Bài viết này nghiên cứu về xu hướng bảo hộ thương mại bằng các biện pháp phi thuế ở một số thị trường xuất khẩu nông sản chủ yếu của Việt Nam và nghiên cứu tác động của các biện pháp đó đến xuất khẩu nông sản của Việt Nam, từ đó bài viết đưa ra một số khuyến nghị để thúc đẩy xuất khẩu nông sản trong bối cảnh các nước sử dụng các biện pháp phi thuế như là những công cụ của chính sách bảo hộ thương mại.
Trang 1XU HƯỚNG BẢO HỘ THƯƠNG MẠI BẰNG
CÁC BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN VÀ
NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI XUẤT KHẨU
NÔNG SẢN CỦA VIỆT NAM Trends in trade protection by non tariff measures and their impacts on Vietnam’s agricultural export
TS Lê Thị Việt Nga
Trường Đại học Thương mại
TÓM TẮT
Mặc dù tự do hóa thương mại là một trong những nguyên tắc nền tảng của hệ thống thương mại đa phương, cũng là nguyên tắc nền tảng trong bất kỳ khuôn khổ hợp tác nào giữa các quốc gia về kinh tế - thương mại, theo đó thuế và các biện pháp phi thuế luôn được các quốc gia xem xét và điều chỉnh theo hướng giảm và đi đến xóa bỏ, song trên thực tế, các nước vẫn sử dụng các biện pháp phi thuế với những mục đích hợp pháp như bảo vệ sức khỏe của con người, bảo vệ đời sống động thực vật, bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ môi trường, hay đảm bảo cạnh tranh lành mạnh… và nhiều khi chính các biện pháp đó có thể gây ra trở ngại đối với hoạt động thương mại quốc tế Bài viết này nghiên cứu về xu hướng bảo hộ thương mại bằng các biện pháp phi thuế ở một số thị trường xuất khẩu nông sản chủ yếu của Việt Nam và nghiên cứu tác động của các biện pháp đó đến xuất khẩu nông sản của Việt Nam, từ đó bài viết đưa ra một số khuyến nghị để thúc đẩy xuất
Trang 2khẩu nông sản trong bối cảnh các nước sử dụng các biện pháp phi thuế như là những công cụ của chính sách bảo hộ thương mại
Từ khóa: bảo hộ thương mại, biện pháp phi thuế, xuất khẩu nông sản
ABSTRACT
Although free trade is one of fundamental principles in multilateral trading system and in any trade and economic cooperation framework, under which tariff and non-tariff measures used unnecessarily should
be reduced or removed, some non-tariff measures are used for legal purposes such as health proction, national security protection, envi-ronmental protection or fair competion promotion,… in some cases such measures are used in the way to protect domestic industries and give obstacles to international trade This paper studies trends in trade protection by using non-tariff measures in some countries and their impacts on agricultural export of Vietnam The paper also would like
to give some recommendation on promoting agri-food export for etnam in the situation of trade protection
Vi-Key words: trade protection, non-tariff measures, agricultural export
1 Khái quát về bảo hộ thương mại bằng các biện pháp phi thuế quan
Theo WTO, biện pháp phi thuế là những biện pháp không phải thuế quan, do chính phủ hay chính quyền địa phương ban hành, dưới hình thức là các luật, nghị định, quy định cấm hoặc hạn chế thương mại, các quy định về điều kiện,… nhằm kiểm soát hoạt động thương mại Theo OECD, rào cản phi thuế là tất cả những rào cản trong thương mại không bao gồm thuế quan1, bao gồm những biện pháp như thuế chống trợ cấp, thuế chống bán phá giá, rào cản kỹ thuật, những quy định
Trang 3
