1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tóm tắt Luận văn Thạc sĩ Quản lý công: Quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện Minh Hóa tỉnh Quảng Bình

26 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm phân tích thực trạng quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống trên địa bàn huyên Minh Hóa từ năm 2010 đến năm 2017; đánh giá các kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân. Đưa ra các giải pháp quản lý nhà nước về lễ hội văn hóa truyền thống trên địa bàn huyện Minh Hóa tỉnh Quảng Bình, phát huy các giá trị của lễ hội truyền thống

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

ĐINH THỊ HUYỀN TRANG

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2018

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA Người hướng dẫn khoa học: TS TRỊNH ĐỨC HƯNG

Phản biện 1:

Phản biện 2:

Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia

Địa điểm: Phòng họp … , Nhà - Hội trường bảo vệ luận văn thạc sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia

Số: 201- Đường Phan Bội Châu - TP Huế - tỉnh Thừa Thiên Huế Thời gian: vào hồi …… giờ …ngày ….tháng……năm 2018

Trang 3

1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài Luận văn

Nghị quyết Hội nghị lần thứ V Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII đề ra mục tiêu xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Trong đó khẳng định rõ vai trò quan trọng của văn hóa: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” Là một trong những thành tố quan trọng của văn hóa, lễ hội truyền thống không chỉ đáp ứng đời sống tinh thần của nhân dân mà còn tạo điều kiện để kinh tế xã hội phát triển Lễ hội truyền thống là loại hình sinh hoạt văn hóa cộng đồng đậm đà bản sắc dân tộc Lễ hội truyền thống không chỉ là di sản trong quá khứ để lại mà còn là tài sản vô giá trong đương đại; vốn liếng của nhiều lĩnh vực văn hóa, kinh tế, xã hội nhất là trong bối cảnh đất nước đang phát triển Hiện nay, lễ hội truyền thống ngày càng được phục dựng nhưng lại bị biến tấu nhiều, thậm chí có sự xâm nhập của các yếu tố ngoại lai làm mất đi giá trị nguyên gốc của nó Vì thế, quản lý nhà nước (QLNN) về lễ hội truyền thống là một trong những công việc trọng tâm của Đảng và nhà nước, các cấp chính quyền trong cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa cơ sở

Nằm ở phía Bắc của tỉnh Quảng Bình, Huyện Minh Hóa là nơi

có lễ hội truyền thống đa dạng, phong phú Trong xu thế giao lưu và hội nhập hiện nay, cũng như ở các nơi khác, nếu lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện không có giải pháp quản lý tốt sẽ đứng trước nguy

cơ bị thương mại hóa, thậm chí bị mai một

Góp phần nâng cao hiệu quả QLNN về lễ hội trên địa bàn huyện Minh Hóa tỉnh Quảng Bình, tôi chọn đề tài: “Quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống trên địa bànhuyện Minh Hóa tỉnh Quảng Bình”làm luận văn tốt nghiệp chương trình đào tạo Cao học Quản lý công của mình

2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận văn

Trang 4

“Lễ hội Việt Nam” cuốn sách với trên 300 lễ hội,

Bên cạnh đó cũng phải nói đến “Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam’’củanhiều tác giả (2000),

Ngoài ra cuốn sách “Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm” của Trần Quốc Vượng dày gần 1000 trang bao gồm các công trình đã công bố của GS Trần Quốc Vượng do Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật lựa chọn đưa vào Tủ sách Văn hóa học cũng là một trong những công trình nghiên cứu về lễ hội tiêu biểu

Cùng với đó, một công trình nghiên cứu khác về lễ hội truyền thống mang giá trị văn hóa cao đó là công trình nghiên cứu

“60 lễ hội truyền thống Việt Nam” của Thạch Phương – Lê Trung

- Nguyễn Quang Lê (1999) “Khảo sát thực trạng văn hóa lễ hội truyền thống của người Việt ở đồng bằng Bắc bộ trong xã hội hiện nay”,Viện nghiên cứu văn hoá dân gian,

- Hà Ngọc Thọ (2011) “Lễ hội và công tác quản lý lễ hội”, Tạp chí Công tác tôn giáo, Số 3,

Tại tỉnh Quảng Bình và huyện Minh Hóa có các công trình nghiên cứu sau:

- Nguyễn Tú (2007) “Những nét đẹp về văn hóa cổ truyền Quảng Bình” Như vậy, cho đến nay chưa có tác giả nào nghiên cứu toàn diện vấn đề quản lý nhà nước về các lễ hội văn hóa truyền thống trên địa bàn huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình

Trang 5

về lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện Minh Hóa tỉnh Quảng Bình trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa các kiến thức quản lý nhà nước về lễ hội,

- Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống trên địa bàn huyên Minh Hóa từ năm 2010 đến năm 2017; đánh giá các kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân

- Đưa ra các giải pháp quản lý nhà nước về lễ hội văn hóa truyền thống trên địa bàn huyện Minh Hóa tỉnh Quảng Bình, phát huy các giá trị của lễ hội truyền thống

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động quản lý của nhà nước đối với lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện Minh Hóa tỉnh Quảng Bình

- Về thời gian: từ năm 2010 đến năm 2017

- Về nội dung: Quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, chủ nghĩa Mác – Lê nin; tư tưởng

Trang 6

4

Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quản lý hoạt động lễ hội truyền thống

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện các mục tiêu đề ra, đề tài sử dụng chủ yếu các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp sưu tầm, thu thập các nguồn tư liệu, các nghiên cứu về quản lý, bảo tồn và phát triển các lễ hội văn hóa truyền thống của các địa phương trong nước và huyện Minh Hóa

- Phương pháp đối sánh: so sánh, đánh giá những hoạt động liên quan đến việc quản lý lễ hội văn hóa truyền thống trên địa bàn huyện với các địa phương khác trong cả nước… nhằm đúc kết kinh nghiệm cho việc thực hiện đề tài nghiên cứu

Bên cạnh đó đề tài còn được thực hiện bằng việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên quan khác như: Phương pháp thống kê; phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp diễn dịch, quy nạp…

6 Đóng góp của Luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn có một số đóng góp về lý luận và thực tiễn như sau:

6.1 Về lý luận

Luận văn khái quát, có chọn lọc cơ sở khoa học quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống; vận dụng trong QLNN về lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện Minh Hóa tỉnh Quảng Bình

- Kết quả nghiên cứu của tác giả có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong học tập, giảng dạy, nghiên cứu môn học Quản lý

Trang 7

5

nhà nước về văn hóa và cho các nhà quản lý trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hoạt động lễ hội trên địa bàn huyện Minh Hóa tỉnh Quảng Bình

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở khoa học về lễ hội truyền thống và quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống

Chương 2: Thực trạng về lễ hội truyền thống và quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện Minh Hóa tỉnh Quảng Bình

Chương 3: Quan điểm của Đảng và các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với lễ hội văn hóa truyền thống trên địa bàn huyện Minh Hóa tỉnh Quảng Bình

Trang 8

6

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG

VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG 1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài

1.1.1 Khái niệm lễ hội truyền thống

1.1.1.1 Khái niệm lễ hội

Văn hóa

Văn hóa là hệ thống giá trị tinh thần đặc trưng cho một cộng đồng xã hội,

do con người sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn, được cộng đồng chấp nhận, sử dụng và gìn giữ theo thời gian Văn hóa bao gồm nhiều thành tố như ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, phong tục, tập quán…trong đó lễ hội cũng là một thành tố

Lễ hội

Lễ hội là một sinh hoạt văn hóa cộng đồng đặc sắc nhằm tôn vinh hay quảng bá cho những giá trị nhất định, là dịp để nuôi dưỡng tâm hồn cá nhân con người và củng cố tinh thần đoàn kết của dân tộc

1.2.2.2 Khái niệm lễ hội truyền thống

Lễ hội truyền thống là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, trình diễn và các hình thức khác

1.2.2.3 - Khái niệm về bảo tồn và phát huy lễ hội truyền thống

Lễ hội truyền thống là một bảo tàng sống, ở đó tích tụ vô số những giá trị văn hóa của dân tộc QLNN về lễ hội truyền thống là việc làm cần thiết để bảo tồn và phát huy giá trị của nó

1.1.2 Khái niệm quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống

Quản lý nhà nước đối với hoạt động lễ hội là quá trình tác động, điều hành, điều chỉnh để các hoạt động lễ hội, lễ hội truyền thống diễn ra theo đúng quy định của phápluật Lễ hội truyền thống

Trang 9

7

là hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian tổng thể, mang nhiều giá trị truyền thống đặc sắc, có mối quan hệ mật thiết với di sản văn hóa vật thể và phi vật thể nên công tác quản lý và chỉ đạo tổ chức lễ hội truyền thống cũng phải có định hướng, chỉ đạo mang tính tổng thể và hài hòa với các lĩnh vực trong đời sống xã hội

