1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tóm tắt Luận văn Thạc sĩ Quản lý công: Quản lý nhà nước về công tác Dân số-Kế hoạch hóa gia đình trên địa bàn tỉnh Quảng Bình

26 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 568,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn đã đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về DS-KHHGĐ phù hợp thực tiễn trong giai đoạn hiện nay trên địa bàn tỉnh Quảng Bình. Với mục tiêu thực hiện quản lý nhà nước về công tác DSKHHGĐ là nhằm bảo vệ lợi ích con người, hướng đến sự phát triển con người, nâng cao chất lượng cuộc sống con người. Điều đó có ý nghĩa quan trọng tác động trực tiếp đến mỗi người dân, mỗi cặp vợ chồng, mỗi gia đình và toàn xã hội, góp phần phát triển kinh tế-xã hội của địa phương.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

…………/………… ……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN THỊ LAN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ CÔNG TÁC DÂN SỐ-KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG BÌNH

Chuyên ngành: Quản lý công

Mã số: 8 34 04 03

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2018

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS VŨ TRỌNG HÁCH

Phản biện 1:

Phản biện 2:

Trang 3

cơ cấu dân số hợp lý [22]

Nói đến dân số là nói đến con người mà con người là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội, là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của đất nước bởi lẽ con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực và là nhân tố quyết định sự phát triển bền vững kinh tế-xã hội Ph.Ăngghen đã từng nói "Xã hội nào điều chỉnh được sự sinh sản ra con người như chính sự điều chỉnh phát triển kinh tế thì mới điều khiển được xã hội" [31]

Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng vấn đề phát triển dân số, sớm đề ra chủ trương, chính sách về Dân số-Kế hoạch hóa gia đình

và coi là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước,

là một trong những vấn đề kinh tế-xã hội hàng đầu ở nước ta, là yếu

tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội Quản lý nhà nước về Dân số-Kế hoạch hóa gia đình chính là một trong những giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của con người [1] Nhận thức được tầm quan trọng

đó, các vấn đề của công tác dân số bao gồm quy mô dân số, cơ cấu dân số và nâng cao chất lượng dân số được triển khai đồng bộ trên cả nước và đã đạt được những thành tựu quan trọng Mức sinh của nước

ta giảm nhanh, hiện đã đạt mức thấp

Đối với tỉnh Quảng Bình, thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác DS-KHHGĐ, đặc biệt là sau hơn 12 năm thực hiện Nghị quyết số 47-NQ/TW ngày 22/3/2005 của Bộ Chính trị (Khóa IX) về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách Dân số-Kế hoạch hóa gia đình, nhận thức của toàn

xã hội đã có bước chuyển biến rõ rệt, ngày càng có nhiều người kết hôn, sinh con phù hợp với lứa tuổi, sức khỏe, hoàn cảnh kinh tế, mô

Trang 4

2

hình gia đình nhỏ có từ 1-2 con được nhân rộng Tốc độ gia tăng dân

số nhanh đã được khống chế, số con trung bình của một phụ nữ trong

độ tuổi sinh đẻ giảm từ 3 con năm 2000 xuống còn 2,38 con vào năm

2017 [13]

Tuy nhịp độ gia tăng dân số đã được khống chế nhưng chưa

ổn định và bền vững, Quảng Bình hiện được xếp vào tỉnh có mức sinh cao, tỷ lệ chênh lệch giới tính khi sinh có xu hướng mất cân đối, chất lượng dân số chưa đáp ứng yêu cầu của tỉnh, một bộ phận người dân chưa nhận thức đúng đắn về DS-KHHGĐ Giải quyết các vấn đề

về dân số và năng lực quản lý nhà nước về DS-KHHGĐ của các cấp ngành từ tỉnh đến cơ sở vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, khả năng tham mưu cho lãnh đạo của đội ngũ cán bộ dân số ở một số địa phương vẫn chưa hiệu quả, chưa đáp ứng được yêu cầu dẫn đến việc thực hiện chính sách và các quy định về pháp luật chưa nghiêm, cách hiểu và vận dụng còn khác nhau, chưa thống nhất, thậm chí không phù hợp với pháp luật hiện hành Điều này làm ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác DS-KHHGĐ

Trong bối cảnh quốc tế và tình hình trong nước có nhiều thay đổi, công tác DS-KHHGĐ tại Quảng Bình hiện đang đối mặt nhiều khó khăn, thách thức Nhiều vấn đề mới phát sinh liên quan đến quy mô, cơ cấu và chất lượng dân số đòi hỏi phải được giải quyết nhanh chóng, đồng bộ

