1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều trị phẫu thuật ung thư tuyến thượng thận tại bệnh viên chợ rẫy

34 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 449,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả phân tích giá trị củachụp cắt lớp vi tính trong chẩn đoán bệnh lý tuyến thượng thận.[13] - Năm 1996, tác giả Đỗ Trung Quân báo cáo 05 TH ung thư tuyến thượng thận, trong đó có 04

Trang 1

BỘ Y TẾĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-BÁO CÁO NGHIỆM THU

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU CẤP CƠ SỞ

TÊN ĐỀ TÀI

ĐIỀU T PH U THU T UNG TH TU N TH NG TH N

T I BỆNH VIỆN CH

THÁI KINH LUÂN

TP Hồ Chí Minh - 2018

Trang 2

Mục lục

ĐẶT VẤN ĐỀ 2

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU BƯỚU TUYẾN THƯỢNG THẬN TẠI VIỆT NAM ……… 4

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BƯỚU TUYẾN THƯỢNG THẬN TRÊN THẾ GIỚI 7

1.3 CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ BƯỚU TUYẾN THƯỢNG THẬN 10

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13

2.1 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 13

2.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 15

2.3 CỠ MẪU 15

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ 17

3.1 Tuổi 17

3.2 Kích thước bướu 18

3.3 Giá trị nội tiết tố 19

3.4 Kết quả giải phẫu bệnh 19

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 21

4.1 Tỷ lệ ung thư TTT 21

4.2 Chẩn đoán: 21

4.3 Điều trị phẫu thuật……….……….…… 25

KẾT LUẬN 26

Trang 3

Phẫu thuật cắt TTT là phương pháp điều trị ngoại khoa duy nhất đối với những

TH ung thư TTT giai đoạn khu trú Do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằmmục tiêu phân tích các đặc điểm bệnh lý ung thư TTT được điều trị phẫu thuật tại Bệnhviện Chợ rẫy

Phẫu thuật cắt bỏ TTT ngày càng hoàn thiện và an toàn hơn Tỉ lệ tai biến, biếnchứng do phẫu thuật cắt TTT ngày càng giảm đi, nhất là trong thời kỳ các kỹ thuật nộisoi phát triển mạnh mẽ Phẫu thuật nội soi trong những TH bướu có kích thước nhỏ, tỉ

lệ tai biến biến, chứng rất thấp Tỉ lệ tai biến, biến chứng nặng đối với phẫu thuật nộisoi là 1,8%.[9]

Trước năm 1992, phẫu thuật bướu TTT là phẫu thuật mở, từ sau năm 1992, cónhững báo cáo về phẫu thuật TTT qua nội soi trong y văn thế giới [32] Ngày nay,phẫu thuật nội soi cắt TTT đã trở thành lựa chọn tiêu chuẩn[11, 32]

Trang 4

Phẫu thuật cắt TTT là phương pháp điều trị ngoại khoa duy nhất đối với những

TH ung thư TTT giai đoạn khu trú Do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằmmục tiêu phân tích các đặc điểm bệnh lý ung thư TTT được điều trị phẫu thuật tại Bệnhviện Chợ rẫy

Trang 5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU BƯỚU TUYẾN THƯỢNG THẬN TẠI VIỆT

NAM

- Năm 1975, tác giả Nguyễn Bửu Triều và Lê Ngọc Từ báo cáo 1 TH bệnh nhân

nữ có hội chứng Cushing do bướu vỏ tuyến thượng thận được được điều trịthành công bằng phẫu thuật.[20]

- Năm 1976, tác giả Nguyễn Như Bằng báo cáo 03 TH bướu tuỷ thượng thận tại

Bệnh viện Việt Đức từ 1968 đến 1971, các khối bướu có đường kính 5cm, 5,5

cm và 6 cm, cả 03 TH đều tăng huyết áp trước phẫu thuật.[2]

