1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề xuất giải pháp chuyển từ sản xuất chè thông thường sang sản xuất chè hữu cơ tại xã tràng xá huyện võ nhai tỉnh thái nguyên

71 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề xuất giải pháp chuyển từ sản xuất chè thông thường sang sản xuất chè hữu cơ tại xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Tác giả Nguyễn Minh Thắng
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Mạnh Thắng
Trường học Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Kinh tế & Phát triển Nông thôn
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Tính cấp thiết của đề tài (8)
  • 1.2. Mục tiêu nghiên cứu (9)
    • 1.2.1. Mục tiêu tổng quát (9)
    • 1.2.2. Mục tiêu cụ thể (10)
  • 1.3. Ý nghĩa nghiên nghiên cứu đề tài (10)
    • 1.3.1. Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học (10)
    • 1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn (10)
  • 1.4. Ý nghĩa đối với sinh viên (10)
  • PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU (8)
    • 2.1. Cơ sở lý luận của đề tài (11)
      • 2.1.1. Vai trò của sản xuất chè (11)
      • 2.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất chè (12)
      • 2.1.3. Một số khái niệm liên quan (13)
    • 2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài (17)
      • 2.2.1. Tiềm năng phát triển ngành chè Việt Nam (17)
      • 2.2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới (19)
      • 2.2.3. Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè ở Việt Nam (22)
  • PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (11)
    • 3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (27)
      • 3.1.1. Đối tượng nghiên cứu (27)
      • 3.1.2. Phạm vi nghiên cứu (27)
    • 3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành (27)
    • 3.3. Nội dung nghiên cứu (27)
    • 3.4. Phương pháp nghiên cứu (28)
      • 3.4.1. Phương pháp xác định mẫu (28)
      • 3.4.2. Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp (28)
      • 3.4.3. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp (29)
      • 3.3.4. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu (30)
  • PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (26)
    • 4.1. Điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội của xã Tràng Xá (31)
      • 4.1.1. Điều kiện tự nhiên (31)
      • 4.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội (33)
      • 4.1.3. Một số nét cơ bản về sản xuất chè trên địa bàn xã (36)
    • 4.2. Đánh giá chung về tình hình sản xuất chè của các hộ được điều tra (37)
      • 4.2.1. Đặc điểm chung của đối tượng điều tra (37)
      • 4.2.2. Cơ cấu giống chè của các hộ được điều tra (38)
      • 4.2.3. Chi phí sản xuất chè của nông hộ (40)
      • 4.2.4. Năng suất chè của các hộ được điều tra (42)
      • 4.2.5. Giá bán chè bình quân của các hộ điều tra (43)
      • 4.2.6. Hình thức tiêu thụ của nông hộ (45)
    • 4.3. Nhận thức, nhu cầu tham gia sản xuất chè hữu cơ của các hộ tham gia (48)
      • 4.3.1. Sự tham gia trong tập huấn, hội thảo về sản xuất chè hữu cơ của các hộ được điều tra (48)
      • 4.3.2. Nhận thức về sản xuất chè hữu cơ của nông hộ (49)
      • 4.3.3. Nhận thức về tầm quan trọng của sản xuất chè hữu cơ (50)
      • 4.3.4. Nhận thức về sự ảnh hưởng của các cơ quan, tổ chức đến quá trình chuyển đổi từ sản xuất chè thông thường sang sản xuất chè hữu cơ của nông hộ (51)
      • 4.3.5. Nhu cầu tham gia sản xuất chè hữu cơ của các hộ được điều tra (52)
    • 4.4. Phân tích SWOT đối với sản xuất chè hữu cơ của các hộ được điều tra (55)
      • 4.4.1. Thuận lợi khi tham gia sản xuất chè hữu cơ của hộ được điều tra (55)
      • 4.4.2. Khó khăn ưu tiên khắc phục khi tham gia sản xuất chè hữu cơ của các hộ được điều tra (56)
      • 4.4.3. Phân tích SWOT (58)
    • 4.5. Giải pháp chuyển từ sản xuất chè thông thường sang sản xuất chè hữu cơ (61)
      • 4.5.1. Giải pháp về vốn (62)
      • 4.5.2. Xây dựng vùng nguyên liệu tập trung, đảm bảo chất lượng (63)
      • 4.5.3. Đào tạo nguồn nhân lực sản xuất chè hữu cơ (63)
      • 4.5.4. Đảm bảo đầu vào về giống, phân bón và các chế phẩm hữu cơ (64)
      • 4.5.5. Mở rộng thị trường tiêu thụ, xây dựng thương hiệu chè hữu cơ Tràng Xá 57 4.5.6. Đầu tư khoa học, công nghệ cao cho sản xuất và chế biến chè hữu cơ (64)
      • 4.5.7. Giải pháp về cơ chế, chính sách (65)
  • PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ (31)
    • 5.1. Kết luận (67)
    • 5.2. Kiến nghị (68)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (70)

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài

Cây chè là một loại cây công nghiệp lâu năm, mang lại giá trị kinh tế cao và được trồng phổ biến ở Việt Nam Lịch sử phát triển của cây chè tại nước ta đã có từ lâu đời, thể hiện sự quan trọng của nó trong nền nông nghiệp và kinh tế địa phương.

4000 năm trước, tuy nhiên nó mới chỉ được khác thác và phát triển mạnh trong khoảng 50 năm gần đây

Cây chè đóng vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp ở vùng trung du và miền núi phía Bắc, mang lại nguồn thu nhập ổn định cho người trồng với 8 - 9 lứa thu hoạch mỗi năm Ngoài việc chống xói mòn và phủ xanh đất, cây chè còn tạo việc làm cho lao động nông thôn Việc phát triển sản xuất chè không chỉ giải quyết việc làm mà còn đảm bảo nguồn thu nhập bền vững, góp phần thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn trong khu vực.

Thái Nguyên, tỉnh trung du miền núi Đông Bắc Việt Nam, sở hữu khí hậu nhiệt đới gió mùa với mùa đông ngắn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển cây chè Với diện tích gần 22 nghìn ha, chè Thái Nguyên đã trở thành cây trồng chủ lực, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao đời sống người dân Nhờ thổ nhưỡng và khí hậu đặc trưng, cùng với kinh nghiệm trồng và chế biến, chè Thái Nguyên đã xây dựng được thương hiệu vững mạnh cả trong nước và quốc tế Tỉnh cũng có các vùng trồng chè chuyên nghiệp tại các huyện Đại Từ, Đồng Hỷ, Phú Lương và TP Thái Nguyên, từ chế biến đến tiêu thụ.

