1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách thương mại tự do và một số vấn đề cần điều chỉnh đối với nền kinh tế Việt Nam

9 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 347,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính sách thương mại là một hệ thống các quan điểm, mục tiêu, nguyên tắc và các công cụ, biện pháp thích hợp mà một chính phủ sử dụng để điều chỉnh các hoạt động thương mại quốc tế của quốc gia mình trong thời kì nhất định, phù hợp với định hướng phát triển KTXH của quốc gia đó. Bài viết nhằm mục đích nghiên cứu về những chính sách cho thương mại tự do ở Việt Nam, đồng thời làm rõ những yêu cầu cần điều chỉnh liên quan cho phù hợp với tình hình mới.

Trang 1

CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI TỰ DO VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN ĐIỀU CHỈNH ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ

VIỆT NAM Free trade policy and things to adjust to the

Vietnamese economy

Khoa Kế toán-Tài chính, Trường Đại học Hải Phòng

Email: trangtcnh9@gmail.com

TÓM TẮT

Tới nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ thương mại với hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, được xem là một trong những nước có nền kinh tế hướng xuất khẩu mạnh mẽ nhất trong khối các nước ASEAN Trong tiến trình này có sự tác động không nhỏ của các hiệp định thương mại

tự do đã được ký kết, chính sách thương mại tự do nhiều đổi mới Tuy nhiên, trong tiến trình hội nhập, sự thay đổi của thị trường quốc tế, những chính sách về thương mại tự do cũng cần có những điều chỉnh phù hợp

Từ khóa: Thương mại tự do, tự do hóa thương mại, chính sách

thương mại

ABSTRACT

To date, Vietnam has established trade relations with more than 200 countries and territories, considered to be one of the countries with the

Trang 2

most powerful export-oriented economies among ASEAN countries In this process, there was a significant impact of free trade agreements signed, free trade policies were renewed However, in the process of integration, changes of the international market, the policies on free trade also need to be adjusted accordingly

Keywords: Free trade, trade liberalization, commercial policies

1 Đặt vấn đề

Chính sách thương mại là một hệ thống các quan điểm, mục tiêu, nguyên tắc và các công cụ, biện pháp thích hợp mà một chính phủ sử dụng để điều chỉnh các hoạt động thương mại quốc tế của quốc gia mình trong thời kì nhất định, phù hợp với định hướng phát triển KTXH của quốc gia đó Chính sách thương mại tự do là chính sách mà trong

đó nhà nước không can thiệp trực tiếp vào quá trình điều tiết ngoại thương, mở cửa hoàn toàn thị trường nội địa để cho hàng hóa và tư bản được tự do lưu thông giữa trong và ngoài nước, tạo điều kiện cho thương mại phát triển Tuy nhiên, hiện nay, những quan hệ hợp tác đa phương, song phương và nhiều điều chỉnh của nền kinh tế thế giới xuất hiện, kéo theo đó những yêu cầu về đổi mới chính sách thương mại tự

do ở Việt Nam Những điều chỉnh này nhằm giúp cho thị trường Việt Nam có những thích ứng phù hợp với kinh tế thế giới, vừa đảm bảo đúng định hướng: Kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng XHCN

2 Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu

Bài báo nhằm mục đích nghiên cứu về những chính sách cho thương mại tự do ở Việt Nam, đồng thời làm rõ những yêu cầu cần điều chỉnh liên quan cho phù hợp với tình hình mới

Để thực hiện bài báo này cùng với những quan sát về chính sách thương mại tự do ở Việt Nam, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu công cụ sau:

Trang 3

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Tác giả sưu tầm tài liệu, nghiên cứu chính sách, thống kê, phân loại tổng hợp, so sánh đánh giá thông tin và đưa ra nhận xét

- Phương pháp phân tích nội dung: Thông qua những loạt bài viết, bài nghiên cứu, chính sách về thương mại tự do ở Việt Nam và Thế giới

để có những nhìn nhận đánh giá thực tiễn về tình hình áp dụng chính sách thương mại tự do ở Việt Nam, đồng thời đề xuất những điều chỉnh phù hợp

