Luận văn được hoàn thành với mục tiêu nhằm đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện việc thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, góp phần nâng cao hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở ở Việt Nam nói chung, trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi nói riêng trong giai đoạn hiện nay.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ ./ ./
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHẠM THỊ TƯỜNG VIỄN
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI CƠ SỞ
Ở TỈNH QUẢNG NGÃI
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 60 38 01 02
THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2018
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ THU HÀ
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia Địa điểm: Phòng họp … , Nhà - Hội trường bảo vệ luận văn thạc sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia Số:… - Đường……… - Quận……… -
TP………
Thời gian: vào hồi …… giờ …… tháng …… năm 2018
Có thể tìm hiểu luận văn tại Thư viện Học viện Hành chính Quốc gia hoặc trên trang Web Khoa Sau đại học, Học viện Hành chính Quốc gia
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Hòa giải ở cơ sở là truyền thống đạo lý, là nét văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, có vai trò to lớn, ý nghĩa quan trọng trong đời sống xã hội, góp phần tăng cường tình đoàn kết trong cộng đồng dân cư, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc, kịp thời ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật, góp phần bảo đảm ổn định, trật
tự, an toàn xã hội, giảm bớt các vụ việc phải chuyển đến Tòa án hoặc
cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết, tiết kiệm thời gian, kinh phí cho Nhà nước và Nhân dân, từ đó, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội
Điều 127 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam năm 1992 quy định "Ở cơ sở thành lập các tổ chức thích hợp
của nhân dân để giải quyết những vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật." Trên cơ sở hiến
định này, ngày 25/12/1998, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở (nay được thay thế bởi Luật Hòa giải ở cơ sở ngày 20/6/2013); ngày 18/10/1999 Chính phủ ban hành Nghị định số 160/1999/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở (nay được thay thế bởi Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/02/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều và biện pháp thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở); ngày 30/7/2014 Bộ trưởng
Bộ Tài chính và Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư liên tịch số 100/2014/TTLT-BTC-BTP quy định lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở; ngày 18/11/2014, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 01/2014/NQLT/CP-UBTƯMTTQVN về hướng dẫn phối hợp thực hiện một số quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở; Bộ luật tố tụng dân sự được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 25/11/2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016, tại Chương XXXIII của Bộ luật
này quy định “Thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa
án”
Đó là những văn bản pháp lý thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước đối với công tác hòa giải ở cơ sở, khẳng định vị
Trang 4trí, vai trò không thể thiếu của công tác này trong đời sống cộng đồng
Trong những năm qua thực hiện các văn bản pháp luật về hòa giải ở cơ sở, công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đã có nhiều chuyển biến tích cực Tuy nhiên, qua kết quả tổng kết công tác hòa giải ở cơ sở nhận thấy, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác hòa giải ở cơ sở vẫn còn một số hạn chế Những hạn chế trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến vị trí của công tác này trong xã hội - tính tự nguyện, sự nhiệt tình tham gia các hoạt động hòa giải ở cơ sở bị giảm sút
Từ những lý do nêu trên, qua khảo sát, tổng kết, đánh giá thực tiễn công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, học
viên chọn đề tài: "Thực hiện pháp luật về hòa giải cơ sở ở tỉnh
Quảng Ngãi” làm luận văn tốt nghiệp khóa học
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong điều kiện của bản thân, học viên đã tham khảo các tài liệu sau:
- Sổ tay Hòa giải ở cơ sở, Sở Tư pháp Quảng Ngãi, 2013; Báo cáo sơ kết 03 năm thực hiện Luật Hòa gải ở cơ sở từ năm 2014 đến năm 2016 của Bộ Tư pháp, năm 2017; Báo cáo tổng kết 13 năm thực hiện Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở, năm 2012; Báo cáo đánh giá tác động của Dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở,