- Năm 1990, tác giả Nguyễn Đình Hối báo cáo 01 TH pheochromocytoma ngoài

thượng thận, đường kính bướu 7 cm.[6]

- Năm 1995, tác giả Nguyễn Bửu Triều và Lê Ngọc Từ báo cáo 01 TH bệnh nhân

nữ 21 tuổi, biểu hiện nam hoá do bướu vỏ tuyến thượng thận gây ra hội chứngApert Gallais.[21]

- Năm 1996, tác giả Lê Ngọc Từ tổng kết 23 TH phẫu thuật cắt bướu tuyến thượng

thận tại Bệnh viện Việt Đức trong ba năm 1993 (03 TH), 1994 (08 TH) và 1995(12 TH).[22]

- Năm 1996, tác giả Đỗ Trung Quân báo cáo 36 TH bệnh lý tuyến thượng thận

được chẩn đoán và điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai Tác giả phân tích giá trị củachụp cắt lớp vi tính trong chẩn đoán bệnh lý tuyến thượng thận.[13]

- Năm 1996, tác giả Đỗ Trung Quân báo cáo 05 TH ung thư tuyến thượng thận,

trong đó có 04 TH đều có di căn xa, chỉ có 01 TH được phẫu thuật cắt bướu, kích

Trang 6

bướu 19,5 cm, bệnh nhân tử vong sau 03 tháng phẫu thuật do di căn phổi vàgan.[12]

- Năm 1999, tác giả Ngô Xuân Thái và Trần Văn Sáng báo cáo 26 TH phẫu thuật

cắt bướu tuyến thượng thận qua đường mổ bụng trước, thực hiện tại Bệnh việnChợ Rẫy trong 06 năm 1993-1998 Tác giả nhấn mạnh ưu điểm của đường mổBevan cải biên so với đường mổ ngang và đường mổ dọc trong phẫu thuật cắtbướu tuyến thượng thận.[18]

- Năm 2001, tác giả Vũ Đức Hợp và Vũ Lê Chuyên báo cáo 85 TH phẫu thuật cắt

bướu TTT tại Bệnh viện Bình Dân từ năm 1992-1999 Tác giả sử dụng 2 đường

mổ chủ yếu là đường mổ giữa bụng và đường mổ hông lưng, phần lớn bướu cókích thước lớn hơn 4cm và tỉ lệ ung thư TTT trong 85 TH này chiếm đến38,7%.[7]

- Năm 2001, tác giả Hoàng Minh Hùng và Trần Ngọc Sinh báo cáo 02 TH phẫu

thuật cắt bướu tuỷ thượng thận Hai TH này đều tăng huyết áp trong quá trìnhcắt bướu, sau khi cắt bướu huyết áp hạ thấp, trong đó có 01 TH là bướu sắc bàotuỷ thượng thận ác tính.[8]

- Năm 2001, tác giả Trần Lê Linh Phương báo cáo 01 TH nhiễm nấm Aspergillus

ở tuyến thượng thận trên một bệnh nhân không bị suy giảm miễn dịch.[11]

- Năm 2003, tác giả Nguyễn Thị Khen báo cáo 53 TH bệnh lý tuyến thượng thận

ở trẻ em, từ 1993-2003 tại Bệnh viện Nhi Đồng I, có 04 TH bướu ác tính.[9]

- Năm 2003 tác giả Vũ Lê Chuyên và Lê Quang Nghĩa báo cáo 18 TH cắt bướu

tuyến thượng thận qua nội soi ổ bụng trong hai năm 2001-2002 tại Bệnh việnBình Dân Tác giả nhấn mạnh phẫu thuật cắt bướu TTT qua nội soi ổ bụng có

Trang 7

thể thực hiện an toàn với điều trị trang thiết bị đầy đủ và phẫu thuật viên đượchuấn luyện tốt.[3]