1.2 Đặc điểm, sự cần thiết, các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống

1.2.1 Đặc điểm của lễ hội truyền thống

1.2.1.1 Tính thiêng

Muốn hình thành một lễ hội, bao giờ cũng phải tìm ra được một lý do mang tính "thiêng" nào đó Những tính “thiêng” đó bao giờ cũng được "thiêng hóa" và đã trở thành "Thần thánh" trong tâm trí của người dân

1.2.1.2 Tính địa phương

Lễ hội được sinh ra và tồn tại đều gắn với một vùng đất nhất định Bởi thế lễ hội ở vùng nào mang sắc thái của vùng đó Tính địa phương của lễ hội chính là điều chứng tỏ lễ hội gắn bó rất chặt chẽ với đời sống của nhân dân, nó đáp ứng những nhu cầu tinh thần và văn hóa của nhân dân

1.2.1.3 Tính cộng đồng

Lễ hội chỉ được sinh ra, tồn tại và phát triển khi nó trở thành nhu cầu tự nguyện của một cộng đồng Cộng đồng lớn thì phạm vi của lễ hội cũng lớn Bởi thế mới có lễ hội của một họ, một làng, một huyện, một vùng hoặc cả nước

1.2.1.4 Tính đương đại

Tuy mang nặng sắc thái cổ truyền, lễ hội, trong quá trình vận động của lịch sử, cũng dần dần tiếp thu những yếu tố đương đại Những trò chơi mới, những cách bài trí mới, những phương tiện kỹ thuật mới như rađio, cassete, video, tăng âm, micro đã tham gia vào lễ hội, giúp cho việc tổ chức lễ hội được thuận lợi hơn, đáp ứng nhu cầu mới

Trang 10

8

1.2.2 Sự cần thiết phải quản lý nhà nước đối với hoạt động

lễ hội truyền thống

1.2.2.1 Thực hiện chức năng của nhà nước

Hoạt động QLNN về lễ hội sẽ góp phần định hướng, điều chỉnh sự phát triển của lễ hội truyền thống

QLNN về lễ hội truyền thống góp phần hoàn thiện bộ máy tổ chức nhân sự trong lĩnh vực văn hóa, nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức văn hóa đáp ứng được nhu cầu hưởng thụ về mặt tinh thần của nhân dân

1.2.2.2 Vai trò của lễ hội truyền thống trong phát triển kinh tế-xã hội

Lễ hội truyền thống hướng con người tới cội nguồn dân tộc và lịch sử

Lễ hội truyền thống đóng vai trò cố kết và biểu dương sức mạnh cộng đồng

Lễ hội truyền thống thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con người, giải quyết những khát khao, những mơ ước của cộng đồng dân tộc

Lễ hội truyền thống thỏa mãn nhu cầu được hưởng thụ sáng tạo văn hóa của cộng đồng xã hội

1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống

1.2.3.1 Yếu tố chủ quan

Quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước: là một trong những yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động quản lý nhà nước nói chung và hoạt động quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống của từng địa phương nói riêng

Tổ chức bộ máy; cơ chế hoạt động; nguồn nhân lực quản lý; nguồn lực cho quản lý: Hoạt động quản lý nhà nước về lễ hội bản thân nó cũng là một hoạt động cung cấp sản phẩm là các quyết định quản lý nhà nước

1.2.3.2 Yếu tố khách quan

Trang 11

9

- Yếu tố về kinh tế- xã hội

- Yếu tố về phong tục, tập quán, tín ngưỡng

- Yếu tố hội nhập quốc tế

1.3 Chủ thể, Nội dung quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống 1.3.1 Chủ thể quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống

Chủ thể quản lý là các cơ quan QLNN về lễ hội truyền thống ở trung ương và địa phương Ở trung ương có: Chính phủ; Bộ VH, TT & DL; Hội đồng Di sản quốc gia Ở địa phương có UBND các cấp; sở VH,

TT & DL, phòng Văn hóa - Thông tin; ban quản lý di tích các cấp

- Khách thể quản lý là người tham dự lễ hội truyền thống; cơ sở vật chất như di tích, nguồn tài chính; cơ sở hạ tầng như đường giao thông, điện, nước…

1.3.2 Nội dung quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống

1.3.1.1 Ban hành văn bản, xây dựng chiến lược, quy hoạch,

kế hoạch quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống

Quy hoạch phát triển lễ hội truyền thống có trong chiến lược phát triển văn hóa quốc gia và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

