất viện Phương pháp đánh giá sự tuân thủ sử dụngthuốc dựa trên phương pháp của Aníbal García-Sempere và cộng sự [5] Phươngpháp đánh giá sự tuân thủ theo Aníbal García-Sempere dựa trên tỷ lệ % ngày sửdụng thuốc loãng xương so với số ngày khảo sát theo công thức:

Tỷ lệ % ngày sử dụng thuốc =Số ngày sử dụng thuốc loãng xương x 100%

Số ngày khảo sát

Bệnh nhân được xem là không tuân thủ nếu tỷ lệ % số ngày dùng thuốc chống loãngxương so với số ngày khào sát < 20%, từ 20 - 80% là tuân thủ một phần, ≥ 80% làtuân thủ đầy đủ

Thời gian khảo sát sự tuân thủ sau 6 tháng, 12 tháng, 18 tháng và 24 tháng

Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh

Trang 36

2.3.6 Vấn đề y đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu được thông qua Hội đồng Nghiên cứu khoa học Bệnh viện Chấn thươngchỉnh hỉnh TP Hồ Chí Minh

Nghiên cứu được thông qua Hội đồng Xét đề cương luận văn Thạc sĩ Dược

Trước khi tiến hành phỏng vấn, điều tra viên giải thích mục tiêu của nghiên cứu vàhỏi người tham gia nghiên cứu có đồng ý tham gia nghiên cứu không Người thamgia nghiên cứu được thông báo việc tham gia là tự nguyện và họ có quyền dừngphỏng vấn bất kỳ lúc nào Các thông tin người tham gia nghiên cứu cung cấp đềuđược bảo mật và mã hóa để phân tích

Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh

Trang 37

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đề tài thực hiện trên tổng cộng 170 hồ sơ bệnh án của bệnh nhân trên 60 tuổi gãy cổxương đùi đến điều trị tại khoa Khớp, khoa Chi Dưới bệnh viện Chấn ThươngChỉnh Hình Thành Phố Hồ Chí Minh từ 1/2016 đến 6/2016 Trong đó có 138 bệnhnhân được phỏng vấn để nghiên cứu sự tuân thủ sử dụng thuốc

3.1 ĐẶC ĐIỂM DÂN SỐ BỆNH NHÂN GÃY CỔ XƯƠNG ĐÙI

3.1.1 Giới tính và tuổi tác

Phân bố theo giới tính

Trong số 170 bệnh nhân được khảo sát có 130 bệnh nhân nữ chiếm 76,5% và 40bệnh nhân nam chiếm 23,5%

Như vậy, trong nghiên cứu này tỷ lệ nam:nữ là 1 : 3,25

Hình 3.1 Biểu đồ phân bố giới tính trong mẫu nghiên cứu Phân bố theo tuổi tác

Bệnh nhân gãy cổ xương đùi trong mẫu nghiên cứu có độ tuổi trung bình là 75,35 ±8,52 tuổi Trong đó bệnh nhân có độ tuổi nhỏ nhất là 60 tuổi, lớn nhất là 96 tuổi

23,5

76,5

NamNữBản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh

Trang 38

Hình 3.2 Biểu đồ phân bố nhóm tuổi ở bệnh nhân gãy cổ xương đùi

Trong mẫu nghiên cứu, đa số bệnh nhân nằm trong độ tuổi 65 - 84 tuổi Trong đó,

độ tuổi chiếm nhiều nhất là 75 - 79 tuổi với tỷ lệ 22,4%, tiếp đến 70 - 74 tuổi(18,8%), 80 - 84 tuổi (17,6%), 65 - 69 tuổi (15,9%)