Huyện Võ Nhai, thuộc tỉnh Thái Nguyên, nổi tiếng với vùng chè ngon có diện tích khoảng 1.250 ha, tập trung chủ yếu tại các xã Tràng Xá, Liên Minh và Phú Thượng Trong đó, xã Tràng Xá chiếm hơn 300 ha chè, bao gồm 500 ha chè trung du và chè cành với các giống chủ yếu như LDP1, TRI777, Phúc Vân Tiên và Kim Tuyên Cây chè đã từ lâu giữ vai trò chủ đạo trong đời sống kinh tế của người dân Võ Nhai.

Mặc dù chè là cây trồng chủ lực mang lại thu nhập cho người dân, nhưng sản xuất chủ yếu diễn ra một cách tự phát và nhỏ lẻ, dựa trên tư duy truyền thống Người sản xuất đã lạm dụng phân vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật, dẫn đến hiệu quả sản xuất thấp và chất lượng chè không đảm bảo, gây ô nhiễm đất và nước, ảnh hưởng xấu đến môi trường và sức khỏe con người Trong bối cảnh hội nhập, thị trường chè trong nước và quốc tế ngày càng yêu cầu sản phẩm chất lượng cao hơn Do chất lượng kém, giá bán chè tại đây thấp hơn từ 20 – 40 ngàn đồng/kg so với các sản phẩm chè cùng loại ở các vùng khác trong tỉnh, thậm chí chênh lệch cả trăm ngàn đồng/kg so với vùng chè đặc sản Tân Cương.

Để nâng cao thu nhập cho nông dân và phát huy lợi thế địa phương, cần chuyển đổi từ sản xuất chè thông thường sang sản xuất chè hữu cơ tại xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên Việc này không chỉ phát triển kinh tế mà còn bảo vệ môi trường sinh thái và tạo ra sản phẩm chè an toàn, chất lượng cao.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát

Bài viết này tìm hiểu thực trạng sản xuất chè tại xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, đồng thời đánh giá nhận thức và nhu cầu của các hộ trồng chè về sản xuất chè hữu cơ Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp chuyển đổi từ sản xuất chè thông thường sang sản xuất chè hữu cơ nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và đáp ứng nhu cầu thị trường.

Mục tiêu cụ thể

- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của xã Tràng Xá, huyện

Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

- Tìm hiểu thực trạng sản xuất chè của các hộ trồng chè trên địa bàn xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

- Đánh giá nhận thức và nhu cầu tham gia sản xuất chè hữu cơ của các hộ điều tra

- Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong việc chuyển từ sản xuất chè thường sang sản xuất chè hữu cơ tại Tràng Xá

- Đề xuất giải pháp chuyển từ sản xuất chè thông thường sang sản xuất chè hữu cơ trên địa bàn xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.

Ý nghĩa nghiên nghiên cứu đề tài

Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học

Bài viết cung cấp thông tin về tình hình sản xuất chè năm 2019 tại xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, đồng thời khám phá hiểu biết của các hộ trồng chè về chè hữu cơ Bên cạnh đó, bài viết cũng nêu rõ nhu cầu và những khó khăn mà họ gặp phải trong việc tham gia sản xuất chè hữu cơ.

Ý nghĩa thực tiễn

Đề xuất chuyển đổi từ sản xuất chè thông thường sang sản xuất chè hữu cơ không chỉ giúp nâng cao thu nhập cho các hộ trồng chè mà còn tận dụng tối đa lợi thế tự nhiên và xã hội của địa phương, từ đó phát triển sản xuất bền vững.

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Cây chè, các hộ trồng chè và các hoạt động liên quan đến sản xuất chè trên địa bàn xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

Đề tài nghiên cứu khảo sát tình hình sản xuất chè và nhu cầu sản xuất chè hữu cơ của các hộ trồng chè tại xã Tràng Xá Bài viết sẽ đưa ra một số giải pháp nhằm chuyển đổi từ sản xuất chè thông thường sang sản xuất chè hữu cơ, góp phần nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm.

- Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu trên địa bàn xã Tràng xá, huyện

Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

- Phạm vi thời gian: Số liệu sử dụng trong nghiên cứu được thu thập trong năm 2020.

Địa điểm và thời gian tiến hành

- Địa điểm nghiên cứu: Xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

- Thời gian tiến hành nghiên cứu: Từ ngày 10/01/2020 đến ngày 10/05/2020.

Nội dung nghiên cứu

- Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

- Tình hình sản xuất chè của các hộ được điều tra

Nhận thức về chè hữu cơ đang gia tăng trong cộng đồng trồng chè tại xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên Nhu cầu chuyển đổi từ sản xuất chè thông thường sang chè hữu cơ ngày càng trở nên cấp thiết, nhằm đáp ứng thị trường và bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng Việc chuyển đổi này không chỉ mang lại lợi ích kinh tế cho người trồng chè mà còn góp phần bảo vệ môi trường.

- Thuận lợi, khó khăn khi tham gia sản xuất chè hữu cơ của các hộ điều tra

Để thực hiện chuyển đổi từ sản xuất chè thông thường sang sản xuất chè hữu cơ tại xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, cần áp dụng các giải pháp như: tăng cường đào tạo và nâng cao nhận thức cho người trồng chè về lợi ích của chè hữu cơ, hỗ trợ kỹ thuật và cung cấp giống chè hữu cơ chất lượng, cũng như xây dựng hệ thống tiêu thụ bền vững cho sản phẩm chè hữu cơ Bên cạnh đó, cần có sự hợp tác giữa các cơ quan chức năng và doanh nghiệp để tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đổi này.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội của xã Tràng Xá

Xã Tràng Xá, nằm ở phía Nam huyện Võ Nhai, được coi là cái nôi của Cách mạng Việt Nam trong những năm kháng chiến chống Pháp Tại xóm Đồng Ruộng, Trung đội Cứu quốc quân II - tiền thân của quân đội nhân dân Việt Nam - đã được thành lập Tràng Xá cũng là địa bàn chiến lược về kinh tế và quốc phòng của huyện Võ Nhai, với tổng diện tích 47,80 km² và dân số đạt 7.057 người, mật độ dân số tương đối cao.