hạn chế việc cung ứng dịch vụ, v.v Theo UNCTAD, biện pháp phi thuế nhìn chung được hiểu là tất cả những biện pháp có giá trị pháp lý mà không phải thuế quan thông thường, có thể gây ảnh hưởng về kinh tế đối với thương mại hàng hóa, làm hạn chế số lượng hoặc giá trị hàng hóa hoặc
cả hai (UNCTAD/DITC/TAB/2009/3) Để nhận biết một cách rõ ràng hơn
về các biện pháp phi thuế quan, tổ chức này đã phân loại các biện pháp phi thuế Phiên bản phân loại mới nhất hiện nay được công bố năm 2012 bao gồm 16 chương (từ chương A đến chương P, xem Bảng 1.1 dưới đây), mỗi chương bao gồm các biện pháp phi thuế cụ thể
Bảng 1.1 Phân loại các biện pháp phi thuế
A - Biện pháp vệ sinh & dịch tễ
B - Rào cản kỹ thuật trong thương mại
C - Quy định về kiểm tra trước khi giao hàng và những hình thức khác
D - Biện pháp bảo vệ thương mại tạm thời
E - Những biện pháp kiểm soát số lượng, cấm nhập, hạn ngach, giấy phép
F - Những biện pháp kiểm soát giá, bao gồm các loại thuế và phí phụ thu
G - Những biện pháp tài chính
H - Các biện pháp ảnh hưởng đến cạnh tranh
I - Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại
J - Những biện pháp hạn chế phân phối
K - Những biện pháp hạn chế dịch vụ sau bán hàng
L - Những biện pháp trợ cấp (không bao gồm trợ cấp xuất khẩu)
M - Những biện pháp hạn chế mua sắm của chính phủ
N - Những quy định về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
O - Quy tắc xuất xứ hàng hóa
(Nguồn: UNCTAD, 2012)
Từ những cách tiếp cận trên cho thấy biện pháp phi thuế là những quy định được thể hiện dưới hình thức là những văn bản luật như
Trang 4luật, nghị định, thông tư, quyết định của chính phủ, các cơ quan bộ, chính quyền địa phương liên quan đến các vấn đề không phải là thuế quan như quy định về vệ sinh, dịch tễ, quy trình lấy mẫu, kiểm tra và chứng nhận vệ sinh, dịch tễ; quy định về chất lượng hàng hóa, bao bì,
ký mã hiệu, quy trình và phương pháp sản xuất, quy trình kiểm nghiệm đánh giá sự phù hợp; quy định về quy trình chứng nhận xuất xứ hàng hóa; quy định về chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ thương mại; quy định về bảo hộ sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại; quy định
về cấm nhập hoặc cấm xuất khẩu; quy định về hạn ngạch, giấy phép xuất/ nhập khẩu; quy định về cạnh tranh, phân phối hàng nhập khẩu;…Những quy định như vậy được xây dựng nhằm thực hiện các mục tiêu khác nhau như bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ đời sống động thực vật, bảo vệ môi trường, bảo vệ ngành sản xuất trong nước,… Tuy nhiên, những biện pháp phi thuế quan có thể được sử dụng với mục đích hạn chế hàng nhập khẩu nhằm bảo hộ thương mại
Tổ chức thương mại thế giới đề cập đến bảo hộ tại biên giới (border protection) là bất kỳ biện pháp nào được sử dụng nhằm hạn chế hàng nhập khẩu tại biên giới Ngoài ra, theo Kommerskollegium (2016), chủ nghĩa bảo hộ được thể hiện thông qua hai đặc điểm cơ bản: (i) phân biệt đối xử trong thương mại (trade discrimination) và (ii) hạn chế thương mại (trade-restrictiveness) Bên cạnh đó, có thể bao gồm những chính
sách làm bóp méo thương mại Bởi vậy, bảo hộ thương mại có thể được
hiểu là việc nhà nước sử dụng những công cụ, biện pháp có tác động hạn chế hoặc làm bóp méo thương mại và/ hoặc sử dụng các công cụ đó theo cách phân biệt đối xử nhằm hạn chế hàng nhập khẩu Có những biện pháp vừa có thể dùng theo cách phân biệt đối xử vừa có tác động làm hạn chế thương mại, chẳng hạn thuế quan hoặc hạn ngạch, hạn ngạch thuế quan, những biện pháp kỹ thuật,… Ngay cả những biện pháp kỹ thuật (TBT) hay những biện pháp vệ sinh dịch tễ (SPS), những