1.3.1.2 Tổ chức bộ máy QLNN, đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức quản lý hoạt động lễ hội truyền thống

Cơ quan QLNN về lễ hội bao gồm: Chính phủ, Bộ VH, TT &

DL, Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia (cấp trung ương) và UBND các cấp, phòng Văn hóa - Thông, ban quản lý di tích các cấp (cấp địa phương)

Bên cạnh công tác tổ chức bộ máy, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức là việc làm cần thiết để nâng cao hiệu quả quản lý lễ hội

1.3.1.3 Xây dựng thể chế, chính sách quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống và đầu tư các nguồn lực quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống

Trang 12

1.3.1.4 Tổng kết, đánh giá hoạt động quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống

Tổng kế t, đánh giá là việc làm cần thiết và bắt buộc sau khi lễ hội kết thúc Ban tổ chức lễ hội đánh giá kết quả, rút kinh nghiệm cho những lần hội sau và báo cáo bằng văn bản lên cơ quan cấp trên

1.3.1.5 Thanh tra, kiểm tra hoạt động lễ hội truyền thống Hai nội chung cơ bản: Một là, việc thực hiện chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước; Hai là, kiểm tra và xử lý nghiêm những sai phạm trong lĩnh vực tổ chức và quản lý lễ hội truyền thống, ngăn chặn kịp thời các biểu hiện tiêu cực trong lễ hội

1.3.1.6 Xã hội hóa và hợp tác quốc tế trong quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống

Xã hội hóa là nội dung quan trọng của giải pháp xây dựng, ban hành các chính sách văn hóa trong đường lối của Đảng về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dântộc

1.4 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với lễ hội văn hóa truyền thống

1.4.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với lễ hội văn hóa

1.4.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với lễ hội văn hóa truyền thống của tỉnh Quảng Ninh

1.4.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với lễ hội văn hóa truyền thống của huyện Hà Nội

1.4.4 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với lễ hội văn hóa truyền thống của huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình

Một là, muốn xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, bảo tồn, phát triển lễ hội hoạt động đúng hướng, đúng quy định quản lý, đồng

Trang 13

11

thời cũng đảm bảo giữ được truyền thống văn hóa dân tộc thì cần xác định rõ vai trò, tầm quan trọng của lễ hội đối với sự nghiệp xây dựng đời sống văn hóa

Hai là, cần quan tâm xây dựng cơ sở vật chất phục vụ lễ hội nhằm làm tốt việc giáo dục truyền thống

Ba là, chính quyền địa phương cần triển khai các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn công tác quản lý, tổ chức hoạt động lễ hội truyền thống đúng theo quy định của nhà nước

Bốn là, thường xuyên đẩy mạnh công tác vận động tuyên truyền trong các tầng lớp nhân dân nhằm nâng cao nhận thức của nhân dân

Năm là, Đẩy mạnh công tác xã hội hóa việc tổ chức lễ hội, nhất là việc tổ chức các hoạt động hội thi, hội diễn, trò chơi dân gian

Sáu là, thực hiện thường xuyên công tác kiểm tra, giám sát đối với hoạt động lễ hội, bảo vệ các di tích lịch sử- văn hóa, môi trường tự nhiên và xã hội của hoạt động lễ hội

Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG VÀ QUẢN LÝ

NHÀ NƯỚC VỀ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG

TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MINH HÓA TỈNH QUẢNG BÌNH 2.1 Đặc điểm, các yếu tố ảnh hưởng đến lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện Minh Hóa tỉnh Quảng Bình

2.1.1 Đặc điểm, điều kiện tự nhiên

Minh Hoá là huyện miền núi vùng cao nằm về phía Tây Bắc tỉnh Quảng Bình Phía Tây giáp nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào với 89 km đường biên giới, phía Bắc giáp huyện Tuyên Hoá, phía Nam và Đông Nam giáp huyện Bố Trạch Toàn huyện có 15 xã

và 1 thị trấn với diện tích tự nhiên là 1.410 km2 Dân số trên 49 nghìn người, trong đó, dân số ở độ tuổi lao động trên 27 nghìn người Minh Hoá có dân tộc Kinh chiếm đa số và các dân tộc ít người Bru - Vân Kiều, Chứt với 6.500 người, tập trung ở các xã biên giới (Dân Hoá, Trọng Hoá, Thượng Hoá và Hoá Sơn) Do điều kiện tự nhiên

Ngày đăng: 09/05/2021, 08:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w