Xã có mật độ dân số 148 người/km², nằm ở vị trí địa lý thuận lợi với phía Đông giáp xã Dân Tiến và Phương Giao, phía Tây giáp xã Liên Minh, phía Nam giáp xã Dân Tiến, và phía Bắc giáp thị trấn Đình Cả cùng các xã Lâu Thượng và Phú Thượng Đặc biệt, khu vực này nổi tiếng với danh lam thắng cảnh Hang Phượng Hoàng, một điểm du lịch hấp dẫn của tỉnh Thái Nguyên.

Khí hậu và Tài nguyên thiên nhiên

Tràng Xá có khí hậu đặc trưng của vùng Đông Bắc Việt Nam, thuộc miền nhiệt đới gió mùa biến tính với hai mùa rõ rệt Mùa mưa kéo dài từ cuối tháng 4 đến đầu tháng 10, với gió mùa đông nam chiếm ưu thế, thời tiết nóng ẩm và mưa nhiều, tháng 7 là tháng nóng nhất với nhiệt độ lên đến 41,5°C và trung bình 28,5°C Mùa khô bắt đầu từ gần cuối tháng 11 đến gần cuối tháng 3 năm sau, khi gió mùa đông bắc chiếm ưu thế, thời tiết hanh khô và ít mưa, tháng 1 là tháng lạnh nhất với nhiệt độ trung bình 15,5°C, có thể xuống đến 3°C Độ ẩm không khí tại Tràng Xá khá cao, mùa mưa dao động từ 78% đến 86%, trong khi mùa khô từ 65% đến 70%.

Xã Tràng xá có lượng mưa trung bình hàng năm lên tới 2.025,3 mm, với sự phân bố theo mùa rõ rệt Mùa mưa chiếm khoảng 80% tổng lượng mưa cả năm, với nhiều ngày mưa trên 100mm Ngược lại, mùa khô có thời tiết lạnh và hanh khô, chỉ chiếm khoảng 15% lượng mưa cả năm (300 mm), trong đó đầu mùa khô thường xảy ra tình trạng hạn hán do không có mưa trong thời gian dài Cuối mùa khô, không khí trở nên lạnh và ẩm nhờ vào những cơn mưa phùn.

Xã Tràng Xá có nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng và phong phú:

Xã Tràng Xá sở hữu nhiều loại đất phong phú, bao gồm đất phù sa tập trung tại xóm Đồng Ẻn và Cầu Nhọ, đất đen phân bố rộng rãi ở hầu hết các xóm, và đất xám bạc màu chiếm hơn 70% diện tích tại thung lũng và đồi thấp Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc canh tác nhiều loại cây trồng, đặc biệt là cây công nghiệp, cây ăn quả và trồng rừng, với chủ yếu là đất đồi núi.

Rừng Tràng Xá chủ yếu bao gồm rừng nhân tạo và rừng trồng theo chương trình 327 và PAM, cùng với các loại cây trồng của người dân như Bưởi, Cam, và Nhãn Ngoài ra, cây lương thực chủ yếu tại đây là Lúa nước, Ngô và Đậu.

Xã có nguồn nước phong phú nhờ sông Dong, một nhánh của sông Thương, cùng với nhiều khe suối nhỏ Tuy nhiên, nguồn nước mặt chưa được phân bố đều trên toàn địa bàn.

Du lịch sinh thái tại khu vực với dãy núi đá vôi và núi đất trung điệp mang đến những cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp Hang Huyện và rừng Khuôn Mánh không chỉ là điểm đến hấp dẫn mà còn là nhân chứng lịch sử cho cuộc chiến chống giặc ngoại xâm của tổ tiên ta.

4.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội

Trong những năm qua, xã đã tích cực phát triển kinh tế bằng cách đưa vào sản xuất các giống cây trồng mới có năng suất cao Đồng thời, xã cũng hỗ trợ cá nhân và doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất, từ đó tạo ra những chuyển biến rõ rệt trong đời sống vật chất và tinh thần của người dân.

Tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2019 của xã đạt 8.489,53 tấn, trong đó cây ăn quả, đặc biệt là bưởi, được xác định là cây mũi nhọn với diện tích khoảng 260ha, trong đó bưởi chiếm 185ha và mang lại thu nhập khoảng 400 triệu đồng/ha Các xóm có diện tích cây ăn quả lớn bao gồm Thắng Lợi, Mỏ Đinh, Lò Gạch và Hợp Nhất Năm 2019, UBND xã đã phối hợp với Trường Đại học KT&QTKD Thái Nguyên trồng mới 20ha na dai, đồng thời có 50ha bưởi diễn được công nhận sản xuất theo quy trình VietGAP Đàn lợn duy trì từ 3.000 - 4.000 con/năm, gia cầm từ 37.000 - 40.000 con, và đàn trâu, bò tăng từ 1.080 con năm 2015 lên 1.155 con năm 2019, trong khi sản lượng thuỷ sản duy trì ở mức 80 tấn và tổng sản lượng thịt lợn hơi hàng năm đạt trung bình 320 tấn.

Công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp

Sản xuất tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ tại địa phương đang phát triển mạnh mẽ, góp phần nâng cao cơ sở hạ tầng và làm mới bộ mặt nông thôn Sự phát triển này không chỉ tăng tỷ trọng tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ trong xã mà còn giúp giải quyết hiệu quả nguồn lao động tại địa phương.

Sản xuất ngói xi măng bình quân 7,5 vạn viên/năm

Tỷ trọng tiểu thủ công nghiệp- dịch vụ đóng góp 30% thu nhập bình quân toàn xã

Vào năm 2017, xã Tràng Xá đã tiến hành nâng cấp Chợ Tràng Xá nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động giao thương, buôn bán Việc này không chỉ giúp thị trường hàng hóa trở nên phong phú và đa dạng, đáp ứng nhu cầu của người dân, mà còn góp phần quan trọng vào việc tăng tỷ trọng thương mại và dịch vụ trên địa bàn Đồng thời, sự phát triển này cũng giải quyết lao động tại chỗ và đóng góp vào tổng thu ngân sách của xã.

Cơ sở hạ tầng Đường tỉnh 265 kết nối xã với Quốc lộ 1B, tạo điều kiện thuận lợi cho giao thương giữa Thái Nguyên và Lạng Sơn Hiện tại, xã đang triển khai dự án xây dựng tuyến đường Tràng Xá - Phương Giao - Bắc Sơn dài 28,35 km với tổng kinh phí 156,5 tỷ đồng.