3 Kết quả nghiên cứu

3.1 Những thành tựu trong tiến trình tự do thương mại, hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

Toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hoá thương mại đã

và đang là xu thế nổi bật của kinh tế thế giới đương đại Phù hợp với xu thế đó, từ năm 1986 đến nay, Việt Nam đã tiến hành công cuộc đổi mới

và đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế với phương châm ―đa dạng hoá,

đa phương hoá quan hệ đối ngoại Việt Nam sẵn sàng là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển‖ Việt Nam luôn thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng

mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực

- Về quan hệ hợp tác song phương, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 200 quốc gia trên thế giới, mở rộng quan hệ thương mại, xuất khẩu hàng hoá tới trên 230 thị trường của các nước và vùng lãnh thổ[1], ký kết trên 90 Hiệp định thương mại song phương, gần 60 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 54 Hiệp định chống đánh thuế hai lần và nhiều Hiệp định hợp tác về văn hoá song phương với các nước và các tổ chức quốc tế.[2]

Trang 4

Về hợp tác đa phương và khu vực: Việt Nam đã có mối quan hệ tích cực với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế như Ngân hàng phát triển Á Châu, Quỹ tiền tệ thế giới, Ngân hàng thế giới Tiến trình hội nhập kinh

tế quốc tế của Việt Nam được đẩy mạnh và đưa lên một tầm cao hơn bằng việc tham gia các tổ chức kinh tế, thương mại khu vực và thế giới,

ký kết các hiệp định hợp tác kinh tế đa phương

Đặc biệt, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã có một bước đi quan trọng khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của

Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào ngày 11 tháng 01 năm 2007 sau 11 năm đàm phán gia nhập Tổ chức này

Tự do hóa thương mại và hội nhập đã tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế Với kim ngạch xuất, nhập khẩu gấp hơn 1,5 lần GDP trong những năm gần đây, Việt Nam được xem là quốc gia có nền kinh

tế với ―độ mở ‖ khá cao

Các hiệp định thương mại tự do (FTA) nối tiếp nhau diễn ra trong quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa Cho thấy: Các FTA thế hệ mới có phạm vi rộng hơn, nội dung đều vượt ra ngoài cam kết về thương mại, dịch vụ và một phần đầu tư, đề cập nhiều đến thể chế, pháp lý trong các lĩnh vực môi trường, lao động, DN nhà nước, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ và cả những quy định ―ngoài kinh tế‖ hay ―kinh tế chính trị‖ Các FTA này khi có hiệu lực sẽ ảnh hưởng rất mạnh tới thể chế của các bên liên quan Tham gia các FTA giúp chúng ta có cơ hội cơ cấu lại xuất, nhập khẩu lành mạnh hơn, tránh phụ thuộc quá mức vào một thị trường Thương mại hai chiều giữa Việt Nam và các đối tác sẽ tăng cao sau khi có FTA

TPP hiện được coi là ―hiệp định của thế kỷ XXI‖, hướng tới một sân chơi mới nhằm tạo ra các tiêu chuẩn mới cho thương mại, đầu tư, hội nhập kinh tế quốc tế nên tiêu chuẩn và mục tiêu đặt ra rất cao Đây cũng là một hiệp định có vị trí và tầm chiến lược quan trọng nhất đang được đàm phán tại thời điểm hiện nay trên thế giới TPP sẽ tạo điều kiện cân bằng lại quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các khu vực

Trang 5

thị trường trọng điểm, tránh phụ thuộc quá mức vào một khu vực thị trường nhất định Bên cạnh đó, quan hệ thương mại tự do với các thị trường lớn sẽ tạo đột phá cho xuất khẩu của Việt Nam Ngoài ra, cơ hội tiếp cận các thị trường rộng lớn, như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ca-na-đa với thuế nhập khẩu bằng 0%, kết hợp với các cam kết rõ ràng hơn về cải thiện môi trường đầu tư và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ chắc chắn sẽ góp phần thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, đặc biệt của các tập đoàn đa quốc gia