- Năm 2004, tác giả Ngô Xuân Thái báo cáo 109 TH phẫu thuật bướu tuyến thượng

thận trong 10 năm, từ 1993 đến 2002 tại Bệnh viện Chợ Rẫy, thực hiện chủ yếuqua 2 đường mổ: đường mổ thắt lưng ngoài phúc mạc đối với những bướu nhỏlành tính và đường mổ bụng trước ngoài phúc mạc đối với bướu to, khả năng áctính cao hoặc bướu có tiên lượng phẫu thuật khó khăn.[14]

- Năm 2004, tác giả Nguyễn Phúc Cẩm Hoàng báo cáo 01 TH đầu tiên phẫu thuật

nội soi sau phúc mạc cắt bướu tuyến thượng thận, sử dụng 05 trocars.[5]

- Năm 2005, tác giả Ngô Xuân Thái, Trần Ngọc Sinh và Vũ Lê Chuyên báo cáo

12 TH phẫu thuật cắt bướu tuyến thượng thận qua nội soi ổ bụng tại Bệnh việnChợ Rẫy.[15]

- Năm 2006, tác giả Nguyễn Đức Tiến và Trần Bình Giang báo cáo kinh nghiệm

phẫu thuật qua 100 TH phẫu thuật nội soi qua phúc mạc cắt bướu tuyến thượngthận lành tính.[19]

- Năm 2007, tác giả Ngô Xuân Thái, Trần Ngọc Sinh và Vũ Lê Chuyên báo cáo

kết quả 53 TH trong 2 năm thực hiện phẫu thuật nội soi sau phúc mạc cắt bướutuyến thượng thận tại Bệnh viện Chợ Rẫy.[16]

- Năm 2009, tác giả Tiền Thanh Liêm và Hứa Thị Ngọc Hà mô tả đặc điểm giải

phẫu bệnh của 87 TH bướu tuyến thượng thận.[10]

- Năm 2009, tác giả Ngô Xuân Thái báo cáo kết quả điều trị phẫu thuật 251 trường

hợp cắt bướu tuyến thượng thận trong một nghiên cứu đa trung tâm.Trong mẫunghiên cứu này có 31 TH bướu TTT phát hiện tình cờ, tỉ lệ 12,4% (31/251).[17]

Trang 8

- Năm 2010, tác giả Phạm Minh Anh mô tả đặc điểm hình thái học của bướu tuyến

thượng thận theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới.[1]

- Năm 2012, tác giả Nguyễn Thị Bích Đào báo cáo đặc điểm lâm sàng của 72 TH

bướu sắc bào tủy thượng thận.[4]

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BƯỚU TUYẾN THƯỢNG THẬN TRÊN

THẾ GIỚI

Thuật ngữ “bướu tuyến thượng thận (TTT) phát hiện tình cờ” (adrenal

incidentaloma) được định nghĩa là bướu TTT được phát hiện một cách ngẫu nhiên khibệnh nhân được làm các xét nghiệm hình ảnh học trong những trường hợp (TH) bệnhnhân có bệnh lý khác Từ “adrenal incidentaloma” được Geelhoed và Druy sử dụnglần đầu tiên năm 1982 để mô tả những bướu TTT không có biểu hiện lâm sàng nghingờ hoặc không biết trước khi làm các xét nghiệm hình ảnh học.[10]

Bướu TTT có thể có tăng nội tiết tố hoăc không tăng tiết nội tiết tố, lành tínhhoặc ác tính

Tần suất bướu TTT phát hiện tình cờ qua tử thiết, xét nghiệm hình ảnh họckhoảng 5%, tần suất này tăng theo tuổi, khoảng 1% dưới 30 tuổi, lên đến 7-10% khitrên 70 tuổi[33] Trong khi đó tác giả Tang (2013) ghi nhận tuần suất này tăng lênđến 11,3%.[36]

Nguy cơ ung thư TTT tỉ lệ thuận theo kích thước bướu, tỉ lệ ung thư khoảng2% đối với bướu nhỏ hơn 4 cm, tăng lên đến khoảng 25% đối với bướu lơn hơn 6cm.[13, 14, 35]