Từ năm 2015 đến 2019, chương trình nông thôn mới đã đầu tư xây dựng 44,42 km đường liên xóm, trục xóm, đường ngõ xóm và đường nội đồng tại 18/18 xóm trong xã, cùng với sự đóng góp đối ứng của người dân.

Xã có một trạm y tế và bảy cơ sở dược phẩm được cấp phép hoạt động Trong năm 2019, tổng số thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) đăng ký khám chữa bệnh ban đầu tại trạm y tế xã là 7.091 thẻ, với 4.026 lượt bệnh nhân đến khám chữa bệnh tại đây.

Giáo dục và đào tạo

Chất lượng giảng dạy của các trường trên địa bàn xã ngày càng được nâng cao Cụ thể:

Trường mầm non: Trên địa bàn xã có 02 trường mầm non, trong đó có

58 cán bộ, giáo viên; có 519 học sinh, số học sinh 5 tuổi hoàn thành chương trình mẫu giáo đủ điều kiện vào lớp 1 là 173/173 học sinh đạt 100%

Đánh giá chung về tình hình sản xuất chè của các hộ được điều tra

4.2.1 Đặc điểm chung của đối tượng điều tra

Qua quá trình điều tra về tình hình sản xuất chè của xã Tràng Xá tôi thu được kết quả sau (được trình bày trong bảng 4.2.1):

Trong cuộc khảo sát với 100 hộ gia đình, cây chè được xác định là cây trồng chủ yếu và nguồn thu nhập chính, cho thấy vai trò quan trọng của nó trong đời sống người dân địa phương.

Tuổi trung bình của các hộ điều tra, ở nhóm hộ làm chè truyền thống là

Nhóm làm chè an toàn gồm 45 hộ, hầu hết đã ổn định về cơ sở vật chất và có chủ hộ với vốn sống cùng kinh nghiệm nhất định Các chủ hộ đều am hiểu về lĩnh vực trồng chè, điều này tạo ra thuận lợi lớn, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh cây chè trong từng hộ.

Trình độ văn hóa của chủ hộ sản xuất chè truyền thống thường thấp, với điểm trung bình chỉ đạt 7/12 Ngược lại, các hộ sản xuất chè an toàn có trình độ văn hóa cao hơn, với điểm trung bình đạt 9/12.

Bảng 4.2.1: Đặc điểm chung của các hộ được điều tra

Chỉ tiêu Đơn vị tính

Tổng số hộ điều tra Hộ 90 10

Bình quân trình độ văn hóa Lớp 7 9

Bình quân nhân khẩu/ hộ Người 3.9 4.4

Bình quân lao động trong độ tuổi/ hộ Người 2.7 2.9

Bình quân lao động ngoài độ tuổi/ hộ Người 1.1 1.5

Bình quân diện tích đất nông nghiệp/ hộ Sào 42 60

Bình quân diện tích đất trồng chè/ hộ Sào 8 19

(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra, năm 2020)

Trình độ văn hoá có ảnh hưởng lớn đến quyết định sản xuất và phương thức sản xuất trong mỗi gia đình, vì vậy nâng cao trình độ văn hoá của các chủ hộ là nhiệm vụ quan trọng Nhóm hộ làm chè an toàn có bình quân số nhân khẩu là 4,5 người/hộ, cao hơn so với 3,9 người/hộ của nhóm làm chè truyền thống Trong đó, số lao động trong độ tuổi làm việc ở hộ làm chè an toàn là 2,9 người/hộ, so với 2,7 người/hộ ở hộ làm chè truyền thống Ngoài ra, bình quân số nhân khẩu ngoài độ tuổi lao động ở nhóm sản xuất truyền thống là 1,1 người/hộ, trong khi nhóm sản xuất an toàn là 1,5 người/hộ Điều này cho thấy nguồn nhân lực trong sản xuất của hai phương thức canh tác là tương đương nhau.

Diện tích đất là yếu tố quan trọng trong sản xuất chè, với bình quân diện tích đất nông nghiệp của hộ sản xuất chè an toàn đạt 60 sào, gấp 1,5 lần so với 42 sào của hộ sản xuất chè truyền thống Đặc biệt, diện tích đất nông nghiệp trồng chè của nhóm hộ sản xuất chè an toàn cao gấp 2 lần, với bình quân 19 sào/hộ so với 8 sào/hộ của nhóm sản xuất chè truyền thống Điều này cho thấy diện tích đất nông nghiệp và diện tích đất trồng chè có ảnh hưởng lớn đến lựa chọn hướng sản xuất của hộ trồng chè.

4.2.2 Cơ cấu giống chè của các hộ được điều tra

Chất lượng chè thành phẩm phụ thuộc vào chất lượng chè nguyên liệu, mà chất lượng này lại bị ảnh hưởng bởi đặc điểm sinh lý và sinh hóa của giống chè Do đó, việc chọn giống chè tốt và cơ cấu giống hợp lý là rất quan trọng để nâng cao hiệu quả kinh tế cho người trồng chè Kết quả điều tra nghiên cứu về cơ cấu giống chè của các hộ cho thấy những thông tin quan trọng về vấn đề này.

Bảng 4.2.2: Cơ cấu giống chè của các hộ được điều tra

Chỉ tiêu Hộ sản xuất truyền thống Hộ sản xuất an toàn

Số lượng (sào) Cơ cấu (%) Số lượng (sào) Cơ cấu (%)

(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra, năm 2020)

Theo bảng 4.2.2, các nông hộ chủ yếu trồng giống chè hạt (chè trung du) và các giống chè mới như TRI 777, chè cành lai LDP2, chè Khúc Vân Tiên, chè Kim Tuyên, chè Keo Am Tích Mặc dù những giống chè này phù hợp với thổ nhưỡng địa phương, nhưng chúng hiện đang nằm trong dự án trồng mới năm 2019.

Năm 2020, trong nhóm hộ sản xuất chè truyền thống, giống chè hạt chiếm 43% tổng diện tích, trong khi giống chè cành lai F1 chỉ chiếm 30% với 213 sào, gấp đôi so với giống chè cành lai DLDP1 với 109 sào, chiếm 16% Đối với nhóm sản xuất chè an toàn, giống chè cành lai LDP1 chiếm diện tích lớn nhất với 44% (82 sào), tiếp theo là giống chè hạt với 43% (81 sào), và chè cành lai F1 chỉ có 13% (35 sào) Điều này cho thấy diện tích trồng các giống chè mới có năng suất cao và chất lượng tốt ở các hộ sản xuất chè truyền thống vẫn còn thấp Do đó, xã Tràng Xá cần triển khai nhanh các chương trình dự án trồng mới và thay thế, nhằm đưa các giống chè có năng suất và chất lượng tốt vào thay thế cho những nương chè đã già cỗi, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè.

4.2.3 Chi phí sản xuất chè của nông hộ

4.2.3.1 Bình quân số lần bón phân và sử dụng thuốc BVTV mỗi lứacủa các hộ được điều tra

Việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật có tác động trực tiếp đến năng suất chè Tỷ lệ sử dụng các loại phân bón và thuốc bảo vệ thực vật khác nhau tùy thuộc vào từng phương thức sản xuất, như thể hiện trong bảng 4.2.3.1 dưới đây.

Bảng 4.2.3.1: Bình quân số lần bón phân và sử dụng thuốc BVTV mỗi lứa của các hộ được điều tra

Chỉ tiêu Đơn vị tính Phương thức sản xuất

Sử dụng thuốc BVTV Lần 2 1

(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra, năm 2020)

Để nâng cao năng suất, cả hai phương thức sản xuất chè đều áp dụng bón phân một lần mỗi vụ Tuy nhiên, sản xuất chè an toàn yêu cầu hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học, với trung bình chỉ một lần phun, trong khi chè truyền thống sử dụng hai lần Mỗi lứa chè thu hoạch sau 25-30 ngày, việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật là cần thiết để cải thiện năng suất và chất lượng Tuy nhiên, việc lạm dụng phân bón và thuốc hóa học trong sản xuất chè truyền thống không chỉ ảnh hưởng đến vệ sinh an toàn thực phẩm mà còn gây ô nhiễm môi trường Do đó, các hộ sản xuất cần điều chỉnh và hạn chế sử dụng các hóa chất này để nâng cao chất lượng chè, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và cải thiện môi trường xanh, sạch đẹp.

4.2.3.2 Bình quân chi phí sản xuất mỗi vụ của nông hộ Để thấy được chi phí cho sản xuất cho 1 sào chè mỗi vụ một cách đầy đủ và chính xác Tôi tiến hành điều tra 2 nhóm hộ nông dân sản xuất chè truyền thống và chè an toàn Chi phí trong sản xuất sẽ được tính cho từng nhóm hộ Kết quả tính toán được thể hiện ở bảng 4.2.3.2:

Bảng 4.2.3.2:Bình quân chi phí sản xuất mỗi vụ của nông hộ

Các chi phí Đơn vị tính Phương thức sản xuất

(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra, năm 2020)

Chi phí đầu tư sản xuất 1 sào chè của hộ sản xuất chè an toàn cao hơn so với hộ sản xuất chè truyền thống, với tổng chi phí là 301.000 đồng, cao hơn 77.978 đồng so với 223.022 đồng của chè truyền thống Tuy nhiên, chi phí cho thuốc bảo vệ thực vật của nhóm sản xuất chè an toàn lại thấp hơn do số lần sử dụng ít hơn, cụ thể là 13.133 đồng/sào/vụ Sản xuất chè an toàn yêu cầu hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ có nguồn gốc hóa học và tăng cường sử dụng phân vi sinh, dẫn đến chi phí phân bón của nhóm này cao hơn, do giá phân vi sinh thường cao hơn so với phân bón hóa học thông thường.

Với khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa và lượng mưa hàng năm lớn, các hộ trồng chè chỉ tập trung sản xuất từ tháng 3 đến tháng 10 Trong thời gian này, do mưa nhiều và độ ẩm cao, họ không cần tưới nước cho nương chè, dẫn đến sự phát triển chậm trong mùa khô lạnh.

Nông dân Việt Nam là những người cần cù và giàu kinh nghiệm trong sản xuất, nhưng họ thường chỉ tập trung vào việc lao động mà không tính toán kinh tế Hầu hết các hộ nông dân đều không thực hiện việc hoạch toán chi phí, dẫn đến việc họ không ghi nhận các khoản chi như chăm sóc cây trồng hay những chi phí khác trong quá trình sản xuất.

Chế biến chè là bước quan trọng quyết định chất lượng sản phẩm, đòi hỏi tay nghề cao từ người chế biến Tại Tràng Xá, nơi có truyền thống trồng chè hơn 30 năm, người dân sở hữu nhiều kinh nghiệm trong sản xuất và chế biến Qua khảo sát, tôi nhận thấy rằng các hộ chế biến chè thường thực hiện ngay tại nhà với chi phí chủ yếu là tiền củi và điện, do đó, chi phí chế biến không cao, với mức giá sản xuất chè thông thường là 20.455 đồng và chè an toàn là 27.000 đồng.

4.2.4 Năng suất chè của các hộ được điều tra

Nhận thức, nhu cầu tham gia sản xuất chè hữu cơ của các hộ tham gia

4.3.1 Sự tham gia trong tập huấn, hội thảo về sản xuất chè hữu cơ của các hộ được điều tra

Để nâng cao chất lượng chè và thay đổi nhận thức của người dân về phương thức sản xuất, các cơ quan, ban ngành tại Tràng Xá đã triển khai chương trình tập huấn và hội thảo về sản xuất chè hữu cơ Tỉ lệ tham gia của các hộ điều tra vào các khóa tập huấn và hội thảo được thể hiện rõ qua bảng số liệu.

Bảng 4.3.1: Sự tham gia tập huấn sản xuất chè hữu cơ của các hộ được điều tra Chỉ tiêu

Số lượng Cơ cấu Số lượng Cơ cấu

(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra, năm 2020)

Kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ tham gia của các hộ sản xuất chè vào các chương trình tập huấn và hội thảo là rất cao, với 76/90 hộ (84%) tham gia ít nhất một chương trình liên quan đến chè hữu cơ Đặc biệt, 100% hộ sản xuất chè an toàn đã tham gia các chương trình này Điều này cho thấy sự quan tâm lớn của các hộ sản xuất chè đối với kiến thức về chè hữu cơ mà các chương trình tập huấn và hội thảo cung cấp.

4.3.2 Nhận thức về sản xuất chè hữu cơ của nông hộ

Tỷ lệ tham gia cao trong các chương trình tập huấn và hội thảo về chè hữu cơ cho thấy các hộ gia đình đã tích lũy được kiến thức đáng kể về sản xuất chè hữu cơ, điều này được minh chứng qua bảng số liệu dưới đây.