Trang 5biện pháp phòng vệ thương mại,… được sử dụng theo cách không phân biệt đối xử song vẫn có thể tạo ra trở ngại, làm hạn chế sự thâm nhập thị trường của hàng nhập khẩu, đặc biệt khi những biện pháp này được
sử dụng ngoài sự cần thiết, hợp lý Những biện pháp trợ cấp (trong đó
có trợ cấp nhằm ưu tiên sử dụng hàng nội địa thay thế hàng nhập khẩu)
là những biện pháp có thể vừa gây bóp méo thương mại vừa hạn chế hàng nhập khẩu Bên cạnh đó, biện pháp hạn chế xuất khẩu tự nguyện (VER) thể hiện dưới hình thức áp lực chính trị từ một quốc gia (nước nhập khẩu) lên một quốc gia khác (nước xuất khẩu) để ngăn chặn việc xuất khẩu hàng hóa thông qua công cụ hạn ngạch xuất khẩu cũng là một công cụ nhằm thực hiện hạn chế thương mại với mục đích bảo hộ tại nước nhập khẩu Ngoải ra, một quốc gia có thể thực hiện chính sách bảo hộ thương mại thông qua việc kiểm soát và hạ tỷ giá (phá giá nội tệ) để kích thích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu hoặc thông qua việc duy trì các quy trình thủ tục nhập khẩu rườm rà, khó khăn, tốn kém đối với doanh nghiệp
Như vậy, bảo hộ thương mại là việc sử dụng bất kỳ công cụ, biện pháp nào có thể cản trở sự thâm nhập của hàng nhập khẩu, từ biện pháp thuế quan đến những biện pháp phi thuế quan như: hạn ngạch, giấy phép, những biện pháp kỹ thuật và vệ sinh dịch tễ, trợ cấp (không bao gồm trợ cấp xuất khẩu), các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp hay tự vệ thương mại,… Bảo hộ thương mại bằng các biện pháp phi thuế chính là một trong những chính sách bảo hộ trong đó sử dụng các công cụ, biện pháp không phải là thuế quan
2 Khái quát tình hình xuất khẩu nông sản của Việt Nam trong những năm gần đây
Theo Báo cáo xuất nhập khẩu của Bộ Công Thương, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng nông sản của Việt Nam liên tục tăng trong những năm gần đây, từ mức 14,95 tỷ USD năm 2016 tăng lên 17,8 tỷ
Trang 6USD vào năm 2018 (xem Bảng 1) Việt Nam hiện nay đứng thứ 15 về kim ngạch xuất khẩu nông sản trong số những nước xuất khẩu nông sản trên thế giới, nông sản của Việt Nam được xuất khẩu tới hơn 180 quốc gia và vùng lãnh thổ Bảng 1 dưới đây thể hiện thống kê kim ngạch xuất khẩu và tăng trưởng xuất khẩu nhóm hàng nông sản và một số mặt hàng nông sản của Việt Nam trong các năm 2016-2018
Bảng 1: Kim ngạch và tăng trưởng xuất khẩu nhóm hàng nông sản và một số mặt hàng nông sản của Việt Nam trong các năm
2016-2018
Mặt hàng
Kim ngạch (Triệu USD)
Tăng trưởng kim ngạch (%)
Kim ngạch (Triệu USD)
Tăng trưởng kim ngạch (%)
Kim ngạch (Triệu USD)
Tăng trưởng kim ngạch (%)
Nguồn: Báo cáo xuất nhập khẩu của Bộ Công thương các năm 2016-2018
Số liệu thống kê từ Bảng 1 cho thấy Việt Nam có 6 mặt hàng nông sản có kim ngạch xuất khẩu trên một tỷ USD, bao gồm gạo, rau quả, hồ tiêu, hạt điều, cà phê và cao su, trong đó gạo, rau quả, hạt điều, cà phê
có kim ngạch trên 3 tỷ USD và tăng trưởng tốt trong những năm gần
Trang 7đây Ngoài những mặt hàng nông sản chủ lực trên, chè cũng là mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam với kim ngạch khoảng hơn 200 triệu USD, tuy nhiên năm 2018 mặt hàng này có tốc độ tăng trưởng kim ngạch giảm 4,2% so với năm trước Về thị trường xuất khẩu của những mặt hàng chủ lực trên, năm 2018, gạo của Việt Nam được xuất khẩu sang nhiều thị trường, trong đó các thị trường có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất là Trung Quốc, Philippines, Indonesia, Malaysia, Ghana, Iraq, Bờ Biển Ngà và Hồng Kông (Trung Quốc) Đối với mặt hàng cà phê, Đức và Hoa Kỳ tiếp tục là hai thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam trong năm 2018 với trị giá xuất khẩu lần lượt là