Để góp phần nào giải quyết thực trạng trên và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về DS-KHHGĐ trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, học viên xin lựa chọn đề tài "Quản lý nhà nước về công tác Dân số-

Kế hoạch hóa gia đình trên địa bàn tỉnh Quảng Bình" để làm Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Quản lý công, mã số 60 34 04 03

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Thực tế đã có một số công trình nghiên cứu các vấn đề liên quan đến DS-KHHGĐ như:

- Năm 2015, Đề tài “Quản lý nhà nước về Dân số, Kế hoạch hóa gia đình trên địa bàn thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang” của

Trang 5

3

tác giả Hoàng Thị Phương Thúy, đã đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về dân số, kế hoạch hóa gia đình từ đó đề xuất một số giải pháp tăng cường công tác quản lý nhà nước về dân số kế hoạch hóa gia đình trên địa bàn thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang [30].;

- Năm 2015, Đề tài “Đánh giá tình hình quản lý nhà nước về công tác Dân số-Kế hoạch hóa gia đình tại tỉnh An Giang giai đoạn 2010-2014” của Chi cục Dân số-Kế hoạch hóa gia đình tỉnh An Giang, từ kết quả đánh giá tình hình quản lý nhà nước về công tác Dân số-Kế hoạch hóa gia đình tại tỉnh đưa ra những khuyến nghị một

số vấn đề còn bất cập trong quản lý nhà nước về công tác KHHGĐ [14]

DS Năm 2016, Đề tài “Đánh giá thực trạng ban hành văn bản triển khai chương trình Dân số - Kế hoạch hóa gia đìnhh tại một số tỉnh, thành phố” của ThS.Trần Thị Ngọc Bích, nghiên cứu viên Khoa Dân số và Phát triển (Viện Chiến lược và Chính sách Y tế) và ThS Phạm Minh Sơn, Tổng cục DS-KHHGĐ Công trình nghiên cứu này

đã đề cập đến tầm quan trọng của việc ban hành chủ trương, chính sách thể hiện sự quan tâm toàn diện về công tác DS-KHHGĐ quyết định sự thành công của công tác DS-KHHGĐ Công trình nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng khoa học và thực tiễn cho việc nâng cao chất lượng xây dựng, ban hành văn bản triển khai chương trình DS-KHHGĐ tại các địa phương [12]

Tại Quảng Bình, có 03 Đề tài nghiên cứu khoa học về lĩnh vực nâng cao chất lượng dân số của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Hà và các cộng sự, như:

- Năm 2015, Đề tài “Tìm hiểu kiến thức về Hôn nhân cận huyết thống tại 20 xã đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Bình năm

2014 – 2015” [25]

- Năm 2016, Đề tài “Điều tra đánh giá thực trạng sàng lọc trước sinh, sơ sinh và đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả sàng lọc trước sinh, sơ sinh tại tỉnh Quảng Bình” [26]

Trang 6

4

- Năm 2017, Đề tài “Đánh giá kiến thức, thái độ, hành vi về sức khỏe sinh sản/sức khỏe tình dục của vị thành niên/thanh niên trên địa bàn tỉnh Quảng Bình năm 2017”

Trong tất cả các công trình nghiên cứu nói trên có liên quan đến luận văn, học viên đã nghiên cứu kế thừa, có chọn lọc Tuy nhiên, thực tế trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, chưa có nghiên cứu nào

đi sâu phân tích đánh giá thực trạng cũng như đưa ra một hệ thống giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước trong công tác Dân số-

Kế hoạch hóa gia đình Do đó, đề tài được lựa chọn với mục đích nghiên cứu đầy đủ, thấu đáo nhằm đề xuất nhóm giải pháp phù hợp

và có ý nghĩa thực tiễn với hy vọng sẽ góp phần giải quyết những vấn đề đặt ra đối với ngành Dân số-Kế hoạch hóa gia đình phù hợp với thực tế tình hình địa bàn tỉnh Quảng Bình

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

- Mục đích

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đề xuất

hệ thống giải pháp giải quyết một số vấn đề về công tác DS-KHHGĐ trên địa bàn tỉnh Quảng Bình

