Mục đích cơ bản của luận văn này là trên cơ sở nghiên cứu về lý luận, thực tiễn, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về Di tích lịch sử văn hóa hiên nay, từ đó đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực này tại thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình trong thời gian tới.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
…………/………… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÊ THỊ PHƯƠNG NGA
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI,
TỈNH QUẢNG BÌNH
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2018
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Thời gian : vào hồi giờ tháng năm 201
Có thể tìm hiểu luận văn tại Thư viện Học viện Hành chính Quốc gia hoặc trên trang Web Khoa Sau đại học, Học viện Hành chính Quốc gia
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Dân tộc Việt Nam đã trải qua một quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước Theo dòng thời gian, ông cha đã để lại một kho tàng DSVH đồ sộ, phong phú và mang nhiều giá trị Ngày nay, những DSVH nói chung và DTLS - VH nói riêng có một vai trò, vị trí cực kỳ quan trọng trong đời sống xã hội Luật DSVH đã khẳng định: “Di sản văn hóa Việt Nam là tải sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của DSVH nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta” DSVH của mỗi quốc gia trên thế giới hay từng địa phương trong mỗi quốc gia đều có những điểm khác biệt nhau Điều đó đã tạo nên những nét đặc trưng, bản sắc văn hóa riêng cho mỗi quốc gia, dân tộc, mỗi địa phương
1.2 Thành phố Đồng Hới là một đơn vị hành chính gắn liền với quá trình hình thành, phát triển của tỉnh Quảng Bình Trải qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử, thành phố Đồng Hới vẫn không ngừng phát triển Trong thời kỳ 1964 - 1975, cùng với Quảng Bình, Đồng Hới vừa là tuyến đầu đánnh Mỹ vừa là hậu phương trực tiếp của tiền tuyến lớn miền Nam anh hùng, nơi đã có những phong trào “xe chưa qua nhà không tiếc, đường chưa thông không tiếc máu, tiếc xương”, “chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi”… những tên làng, tên đất, tên người như: dòng Nhật Lệ, Trận địa pháo lão dân quân Đức Ninh, em
bé Bảo Ninh; các anh hùng: Quách Xuân Kỳ, Trương Pháp, Lê Trạm, Nguyễn Thị Suốt, Nguyễn Thị Khứu, Phạm Dung Hạnh, Phạm Thị Nghèng… đã đi vào lịch sử
Trong những năm qua, nhất là từ khi Luật Di sản văn hóa được ban hành (năm 2001), công tác quản lý nhà nước về di sản văn hóa trên địa bàn thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình có nhiều chuyển biến tích cực
1.3 Giá trị của di sản văn hóa nói chung, di tích và danh thắng
Trang 4nói riêng là vô cùng to lớn, song điều quan trọng hơn cả là việc bảo tồn và phát huy những giá trị của nó như thế nào để phát triển mang tính bền vững trong giai đoạn hiện nay mới chính là vấn đề cần được đặc biệt quan tâm đúng mức của các ngành, các cấp, nhất là những người làm công tác quản lý văn hoá hiện nay
Nhận thức tầm quan trọng cũng như tính bức thiết của vấn đề nêu trên ở tỉnh Quảng Bình, tôi đã chọn đề tài “Quản lý nhà nước về
di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình” làm luận văn tốt nghiệp bậc cao học của mình, với hy vọng góp phần vào việc nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa nhằm bảo tồn và phát huy tác dụng của
nó một cách bền vững trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trên mảnh đất thành phố Hoa hồng này
2 Tình hình nghiên cứu
Để nghiên cứu một cách có hệ thống giữa công tác bảo tồn và phát triển một cách bền vững trong điều kiện chúng ta chưa có đủ các điều kiện để bảo tồn một cách nghiêm ngặt, khoa học và đồng bộ thì chưa có tác giả, nhóm tác giả nào nghiên cứu đề tài này ở thành phố Đồng Hới
Vì vậy, đề tài “Quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình” có thể được xem là đề tài đầu tiên ở thành phố Đồng Hới đi sâu nghiên cứu về một lĩnh vực mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng lắm thách thức này
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn sẽ tiếp thu, kế thừa những kết quả nghiên cứu của các tác giả
đi trước để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của luận văn
3 Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu đề tài
3.1 Mục đích: Trên cơ sở nghiên cứu về lý luận, thực tiễn, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về Di tích lịch sử văn hóa hiên nay, từ đó đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả của
Trang 5hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực này tại thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ: Để đáp ứng mục đích nghiên cứu, đề tài có những nhiệm vụ chủ yếu sau: Khái quát cơ sở lý luận và thực tiễn QLNN về văn hóa, QLNN về DSVH nói chung và DTLS - VH nói riêng; đánh giá thực trạng QLNN về DTLS - VH trên địa bàn thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình; đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường QLNN về DTLS - VH trên địa bàn ở thành phố Đồng Hới trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Phương pháp luận: Luận văn được nghiên cứu và hoàn thành trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử mác xít, quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về văn hóa, QLNN về các Di tích lịch sử - văn hóa
5.2 Phương pháp nghiên cứu: Tác giả luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể sau: phương pháp điều tra, khảo sát, phân tích, so sánh, thống kê, tổng hợp và điều tra xã hội học
6 Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ những vấn đề chung trong công tác quản lý nhà nước về di tích lịch sử vãn hóa trên địa bàn của thành phố
Trang 6Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình Ðánh giá công tác quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn nhằm phát huy các giá trị trong giáo dục, đồng thời giữ gìn bản sắc dân tộc
- ÐƯa ra quan điểm định hướng và đề xuất một số giải pháp,
cơ chế chính sách nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác quản lý di tích, đồng thời góp phần phát triễn kinh tế - xã hội của thành phố Đồng Hới trong thời gian tới
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với di tích lịch sử văn hóa
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình
Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA 1.1 Khái niệm, đặc điểm di tích lịch sử văn hóa
1.1.1 Khái niệm về di tích lịch sử văn hóa
1.1.1.1 Di tích lịch sử văn hóa
Giáo trình Bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa của Trường Đại học Văn hóa đưa ra một khái niệm khoa học về di tích như sau: "Là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử; do tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại" [Luật DSVH, tr 17]
Theo Luật Di sản Văn hóa của Việt Nam, di tích lịch sử - văn hóa được qui định: "Là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ
Trang 7vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học"[Luật DSVH, tr 7]
1.1.1.2 Đặc điểm về di tích lịch sử văn hóa
Theo điều khoản 1, Điều 28, Luật Di sản văn hóa năm 2001
và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa năm
2009, Di tích lịch sử văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau:
- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời
kỳ lịch sử
- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử
- Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu
- Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật
1.1.2 Hệ thống các loại di sản văn hóa
1.1.2.1 Khái niệm di sản văn hóa
Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta" [Luật DSVH, tr.5]
Luật Di sản Văn hóa của Việt Nam tại Điều 1 đã nêu rõ di sản văn hóa "bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam"
Đây có thể xem là khái niệm về di sản văn hóa được sử dụng chung nhất ở nước ta hiện nay, hoàn toàn tương tự như khái niệm về
di sản văn hóa được sử dụng trên thế giới Điều đó cũng có nghĩa di
Trang 8sản văn hóa cũng là của cải, là tài sản quốc gia và mọi công dân phải
có nghĩa vụ bảo vệ, giữ gìn
1.1.2.2 Di sản văn hóa phi vật thể
Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch
sử, văn hóa khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết và nghề thủ công truyền thống, tri thức
về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác
1.1.2.3 Di sản văn hóa vật thể:
Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
1.2 Quản lý nhà nước về Di tích lịch sử - văn hóa
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm
1.2.1.1 Khái niệm và đặc điểm quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức chỉ đạo và điều hành thực hiện kết hợp với thanh tra, kiểm tra bằng quyền lực nhà nước đối với các lĩnh vực trong xã hội, do các cơ quan trong bộ máy nhà nước tiến hành trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của nhà nước, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi của công dân
Như vậy, quản lý nhà nước là một phần không thể thiếu trong đời sống xã hội, quản lý nhà nước giúp cho sự hiện diện của nhà nước đến với mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội, tăng cường pháp chế, ổn định tình hình kinh tế xã hội đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước
1.2.1.2 Khái niệm và đặc điểm quản lý nhà nước về Di tích lịch
Trang 9sử - văn hóa
Trước hết ta hiểu, quản lý về văn hóa là một lĩnh vực cụ thể của khoa học quản lý, đây là sự quản lý của nhà nước đối với toàn bộ hoạt động văn hóa của quốc gia bằng quyền lực của nhà nước thông qua Hiến pháp, pháp luật và cơ chế chính sách nhằm đảm bảo sự phát triển của nền văn hóa dân tộc Quản lý nhà nước về văn hóa mang tính đặc thù vì trước hết, hoạt động văn hóa là một hoạt động sáng tạo, các sản phẩm văn hóa mang giá trị lưu truyền từ đời này sang đời khác, làm phong phú cho cuộc sống con người Hoạt động đó đòi hỏi phải có những không gian dành riêng, giúp cho sức tưởng tượng của chủ thể
có khả năng sáng tạo theo khả năng của mình; đồng thời, hoạt động văn hóa là hoạt động tư tưởng, có khả năng gây hiệu ứng (tốt hoặc xấu) trong xã hội và còn là hoạt động kinh tế, một nội lực trực tiếp cho
sự phát triển kinh tế - xã hội
Văn hóa là một lĩnh vực rộng, trong đó, DSVH là một bộ phận cấu thành quan trọng hình thành nên bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia Nội dung quản lý văn hóa và quản lý DSVH có những điểm chung, nhưng có những đặc trưng riêng Quản lý DSVH là một ngành khoa học Trong xã hội hiện đại, khoa học quản lý cũng có vai trò đặc biệt vì nó giữ vị trí định hướng cho sự phát triển; chỉ đạo điều hành thông qua các chế tài và giám sát, quản lý hoạt động của ngành hay lĩnh vực đó
Về thực chất, việc quản lý di tích nhằm hướng tới mục đích chính:
Một là, bảo tồn, gìn giữ các di tích chống lại sự tàn phá của thiên nhiên, con người
Hai là, khai thác, phát huy có hiệu quả các di tích phục vụ sự phát triển kinh tế xã hội
1.2.2 Cơ sở pháp lý cho việc quản lý nhà nước về Di tích lịch
sử - văn hóa
Trang 10- Sắc lệnh số 65/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 23/11/1945
- Nghị định số 519-TTg do Thủ tướng chính phủ ký ngày 29/10/1957
- Pháp lệnh số 14-LCT/HĐND về Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hóa và danh lam, thắng cảnh do Chủ tịch Hội đồng Nhà nước ký ban hành ngày 4/4/1984
Tuy nhiên, trong quá trình đưa Luật áp dụng vào thực tiễn bên cạnh những mặt tích cực, cũng nảy sinh một số hạn chế như chưa xử
lý thoả đáng mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển dẫn đến tình trạng thương mại hoá di tích
- Một số công ước quốc tế liên quan đến các hoạt động bảo tồn DSVH, cụ thể là các di tích lịch sử - văn hóa, như:
+ Công ước Bảo vệ DSVH và thiên nhiên thế giới được UNESCO ban hành năm 1972
+ Công ước Bảo vệ DSVH phi vật thể do UNESCO thông qua năm 2003
+ Công ước Bảo vệ và phát huy sự đa dạng của các biểu đạt văn hóa được UNESCO thông qua năm 2005
1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa 1.2.3.1 Quy hoạch và ban hành, tổ chức thực hiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chính sách về di tích lịch sử - văn hóa 1.2.3.2 Tổ chức bộ máy và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực thực hiện quản lý nhà nước về Di tích lịch sử - văn hóa
1.2.3.3 Huy động, sử dụng các nguồn vốn phục vụ các nhiệm
vụ bảo vệ và phát huy giá trị Di tích lịch sử - văn hóa
1.2.3.4 Quản lý quá trình tôn tạo và tổ chức khai thác các giá trị Di tích lịch sử - văn hóa
1.2.3.5 Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học về Di tích lịch sử - văn hóa
Trang 111.2.3.6 Thanh tra, kiểm tra hoạt động quản lý nhà nước về Di tích lịch sử - văn hóa
1.3 Vai trò và ý nghĩa của quản lý nhà nước về Di tích lịch
sử - văn hóa
1.3.1 Vai trò quản lý nhà nước đối với Di tích lịch sử - văn hóa
Công tác quản lý nhà nước về di tích có vai trò rất quan trọng
là giúp cơ quan quản lý nhà nước chuyên môn nắm được diễn biến tình hình về di tích như việc kiểm kê, thống kê số lượng,thực trạng công tác bảo tồn,trùng tu,tôn tạo vì vậy có thể thấy công tác quản lư nhà nước về di tích góp phần cho sự hiện diện của nhà nước vào lĩnh vực di tích, đảm bảo thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước, đồng thời giữ gìn và bảo tồn những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, góp phần ổn định và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội
1.3.2 Ý nghĩa
Di tích là những bằng chứng vật chứng có ý nghĩa quan trọng, minh chứng về lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc
Di tích chứa đựng những giá trị kinh tế to lớn nếu mất đi không đơn thuần là mất tài sản vật chất mà là mất đi những giá trị tinh thần to lớn không gì bù đắp nổi Đồng thời di tích là cơ sở, là nguồn lực để phát triển du lịch và còn mang ý nghĩa là nguồn lực cho phát triển một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc đân tộc
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ
ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH 2.1 Tổng quan chung về địa lý, lịch sử - văn hóa thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình
2.1.1 Vị trí địa lý
Trang 122.1.2 Đặc điểm tự nhiên, tiến trình lịch sử - văn hóa
2.1.3 Tổng quan về hệ thống Di tích lịch sử - văn hóa ở thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình
2.1.3.1 Số lượng và loại hình di tích
2.1.3.2 Hiện trạng và tình trạng kỹ thuật của di tích 2.2 Thực trạng quản lý nhà nước về Di tích Lịch sử - văn hóa ở thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình
2.2.1 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về Di tích lịch sử - văn hóa
2.2.1.1 Về cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức quản lý di tích lịch sử văn hóa ở nước ta được thiết lập và có sự thống nhất từ trung ương đến địa phương Ở mỗi cấp quản lý đều có những chức năng, nhiệm vụ cụ thể, đảm bảo tính thống nhất với mục tiêu bảo tồn và phát huy giá trị DSVH nói chung và di tích lịch sử văn hóa nói riêng đạt hiệu quả cao
2.2.1.2 Về đội ngũ quản lý Nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa
- Đội ngũ cán bộ của BQL di tích tỉnh: Hiện nay có tổng số 18 cán bộ viên chức và HĐ 68 (15 biên chế và 03 hợp đồng theo Nghị định 68) Trong đó: Ban Giám đốc (02 biên chế); Phòng Hành chính tổng hợp ( 03 biên chế, 03 hợp đồng 68); Phòng Nghiệp vụ cơ sở (10 biên chế); [Số liệu tính đến tháng 6/2017]
- Về trình độ chuyên môn: hiện nay, BQL có 03 cán bộ có trình độ thạc sỹ chuyên ngành văn hóa học; 12 cán bộ đạt trình độ đại học, chủ yếu được đào tạo chuyên ngành Bảo tồn bảo tàng, Văn hóa
du lịch, Quản lý văn hóa; 3 cán bộ còn lại là nhân viên được đào tạo từ các chuyên ngành khác nhau Độ tuổi trung bình của đội ngũ cán bộ từ 30- 40 tuổi, 15 người, chiếm 83,33 %, số cán bộ trên 40 tuổi, 03 người, chiếm 16,66% Về thâm niên công tác: trên 30 năm có 1 cán bộ; từ 10-20 năm có 2 cán bộ; số còn lại có số năm công tác từ 2 -8
Trang 13năm Như vậy, số lượng cán bộ được đào tạo chuyên môn chủ yếu về bảo tàng học, quản lý văn hóa, văn hóa du lịch, chỉ số ít là quản trị kinh doanh và văn học; về cơ bản đã đảm nhận và thực hiện các công việc của công tác quản lý như tiến hành khảo sát, điền dã, nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, lập hồ sơ di tích, đề nghị xếp hạng, tư vấn kiểm định hồ sơ dự án trùng tu, tu bổ di tích…
- Đội ngũ cán bộ quản lý Nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa
ở thành phố Đồng Hới
Đội ngũ quản lý Nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa của thành phố xét cả về số lượng và chất lượng đã đáp ứng được yêu cầu của các nhiệm vụ Đến tháng 6/2017, tại Phòng Văn hóa - Thông tin
có 07 công chức; tại 16 xã, phường thuộc UBND thành phố có 31 công chức Văn hóa - Xã hội, trong đó công chức nữ là 24/38 người (chiếm 63,15 %); công chức là đảng viên có 38/38 người (chiếm 100%)
2.2.2 Thực trạng quản lý Di tích lịch sử - văn hóa ở thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình
2.2.2.1 Xây dựng quy hoạch, kế hoạch, dự án bảo tồn Di tích lịch sử - văn hóa
2.2.2.2 Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về DTLS -