3.2 Các chính sách pháp luật điều chỉnh thương mại tự do ở Việt Nam

Theo thống kê, hiện có 12 Luật và khoảng gần 200 Nghị đinh, văn bản liên quan điều chỉnh tự do thương mại ở Việt Nam bao gồm: Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư, Luật thương mại, Luật quản lý ngoại thương, Luật đấu thầu, Luật kinh doanh bất động sản, Luật chứng khoán, Luật các công cụ chuyển nhượng, Luật giao dịch điện tử, Luật chuyển giao công nghệ, Luật cạnh tranh, Luật trọng tài thương mại… Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách đã góp phần cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao sức hấp dẫn của Việt Nam trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và hưởng lợi từ sự tăng trưởng xuất khẩu đáng kể từ FDI, đóng góp quan trọng vào GDP và kim ngạch xuất khẩu (65%) Luồng kiều hối chuyển về cũng ngày càng gia tăng

Về cơ bản, hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến chính sách đầu

tư thương mại, tự do thương mại của Việt Nam đầy đủ, hành lang pháp

lý tương đối vững vàng, tạo điều kiện cho hội nhập Tuy nhiên, trên thực tế, trong quá trình tự do thương mại có nhiều điểm phát sinh, cần

có sự giải quyết đúng đắn về chính sách

Thứ nhất: Thương mại điện tử phát triển, trong khi đó, đây vẫn là thách thức với thị trường trong nước, các hướng dẫn thi hành Luật liên quan còn có chỗ lúng túng

Trang 6

Thứ hai: Quy mô doanh nghiệp Việt Nam nhỏ Với số vốn đăng ký thành lập bình quân khoảng 6 tỷ đồng/DN (chưa đến 300.000 USD/DN), tuyệt đại đa số DN Việt Nam là nhỏ và siêu nhỏ, chưa thể vươn tầm ra đến khu vực, nên từ trước đến nay, họ ít quan tâm tới hội nhập Vài năm gần đây, mỗi năm có đến 50.000 DN - 60.000 DN ngừng hoạt động do nhiều nguyên nhân, nhưng có nguyên nhân sâu xa

là một bộ phận lớn các DN không chịu nổi sức ép của hội nhập Đây là cái giá phải trả khi chúng ta ―mở cửa‖ thị trường Việt Nam phải chuẩn

bị sẵn sàng vì các FTA thế hệ mới sẽ có những tiêu chuẩn cao vượt quá sức chịu đựng của các nhóm dễ bị tổn thương (nông dân, DN nông nghiệp, DN vừa và nhỏ) và các đối tượng xã hội nhạy cảm (người lao động, người bệnh, )

Thứ ba: Khi hàng rào thuế quan được gỡ bỏ nhưng các hàng rào kỹ thuật không hiệu quả, Việt Nam sẽ trở thành thị trường tiêu thụ các sản phẩm chất lượng kém, ảnh hưởng tới sức khỏe người tiêu dùng trong khi lại không bảo vệ được sản xuất trong nước Để tối ưu hóa những tác động tích cực và giảm thiểu tác động tiêu cực của hội nhập kinh tế đến nền kinh tế, trong thời gian tới cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp Thứ tư: Hiểu biết về luật trọng tài quốc tế của các doanh nghiệp trong nước đôi khi còn hạn chế, vì thế, nếu có tranh chấp thương mại, các doanh nghiệp trong nước còn lúng túng, không có hướng giải quyết, thậm chí, không biết phải nhờ vào các bên liên quan nào để hỗ trợ pháp luật, pháp lý liên quan để giải quyết tranh chấp

3.3 Những giải pháp để hoàn thiện chính sách cho thương mại tự do

Đầu tiên, cần có những chính sách hỗ trợ hợp lý để thúc đẩy phát triển những ngành có lợi thế so sánh, nhằm tăng năng suất và tăng sức cạnh tranh của hàng hóa trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu

Với những ngành sẽ mở rộng sau FTA thế hệ mới, nhân tố quan trọng nhất là đảm bảo sự dịch chuyển tự do của các nguồn lực sản xuất như lao động, vốn, đất đai và các tài nguyên khác để các ngành này có thể tiếp cận chúng Với những ngành kém lợi thế sau hội nhập, đẩy