- Nhiệm vụ

+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý nhà nước về công tác DS-KHHGĐ: các khái niệm, đặc điểm, vị trí vai trò của quản lý, quản lý nhà nước, quản lý nhà nước về DS-KHHGĐ

+ Phân tích và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về công tác DS-KHHGĐ trên địa bàn tỉnh Quảng Bình để xác định những kết quả mà công tác DS-KHHGĐ đã đạt được cũng như các mặt còn tồn tại, hạn chế trong quản lý

+ Nghiên cứu, xác định những vấn đề đặt ra hiện nay về công tác DS-KHHGĐ trong tình hình mới

+ Đề xuất hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về công tác DS-KHHGĐ trên địa bàn tỉnh Quảng Bình

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đối tượng nghiên cứu

Trang 7

5

Luận văn nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước về công tác DS-KHHGĐ

- Phạm vi nghiên cứu

+ Về không gian: Trên địa bàn tỉnh Quảng Bình

+ Về thời gian: Từ năm 2011 đến năm 2017

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

- Phương pháp luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của duy vật lịch sử và duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mac-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác DS-KHHGĐ

- Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận văn áp dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

+ Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Thu thập các tài liệu,

tư liệu để phân tích, tổng hợp

+ Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Thống kê, tổng hợp kinh nghiệm thực tiễn

+ Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến của các chuyên gia

+ Phương pháp xử lý số liệu: Toán học, phân tích, so sánh, tổng hợp

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Ý nghĩa lý luận: Luận văn đã hệ thống hóa và làm rõ hơn những vấn đề lý luận quản lý nhà nước về công tác DS-KHHGĐ

- Ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên đã phân tích, đánh giá được thực trạng quản lý nhà nước về DS-KHHGĐ trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, nhận định kết quả đạt được, những vấn đề còn tồn tại, hạn chế và xác định nguyên nhân của những hạn chế, đặc biệt

là các vấn đề mang tính chất đặc thù vùng, miền, địa phương

Trang 8

6

Luận văn đã đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về DS-KHHGĐ phù hợp thực tiễn trong giai đoạn hiện nay trên địa bàn tỉnh Quảng Bình Với mục tiêu thực hiện quản lý nhà nước về công tác DS-KHHGĐ là nhằm bảo vệ lợi ích con người, hướng đến sự phát triển con người, nâng cao chất lượng cuộc sống con người Điều đó có ý nghĩa quan trọng tác động trực tiếp đến mỗi người dân, mỗi cặp vợ chồng, mỗi gia đình và toàn xã hội, góp phần phát triển kinh tế-xã hội của địa phương

Kết quả nghiên cứu luận văn có thể góp phần bổ sung những vấn đề lý luận trong công tác quản lý DS-KHHGĐ, tạo cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật đối với hoạt động quản lý về DS-KHHGĐ tại tỉnh Quảng Bình

Luận văn cũng có thể được sử dụng làm kết quả tham khảo cho công tác nghiên cứu, học tập trong cơ sở đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu và thực hiện chính sách pháp luật trong lĩnh vực DS-KHHGĐ

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và các tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương sau:

Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về công tác DS-KHHGĐ

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về công tác KHHGĐ trên địa bàn tỉnh Quảng Bình

DS-Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về công tác DS-KHHGĐ trên địa bàn tỉnh Quảng Bình

Trang 9

7

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ CÔNG TÁC DÂN SỐ-KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm về Dân số - Kế hoạch hóa gia đình