năm 2012; “Hòa giải - nét đẹp văn hóa của người Việt”, PGS TS
Nguyễn Tất Viễn, Giám đốc - Tổng biên tập Nhà xuất bản Tư pháp,
Bộ Tư pháp, 2011; Thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở trên địa bàn
tỉnh An Giang hiện nay, Luận văn Thạc sỹ Luật học của Phan Thị
Hoàng Mai, 2011; Quản lý nhà nước về công tác hòa giải ở cơ sở,
Nguyễn Phương Thảo, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, năm 2012;
Sổ tay Pháp luật về hòa giải ở cơ sở, Bộ Tư pháp, năm 2014; Sách
“35 tình huống hòa giải thường gặp”, Sở Tư pháp, năm 2017
- Một số bài báo đề cập đến vị trí, vai trò và ý nghĩa của công
tác hòa giải ở cơ sở như: “Coi trọng công tác hòa giải ở cơ sở” của Lưu Thùy Dung trên Báo Nhân dân, số ra ngày 7/3/2010; “Một cách
làm tốt công tác hòa giải ở cơ sở” của Ngọc Hiển, báo Pháp luật Việt
Nam, ngày 27/9/2010; “Công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa
án trong Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015” của Thạc sỹ Phan Hồng
Nguyên trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật
Các công trình nghiên cứu trên có giá trị như là nguồn tài liệu
Trang 5để tác giả tham khảo thực hiện đề tài này Tuy nhiên hiện vẫn còn những nội dung mà các tài liệu trên chưa nghiên cứu hoặc nghiên cứu chưa đầy đủ như vấn đề về hỗ trợ kinh phí cho hòa giải viên; công tác phối hợp trong hoạt động hòa giải ở cơ sở; những khó khăn, bất cập trong việc việc thực hiện quy định về công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án…Vì vậy trên cơ sở các quy định pháp luật về hòa giải ở
cơ sở hiện hành cùng với việc tham khảo các tài liệu nêu trên, tác giả
sẽ tiếp tục nghiên cứu và phân tích kỹ hơn về tình hình thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích
Luận văn nhằm nghiên cứu, đánh giá quá trình tổ chức thực hiện pháp luật về hòa giải cơ sở thông qua hoạt động hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi Qua đó tìm ra những bất cập, khó khăn trong quá trình tổ chức thực hiện, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt động hòa giải ở cơ sở cũng như góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam để phù hợp với xu thế hiện nay
3.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Tiếp tục làm rõ những vấn đề có tính lý luận và pháp luật
về hòa giải ở cơ sở và thực tiễn thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ
sở
- Nghiên cứu việc thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, đánh giá chính xác, khoa học về thực trạng và phân tích nguyên nhân của thực trạng công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện việc thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, góp phần nâng cao hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở ở Việt Nam nói chung, trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi nói riêng trong giai đoạn hiện nay
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu tình hình tổ chức thực hiện pháp luật về hòa giải cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 6- Về không gian: Địa bàn tỉnh Quảng Ngãi với 14 huyện,
thành phố trong tỉnh
- Về thời gian: Nghiên cứu từ năm 2014 đến 2017
- Về nội dung: Trên cơ sở các quy định pháp luật về hòa giải
ở cơ sở, luận văn nghiên cứu phân tích, đánh giá một cách toàn diện
về thực trạng thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở tại địa phương Trên cơ sở đó phát hiện những điểm chưa hợp lý, những hạn chế, tồn tại vướng mắc để đề xuất phương hướng và những giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng thực hiện pháp luật về hòa giải ở
cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, góp phần phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội, góp phần bảo đảm
ổn định trật tự, an toàn xã hội của đất nước
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đồng thời sử dụng
tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học khác như: Phương pháp phân tích tài liệu; Phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp; Phương pháp so sánh, đánh giá; Phương pháp quan sát
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần cung cấp các luận cứ khoa học về thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở, bổ sung thêm vào các nghiên cứu lý luận, pháp lý về thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở
- Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn góp phần nâng cao nhận thức của các cấp chính quyền và các cơ quan chức năng trong việc tham mưu, tổ chức thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện pháp luật hòa giải ở
cơ sở
Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ
sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Chương 3: Phương hướng, giải pháp bảo đảm thực hiện
pháp luật về hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Trang 7Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ 1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở
1.1.1 Khái niệm thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở
1.1.1.1 Khái niệm thực hiện pháp luật
Thực hiện pháp luật được hiểu là quá trình hoạt động có mục đích làm cho các qui định của pháp luật trở thành những hoạt động thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật và được thực hiện trong thực tế cuộc sống
1.1.1.2 Khái niệm hòa giải ở cơ sở
Hòa giải ở cơ sở là hoạt động của một bên trung gian để hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên tranh chấp đạt được thoả thuận, tự nguyện giải quyết với nhau những việc vi phạm pháp luật
và tranh chấp nhỏ nhằm giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân; củng
cố, phát huy những tình cảm và đạo lý truyền thống tốt đẹp trong gia đình và cộng đồng dân cư; phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội ở thôn, tổ dân phố, bản, làng, xóm, ấp
và các cụm dân cư khác theo quy định của pháp luật
1.1.1.3 Khái niệm thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở
Thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy phạm pháp luật về hòa giải ở
cơ sở đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật nhằm góp phần giải quyết vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân; củng cố, phát huy những tình cảm và đạo lý truyền thống tốt đẹp trong gia đình và cộng đồng dân cư; giảm bớt một phần gánh nặng cho tòa án và các cơ quan hành chính nhà nước, góp phần tạo sự ổn định để phát triển kinh tế - xã hội; phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật; bảo đảm trật tự, an toàn xã hội
1.1.2 Đặc điểm thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở
1.1.2.1 Thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở không mang tính tố tụng
1.1.2.2 Thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở là sự kết hợp hài hòa giữa pháp luật và đạo đức xã hội
1.1.2.3 Thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở mang tính tự nguyện 1.1.2.4 Thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở chỉ giới hạn trong
Trang 8phạm vi và đối tượng nhất định
1.1.2.5 Thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở có trình tự, thủ tục đa dạng, linh hoạt
1.1.3 Vai trò thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở
1.1.3.1 Thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở góp phần củng cố, tăng cường truyền thống đoàn kết, xây dựng nếp sống văn minh
1.1.3.2 Thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở góp phần giải quyết, phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội
1.1.3.3 Thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở góp phần hạn chế khiếu kiện, tiết kiệm thời gian, công sức, tài sản của Nhà nước và nhân dân
1.1.3.4 Thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở góp phần tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật
1.2 Nội dung thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở
1.2.1 Tuyên truyền, phổ biến pháp luật
Ngày 04/11/2013, Bộ tư pháp ban hành Quyết định 2611/QĐ-BTP về ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Luật Hòa giải ở cơ sở, trong đó đã quy định các nội dung về tổ chức hội nghị tập huấn, quán triệt nội dung cơ bản của Luật Hòa giải ở cơ sở, các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành đối với các cán bộ, công chức tư pháp; báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh, cấp huyện; tuyên truyền viên pháp luật và hòa giải viên Biên soạn, phát hành các tài liệu phổ biến, giới thiệu Luật Hòa giải ở cơ sở
1.2.2 Chỉ đạo triển khai thực hiện
Luật Hòa giải ở cơ sở đã thể hiện sự phân cấp rõ ràng giữa Trung ương và địa phương, cơ chế phối hợp thực hiện nhiệm vụ quản
lý nhà nước giữa các ngành và các cấp trong công tác hòa giải ở cơ
sở Ngoài những nhiệm vụ của UBND các cấp quy định tại Điều 29 Luật Hòa giải ở cơ sở, Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/02/2014 của Chính phủ quy định thêm một số trách nhiệm của UBND các cấp trong quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước đối với công tác này
1.2.3 Xây dựng chương trình, tài liệu
Vụ PBGDPL, Bộ Tư pháp đã xây dựng chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ hòa giải ở cơ sở, chịu trách nhiệm biên soạn tài liệu mẫu; tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho đối tượng thực hiện công tác quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở cấp tỉnh
