BẢNG ĐỐI CHIẾU VIỆT - ANHBảng câu hỏi đánh giá chất lượng cuộc sống của phụ nữ mãn kinh Menopause Specific Quality Of Lifequestionnaire Chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh Pittsburgh S
TỔNG QUAN Y VĂN
1.1.1 Giới thiệu về khái niệm giấc ngủ
Ngủ xảy ra ở tất cả các loài động vật từ côn trùng cho đến động vật có vú. Giấc ngủ là một trong những hành động chiếm nhiều thời gian nhất của chúng ta vì con người có thể sẽ phải dành một phần ba cuộc đời để ngủ Mặc dù chức năng chính xác của giấc ngủ đến nay vẫn chưa được thấu hiểu nhưng rõ ràng ngủ rất cần thiết cho mọi người ở tất cả các lứa tuổi khác nhau Giấc ngủ đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong lâm sàng về tâm thần vì rối loạn giấc ngủ thường gặp trong đa số các bệnh tâm thần và là một trong những chẩn đoán hay gặp nhất [1].
Giấc ngủ xảy ra dưới sự kiểm soát tích cực của não bộ và là một phần cơ bản không thể tách rời trong đời sống hàng ngày của con người Rối loạn giấc ngủ có thể là nguyên phát do sự rối loạn cơ chế điều hòa giấc ngủ hoặc thứ phát, hậu quả từ triệu chứng của các bệnh lý tiềm ẩn khác [2].
1.1.2 Sinh lý học của giấc ngủ Điện não đồ là công cụ hữu hiệu để nghiên cứu giấc ngủ và có thể được thực hiện cả trong và ngoài giấc ngủ Dựa vào điện não đồ, giấc ngủ được chia làm hai giai đoạn chính: ngủ không có vận động nhãn cầu nhanh (NREM) và ngủ có vận động nhãn cầu nhanh (REM).
Hai giai đoạn này thay đổi theo chu kỳ khoảng 90 phút và thay đổi theo từng giai đoạn của cuộc đời con người Ở trẻ sơ sinh, giấc ngủ REM chiếm tới 50% tổng thời gian Chúng ngủ đến 16 giờ mỗi ngày với những lần thức ngắn và giai đoạn REM xuất hiện trực tiếp mà không theo trình tự từ giai đoạn 1 đến 4 Trẻ 4 tháng đến 1 tuổi, tổng giấc ngủ REM chỉ còn khoảng 40% thời gian ngủ và xảy ra sau giai đoạn NREM Đến khi trở thành thanh niên, giai đoạn ngủ NREM chiếm 75% và REM chiếm 25% Tỷ lệ này thường sẽ không thay đổi nữa và ở người lớn tuổi, thời gian ngủ giảm là do giảm cả độ dài REM lẫn NREM [2].
1.1.2.1 Giấc ngủ không có vận động nhãn cầu nhanh (non-Rapid Eye
Movement sleep –NREM) Ở người bình thường, giấc ngủ NREM là trạng thái yên tĩnh, nhịp tim thường giảm 5 - 10 nhịp mỗi phút so với lúc thức và rất đều Nhịp thở và huyết áp cũng có xu hướng giảm Giấc ngủ NREM chiếm 75% thời gian ngủ và được chia làm 4 giai đoạn:
Giai đoạn 1: chiếm 5%, chuyển tiếp từ thức sang ngủ.
Giai đoạn 2: chiếm 45%, bắt đầu giấc ngủ, ngủ chưa sâu, người ngủ yên tĩnh, không thấy cử động.
Giai đoạn 3: chiếm 12%, ngủ sâu.
Giai đoạn 4: chiếm 13%, ngủ rất sâu.
Hiện nay, giai đoạn 3 và 4 được gộp lại, gọi chung là giấc ngủ sâu Đây là thời điểm con người rất khó bị đánh thức Tuy nhiên, người ngủ khi thức giấc lúc này sẽ bị rối loạn định hướng, ý nghĩ rất lộn xộn, sau đó thì họ quên mất mọi việc xảy ra lúc bấy giờ Các rối loạn xảy ra trong giai đoạn này có thể là kết quả của các vấn đề đặc biệt bao gồm đái dầm, ác mộng và hoảng hốt trong giấc ngủ [1].
1.1.2.2 Giấc ngủ có vận động nhãn cầu nhanh (Rapid Eye
Khác biệt với giấc ngủ NREM, giấc ngủ REM có đặc điểm là các hoạt động của não và các chức năng sinh lý hiện diện giống như lúc đang thức tỉnh Giai đoạn này chiếm 25% thời gian ngủ và thường xuất hiện sau 70 – 90 phút kể từ khi bắt đầu giấc ngủ, kéo dài khoảng 10 phút Trong giai đoạn này, trương lực cơ toàn thân sẽ giảm hơn so với lúc thức, ở đàn ông thường có biểu hiện cương cứng dương vật và dòng máu qua các cơ quan bao gồm cả não đều giảm nhẹ Ngoài ra, não tăng sử dụng oxy, nồng độ CO2 giảm đi do thông khí tăng, thân nhiệt dao động Thay đổi thân nhiệt trong giấc ngủ REM là do rối loạn các quá trình cân bằng nhiệt như rùng mình và ra mồ hôi.