1.1.1.1 Dân số

Trong khoa học cũng như trong thực tiễn có nhiều quan điểm

khác nhau về dân số Hiểu chung nhất, Dân số là một tập hợp người

sinh sống trong một quốc gia, một địa phương hay một vùng lãnh thổ

nhất định, được xác định tại một thời điểm cụ thể và nói đến Dân số

là nói đến quy mô, cơ cấu, phân bố, chất lượng và những thành tố

gây nên sự biến động của chúng như: sinh, chết, di cư

1.1.1.2 Kế hoạch hóa gia đình

Kế hoạch hóa gia đình là việc lập kế hoạch nhằm kiểm soát

quá trình sinh sản của các cặp vợ chồng Cốt lõi của kế hoạch hóa gia

đình là việc chủ động sử dụng các biện pháp tránh thai an toàn, nhằm

kiểm soát tình trạng sinh con và hạn chế sinh con ngoài ý muốn

1.1.2 Khái niệm về công tác Dân số-Kế hoạch hóa gia đình và mối

quan hệ giữa Dân số và Kế hoạch hóa gia đình

1.1.2.1 Khái niệm

Công tác Dân số-Kế hoạch hóa gia đình là sự nỗ lực mang tính

quyết sách của Nhà nước trong chủ trương khống chế một cách khoa

học số dân, sao cho sự phát triển dân số phù hợp và không gây cản

trở tới việc phát triển kinh tế xã hội đất nước, ổn định cơ cấu dân số

và nâng cao chất lượng dân số

1.1.2.2 Mối quan hệ giữa Dân số với Kế hoạch hóa gia đình

Vấn đề dân số có liên quan mật thiết tới kế hoạch hóa gia đình

Dân số hiểu theo nghĩa rộng chính là vấn đề con người Kế hoạch

hóa gia đình là một nội dung hẹp của vấn đề dân số, là việc đặt ra chỉ

tiêu một cách khoa học về sinh đẻ thông qua sử dụng các biện pháp

tránh thai

1.1.3 Quản lý nhà nước về công tác Dân số-Kế hoạch hóa gia đình

Quản lý nhà nước về công tác Dân số-Kế hoạch hóa gia đình

là nhà nước thông qua hệ thống chính sách, luật pháp và cơ chế tổ

chức các cơ quan quản lý của mình để điều khiển và tác động vào

các đối tượng của quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu về quy mô,

Trang 10

8

cơ cấu, phân bố và chất lượng dân số, nhằm nâng cao chất cuộc sống của người dân và đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước [24] 1.1.4 Đặc điểm của quản lý nhà nước về công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đình

Quản lý nhà nước về công tác DS-KHHGĐ ở nước ta là hoạt động chủ động của nhà nước được tiến hành trước hết dựa vào quyền lực của nhà nước, nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đảm bảo các yếu tố quy mô, cơ cấu, phân

bổ và chất lượng dân số phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, tiến tới một xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh [23]; Quản lý công tác DS-KHHGĐ phải dựa vào nhân dân; Quản lý nhà nước về công tác DS-KHHGĐ là một khoa học; Quản lý nhà nước về công tác DS-KHHGĐ còn là mang tính nghệ thuật [27]

1.2 Sự cần thiết quản lý nhà nước về công tác Dân số-Kế hoạch hóa gia đình

1.2.1 Bảo đảm cho công tác Dân số-Kế hoạch hóa gia đình theo định hướng mục tiêu chương trình của nhà nước

Nhằm đạt được mục tiêu nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, phát triển bền vững đất nước về kinh tế, xã hội và môi trường, thông qua công cụ quản lý bằng pháp luật để tác động vào nhận thức hành vi của con người, các tổ chức, buộc mọi cá nhân, tổ chức phải hành động theo một định hướng và mục tiêu nhất định đó là ổn định

về các yếu tố quy mô, cơ cấu, phân bổ dân số, nâng cao chất lượng dân số hoặc theo dõi, quản lý thay đổi của các quá trình sinh, chết, di dân

1.2.2 Bảo đảm các hoạt động về Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tuân thủ theo quy định của pháp luật

Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện sự quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước về công tác DS-KHHGĐ nói riêng chủ yếu bằng pháp luật và theo pháp luật Trong quản lý nhà nước về công tác DS-KHHGĐ, pháp luật tạo cơ

sở pháp lý vững chắc để điều chỉnh hành vi về hoặc liên quan đến DS-KHHGĐ của các tổ chức và cá nhân một cách đúng hướng, thống nhất và ổn định nhằm thực hiện được các mục tiêu về DS-KHHGĐ

Trang 11

9

1.2.3 Quản lý nhà nước về công tác Dân số-Kế hoạch hóa gia đình

là nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi cá nhân, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của quốc gia

Để nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và điều chỉnh quá trình tái sản xuất con người ở mức hợp lý, nhịp độ gia tăng dân số phù hợp với nền sản xuất vật chất điều chỉnh quy mô dân số với quá trình phát triển kinh tế xã hội, việc tiến hành quản lý dân số

và thực hiện chính sách Dân số-Kế hoạch hóa gia đình là tất yếu của các quốc gia

1.2.4 Quản lý nhà nước về công tác Dân số-Kế hoạch hóa gia đình

có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế vi mô và vĩ mô

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khóa VII) đã nêu rõ: “Đầu tư công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình là đầu tư mang lại hiệu quả kinh tế trực tiếp rất cao” [1] 1.2.5 Quản lý nhà nước về công tác Dân số-Kế hoạch hóa gia đình góp phần quan trọng đối với phát triển xã hội và ổn định môi trường