Diễn tiến tự nhiên: đối với bướu lớn hơn 3 cm, khoảng 20% tăng kích thướcsau 3 đến 4 năm theo dõi (Nawar 2005)[28] Bướu không chức năng có 20% tiến triểnthành bướu có chức năng Bướu kích thước lớn hơn 3 cm thì nguy cơ chuyển thành

Trang 9

bướu có chức năng cao hơn những bướu có kích thước nhỏ hơn Khoảng 5% đến 25%tăng kích thước hơn 1 cm, 3% giảm kích thước trong thời gian theo dõi (Barzon 1999

- Viện y tế Quốc gia của Mỹ (2002) đồng thuận phẫu thuật cắt bướu TTT khi bướu

có chức năng hoặc khi bướu có kích thước ≥ 6 cm, phẫu thuật cắt bướu TTThoặc theo dõi khi bướu có kích thước từ 4 cm đến 6 cm, theo dõi kích thước vànội tiết tố TTT khi bướu nhỏ hơn 4 cm.[29]

- Những tác giả Staren (1995), Kasperlik (1997), Lumachi (2007) đề nghị phẫuthuật cắt bướu khi kích thước ≥ 3 cm[16, 22, 34] và theo dõi đặc biệt đối vớinhững bướu kích thước từ 3 cm đến 4 cm.[18, 22]

- Franco (2007, Ý) đưa ra đề nghị cần xem xét sinh thiết kim nhỏ kết hợp với hìnhảnh học cộng hưởng từ cho những bướu có kích thước trên 3 cm[22]

- Hội các phẫu thuật viên Nội Tiết Mỹ và hội các nhà lâm sàng Nội Tiết Mỹ (2009)đồng thuận phẫu thuật cắt bướu khi bướu có chức năng hoặc khi có kích thước

≥ 4 cm, theo dõi kích thước và nội tiết tố TTT khi bướu nhỏ hơn 4 cm và không

có chức năng.[38]

Trang 10

- Grogan (2010) (81TH): tỉ lệ ung thư TTT đối với bướu < 4 cm là 2%, bướu từ 4

cm đến 6 cm là 4% và bướu ≥ 6 cm là 28,6%, Grogan đề nghị cắt bướu TTTkhi kích thước > 3cm ở bệnh nhân trẻ, nhỏ hơn 50 tuổi, đối với bệnh nhân lớntuổi, trên 50 tuổi, nguy cơ phẫu thuật cao thì cắt bướu khi kích thước bướu lớnhơn 5 cm.[13]

- Wang (2012, Mỹ) so sánh chi phí phẫu thuật cắt bướu TTT qua nội soi và mổmở: chi phí tăng theo tuổi ở cả 2 nhóm phẫu thuật, chi phí thấp nhất đối vớinhững TH nhỏ hơn 40 tuổi, cao nhất đối với những TH trên 70 tuổi.[37]

- Iacobone (2012, Ý) nghiên cứu 35 TH hội chứng Cushing dưới lâm sàng do bướuTTT tăng tiết cortisol, 20 TH được phẫu thuật cắt bướu TTT, 15 TH còn lại đượctheo dõi Tác giả kết luận rằng nhóm được phẫu thuật cắt bướu TTT cải thiệnyếu tố tim mạch, đường huyết, chất lượng cuộc sống tốt hơn nhóm được theodõi.[17]

- Eichhorn (2012, Mỹ) phân tích tổng hợp 1980 TH mổ nội soi cắt bướu TTT, tỉ lệbiến chứng nặng của phẫu thuật này là: 1,8%.[9]

- Muth (2013) nghiên cứu khảo sát chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khoẻ

145 TH bướu TTT phát hiện tình cờ, không tăng tiết nội tiết tố, không có dấuhiệu nghi ngờ ác tính, thời gian theo dõi 2 năm: 77% các TH lo lắng về bệnh.[27]