Có từ 4 đến 6 chu kỳ giấc ngủ không vận động nhãn cầu nhanh luân phiên với giấc ngủ có vận động nhãn cầu nhanh xảy ra trong suốt đêm Càng về khuya, giai đoạn ngủ có vận động nhãn cầu nhanh càng trở nên dài hơn [1].
1.1.3 Ý nghĩa và chức năng sinh lý của giấc ngủ
Bằng nhiều phương pháp khác nhau, người ta đã kết luận rằng các chức năng của cơ thể đều giảm đi trong giấc ngủ sâu Nhờ giấc ngủ NREM mà cơ thể sau khi trải qua hoạt động thể lực nặng nề sẽ có cơ hội điều hòa lại trong quá trình chuyển hóa [1] Thêm vào đó, giấc ngủ cũng đóng vai trò bảo vệ các tế bào thần kinh trong não bộ khỏi bị suy kiệt vì hoạt động kéo dài [5] Ngoài ra, một số ý kiến còn cho rằng pha ngủ nhanh có rất nhiều tác dụng như: tẩy sạch khỏi tế bào thần kinh những chất chuyển hóa bị tích tụ trong các giai đoạn khác của chu kỳ thức – ngủ; giúp cho giai đoạn phục hồi hoạt động của tế bào thần kinh có thể diễn ra; bảo đảm việc loại trừ các thông tin không cần thiết mà não bộ đã thu vào, do đó tạo điều kiện cho quá trình tiếp nhận thông tin mới được dễ dàng hơn; bảo đảm cho quá trình chuyển đổi trí nhớ ngắn hạn thành trí nhớ dài hạn; bảo đảm cho cơ chế của giấc ngủ mơ, nhằm giải quyết những “phản ứng cảm xúc đang diễn ra” và sự thích nghi tối ưu của cơ thể đối với những điều kiện xung quanh trong thời gian ngủ [6].
Nhu cầu ngủ của con người không giống nhau Một số người chỉ cần ngủ ít hơn 6 giờ mỗi đêm, trong khi một số người khác lại cần ngủ hơn 9 giờ mỗi đêm. Những người ngủ dài thường có nhiều giai đoạn ngủ REM với thời gian của mỗi giai đoạn này dài hơn so với người ngủ ngắn.
Giấc ngủ tăng lên khi người ta lao động nặng, tập thể dục, bị ốm, có thai, bị căng thẳng tâm lý và phải hoạt động trí óc nhiều Giai đoạn ngủ REM tăng khi hiện diện những kích thích tâm lý như khó khăn trong học tập, việc thi cử, sử dụng các thuốc gây giảm tiết các chất dẫn truyền thần kinh trong não [1].
1.2.1 Khái niệm về mất ngủ
Hiện nay, theo Hệ thống chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần phiên bản thứ 5 (2013) của Hiệp hội tâm thần Mỹ, mất ngủ là ngủ ít hơn so với bình thường từ 2 giờ trở lên Ví dụ, một người 35 tuổi trước đây mỗi ngày ngủ 8 giờ nhưng 2 tháng gần đây, anh ta hay chị ta chỉ còn ngủ được khoảng 6 giờ mỗi ngày [1].
Theo phân loại của DSM-5, mất ngủ là một trong mười rối loạn thức – ngủ bao gồm: [11]
2) Rối loạn ngủ li bì
4) Rối loạn giấc ngủ có liên quan đến hô hấp
5) Rối loạn ngủ – thức liên quan đến nhịp sinh học
6) Rối loạn kích thích ngủ không cử động nhãn cầu nhanh
8) Rối loạn hành vi trong giấc ngủ có cử động nhãn cầu nhanh
9) Hội chứng “Chân không yên”
10) Rối loạn giấc ngủ vì thuốc hay hóa chất.
Mất ngủ đặc trưng bởi sự khó ngủ và khó hoặc không duy trì được giấc ngủ
[7] Tình trạng này được gọi là mạn tính khi một người có chứng mất ngủ ít nhất ba đêm một tuần trong một tháng hoặc lâu hơn 3 tháng Thường thì chúng ta chỉ bắt đầu chú ý đến mất ngủ khi những triệu chứng do nó gây ra đã ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày.
Mất ngủ cấp tính thường xảy ra sau một biến cố đã được người bệnh ghi nhận lại Đó có thể là những khó khăn trong cuộc sống như sự chia ly với người thân, kết quả không theo ý muốn trong công việc cũng như tình cảm Loại mất ngủ này có thể kéo dài từ một đêm đến vài tuần và sự mệt mỏi xuất hiện có thể gây nhầm lẫn là do tâm trạng gây ra.
Theo phân loại DSM-IV-TR [12] của Hiệp hội Tâm thần Mỹ, mất ngủ có hai loại: mất ngủ nguyên phát và mất ngủ thứ phát. a) Mất ngủ nguyên phát là một người đang có vấn đề về giấc ngủ mà không trực tiếp liên hệ với bất kỳ tình trạng sức khỏe khác. b) Mất ngủ thứ phát là một người đang có vấn đề về giấc ngủ trực tiếp liên hệ với các tình trạng sức khỏe khác chẳng hạn như bệnh lý (hen suyễn, viêm khớp, ung thư hoặc trào ngược dạ dày – thực quản), những cơn đau mạn tính, do sử dụng các loại chất kích thích.