459 triệu USD và 340,2 triệu USD Các thị trường có giá trị xuất khẩu
cà phê trong năm 2018 tăng mạnh là Indonesia (gấp 3,8 lần), Nam Phi (tăng 109%) và Hy Lạp (tăng 96,4%) Trong năm 2018, chè của Việt Nam được xuất khẩu sang Pakistan (thị trường lớn nhất của Việt Nam, chiếm 37,5% về trị giá) đạt 38,21 nghìn tấn với trị giá 81,63 triệu USD, tăng 18,8% về trị giá so với năm 2017 Đứng thứ hai về lượng xuất là thị trường Đài Loan đạt 18,57 nghin tấn, trị giá 28,75 triệu USD, tăng 5,4% về trị giá so với năm 2017 Xuất khẩu chè sang Trung Quốc chỉ đứng sau Pakistan, Đài Loan và Nga, đạt 10,12 nghìn tấn, trị giá 19,67 triệu USD Các thị trường có kim ngạch xuất khẩu chè tăng mạnh là Đức (tăng 39,1%), Trung Quốc (tăng 37,4%) và Philippines (tăng 24,4%) Ngoài những thị trường kể trên, chè của Việt Nam còn xuất sang các quốc gia khác như: Ấn Độ, Hoa Kỳ, Saudi Arabia, Ba Lan, Ukraine… Năm 2018, Trung Quốc tiếp tục là thị trường xuất khẩu cao
su thiên nhiên lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt hơn 1,37 tỷ USD, chiếm 65,5% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, giảm 5% về trị giá so với năm 2017 Tiếp đến là thị trường Ấn Độ đạt kim ngạch 145,4
Trang 8triệu USD (chiếm 7%, tăng 60,5%) và Malaysia đạt 76,2 triệu USD (chiếm 3,6%, giảm 36%) Tiếp đến các thị trường khác có tỷ trọng nhỏ hơn như Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Đài Loan, Đức, Thổ Nhĩ Kỳ đều có xu hướng giảm Việt Nam hiện là nước xuất khẩu hạt tiêu lớn nhất thế giới, bình quân chiếm 55-60% tổng lượng hạt tiêu xuất khẩu toàn cầu Đối với mặt hàng điều, các thị trường chính tiêu thụ điều của Việt Nam như EU, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Anh, Thái Lan, Philippines, Singapore Xuất khẩu rau quả năm 2018 đạt 3,81 tỷ USD, tăng 8,8% so với năm
2017 Trung Quốc vẫn đứng vị trí thứ nhất về thị trường nhập khẩu rau quả của Việt Nam trong năm 2018 với 73,1% thị phần, giá trị xuất khẩu rau quả đạt 2,78 tỷ USD, tăng 5,1% so với năm 2017 Các thị trường có giá trị xuất khẩu rau quả tăng mạnh là Campuchia (tăng 155,7%), Aus-tralia (tăng 45,6%), Pháp (tăng 44,0%), Đức (tăng 41,8%) và Hoa Kỳ (tăng 37,1%)
Như vậy qua đó có thể thấy những mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam bao gồm gạo, rau quả, cà phê, hạt tiêu, hạt điều, cao
su, chè Các thị trường xuất khẩu nông sản chủ yếu của Việt Nam bao gồm Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, EU, Hoa kỳ, và các nước ASEAN Vì vậy, phần dưới đây tác giả nghiên cứu về xu hướng bảo hộ phi thuế của một số thị trường chính đó
3 Xu hướng bảo hộ thương mại bằng các biện pháp phi thuế quan ở một số nước trên thế giới
Theo WTO, các nước thành viên của tổ chức này đã ít sử dụng đến các biện pháp phi thuế vào khoảng đầu những năm 2000 Tuy nhiên, từ khi xảy ra khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế bắt nguồn từ Mỹ vào giữa năm 2008 đến nay, các nước lại có xu hướng sử dụng nhiều đến các biện pháp phi thuế quan Theo thống kê của tổ chức này, tính đến 30/6/2019, số lượng biện pháp phi thuế được đưa ra và có hiệu lực được thể hiện như Bảng 2 dưới đây
Trang 9Bảng 2 Số lượng các biện pháp phi thuế quan được sử dụng bởi các thành viên của WTO tính đến hết tháng 6/2019
Số lượng biện pháp được đưa ra (initiated) (*) 15.143 24.070 277 54 32 0 0 0