Trang 9Sở Tư pháp tổ chức và hướng dẫn cơ quan tư pháp cấp dưới
tổ chức biên soạn, phát hành tài liệu phù hợp với các đối tượng tại địa phương; bồi dưỡng nghiệp vụ thực hiện công tác quản lý nhà nước, nghiệp vụ hòa giải ở cơ sở tại địa phương theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp
Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận phối hợp với Bộ Tư pháp xây dựng tài liệu, tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho đối tượng thực hiện công tác quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở cấp tỉnh; chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức cấp dưới của mình phối hợp với cơ quan Tư pháp cùng cấp trong việc biên soạn tài liệu, tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ thực hiện quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở, nghiệp vụ hòa giải ở cơ sở tại địa phương
1.2.4 Xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ quản lý thực hiện hòa giải
ở cở sở
Trên cơ sở hướng dẫn của Bộ Tư pháp, UBND cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo củng cố, kiện toàn cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu quản lý công tác hòa giải ở địa phương; Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận phối hợp chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức cấp dưới của mình phối hợp với
cơ quan Tư pháp cùng cấp trong việc củng cố, kiện toàn tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động hòa giải ở cơ sở; khuyến khích các thành viên, hội viên tham gia tích cực vào hoạt động hòa giải ở cơ sở
1.2.5 Bảo đảm điều kiện thực hiện
Tại Điều 6 Luật Hòa giải ở cơ sở, Điều 12 Nghị định số 15/2014/NĐ-CP đã quy định nguyên tắc hỗ trợ kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở; Điều 14 Nghị định số 15/2014/NĐ-CP quy định điều kiện để hòa giải viên được hưởng thù lao theo vụ, việc; Về thủ tục thanh toán thù lao cho hòa giải viên được quy định tại Điều 15 Nghị định số 15/2014/NĐ-CP
Trường hợp hòa giải viên bị tai nạn hoặc rủi ro làm ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng…được xem xét hỗ trợ theo quy định tại Điều 16, Điều 17 Nghị định số 15/2014/NĐ-CP
1.2.6 Kiểm tra, đánh giá công tác thực hiện
Tại Điểm b, Khoản 2, Điều 29, Luật Hòa giải ở cơ sở quy định, UBND cấp xã có trách nhiệm chủ trì phối hợp với UBMTTQVN cùng cấp tổ chức kiểm tra, sơ kết, tổng kết và khen thưởng về hòa giải ở cơ sở Tại các Điều 5, Điều 6 Nghị quyết liên
Trang 10tịch số 01/2014/NQLT/CP-UBTƯMTTQVN ngày 18/11/2014 của Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã quy định về công tác kiểm tra, giám sát [17]:
Bên cạnh đó Nghị quyết liên tịch 01 cũng quy định rõ về công tác tổ chức sơ kết, tổng kết việc thực hiện pháp luật về hòa giải
ở cơ sở; tổ chức hội thi hòa giải viên giỏi; tổ chức khen thưởng về hòa giải ở cơ sở
1.3 Các chủ thể thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở
1.3.1 Hòa giải viên, tổ hòa giải
Việc bầu, công nhận hòa giải viên, tổ trưởng tổ hòa giải phải theo quy định pháp luật về hòa giải Chủ tịch UBND cấp xã ra quyết định công nhận hòa giải viên, tổ trưởng tổ hòa giải Quyết định công được gửi cho Ban thường trực UBMTTQVN cấp xã, Trưởng ban công tác Mặt trận, trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố, hòa giải viên và thông báo công khai ở thôn, tổ dân phố
1.3.2 Người được mời tham gia hòa giải
Trong quá trình hòa giải, nếu thấy cần thiết, hòa giải viên và một trong các bên khi được sự đồng ý của bên kia có thể mời người
có uy tín trong dòng họ, ở nơi sinh sống, nơi làm việc; người có trình
độ pháp lý, có kiến thức xã hội; già làng , chức sắc tôn giáo, người biết rõ vụ, việc; đại diện của cơ quan, tổ chức hoặc người có uy tín khác tham gia hòa giải (khoản 1 Điều 19 Luật Hòa giải ở cơ sở)
1.3.3 Các cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện việc quản lý về công tác hòa giải ở cơ sở
Chương IV Luật Hòa giải ở cơ sở quy định trách nhiệm quản
lý nhà nước về hòa giải cơ sở; trách nhiệm của UBND các cấp; trách nhiệm của UBMTTQVN các cấp và các tổ chức thành viên của Mặt trận
Luật quy định cụ thể về trách nhiệm quản lý nhà nước của Chính phủ, trách nhiệm trực tiếp của Bộ Tư pháp, trách nhiệm của UBND các cấp trong việc thực hiện công tác quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở tại Điều 28 và Điều 29 của Luật Các quy định này
đã thể hiện sự phân cấp cụ thể giữa cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương và địa phương trong quản lý nhà nước về công tác hòa giải ở cơ
Trang 11hòa giải, hòa giải viên; tổ chức bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ và