Quản lý nhà nước đối với công tác DS-KHHGĐ có ý nghĩa quyết định trong việc thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế-

xã hội của mỗi quốc gia và từng địa phương Dân số là nguyên nhân của mọi sự thay đổi ở các lĩnh vực xã hội như giáo dục, văn hóa, y tế,

an ninh, trật tự an toàn xã hội, giao thông, liên quan mật thiết tới phát triển kinh tế và sự biến đổi môi trường

- Tác động của dân số đối với lao động, việc làm

- Tác động của dân số đến giáo dục

- Tác động của dân số đối với y tế

- Dân số với an ninh lương thực, xóa đói giảm nghèo

- Tác động của dân số đối với môi trường

- Tác động của dân số đến an sinh xã hội

Trang 12

1.4.1 Tác động của yếu tố chính trị và pháp luật

Ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò là Đảng cầm quyền Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo chính thức và toàn diện đối với Nhà nước thông qua đề ra các quyết sách chính trị của Đảng như: Cương lĩnh, chiến lược, chủ trương, đường lối, chính sách và các nghị quyết để làm cơ sở cho hoạt động của nhà nước

1.4.2 Tác động của tổ chức bộ máy Dân số-Kế hoạch hóa gia đình Cán bộ có vai trò quan trọng, quyết định đến sự thành bại của công việc, bởi chính cán bộ là người tổ chức, thực thi nhiệm vụ Do

đó, bộ máy có ổn định thì công việc chuyên môn mới được tiếp tục, các thành tựu khác, nhất là công tác dân số mới được bảo tồn

1.4.3 Tác động của yếu tố kinh tế

Yếu tố kinh tế tác động đến mức sinh, mức chết và di cư, đương nhiên kinh tế tác động đến quy mô, cơ cấu, phân bổ và chất lượng dân số và đó chính là 04 yếu tố cơ bản của quản lý nhà nước

về công tác DS-KHHGĐ

1.4.4 Tác động của yếu tố phong tục tập quán

Trong thực tế đời thường, dễ nhận thấy phong tục tập quán tồn tại như một cơ chế song hành bên cạnh luật pháp, có tác dụng điều tiết hành vi ứng xử của cộng đồng, của nhóm hay cá nhân Nếu luật pháp chủ yếu mang tính cưỡng chế thì phong tục tập quán chủ yếu lại mang tính tự điều chỉnh cá nhân và quan hệ xã hội, tính chất căn bản của phong tục tập quán là tự nguyện Xét mặt tiêu cực của những phong tục tập quán lạc hậu đối với vấn đề DS-KHHGĐ là sự cản trở

và đi ngược những mục tiêu chính sách DS-KHHGĐ như: Có bằng được con trai để nối dõi tông đường, thờ cúng tổ tiên, chăm sóc phụng dưỡng cha mẹ khi về già; Tư tưởng trọng nam khinh nữ, quan

Trang 13

11

niệm “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”…, ảnh hưởng do phong tục tập quán làm phá vỡ sự cân bằng tỷ lệ giới tính; Quan niệm lấy vợ/chồng là người trong họ hàng để của cải không rơi vào tay người khác dẫn đến tình trạng hôn nhân cận huyết thống tăng và đó chính là một trong những nguyên nhân gây ra bệnh, tật dị tật bẩm sinh ở trẻ 1.4.5 Tác động của yếu tố hội nhập quốc tế đối với quản lý nhà nước về công tác Dân số-Kế hoạch hóa gia đình

Cùng với quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế là một xu thế khách quan Đây là một bước đi tất yếu và Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ Đặc biệt, Đại hội X của Đảng đã khẳng định: “Toàn cầu hóa kinh tế tạo ra cơ hội phát triển nhưng cũng chứa đựng nhiều yếu tố bất bình đẳng, gây khó khăn, thách thức cho các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển”

1.5 Kinh ngiệm quản lý nhà nước về công tác Dân số-Kế hoạch hóa gia đình ở một số địa phương

1.5.1 Kinh nghiệm của tỉnh Thừa Thiên Huế

1.5.2 Kinh nghiệm của tỉnh Quảng Trị

1.5.3 Bài học kinh nghiệm cho tỉnh Quảng Bình

Ngày đăng: 09/05/2021, 07:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w