Bảng 4.3.2: Nhận thức về chè hữu cơ của các hộ điều tra

Là hạn chế sử dụng phân bón, thuốc

Là đảm bảo thời gian đủ an toàn sau khi sử dụng thuốc BVTV hóa học 27 30% 0 0%

Là theo quy trình kỹ thuật hoàn toàn tự nhiên 57 63% 10 10%

(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra, năm 2020)

Theo bảng trên, 57 hộ, chiếm 63% trong tổng số 90 hộ sản xuất chè truyền thống và 100% hộ sản xuất chè an toàn, đều cho rằng sản xuất chè hữu cơ là cần thiết.

Sản xuất chè hữu cơ được thực hiện theo quy trình kỹ thuật chăm bón hoàn toàn tự nhiên, sử dụng khoáng chất và chất dinh dưỡng tự nhiên, không sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật, cùng với nguồn đất và nước sạch đạt tiêu chuẩn quốc tế Trong số 90 hộ sản xuất chè truyền thống, 27 hộ (30%) cho rằng chè hữu cơ là sản xuất chè có sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc hóa học, nhưng thời gian từ khi sử dụng đến khi thu hoạch đủ lâu để đảm bảo chất lượng an toàn Chỉ có 7% (6 hộ) nhận định rằng sản xuất chè hữu cơ là hạn chế sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật hóa học Kết quả điều tra cho thấy đa số các hộ đã có nhận thức đúng về định nghĩa sản xuất chè hữu cơ.

4.3.3 Nhận thức về tầm quan trọng của sản xuất chè hữu cơ Để thấy được nhận thức của hộ gia đình được điều tra về tầm quan trọng của sản xuất chè hữu cơ, tôi đã tiến hành điều tra và kết quả được thể hiện qua bảng 4.3.3 dưới đây:

Bảng 4.3.3:Nhận thức tầm quan trọng về sản xuất chè hữu cơ của các hộ điều tra

Số lượng Cơ cấu Số lượng Cơ cấu

(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra, năm 2020

Kết quả từ bảng cho thấy nhận thức về tầm quan trọng của sản xuất chè hữu cơ rất cao, với 100% hộ sản xuất chè an toàn và 42 hộ (23%) trong tổng số 90 hộ sản xuất chè truyền thống nhận định rằng sản xuất chè hữu cơ là cần thiết Trong khi đó, 25 hộ (28%) cho rằng sản xuất chè hữu cơ không cần thiết, và 21 hộ (23%) cho rằng sản xuất chè hữu cơ là cần thiết Điều này cho thấy đa số hộ sản xuất nhận thức được tầm quan trọng của sản xuất chè hữu cơ, đặc biệt là những hộ đang sản xuất chè an toàn Nhận thức này là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến nhu cầu tham gia sản xuất chè hữu cơ của các hộ được khảo sát.

4.3.4 Nhận thức về sự ảnh hưởng của các cơ quan, tổ chức đến quá trình chuyển đổi từ sản xuất chè thông thường sang sản xuất chè hữu cơ của nông hộ

Nhân tố đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện hiệu quả quá trình chuyển đổi sản xuất chè, đặc biệt là khi chuyển sang sản xuất chè hữu cơ Việc xác định rõ các yếu tố ảnh hưởng là cần thiết để nông hộ có thể thực hiện thành công quá trình này Dưới đây là những nhận thức về tác động của các nhân tố đến việc chuyển đổi từ sản xuất chè thông thường sang sản xuất chè hữu cơ của nông dân được khảo sát.

Bảng 4.3.4 trình bày nhận thức của nông hộ về ảnh hưởng của các cơ quan và tổ chức đối với quá trình chuyển đổi từ sản xuất chè thường sang sản xuất chè hữu cơ Việc hiểu rõ vai trò của các tổ chức này là yếu tố quan trọng giúp nông dân nâng cao ý thức và khả năng áp dụng các phương pháp canh tác bền vững.

Số lượng Cơ cấu Số lượng Cơ cấu

Cơ quan, tổ chức KN địa phương 16 18% 10 100%

Các đơn vị, doanh nghiệp 6 7% 0 0%

Cá nhân và hộ gia đình 16 18% 0 0%

(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra, năm 2020)

Kết quả khảo sát cho thấy, 100% hộ sản xuất chè an toàn và 18% hộ sản xuất chè truyền thống đều công nhận vai trò quan trọng của cơ quan Khuyến Nông địa phương trong việc chuyển đổi sang sản xuất chè hữu cơ Đặc biệt, 58% hộ sản xuất chè truyền thống (tương đương 53 hộ) cho rằng Bộ, Ngành Trung Ương với các chương trình, chính sách là yếu tố quan trọng nhất trong quá trình này Ngoài ra, các cá nhân và hộ gia đình sản xuất chè được đánh giá là nhân tố quan trọng thứ ba, với 18% (16 hộ) trong số hộ sản xuất chè truyền thống Cuối cùng, các đơn vị, doanh nghiệp sản xuất và tiêu thụ chè được xem là yếu tố có ảnh hưởng thấp nhất trong quá trình chuyển đổi này.

Kết quả cho thấy các hộ gia đình rất tin tưởng và kỳ vọng vào các cơ quan khuyến nông địa phương Do đó, các cơ quan này cần phát huy tối đa vai trò của mình trong việc chuyển đổi từ sản xuất chè thông thường sang chè hữu cơ Các Bộ, Ngành Trung Ương cùng với các đơn vị sản xuất và tiêu thụ chè cần tích cực tham gia để tạo ảnh hưởng và niềm tin đối với các hộ sản xuất chè Bên cạnh đó, các cá nhân và hộ gia đình sản xuất chè cũng cần nâng cao ý thức và trách nhiệm trong quá trình chuyển đổi sang sản xuất chè hữu cơ.

4.3.5 Nhu cầu tham gia sản xuất chè hữu cơ của các hộ được điều tra 4.3.5.1 Nhu cầu tham gia sản xuất chè hữu cơ của các hộ được điều tra Để đánh giá được nhu cầu và là cơ sở để đề xuất giải pháp chuyển từ sản xuất chè thông thường sang sản xuất chè hữu cơ tôi đã tiến hành điều tra nhu cầu tham gia sản xuất chè hữu cơ của nông hộ, kết quả được thể hiện qua bảng 4.3.5.1:

Bảng 4.3.5.1: Nhu cầu tham gia sản xuất chè hữu cơ của các hộ được điều tra

Số lượng Cơ cấu Số lượng Cơ cấu

(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra, năm 2020)

Dữ liệu cho thấy 100% các hộ sản xuất chè an toàn đều có nhu cầu tham gia sản xuất chè hữu cơ Trong khi đó, 63% trong số 57 hộ sản xuất chè truyền thống bày tỏ mong muốn tham gia, chỉ có 37% (33 hộ) không có nhu cầu tham gia vào sản xuất chè hữu cơ.