kỹ năng hòa giải ở cơ sở cho hòa giải viên; đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động hòa giải ở cơ sở
Cơ quan quản lý nhà nước về công tác hòa giải trên cơ sở các quy định pháp luật về hòa giải ở cơ sở phải ban hành văn bản chỉ đạo, hướng dẫn thành lập, kiện toàn tổ hòa giải và công nhận tổ trưởng tổ hòa giải, hòa giải viên Bên cạnh đó là thực hiện việc hỗ trợ tài liệu, phổ biến pháp luật phục vụ hoạt động hòa giải ở cơ sở theo quy định, hướng dẫn việc thực hiện các văn bản pháp luật về hòa giải ở cơ sở Tăng cường tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật cũng như kỹ năng, nghiệp vụ hòa giải cho hòa giải viên ở cơ sở
1.4.2 Các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật thuộc phạm
vi hòa giải được hòa giải kịp thời theo yêu cầu của các bên
Đây cũng là một trong những nguyên tắc của hòa giải ở cơ
sở Theo tiêu chí này thì các vụ, việc thuộc phạm vi hòa giải phải được tiếp nhận và thực hiện hòa giải theo quy định Trong đó phải thống kê tổng số vụ việc được thực hiện hòa giải trên tổng số vụ việc tiếp nhận thuộc phạm vị hòa giải với tỉ lệ như thế nào, cao hay thấp, đạt hay không đạt để đánh giá Đồng thời phải đánh giá cho được các
vụ việc hòa giải thành trong tổng số vụ việc được thực hiện hòa giải
1.4.3 Bố trí đủ kinh phí hỗ trợ công tác hòa giải ở cơ sở theo quy định
Theo quy định tại Điều 6 Luật Hòa giải ở cơ sở thì Nhà nước
hỗ trợ kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở Như vậy về cơ bản cấp
xã phải có trách nhiệm bố trí kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở Chính vì vậy, việc ngân sách cấp xã hằng năm có bố trí kinh phí bảo đảm cho công tác quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở hay không; việc hỗ trợ kinh phí hoạt động hòa giải cho các tổ hòa giải theo đúng định mức quy định hay không; hỗ trợ kinh phí hoạt động hòa giải cho các tổ hòa giải theo định mức thấp hơn định mức quy định hay không hay việc chi thù lao hòa giải viên theo vụ cũng được xem là tiêu chí đánh giá thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở
Trang 12Tiểu kết Chương 1
Chương 1 luận văn đã nghiên cứu cơ sở lý luận về thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở thông qua việc làm rõ các khái niệm, luận giải các nội dung về thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở, các chủ thể thực hiện pháp luật, đồng thời đưa ra các tiêu chí đánh giá việc thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở
Những nội dung lý luận về thực hiện pháp luật về hòa giải ở
cơ sở tại Chương 1 là cơ sở để phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi tại Chương 2
Trang 13Chương 2:
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI
Ở CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI
2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở tại Quảng Ngãi
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Quảng Ngãi nằm ở tọa độ 14 độ 32’40’ ’- 15 độ 25’ vĩ Bắc,
108 độ 06’-109độ04’ kinh Đông Phía Bắc giáp Quảng Nam, phía Nam giáp Bình Định, phía Tây Nam giáp tỉnh Kon Tum, phía Đông giáp biển Đông Chiều dài của tỉnh theo hướng Bắc-Nam khoảng 100km, chiều rộng theo hướng Đông –Tây khoảng hơn 50km Diện tích tự nhiên 5.135.20km2 Hiện Quảng Ngãi có 01 thành phố (thành phố Quảng Ngãi), 06 huyện đồng bằng, 06 huyện miền núi và 01 huyện đảo Quảng Ngãi có địa hình tương đối phức tạp với các dạng địa hình đồi núi, đồng bằng ven biển
Những đặc điểm này ảnh hưởng không nhỏ đến tính cách người dân Quảng Ngãi Vì vậy việc tiếp cận đối tượng này để thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật cũng như tổ chức hòa
giải cũng cần phải chú ý tới những đặc điểm đó
2.1.2 Điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội
Theo thống kê, dân số Quảng Ngãi đến năm 2015 là 1.246.165 người; trên địa bàn tỉnh có 17 dân tộc anh em cùng sinh sống, là tỉnh không có nhiều tôn giáo Tình hình an ninh chính trị, trật
tự an toàn xã hội ở tỉnh khá ổn định, Về điều kiện kinh tế, hiện Quảng Ngãi có Khu kinh tế Dung Quất, 03 khu công nghiệp đang hoạt động, 11 cụm công nghiệp, 22 làng nghề và hơn 3.000 doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) năm 2017 ước đạt 45.386,0 tỷ đồng Quảng Ngãi là mảnh đất có bề dày lịch sử về văn hóa, nổi bật là Văn hóa Sa Huỳnh
và Văn hóa Chăm Pa, đặc biệt là hệ thống thành lũy Chàm Người Quảng Ngãi có truyền thống yêu nước, đoàn kết chống giặc ngoại xâm, có truyền thống lao động cần cù, sáng tạo, truyền thống nhân nghĩa, hiếu học
Bên cạnh những ưu điểm, người Quảng Ngãi cũng có những hạn chế nhất định trong tính cách, tâm lý và sinh hoạt có ảnh hưởng không nhỏ đến công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật