Lợi thế so sánh là một khái niệm cốt lõi của kinh tế học khi người ta bàn đến việc tham gia thương mại quốc tế của các quốc gia. Bài viết này nghiên cứu bối cảnh thương mại quốc tế trong xu hướng dịch chuyển lợi thế so sánh ở một số nước trên thế giới trên cả hai phương diện lý thuyết và các bằng chứng nghiên cứu thực nghiệm.
Trang 1THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ TRONG XU HƯỚNG
DỊCH CHUYỂN LỢI THẾ SO SÁNH
VÀ NHỮNG HÀM Ý CHO VIỆT NAM
Trends in Changes of Comparative advantage
in the World and policy implications for Vietnam
ThS Đặng Thị Thúy Hà
Công ty TNHH Trường quốc tế QSI Hải Phòng
Email:dangha27879@gmail.com
TÓM TẮT
Lợi thế so sánh là một khái niệm cốt lõi của kinh tế học khi người ta bàn đến việc tham gia thương mại quốc tế của các quốc gia Bài viết này nghiên cứu bối cảnh thương mại quốc tế trong xu hướng dịch chuyển lợi thế so sánh ở một số nước trên thế giới trên cả hai phương diện lý thuyết và các bằng chứng nghiên cứu thực nghiệm Kết quả cho thấy ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đổi cao trong thời kỳ nghiên cứu, có sự dịch chuyển từ lợi thế so sánh tĩnh sang lợi thế so sánh động Mặt khác, sản lượng và nhóm hàng hóa có lợi thế so sánh sẽ trở lên đa dạng hơn (chứ không đơn thuần là chuyên môn hóa hơn) khi thu nhập bình quân đầu người gia tăng
Từ khóa: lợi thế so sánh tĩnh, lợi thế so sánh động, xu hướng dịch
chuyển lợi thế so sánh
Trang 2ABSTRACT
Comparative advantage is a core concept of economics when people discuss about integration into international trade of the countries This paper studies the trends of comparative advantage in the world on both theoretically and empirically research evidence The results show that, trends in comparative advantage in numerous nations, especially having high economic growth, shows the movement from static compatative advantage to dynamic comparative advantage Furthermore, evidence that output and exports become more diversified-not more specialized-as per capita income rises
Key words: Static Compatative Advantage, Dynamic Comparative
Advantage, Trends in Comparative Advantage
1 GIỚI THIỆU
Lợi thế so sánh là căn nguyên của thương mại quốc tế, là yếu tố chiến lược của các quốc gia trên con đường phát triển và hội nhập với kinh tế thế giới Việt Nam kể từ sau đổi mới kinh tế đã phát huy tốt lợi thế so sánh cho tăng trưởng kinh tế nhờ vào việc khai thác nguồn lao động dồi dào, giá rẻ và tài nguyên trong nước Kinh tế đất nước đạt được các mức tăng trưởng ấn tượng, đưa Việt Nam từ một nước nghèo vượt lên thành một nước có mức thu nhập trung bình vào năm 2008 Tuy nhiên, cũng kể từ thời điểm này, kinh tế Việt Nam có những bước tăng trưởng chậm và kém ổn định, lạm phát cao, thâm hụt thương mại
và ngân sách… Việt Nam đã phải thay đổi chiến lược phát triển kinh
tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, cải cách mạnh mẽ khối doanh nghiệp
có vốn nhà nước và khuyến khích các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư vào các lĩnh vực có thể cải thiện tăng năng suất lao động
và tích hợp vốn con người trong hoạt động sản xuất Cùng với quá trình phát triển này, xu hướng dịch chuyển lợi thế so sánh của một số
Trang 3ngành kinh tế Việt Nam ngày càng hiện hữu, hiệu quả của việc khai thác lợi thế so sánh tĩnh (dựa trên tài nguyên và nguồn lao động giá rẻ) ngày càng giảm, đồng thời cho thấy sự cần thiết phải tăng cường đầu
tư vào các lĩnh vực có lợi thế so sánh động (dựa trên năng suất lao động, khoa học công nghệ và vốn con người…)
Bài viết này nghiên cứu xu hướng dịch chuyển lợi thế so sánh ở một số nước trên thế giới trên cả hai phương diện lý thuyết và thực tế nghiên cứu, từ đó gợi mở các phương án chính sách nhằm gia tăng và phát huy lợi thế so sánh cho Việt Nam
Cơ sở lý thuyết về lợi thế so sánh và các xu hướng dịch chuyển Khái niệm về lợi thế so sánh lần đầu tiên được đề xuất bởi nhà kinh
tế học người Anh David Ricardo trong tác phẩm ―Nguyên lý của kinh
tế chính trị và thuế khóa‖ dựa trên nền tảng cơ bản là khả năng sản xuất của một sản phẩm với chi phí thấp hơn so với sản xuất các sản phẩm khác Ông cũng thể hiện cái nhìn mới trong việc tham gia thương mại quốc tế của các quốc gia khi khẳng định rằng ngay cả khi quốc gia không có lợi thế tuyệt đối trong việc sản xuất ra hàng hóa thì vẫn có thể tham gia vào thương mại quốc tế và có lợi dựa vào lợi thế
so sánh
Phát triển lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo, các nhà kinh
tế học tiêu biểu theo trường phái Ricardian tiếp tục nghiên cứu về lợi thế so sánh dựa trên cách tiếp cận mới hơn và mở rộng mô hình nghiên cứu Chẳng hạn Haberler, Heckscher-Ohlin và Paul Krugman
đã vận dụng quy luật chi phí cơ hội để nghiên cứu và giải thích lợi thế
so sánh, từ đó khẳng định: Một quốc gia có lợi thế so sánh trong việc sản xuất ra sản phẩm có năng suất lao động tương đối cao hơn hay chi phí cơ hội thấp hơn so với các quốc gia khác
Cho đến năm 1965, Balassa đề xuất phương pháp đo lường lợi thế
so sánh, trong đó nổi bật là việc đề xuất sử dụng chỉ số đo lường Lợi thế so sánh hiện hữu (RCA – Revealed Comparative Advantage) dựa
trên số liệu xuất khẩu của quốc gia:
Trang 4RCAij = (Xij/Xin)(Xrj/Xrn)
Trong đó:
RCAij : Chỉ số lợi thế so sánh hiện hữu trong xuất khẩu của nước i đối với nhóm sản phẩm hàng hóa j
Xij : Tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm sản phẩm hàng hóa j của nước i
r: Tất cả các quốc gia, trừ nước i
n : Tất cả các nhóm sản phẩm hàng hóa, trừ nhóm sản phẩm hàng
hóa j
Chỉ số này được áp dụng để đo lường lợi thế so sánh hiện hữu ở nhiều quốc gia trên thế giới Nếu RCAij > 1 thì nước i có lợi thế so sánh đối với nhóm sản phẩm hàng hóa j, và nếu RCA ij < 1 thì nước i
không có lợi trong việc sản xuất và xuất khẩu nhóm sản phẩm hàng
hóa j
Dalum et al.(1998) và Laursen (1998) cho rằng chỉ số lợi thế so sánh hiện hữu (RCA) không thể hiện được lợi thế so sánh trên cả phương diện của một nhóm hàng, vì thế, dựa trên nền tảng là chỉ số lợi
thế so sánh hiện hữu, họ đề xuất chỉ số Lợi thế so sánh hiện hữu đối xứng (Revealed Symmetric Comparative Advantate – RSCA):
RSCAij = (RCAij – 1) / (RCAij + 1)
Giá trị của RSCAij nằm trong khoảng từ -1 đến 1 (-1 RSCAij ≤ 1)
Nếu RSCAij > 0 hàm ý nước i có lợi thế so sánh trong nhóm sản phẩm hàng hóa j, ngược lại, nếu RSCA ij < 0 thì nước i bất lợi trong việc sản xuất và xuất khẩu nhóm sản phẩm hàng hóa j
Ngoài ra, các nhà khoa học còn sử dụng chỉ số chi phí tài nguyên trong nước DRC (Domestic Resouces Cost) để đo lường lợi thế so sánh dựa trên việc tính toán chi phí các yếu tố đầu vào trong nước
) )(
Pr 1
( FX emium PibQi QfiPfb
QdiSd DRC i
Trang 5Trong đó:
Qdi : khối lượng các đầu vào trong nước dùng để sản xuất sản phẩm i;
Sd : giá xã hội của các đầu vào nói trên;
OER: tỷ giá hối đoái chính thức;
Pib : giá quốc tế của sản phẩm i;
Qi : khối lượng sản phẩm i;
Qfi : khối lượng các loại đầu vào nhập khẩu sử dụng để sản xuất sản phẩm i;
Pfb : giá quốc tế của các đầu vào nhập khẩu
FX Premium: độ chênh giữa tỷ giá hối đoái xã hội và tỷ giá hối
đoái chính thức (ở các nước đang phát triển, chính sách điều chỉnh tỷ giá hối đoái gây ra độ chênh khoảng 20%)
DRC là chỉ số thường được dùng để đánh giá lợi thế so sánh của ngành hàng DRC biểu thị tổng chi phí của các nguồn lực trong nước được sử dụng tương ứng với 1 đô la thu được từ sản phẩm đem bán
Do đó, DRC nhỏ hơn 1 có nghĩa là sản phẩm có lợi thế so sánh và ngược lại DRC càng nhỏ thì lợi thế so sánh càng cao và chỉ số này được sử dụng nhiều hơn trong nghiên cứu về lợi thế so sánh của các ngành hàng thuộc lĩnh vực nông nghiệp ở các nước kém hoặc đang phát triển
Xu hướng dịch chuyển lợi thế so sánh ở một số nước trên thế giới
và hàm ý chính sách cho Việt Nam
Lý thuyết ngoại thương thường lập luận cho rằng các nước tìm thấy lợi thế so sánh trong việc sản xuất các sản phẩm tương đối thâm dụng yếu tố sản xuất dồi dào của họ (chẳng hạn, sản xuất hàng hóa thâm dụng lao động như ở Việt Nam, sản xuất hàng hóa thâm dụng vốn như
ở Nhật Bản) Lý thuyết tăng trưởng thường lập luận rằng thu nhập bình quân đầu người tăng lên chủ yếu nhờ sự tích lũy các yếu tố sản xuất là lao động, vốn và năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) Trên
Trang 6thực tế, lợi thế so sánh không phải là không thay đổi và cùng với sự thay đổi theo chiều hướng tăng dần mức thu nhập bình quân đầu người ở các quốc gia, quá trình dịch chuyển lợi thế so sánh cũng diễn
ra ngày càng rõ rệt, cho thấy mối quan hệ giữa lợi thế so sánh, tăng trưởng kinh tế và khả năng gia tăng vị thế quốc gia khi tham gia thương mại quốc tế
Xu hướng dịch chuyển lợi thế so sánh ở một số nước trên thế giới
và ở Việt Nam:
Trên thế giới và ở Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu về lợi thế so sánh, và thời gian gần đây, các nghiên cứu về lợi thế so sánh
đã cho thấy xu hướng dịch chuyển ngày càng rõ nét từ lợi thế so sánh tĩnh sang lợi thế so sánh động, từ việc chuyên môn hóa sang đa dạng hóa mặt hàng xuất khẩu khi thu nhập bình quân đầu người của quốc gia tăng lên Có thể xem xét một số nghiên cứu điển hình như sau: Bith-Hong Ling, PingSun Leung and Yung C Shang (2001) nghiên cứu lợi thế so sánh về ngành nuôi tôm ở các nước châu Á thông qua phương pháp tiếp cận DRC Kết quả nghiên cứu khẳng định, trong số các nhà sản xuất tôm châu Á, Thái Lan, Sri Lanka và Indonesia có lợi thế so sánh tương đối mạnh trong tất cả ba thị trường chính là Mỹ, Nhật Bản, Châu Âu với chỉ số DRC nhỏ hơn 1 và tỷ lệ chi phí tài nguyên trong nước (RCR) nằm trong khoảng 0,18 - 0,34 Các nước này có được lợi thế lớn hơn các nước trong khu vực do sử dụng các nguồn tài nguyên trong nước (nguồn lao động dồi dào và nguyên liệu đầu vào) có giá rẻ hơn tương đối so với các nước khác
Nghiên cứu của Amita Batra và Zeba Khan (2005) sử dụng chỉ số RCA để nghiên cứu về lợi thế so sánh của các ngành hàng cho Ấn Độ
và Trung Quốc Kết quả nghiên cứu cho thấy, Ấn Độ có lợi thế so sánh ở 41 ngành hàng, trong đó các nhóm hàng về bông vải sợi, sản phẩm và phụ kiện may mặc, cà phê… là có lợi thế so sánh cao hơn cả
Ấn Độ và Trung Quốc cùng có lợi thê so sánh ở một số mặt hàng, tuy
Trang 7nhiên các mặt hàng có lợi thế nhất của Trung Quốc là sản phẩm mây tre đan, da giày và sản phẩm dệt may, sản phẩm du lịch…Nghiên cứu cũng khẳng định cả hai quốc gia đều có lợi thế so sánh ở các ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động và tài nguyên trong nước
Ismail và cộng sự (2009) nghiên cứu về tác động của chi phí tài nguyên trong nước đến lợi thế so sánh của ngành thép thô ở Iran thông qua việc tính toán chỉ số DRC cho giai đoạn 2006-2008 Kết quả nghiên cứu cho thấy, ngành thép thô ở Iran không có lợi thế so sánh vào các năm 2006, 2007 (DRC>1) nhưng lại có lợi thế so sánh ở năm
2008 (DRC < 1) Điều này khẳng định lợi thế so sánh được tính toán trong nghiên cứu là tĩnh, có thể tính được cho từng năm nhưng lợi thế này có thể thể thay đổi theo thời gian tùy thuộc vào sự thay đổi của các thành tố được sử dụng để tính toán DRC
Boubaker DHEHIBI et Aymen FRIJA (2009) nghiên cứu lợi thế so sánh của các sản phẩm trái cây tươi và rau xuất khẩu của Tunisian cho thấy dầu ô lưu là ngành hàng có lợi thế so sánh (DRC<1) Tuy nhiên khả năng cạnh tranh của ngành này có thể thay đổi qua các năm do có
sự biến động về năng suất Các ngành hàng cam, quýt và cà chua không có lợi thế so sánh trong thời gian nghiên cứu (DRC>1), tuy nhiên chỉ số DRC của các ngành này lại có sự cải tiến liên tục qua các năm do sự tác động của sản lượng tăng, giá yếu tố đầu vào tương đối
ổn định và giá xuất khẩu sản phẩm tăng
Nghiên cứu của Phạm Thị Thu Trà và James Riedel (2003) sử dụng chỉ số RCA kết hợp với số đo về độ thâm dụng vốn bộc lộ của các sản phẩm ở cấp độ SITC 5 chữ số, đồng thời sử dụng hai phương pháp hồi quy phi thông số (LOWESS) và phương pháp hồi quy bình phương tối thiểu (OLS) để phân tích về lợi thế so sánh động ở 20 quốc gia trong mối tương quan với sự gia tăng về thu nhập ở các quốc gia đó Nhật Bản là nước nằm trong mẫu nghiên cứu mà có số liệu hoàn chỉnh nhất
và có sự gia tăng thu nhập bình quân đầu người nhiều nhất trong khoảng thời gian phân tích (1965-2010) nên được các tác giả sử dụng
Trang 8như một điển hình trong nghiên cứu Kết quả phân tích hồi quy cho thấy, lợi thế so sánh rõ ràng đã phát huy tích cực ở Nhật Bản trong 50 năm qua, nhấn mạnh lợi thế so sánh động Trong thập niên 1960, lợi thế so sánh hiện hữu của Nhật Bản (thể hiện qua RCA) tập trung ở những hàng hóa sử dụng nhiều lao động theo thứ tự: hải sản, giày dép, công nghiệp chế tạo gỗ, dệt, hàng du lịch, các loại hàng công nghiệp chế tạo khác (Cũng chính những sản phẩm này ngày nay các nước tương đối nghèo hơn Nhật Bản đang có lợi thế so sánh) Nghiên cứu cũng khẳng định, lợi thế so sánh của Nhật Bản dịch chuyển từ những sản phẩm thâm dụng lao động sang những sản phẩm tương đối thâm dụng vốn ở mức thu nhập bình quân đầu người khoảng 14.000USD đối với toàn bộ các sản phẩm (vào năm 1772) và khoảng 17.000USD đối với hàng công nghiệp chế tạo (vào năm 1978) Thêm vào đó, với các tính toán cụ thể cho 20 nước, nhóm tác giả cũng tìm thấy mối quan hệ đồng biến mạnh có ý nghĩa thống kê giữa độ thâm dụng vốn của lợi thế so sánh và thu nhập bình quân đầu người, thậm chí ở các quốc gia được nghiên cứu, sự chuyển đổi lợi thế so sánh từ sản phẩm thâm dụng lao động sang sản phẩm thâm dụng vốn diễn ra ở mức thu nhập bình quân đầu người thấp hơn đáng kể so với Nhật Bản Mặt khác, nghiên cứu này cũng cho thấy một phát hiện mới trong sự dịch chuyển lợi thế so sánh ở các quốc gia, đó là sự đa dạng hóa các mặt hàng có lợi thế so sánh khi thu nhập bình quân đầu người tăng lên Phát hiện này được khẳng định thêm bởi một số học giả khác như Klinger và Lederman (2006) và Imbs và Wacziarg (2003) khi cùng quan điểm cho rằng khi thu nhập bình quân đầu người tăng lên làm gia tăng cầu đối với nhiều loại hàng hóa hơn sẽ dẫn đến đa dạng hóa theo ngành
Tri Widodo (2009) sử dụng chỉ số RCA và RSCA trong nghiên cứu
về Lợi thế so sánh động ở ASEAN+3 trong thời kỳ 1976-2004 Kết quả nghiên cứu cho thấy có thay đổi trong lợi thế so sánh ở các quốc
Trang 9gia được nghiên cứu Sự thay đổi này vừa thể hiện ở mức lợi thế so sánh, vừa thể hiện cả xu hướng dịch chuyển trong các nhóm mặt hàng
mà các quốc gia có lợi thế Sự thay đổi này diễn ra qua 3 giai đoạn, và
ở giai đoạn thứ nhất của quá trình dịch chuyển, lợi thế so sánh mà các quốc gia có được chủ yếu dựa vào các sản phẩm hàng hóa thâm dụng lao động và tài nguyên Đến giai đoạn tiếp theo, lợi thế so sánh nhờ vào việc khai thác nguồn lực trong nước với các sản phẩm nông nghiệp truyền thống bị sụt giảm, đồng thời cùng với sự gia tăng về trình độ phát triển, các nước có xu hướng nhập khẩu nguyên liệu từ các nước khác có giá rẻ hơn, sau đó xử lý với công nghệ cao và xuất khẩu trở lại chính các nước đã cung cấp nguyên liệu và phần còn lại của thể giới Ở giai đoạn 3, khi trình độ phát triển và thu nhập bình quân ở mức cao, các quốc gia có xu hướng chuyển dần lợi thế so sánh sang các nhóm mặt hàng sử dụng hàm lượng vốn và công nghệ lớn hơn, số lượng mặt hàng đa dạng hơn
Ở Việt Nam, nhiều công trình nghiên cứu được về lợi thế so sánh của các ngành hàng xuất khẩu được thực hiện thông qua việc sử dụng chỉ số chi phí tài nguyên trong nước (DRC) và chỉ số lợi thế so sánh hiện hữu (RCA) Các kết quả cho thấy, Việt Nam có lợi thế so sánh mạnh trong một số ngành sử dụng nhiều lao động và tài nguyên, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, nguyên liệu thô như: lúa gạo, cá, gỗ mộc, cà phê…và các mặt hàng này cũng bộc lộ sự thay đổi mức độ trong các chỉ tiêu đo lường lợi thế so sánh khi tham gia thương mại thế giới
Mai Thế Cường (2005) tính toán chỉ số lợi thế so sánh hiện hữu RCA cho 99 ngành hàng của Việt Nam (Diễn giải mới về chỉ số lợi thế so sánh hiện hữu của Việt Nam trong Asean) thông qua 7 công thức cụ thể cho từng nhóm đối tượng Kết quả nghiên cứu khẳng định Việt Nam có ưu thế và có khả năng cạnh tranh với các nước Asean ở hầu hết các mặt hàng dồi dào về lao động và tài nguyên thiên nhiên Tương tự, Nguyễn Tiến Trung tính toán chỉ số RCA cho Asean 6
Trang 10(Việt Nam, Thái Lan, Singapore, Indonexia, Malaysia, Philipin), kết quả cho thấy: Asean 6 có lợi thế trong 16 nhóm hàng truyền thống khi tham gia thương mại thế giới Thái Lan và Việt Nam cùng có lợi thế ở ngành hàng lúa gạo, Việt Nam có lợi thế so sánh ở các hàng hóa sơ cấp như cà phê, cao su, cá, giày dép, may mặc…
Bùi Văn Trịnh và Nguyễn Quốc Nghi (2011) tính toán chỉ số DRC cho ngành hàng tôm sú nuôi thâm canh ở Đồng bằng sông Cửu Long, khẳng định ngành này luôn có lợi thế so sánh mạnh Nghiên cứu cũng xây dựng kịch bản tăng chi phí nhập khẩu và chi phí đầu vào trong nước tới 15% , khi đó DRC vẫn nhỏ hơn 1, tức là vẫn tồn tại lợi thế so sánh
Lê Quốc Phương (2008) nghiên cứu về sự sịch chuyển cơ cấu lợi thế so sánh của Việt Nam dựa trên việc sử dụng chỉ số RCA với bộ số liệu thống kê thương mại quốc tế phân theo hàng hóa theo Tiêu chuẩn phân loại thương mại quốc tế SITC phiên bản 3 (sử dụng mức phân loại 1 chữ số và 3 chữ số) của Liên hợp quốc Kết quả nghiên cứu cho thấy sự dịch chuyển cơ cấu lợi thế so sánh ở Việt Nam từ các sản phẩm dựa trên tài nguyên sang các sản phẩm chế tác, sau đó từ các sản phẩm chế tác đơn giản đến các sản phảm chế tác bậc cao hơn Cụ thể,
ở thời kỳ đầu đổi mới, lợi thế so sánh của Việt Nam chủ yếu dựa vào các sản nông sản, khoáng sản và nguyên liệu thô (RCA tại năm 1991 của các nhóm hàng Thực phẩm động vật tươi sống, Nguyên liệu thô, Nhiên liệu – chủ yếu là dầu thô lần lượt là 4,3 ; 4,7 và 3,4) trong khi
đó ở các nhóm hàng công nghiệp như giải khát, thuốc lá, dầu mỡ động/thực vật, hóa chất, hàng chế tác, máy móc thiết bị,… đều có RCA <0, tức là không có lợi thế so sánh Cho đến năm 1996, sự dịch chuyển trong cơ cấu lợi thế so sánh của nước ta đã thay đổi rõ rệt, hàng chế tác hỗn hợp đã trở thành nhóm hàng có lợi thế so sánh với chỉ số RCA đo được là 3,0 – mức lợi thế so sánh tương đối cao Nhóm hàng này chủ yếu là sản phẩm của công nghiệp nhẹ, sử dụng nhiều lao