- Musella (2013, nghiên cứu phân tích đa trung tâm ở Ý) phân tích 282 TH phẫuthuật cắt bướu TTT tình cờ: không có TH nào tử vong, biến chứng chung củaphẫu thuật 7,8%.[26]

- Morelli (2014) theo dõi 206 TH (nghiên cứu đa trung tâm ở Ý) bướu TTT pháthiện tình cờ: bướu > 2,4 cm tăng nguy cơ phát triển thành hội chứng Cushingdưới lâm sàng (độ nhạy 73,3%, độ đặc hiệu 60,5%, p= 0,014).[25]

Trang 11

- Di Dalmazi (2014) phân tích 198 TH Bướu TTT phát hiện tình cờ, nguy cơ timmạch xảy ra ở nhóm TH không tăng tiết nội tiết tố cao hơn ở nhóm TH bướu cótăng tiết cortisol gây hội chứng Cushing dưới lâm sàng (6,7% so với 16,7%;p=0,04).[8]

- Michal Pedziwiatr (2014) 132 TH bướu TTT phát hiện tình cờ không chức năngđược phẫu thuật nội soi cắt bướu TTT, tỉ lệ biến chứng của phẫu thuật ở những

TH bướu có kích thước < 4 cm là 3,6%, thấp hơn những TH bướu có kích thước

≥ 4cm là 5,2%.[31]

Tóm tắt tổng quan y văn thế giới:

- Các tác giả đều đồng ý phẫu thuật cắt bướu TTT đối với bướu có tăng tiết nộitiết tố hoặc bướu có dấu hiệu nghi ngờ ác tính dựa trên hình ảnh học Ngược lại,đối với bướu TTT không có tăng tiết nội tiết tố, tuyệt đại đa số tác giả đồng ý chỉđịnh phẫu thuật cắt bướu TTT khi kích thước bướu ≥ 4 cm, tuy nhiên một số tácgiả khác lại chọn phẫu thuật cắt bướu TTT khi kích thước bướu ≥ 3 cm

- Những TH bướu TTT phát hiện tình cờ không tăng tiết nội tiết tố và kích thước

từ 3 cm đến 4 cm vẫn còn nhiều thảo luận về chỉ định điều trị bằng phẫu thuật

- Bướu không tăng tiết nội tiết tố, kích thước < 4 cm vẫn có một tỉ lệ ung thư nhấtđịnh (ung thư vỏ hoặc tủy TTT, tỉ lệ khoảng 2%)

- Tỉ lệ tai biến, biến chứng nặng của phẫu thuật nội soi cắt bướu TTT là 1,8%

- Diễn tiến tự nhiên: đối với bướu lớn hơn 3 cm, khoảng 20% tăng kích thước sau

3 đến 4 năm theo dõi Bướu không chức năng có 20% tiến triển thành bướu cóchức năng

1.3 CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ BƯỚU TUYẾN THƯỢNG THẬN

Bác sĩ lâm sàng cần phải trả lời hai câu hỏi khi gặp TH bệnh nhân có bướu

Trang 12

- Bướu TTT có chức năng hay không có chức năng? Bướu có chức năng là bướu

có tăng tiết nội tiết tố, ngược lại bướu không có chức năng là bướu không cótăng tiết nội tiết tố

- Bướu TTT có khả năng là bướu lành tính hay ác tính? Dựa trên hình ảnh học, chụpcắt lớp vi tính hoặc cộng hưởng từ nếu bướu có giới hạn bờ không rõ, mật độkhông đồng nhất, tăng bắt thuốc cản quang trong lòng bướu, đây là những THnghi ngờ ung thư

- Xét nghiệm nội tiết tố, định lượng: catecholamines máu, catecholamines trongnước tiểu 24 giờ, aldosterone máu, cortisol máu, cortisol trong nước tiểu 24 giờ,dehydroepiandrosterone sulfate (DHEA-S), ACTH máu, renin máu.[4, 35, 38]