4.3.5.2 Yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia sản xuất chè hữu cơ của hộ đã được điều tra Để tìm hiểu nguyên nhân ảnh hưởng đến nhu cầu tôi đã tiến hành điều tra những yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu sản xuất chè hữu cơcủa các hộ được điều tra vàthu được kết quả ở bảng dưới đây:

Bảng 4.3.5.2: Yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia sản xuất chè hữu cơ của hộ đã được điều tra

Số lượng Cơ cấu Số lượng Cơ cấu

Tiết kiệm chi phí và công LĐ 5 9% 0 0% Đầu ra ổn định 48 84% 5 50%

Bảo vệ sức khỏe và môi trường 38 67% 9 90%

(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra, năm 2020)

Kết quả ở bảng trên ta thấy được đối với sản xuất chè truyền thống với

Phân tích SWOT đối với sản xuất chè hữu cơ của các hộ được điều tra

4.4.1 Thuận lợi khi tham gia sản xuất chè hữu cơ của hộ được điều tra

Với điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu thuận lợi, các hộ gia đình dễ dàng sản xuất chè, đặc biệt là chè hữu cơ Những lợi thế này được thể hiện rõ qua các kết quả trong bảng dưới đây.

Bảng 4.4.1: Thuận lợi khi tham gia sản xuất chè hữu cơ của các hộ được điều tra Thuận lợi khigiam gia

Số lượng Cơ cấu Số lượng Cơ cấu

Theo khảo sát năm 2020, diện tích đất nông nghiệp trung bình 42 sào/hộ là yếu tố thuận lợi lớn nhất cho 49 hộ (54%) sản xuất chè truyền thống tham gia vào sản xuất chè hữu cơ Tiếp theo, 10% số hộ cho rằng nhân công lao động là lợi thế, trong khi 7% tự tin vào nguồn vốn của mình Kiến thức và thị trường tiêu thụ được xem là thế mạnh của 6% và 4% hộ nông dân Chỉ có 1% số hộ coi giống, phân bón, chế phẩm hữu cơ là thuận lợi Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng, chính sách nhà nước và các yếu tố khác không được xem là lợi thế cho các hộ sản xuất chè truyền thống trong việc tham gia vào sản xuất chè hữu cơ.

Diện tích đất đai là yếu tố thuận lợi hàng đầu cho các hộ sản xuất chè an toàn, tuy nhiên, 100% số hộ cho rằng việc tham gia vào sản xuất chè hữu cơ sẽ mang lại lợi thế lớn nhất Chỉ có 30% hộ sản xuất chè an toàn tự tin vào khả năng vốn và nguồn lao động của mình Kiến thức và thị trường tiêu thụ được xem là thuận lợi lớn nhất đối với 10% số hộ trong nhóm này Các yếu tố như giống, phân bón, chế phẩm hữu cơ, cơ sở hạ tầng và chính sách nhà nước không được coi là thuận lợi cho bất kỳ hộ sản xuất chè an toàn nào.

Việc tham gia sản xuất chè hữu cơ mang lại nhiều thuận lợi cho các hộ gia đình, vì vậy khi chuyển đổi sang mô hình này, cần tận dụng tối đa những lợi thế hiện có để nâng cao hiệu quả trong sản xuất chè hữu cơ.

4.4.2 Khó khăn ưu tiên khắc phục khi tham gia sản xuất chè hữu cơ của các hộ được điều tra

Mặc dù các hộ gia đình tham gia sản xuất chè hữu cơ có những lợi thế nhất định, họ cũng đối mặt với nhiều khó khăn cần được giải quyết để đảm bảo thành công trong hoạt động này Bảng 4.4.2 dưới đây sẽ chỉ ra những khó khăn mà các hộ được điều tra gặp phải.

Bảng 4.4.2: Khó khăn ưu tiên khắc phục khi tham gia sản xuất chè hữu cơ của các hộ được điều tra

Khó khăn ưu tiên khắc phục

Số lượng Cơ cấu Số lượng Cơ cấu

(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra, năm 2020)

Vốn và kiến thức là hai yếu tố chính gây khó khăn trong sản xuất chè hữu cơ, được 86% hộ sản xuất chè truyền thống ưu tiên giải quyết Khó khăn về thị trường tiêu thụ cũng đáng chú ý, ảnh hưởng đến 40% số hộ trong nhóm này Bên cạnh đó, 36% hộ gặp khó khăn với giống, phân bón và chế phẩm hữu cơ Quy trình sản xuất chè hữu cơ nghiêm ngặt và tốn nhiều công lao động, khiến 18% hộ gặp trở ngại Ngoài ra, diện tích và chính sách nhà nước là những vấn đề cần giải quyết, ảnh hưởng đến lần lượt 9% và 3% số hộ sản xuất chè hữu cơ Tuy nhiên, không có hộ nào gặp khó khăn do cơ sở hạ tầng hay các vấn đề khác.

Nhóm hộ sản xuất chè an toàn đang đối mặt với nhiều khó khăn, trong đó vấn đề vốn là ưu tiên hàng đầu, ảnh hưởng đến 70% số hộ Thị trường tiêu thụ cũng là một thách thức lớn, với 60% số hộ gặp khó khăn trong việc tiếp cận thị trường Thêm vào đó, vấn đề nhân công lao động cũng đáng lưu ý, khi 40% số hộ sản xuất chè an toàn gặp phải khó khăn này.

30% hộ sản xuất chè an toàn gặp khó khăn về kiến thức và chính sách nhà nước Ngoài ra, 20% hộ ưu tiên giải quyết các vấn đề liên quan đến giống, phân bón, chế phẩm hữu cơ và cơ sở hạ tầng Đáng chú ý, không có hộ nào gặp khó khăn về diện tích hay các vấn đề khác.

Để xây dựng các giải pháp chuyển đổi từ sản xuất chè thông thường sang sản xuất chè hữu cơ, cần ưu tiên giải quyết những khó khăn hiện tại.