Số lượng biện pháp còn hiệu lực (in force) 3.495 2.870 1.861 178 48 652 1.636 1.274 Nguồn: https://i-tip.wto.org/goods/Forms/GraphView.aspx
Ghi chú: (*) Đối với các biện pháp SPS, TBT: số lượng các biện pháp được thông báo tới các thành viên; Đối với các biện pháp AD, CV, SG: số lượng các cuộc điều tra bắt đầu khởi xướng
(SPS: các biện pháp vệ sinh dịch tễ; TBT: các biện pháp kỹ thuật; AD: các biện pháp chống bán phá giá; CV: các biện pháp chống trợ cấp; SG: các biện pháp tự vệ; SSG: các biện pháp tự vệ đặc biệt; QR: các biện pháp hạn chế số lượng; TQ: biện pháp hạn ngạch thuế quan)
Bảng 2 cho thấy tính đến thời điểm 30/6/2019, các biện pháp vệ sinh dịch tễ (SPS), các biện pháp kỹ thuật (TBT), các biện pháp chống bán phá giá (AD), các biện pháp hạn chế số lượng (QR) và biện pháp hạn ngạch thuế quan (TQ) được sử dụng nhiều hơn cả với số lượng trên một nghìn biện pháp Cụ thể, có 15.143 biện pháp SPS được gửi thông báo tới các thành viên của WTO và 3.495 biện pháp đang còn hiệu lực, đây cũng là những biện pháp có số lượng những quy định còn hiệu lực nhiều hơn cả Có 24.070 biện pháp TBT được thông báo và có 2.870 biện pháp còn hiệu lực, đứng thứ hai về những biện pháp còn hiệu lực tính đến thời điểm 30/6/2019 Trong số những biện pháp phòng vệ TM, chống bán phá giá là những biện pháp có số lượng các quyết định còn lực nhiều hơn cả, 1.868 biện pháp chống bán phá giá hiện đang còn hiệu lực Ngoài ra, hiện đang có 277 vụ chống bán phá giá đang được điều tra
Thống kê của WTO cũng cho thấy sự thay đổi trong việc sử dụng các biện pháp phi thuế bởi các thành viên năm 2018 so với năm 2016
và 2017 như được thể hiện ở bảng 3 như sau:
Trang 10Bảng 6.4 Số lượng biện pháp phi thuế được sử dụng bởi các
thành viên của WTO trong các năm 2016-2018
Còn hiệu lực
Ban hành (*)
Còn hiệu lực
Ban hành (*)
Còn hiệu lực
Ban hành (*)
Còn hiệu lực
Ban hành
Còn hiệu lực
(SPS: các biện pháp vệ sinh dịch tễ; TBT: các biện pháp kỹ thuật; AD: các biện pháp chống bán phá giá; CV: các biện pháp chống trợ cấp; SG: các biện pháp tự vệ; QR: các biện pháp hạn chế số lượng)
Bảng 3 cho thấy số lượng các biện pháp SPS và TBT được thông báo tới các thành viên năm 2018 lần lượt là 1.316 và 2.037 biện pháp, cao hơn so với số lượng của hai năm trước đó Tuy nhiên, số lượng biện pháp SPS và TBT có hiệu lực trong năm 2018 giảm so với năm 2016 và năm 2017, lần lượt ở mức 3 và 101 biện pháp Các vụ chống bán phá giá được khởi xướng điều tra năm 2018 giảm khoảng 50% so với năm
2017 và số quyết định sử dụng biện pháp chống bán phá giá còn hiệu lực năm 2018 là 135, ít hơn so với số lượng 202 quyết định có hiệu lực của năm 2017
Xét về mặt hàng chịu sự điều chỉnh của các biện pháp bảo hộ phi thuế quan, cũng theo thống kê của WTO, tính đến 30/6/2019, các biện
pháp SPS chủ yếu được áp dụng (bao gồm những biện pháp đã được thông báo và những biện pháp đang còn hiệu lực) cho những hàng hóa như động vật sống và những sản phẩm từ động vật (5.740 biện pháp), rau củ quả (5.186 biện pháp), thực phẩm, đồ uống có cồn, thuốc lá
Trang 11(2.827 biện pháp),… Các biện pháp TBT chủ yếu được áp dụng cho những nhóm hàng như: máy móc và thiết bị điện tử (4.918 biện pháp), thực phẩm, đồ uống giải khát, đồ uống có cồn, thuốc lá (3.865 biện pháp), sản phẩm của ngành công nghiệp hóa chất (3.424 biện pháp), rau