- Hội các phẫu thuật viên Nội Tiết Mỹ và Hội các nhà lâm sàng Nội Tiết Mỹ(2009) đồng thuận phẫu thuật cắt bướu khi bướu có chức năng hoặc khi bướu cókích thước ≥ 4 cm, theo dõi kích thước và nội tiết tố TTT khi bướu nhỏ hơn 4

cm và không có chức năng.[38]

- Bướu có kích thước < 4 cm và hình ảnh học gợi ý bướu ác tính: theo dõi định

kỳ Theo dõi đặc điểm hình ảnh học lúc 3 tháng, 6 tháng và mỗi năm trong 2 nămđầu, kiểm tra nội tiết tố tại thời điểm chẩn đoán, sau đó thực hiện mỗi năm trong

5 năm Trong thời gian theo dõi nếu bướu tăng kích thước lớn hơn 1 cm hoặcbướu trở thành bướu có chức năng, những TH này nên phẫu thuật cắt bướu Hiệntại chưa có khuyến cáo rõ ràng cho những TH bướu ổn định về kích thước vàchức năng sau 5 năm theo dõi.[4, 38]

Chỉ định phẫu thuật bướu TTT:[4, 38]

Trang 13

- Bướu TTT có chức năng (tăng tiết aldosterone, tăng tiết cortisol, tăng tiếtandrogen, bướu sắc bào tủy TTT).

- Bướu TTT nghi ngờ ác tính dựa trên hình ảnh học (chụp cắt lớp vi tính, chụpcộng hưởng từ)

Trang 14

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu mô tả hàng loạt trường hợp (TH)

Các TH này bao gồm: ung thư TTT nguyên phát, ung thư TTT thứ phát di căn

từ các cơ quan khác Phân tích đăc điểm: giới, tuổi, kích thước bướu, giai đoạn ung thư,giá trị nội tiết tố, giải phẫu bệnh, phương pháp phẫu thuật, biến chứng phẫu thuật:

- Giá trị xét nghiệm nội tiết tố: phân tích các kết quả nội tiết tố bướu TTT:aldosterone máu, cortisol máu, cortisol nước tiểu 24 giờ, catecholamine máu,catecholamine nước tiểu 24 giờ, dehydroepiandrosterone sulphate (DHEA-S)máu

- Kích thước bướu: chúng tôi ghi nhận kích thước lớn nhất của bướu được đo quasiêu âm, chụp cắt lớp điện toán hoặc chụp cộng hưởng từ

- Giai đoạn ung thư vỏ TTT sau phẫu thuật: đánh giá giai đoạn ung thư sau khiphẫu thuật cắt TTT và sau khi có kết quả giải phẫu bệnh Sử dụng hệ thống phângiai đoạn ung thư vỏ TTT theo hệ thống TNM và theo Mạng lưới Châu Âucho việc nghiên cứu các bướu tuyến thượng thận (ENSAT) năm 2008(www.ensat.org) (bảng 7)

- Phương pháp phẫu thuật: mô tả các phương pháp phẫu thuật cắt TTT

- Biến chứng phẫu thuật: mô tả các biến chứng trong lúc phẫu thuật

Trang 15

Bảng 2.1: Các biến số nghiên cứu

Số TT Tên biến số Định nghĩa các biến số

1 Tuổi Tuổi bệnh nhân tại thời điểm phẫu thuật

2 Giới tính Giới tính BN nghiên cứu, biến nhị giá (nam, nữ)

3 Bên bướu Bên có bướu TTT (trái, phải, hai bên)

4 Kích thước bướu Kích thước của bướu TTT đo được qua chụp cắt lớp

vi tính hoặc chụp cộng hưởng từ Đơn vị tính: mm

5 Giá trị nội tiết tố

TTT

Định lượng giá trị các xét nghiệm: catecholaminemáu (pg/mL), catecholamines trong nước tiểu 24 giờ(microgram/24giờ), cortisol máu (ng/mL), cortisoltrong nước tiểu 24 giờ (microgram/24giờ),

aldosterone máu (ng/mL), dehydroepiandrosteronesulfate (DHEA-S) (microgram/dL), ACTH máu(pg/mL), renin máu (mcrIU/mL), kali máu (mmol/L)