Dựa vào kết quả đã điều tra về thuận lợi và khó khăn của các hộ sản xuất chè ta có thể rút ra được kết quả sau:

Bảng 4.4.3: Phân tích SWOT khi tham gia sản xuất chè hữu cơ của các hộ được điều tra Điểm Mạnh (S) Điểm yếu (W)

- Diện tích đất nông nghiệp lớn - Sản xuất chè nhỏ lẻ, manh mún

- Lực lượng lao động dồi dào, chi phí nhân công rẻ - Đầu vào chưa đủ cung ứng

- Người dân có kinh nghiệm trồng chè - Lao động thiếu kiến thức chuyên sâu về chè hữu cơ

- Sản phẩm chè có thương hiệu - Khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm

- Nhu cầu sử dụng sản phẩm chất lượng của người tiêu dùng lớn

- Khó khăn trong xây dựng vùng sản xuất tập trung

- Các chính sách hỗ trợ thúc đẩy của nhà nước - Chất lượng đầu vào không đảm bảo

- Thị trường còn ít sản phẩm hữu cơ - Sự chênh lệch về trình độ phát triển

- Nông nghiệp hữu cơ ngày càng thu hút sự chú ý - Cạnh tranh gay gắt Điểm mạnh

Xã Tràng Xá, thuộc huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên, sở hữu diện tích đất nông nghiệp lớn nhờ địa hình đồi và thung lũng bằng phẳng Sông Dong chảy qua khu vực cung cấp nguồn nước tưới dồi dào cho sản xuất nông nghiệp Với chế độ mưa và nhiệt độ phù hợp, nơi đây rất thích hợp cho việc phát triển các loại cây công nghiệp lâu năm, đặc biệt là cây chè.

Xã Tràng Xá có lực lượng lao động dồi dào và chi phí nhân công thấp, đặc biệt trong ngành nông nghiệp, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế địa phương Với nhiều lao động tham gia vào sản xuất nông nghiệp và mức tiền công rẻ, sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là cây chè, đang tận dụng lợi thế này để phát triển.

Sản xuất chè tại xã Tràng Xá đang đối mặt với tình trạng manh mún và tự phát, mặc dù diện tích đất nông nghiệp lớn, lên tới hơn 50ha Việc sản xuất chủ yếu theo hộ gia đình tiềm ẩn nhiều rủi ro, đặc biệt nếu không có chiến lược mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao quản lý chất lượng sản phẩm và bảo vệ thương hiệu.

Hiện tại, xã chưa có cá nhân hay doanh nghiệp nào cung cấp giống, phân bón, thiết bị máy móc và các tư liệu cần thiết cho sản xuất chè hữu cơ, dẫn đến việc các hộ sản xuất chè gặp khó khăn trong việc tiếp cận và sử dụng các tư liệu sản xuất này.

Mặc dù cây chè đã có mặt tại Tràng Xá khoảng 30 năm và người dân nơi đây có nhiều kinh nghiệm trong canh tác, nhưng kiến thức về chè hữu cơ vẫn còn hạn chế Các hộ sản xuất chè chủ yếu tiếp cận thông tin về chè hữu cơ qua các buổi tập huấn và phương tiện truyền thông, mà chưa được đào tạo chuyên sâu qua các khóa học chuyên môn.

Thị trường tiêu thụ sản phẩm nông sản hiện đang gặp nhiều khó khăn do sự thiếu ổn định Các khâu từ sản xuất, thu hoạch, bảo quản, chế biến đến xây dựng thương hiệu đều thiếu quy hoạch và chiến lược đồng bộ, cùng với việc đầu tư không đủ, dẫn đến bất ổn và rủi ro trong việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.

Ngày đăng: 09/05/2021, 09:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[14] Luo Shiming và Stephen R. Gliessman (2017).Nông học tại Trung Quốc: Khoa học, Thực hành và Quản lý bền vững Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông học tại Trung Quốc
Tác giả: Luo Shiming và Stephen R. Gliessman
Năm: 2017
[1]Đức Năm(2018). Chủ động phát huy tiềm năng để đón nhận cơ hội mới. Báo Thái Nguyên số ra 05/10/2018 Khác
[2] Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Võ Nhai.Báo cáo Kinh phí thúc đẩy sản xuất chè giai đoạn 2017 – 2019 Khác
[3] Nguyễn Hữu Bình (2018)Ghi chú số ước tính và dự báo.Tổng công ty chè Việt Nam Khác
[4]Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2017).Nông nghiệp hữu cơ - Phần 2: Trồng trọt hữu cơ, Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 11041-2:2017 về nông nghiệp hữu cơ Khác
[5]Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2018).Nông nghiệp hữu cơ – Phần 6: Chè hữu cơ, Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 11041-6:2018 về Nông nghiệp hữu cơ Khác
[6] Ngọc Hùng Thành và Hồng Sơn (2017). Sản xuất chè an toàn, nâng cao giá trị gia tăng. Báo nhân dân số ra 08/02/2017 Khác
[7]Tiến Thành và Quang Huy (2020).Giải pháp phát triển thương hiệu chè Việt Nam.Báo Nông nghiệp số ra 14/10/2019 Khác
[8]Trần Trang (2020).Thái Nguyên thúc đẩy sản xuất chè theo hướng an toàn, hữu cơ. Báo Thái Nguyên số ra 29/02/2020 Khác
[9] Trần Liên (2019) Giữ hương chè Đồng Đài.Báo Tuyên Quang số ra 17/11/2019 Khác
[10] Đồng Văn Thưởng (2017). Nghệ nhân chè hữu cơ.Báo Nông nghiệp số ra 21/09/2017 Khác
[11] Ủy ban nhân dân xã Tràng Xá (2019). Báo cáo tổng kết tình hình kinh tế - xã hội xã Tràng Xá năm 2019 và nhiệm vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2020 Khác
[12] Công an xã Tràng Xá (2019). Báo cáo tổng kết công tác an ninh trật tự xã Tràng Xá năm 2019 và phương hướng nhiệm vụ năm 2020 Khác
[13] Ủy ban nhân dân xã Tràng Xá (2019). Báo cáo Kết quả thực hiện nhiệm vụ mục tiêu kinh tế - xã hội năm 2018 và nhiệm vụ mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội năm 2019 trên địa bàn xã Tràng XáII. Tài liệu Tiếng nước ngoài Khác
[15]Phòng Tiêu chuẩn Thực phẩm, Cục Công nghiệp Thực phẩm, Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản Nhật Bản (2017).Tiêu chuẩn nông nghiệp Nhật Bản (JAS) Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w