củ quả (2.446 biện pháp), động vật sống và những sản phẩm từ động vật (1.818 biện pháp), kim loại cơ bản (1.765 biện pháp),… Biện pháp chống bán phá giá được áp dụng cho nhiều mặt hàng và nhóm mặt hàng được áp dụng biện pháp chống bản phá giá nhiều hơn cả bao gồm kim loại cơ bản, sản phẩm của ngành công nghiệp hóa chất,… Những biện pháp hạn chế số lượng, hạn ngạch thuế quan cũng chủ yếu được sử dụng đối với nhóm hàng nông sản như động vật sống và sản phẩm từ động vật, thực phẩm, đồ uống và thuốc lá, rau củ quả,…
Xét về nhóm quốc gia sử dụng các biện pháp bảo hộ phi thuế trong chính sách bảo hộ thương mại của mình, thống kê của WTO về số
lượng các biện pháp phi thuế được sử dụng bởi các quốc gia ở các nhóm nước và khu vực cho thấy châu Á là khu vực đứng đầu về việc sử dụng biện pháp phi thuế trong chính sách thương mại của mình, trong
đó những biện pháp được các nước khu vực này sử dụng nhiều nhất là SPS, TBT, AD, QR; trong khi EU là khu vực đứng đầu về việc sử dụng hạn ngạch thuế quan; Bắc Mỹ là khu vực đứng đầu về việc sử dụng các biện pháp đối kháng Nhóm hàng nông sản, sản phẩm hóa chất, kim loại cơ bản, máy móc và thiết bị điện tử là những nhóm hàng hóa chịu
sự điều chỉnh bởi các biện pháp TBT với số lượng nhiều hơn cả
Chính sách bảo hộ thương mại phi thuế quan ở một số thị trường khu vực châu Á
Như đã đề cập ở trên, châu Á hiện là khu vực dẫn đầu trên thế giới
về việc sử dụng các công cụ phi thuế trong chính sách thương mại, đáng kể là các biện pháp như SPS, TBT, AD và QR Những nước trong khu vực sử dụng các biện pháp đó với số lượng nhiều hơn so với những nước còn lại trong khu vực bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, New Zealand, Australia Dưới đây là một số đặc điểm cơ bản về chính
Trang 12sách bảo hộ thương mại thông qua việc sử dụng một số biện pháp phi thuế quan tại khu vực châu Á
- Trung Quốc
Theo thống kê của WTO, Trung Quốc hiện đang là nước đứng đầu khu vực với số lượng các biện pháp SPS và TBT lần lượt là 1.256 và 1.295, bao gồm 1.137 biện pháp SPS, 1.192 biện pháp TBT đã được thông báo tới các thành viên và 119 biện pháp SPS, 103 biện pháp TBT còn hiệu lực Các biện pháp SPS được Trung Quốc chủ yếu sử dụng đối với những sản phẩm nông nghiệp hoặc dược phẩm, các biện pháp TBT được chủ yếu sử dụng đối với những sản phẩm nông sản như rượu, thuốc lá, sản phẩm nông nghiệp hữu cơ,… và những sản phẩm phi nông sản như thiết bị điện tử, giày dép, mỹ phẩm, thiết bị đồ gỗ,… Ngoài ra, Trung Quốc còn sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại, trong đó đáng kể là biện pháp chống bán phá giá với 93 quyết định đang có hiệu lực và 22 vụ kiện chống bán phá giá đang tiến hành Trung Quốc hiện cũng đang có 42 biện pháp hạn chế số lượng (QR) và 10 biện pháp hạn ngạch thuế quan (TQ) đang còn hiệu lực
Theo UNCTAD, có đến 89% mặt hàng và 91% giá trị hàng nhập khẩu vào Trung Quốc chịu ảnh hưởng của các rào cản phi thuế, trong
đó đáng kể là rào cản kỹ thuật (TBT) Trung Quốc sử dụng rào cản phi thuế khá đồng đều đối với các nhóm mặt hàng nông sản và phi nông sản Cụ thể có 89% mặt hàng nông sản và 90% mặt hàng phi nông sản nhập khẩu vào Trung Quốc chịu ảnh hưởng của rào cản phi thuế
Năm 2018 cũng là năm Trung Quốc bổ sung thêm một số quy định
có tác động hạn chế hàng nhập khẩu, đáng kể là Quyết định cấm nhập khẩu sản phẩm tái chế, sản phẩm đã qua sử dụng thuộc các nhóm hàng nông sản, chăm sóc sức khỏe Như vậy, chính sách bảo hộ thương mại bằng các biện pháp phi thuế quan của Trung Quốc trong năm 2018 vừa qua vẫn chủ yếu là những chính sách sử dụng đến các biện pháp TBT, SPS, AD, QR