6 Lượng máu mất

Thể tích máu mất đi trong thời gian mổ, được tínhbằng tổng thể tích máu hút ra lúc mổ và máu thấmvào băng gạc trong khi mổ Đơn vị tính: ml

7 Lượng máu phải

truyền khi mổ

Thể tích máu được truyền vào BN trong thời gian

mổ Đơn vị tính: ml

Trang 16

8 Thời gian mổ Khoảng thời gian tính từ lúc phẫu thuật viên bắt đầu

rạch da đến khi khâu da xong Đơn vị tính: phút

viện hậu phẫu

Khoảng thời gian tính từ ngày mổ đến ngày cho bệnhnhân xuất viện Đơn vị tính: ngày

11 Giải phẫu bệnh lý Kết quả giải phẫu bệnh lý bướu TTT sau mổ

2.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Tất cả các TH ung thư TTT được điều trị phẫu thuật tại khoa Ngoại Tiết Niệu,Bệnh viện Chợ Rẫy từ 01/01/2008 đến 30/06/2014

Các TH này bao gồm: ung thư TTT nguyên phát, ung thư TTT thứ phát di căn

Trang 17

trong nước tiểu 24 giờ, dehydroepiandrosterone sulfate (DHEA-S), ACTH,renin máu, Kali máu.

- Xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh để đánh giá vị trí, kích thước bướu: siêu âmbụng, chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ

Ngày đăng: 09/05/2021, 09:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Trung Quân (1996) "Nhân 5 trường hợp ung thư thượng thận". Tạp chí Nội khoa, 27–30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân 5 trường hợp ung thư thượng thận
2. Ngô Xuân Thái, Trần Ngọc Sinh, Vũ Lê Chuyên (2009) "Kết quả điều trị phẫu thuật 251 trường hợp cắt bướu tuyến thượng thận trong một nghiên cứu đa trung tâm".Tạp chí Y học thực hành, 650 (3), 29-34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả điều trị phẫu thuật251 trường hợp cắt bướu tuyến thượng thận trong một nghiên cứu đa trung tâm
3. Ngô Xuân Thái, Trần Văn Sáng (1999) "Điều trị phẫu thuật 26 trường hợp bướu tuyến thượng thận qua đường mổ bụng trước". Tạp chí Y học thực hành, 372 (10), 17-21.TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều trị phẫu thuật 26 trường hợp bướutuyến thượng thận qua đường mổ bụng trước
4. Alexander Kutikov, Paul L. Crispen, Uzzo Robert G. (2012) Pathophysiology, Evaluation, and Medical Management of Adrenal Disorders. IN Wein, A. J. (Ed.) Campbell-Walsh Urology. 10 th ed. Elsevier Science, 1685-1736 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Campbell-Walsh Urology
5. Barzon L., Scaroni C., Sonino N., et al. (1999) "Risk factors and long-term follow- up of adrenal incidentalomas". J Clin Endocrinol Metab, 84 (2), 520-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Risk factors and long-term follow-up of adrenal incidentalomas
6. Christopher J. Kane (2013) Disorders of the Adrenal Glands. IN Jack W. McAninch, Tom F. Lue (Eds.) Smith &amp; Tanagho’s General Urology. The McGraw-Hill Companies, 498-513 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Smith & Tanagho’s General Urology
7. Cisco Robin M., Duh Quan-Yang (2013) General Principles of Adrenal Surgery. IN Andrea Valeri, Carlo Bergamini, Rocco Bellantone, Celestino Pio Lombardi (Eds.) Surgery of the Adrenal Gland. 1 st ed. Springer Milan, 87-93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Surgery of the Adrenal Gland
8. Di Dalmazi Guido, Vicennati Valentina, Garelli Silvia, et al. (2014) "Cardiovascular events and mortality in patients with adrenal incidentalomas that are either non- secreting or associated with intermediate phenotype or subclinical Cushing's syndrome: a 15-year retrospective study". The Lancet Diabetes &amp;Endocrinology, 2 (5), 396-405 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cardiovascularevents and mortality in patients with adrenal incidentalomas that are either non-secreting or associated with intermediate phenotype or subclinical Cushing'ssyndrome: a 15-year retrospective study
9. Eichhorn-Wharry L. I., Talpos G. B., Rubinfeld I. (2012) "Laparoscopic versus open adrenalectomy: another look at outcome using the Clavien classification system". Surgery, 152 (6), 1090-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Laparoscopic versus openadrenalectomy: another look at outcome using the Clavien classificationsystem
10. Geelhoed G. W., Druy E. M. (1982) "Management of the adrenal "incidentaloma"".Surgery, 92 (5), 866-74 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Management of the adrenal "incidentaloma
11. George K. Chow, Michael L. Blute (2012) Surgery of the Adrenal Glands. IN Alan J. Wein (Ed.) Campbell-Walsh Urology. 10 th ed. Elsevier Science, 1737-1752 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Campbell-Walsh Urology
12. Grasso E., Simone M. (2015) "Adrenal Schwannomas: Rare Tumor of the Retroperitoneum". Case Rep Surg, 2015, 547287 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Adrenal Schwannomas: Rare Tumor of theRetroperitoneum
13. Grogan R. H., Mitmaker E., Vriens M. R., et al. (2010) "Adrenal incidentaloma:does an adequate workup rule out surprises?". Surgery, 148 (2), 392-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Adrenal incidentaloma:does an adequate workup rule out surprises
14. Grumbach M. M., Biller B. M., Braunstein G. D., et al. (2003) "Management of the clinically inapparent adrenal mass ("incidentaloma")". Ann Intern Med, 138 (5), 424-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Management of theclinically inapparent adrenal mass (
15. Gulpinar M. T., Yildirim A., Gucluer B., et al. (2014) "Primary leiomyosarcoma of the adrenal gland: a case report with immunohistochemical study and literature review". Case Rep Urol, 2014, 489630 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Primary leiomyosarcoma ofthe adrenal gland: a case report with immunohistochemical study and literaturereview
16. Hubbard M. M., Husami T. W., Abumrad N. N. (1989) "Nonfunctioning adrenal tumors. Dilemmas in management". Am Surg, 55 (8), 516-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nonfunctioning adrenaltumors. Dilemmas in management
17. Iacobone M., Citton M., Viel G., et al. (2012) "Adrenalectomy may improve cardiovascular and metabolic impairment and ameliorate quality of life in patients with adrenal incidentalomas and subclinical Cushing's syndrome".Surgery, 152 (6), 991-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Adrenalectomy may improvecardiovascular and metabolic impairment and ameliorate quality of life inpatients with adrenal incidentalomas and subclinical Cushing's syndrome
18. Kasperlik-Zeluska A. A., Roslonowska E., Slowinska-Srzednicka J., et al. (1997)"Incidentally discovered adrenal mass (incidentaloma): investigation and management of 208 patients". Clin Endocrinol (Oxf), 46 (1), 29-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Incidentally discovered adrenal mass (incidentaloma): investigation andmanagement of 208 patients
19. Kerkhofs T. M., Verhoeven R. H., Van der Zwan J. M., et al. (2013) "Adrenocortical carcinoma: a population-based study on incidence and survival in the Netherlands since 1993". Eur J Cancer, 49 (11), 2579-86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Adrenocorticalcarcinoma: a population-based study on incidence and survival in theNetherlands since 1993
20. Libe R., Dall'Asta C., Barbetta L., et al. (2002) "Long-term follow-up study of patients with adrenal incidentalomas". Eur J Endocrinol, 147 (4), 489-94 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Long-term follow-up study ofpatients with adrenal incidentalomas

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w