Độ tuổi 75 - 84 chiếm tỷ lệ cao (40,0%) Độ tuổi 60 - 64 tuổi chiếm thấp nhất với tỷ

lệ 10,6% Có hơn 50% bệnh nhân có độ tuổi từ 70 - 85 tuổi

3.1.2 Cân nặng

Đa số bệnh nhân có thể trạng bình thường với tỷ lệ 39,4% Bệnh nhân thừa cânchiếm tỷ lệ 27,1%, béo phì 24,7% Bệnh nhân thể trạng gầy chiếm tỷ lệ thấp nhấtvới 8,8% Bệnh nhân thừa cân và béo phì chiếm tỷ lệ khá cao (51,8%)

Trang 39

Hình 3.3 Biểu đồ phân bố thể trạng bệnh nhân gãy cổ xương đùi 3.1.3 Trình độ học vấn

Sau trung họcphổ thông

Trang 40

Hình 3.4 Biểu đồ trình độ học vấn của bệnh nhân gãy cổ xương đùi

Tất cả bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu đều biết chữ Đa số bệnh nhân có trình độtrung học cơ sở (44,2%), kế đến là trình độ tiểu học (31,2%), trung học phổ thông(16,7%) và thấp nhất là sau trung học phổ thông (8,0%)

3.1.4 Bệnh lý kèm theo

Khảo sát cho thấy ngoài gãy cổ xương đùi, đa số bệnh nhân đều mắc bệnh kèm theo(chiếm 94,9%) Bệnh nhân mắc từ 3 bệnh kèm trở lên chiếm tỷ lệ cao nhất 52,2%.Bệnh nhân mắc 2 bệnh và 1 bệnh kèm theo với tỷ lệ lần lượt là 28,3% và 15,2%

Hình 3.5 Biểu đồ số bệnh kèm theo ở bệnh nhân gãy cổ xương đùi

Trong các bệnh kèm theo, tăng huyết áp chiếm tỷ lệ cao nhất 55,8% Bệnh loãngxương đứng hàng thứ hai với tỷ lệ 42,8% Các bệnh sỏi thận, loạn nhịp chiếm tỷ lệthấp

Ngày đăng: 09/05/2021, 10:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Y Tế (2014), “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh xương khớp”, NXB Y Học, Hà Nội, tr. 185-187 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh xương khớp
Tác giả: Bộ Y Tế
Nhà XB: NXB Y Học
Năm: 2014
2. Nguyễn Văn Quang (1989), Gãy cổ xương đùi, Đại học Y Dƣợc TP. Hồ Chí Minh, tr. 116-123 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gãy cổ xương đùi
Tác giả: Nguyễn Văn Quang
Năm: 1989
3. Nguyễn Văn Quang (2003), “Gãy xương ở phụ nữ mãn kinh”, Kỷ yếu các báo cáo khoa học, Hội thấp khớp học Việt Nam, tr. 83-86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gãy xương ở phụ nữ mãn kinh”, "Kỷ yếu các báo cáo khoa học
Tác giả: Nguyễn Văn Quang
Năm: 2003
4. Nguyễn Thái Thành (2006), “Lượng giá mật độ xương bệnh nhân nữ gãy cổ xương đùi”, Luận án chuyên khoa cấp II, Đại học Y Dƣợc TP. Hồ Chí Minh.Tài liệu tiếng nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lượng giá mật độ xương bệnh nhân nữ gãy cổ xương đùi
Tác giả: Nguyễn Thái Thành
Năm: 2006
6. Anna Beckman Gyllenstrand (2007), “Medication management and patient compliance in old age”, Department of neurobiology, caring sciences and society, Karolinska Institutet, Stockholm, Sweden, pp. 1-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Medication management and patient compliance in old age”
Tác giả: Anna Beckman Gyllenstrand
Năm: 2007
7. Bess Dawson - Hughes, Heike A Bischoff-Ferrari (2007), “Therapy of Osteoporosis With Calcium and Vitamin D”, JBMR, 22, pp. 59-63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Therapy of Osteoporosis With Calcium and Vitamin D”, "JBMR
Tác giả: Bess Dawson - Hughes, Heike A Bischoff-Ferrari
Năm: 2007
5. Aníbal García-Sempere, Isabel Hurtado, José Sanfélix-Genovés, Clara L Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w