Trang 7

mạnh tái cơ cấu các ngành này nhằm tăng hiệu quả cũng là một định hướng cần được quan tâm hơn Luật Thương mại và các cơ chế, chính sách quản lý rất cần được bổ sung và hoàn thiện nhằm tạo điều kiện thực hiện thuận lợi hóa thương mại Luật Thuế xuất, nhập khẩu cũng cần được sửa đổi cho thống nhất, đồng bộ với quy định của Hiến pháp

và các bộ luật hiện hành; tương thích với các cam kết và điều ước quốc

tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc đang đàm phán cũng như Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 - 2020 đã được phê duyệt Cùng với

đó, cần tháo gỡ các vướng mắc, bất cập, chồng chéo, bảo đảm tính thống nhất, đầy đủ, đồng bộ và khả thi

Thư hai, các thể chế hành chính, kinh tế liên quan cũng cần có sự thay đổi

Cải cách thể chế môi trường kinh doanh cần có bước đi phù hợp, nhưng phải đặt trong mối quan hệ hệ thống: việc làm trước phải mở đường cho việc làm sau, không tạo ra xung đột pháp lý và mâu thuẫn chính sách Với xuất phát điểm thấp, nguồn lực hạn chế, nền kinh tế Việt Nam ―có đặc thù riêng‖, làm sao để nền kinh tế này tiếp cận với các chuẩn mực, thông lệ kinh doanh tốt của thế giới mà các nước đi trước phải mất cả vài trăm năm để có

Thể chế hành chính phải có những điều khoản đòi hỏi các cơ quan và chức vụ hành chính phải chịu trách nhiệm cuối cùng về các sai phạm hành chính trong phạm vi quyền quản lý của mình Do đó thủ tục hành chính cũng phải được thể chế hóa và đòi hỏi thực thi nghiêm minh Bên cạnh đó cũng rất cần một đội ngũ cán bộ công chức có năng lực, được đào tạo cơ bản, có đạo đức nghề nghiệp

Thứ ba, cần có cơ chế chính sách hỗ trợ doanh nghiệp Các trung tâm, hiệp hội phải có trách nhiệm hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), DN mới thành lập trong việc đào tạo nhân lực, kỹ năng quản lý, quản trị, tiếp cận thị trường, cung cấp thông tin về thị trường cũng như môi trường đầu tư, thủ tục hành chính Đặc biệt, các trung tâm này phải hỗ trợ DN cả tiếp cận nguồn vốn thông qua việc phối hợp

Trang 8

chặt chẽ với Quỹ Bảo lãnh tín dụng DNNVV ở địa phương và các quỹ tài chính khác dành cho khu vực DN này Yêu cầu bức thiết là cần phải nhanh chóng triển khai áp dụng các hệ thống quản lý môi trường, như ISO 14.000, HACCP, thực hiện quản lý tốt (GMP), thực tiễn nuôi trồng tốt (GAP)

Cần có một luật hỗ trợ DNNVV, kết nối DNNVV với chuỗi giá trị toàn cầu Xử lý vấn đề tỷ giá, lãi suất cho vay, tạo điều kiện thuận lợi cho các DN có thể tiếp cận được các nguồn vốn vay từ ngân hàng Không chỉ có vấn đề hạ lãi suất mà quan trọng là làm sao cải tiến các thủ tục cho vay, tạo điều kiện cho DN không chỉ bằng tài sản thế chấp

mà cần phải định hướng vào việc cho các DN sáng tạo, vào những dự

án, lĩnh vực có tiềm năng

Cần chuẩn bị và minh bạch hóa sổ sách, kế toán, theo dõi thông tin, phối hợp công bố thông tin, nhân lực am hiểu luật lệ, vận động hành lang, ngoại giao, điều chỉnh cả những yếu tố không phải yếu tố thương mại như những nội dung liên quan tới lao động, quyền sở hữu trí tuệ

Do đó, việc thực hiện các cam kết trong FTA thế hệ mới đòi hỏi những thay đổi về chính sách và luật pháp trong nước

4 Kết luận

Những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng

về phát triển kinh tế nhờ vào việc đẩy mạnh mở cửa, hội nhập kinh tế thế giới, tích cực tham gia mạng lưới các hiệp định thương mại tự do Đến nay, Việt Nam đã tham gia và đang đàm phán 17 hiệp định thương mại tự do, trong đó có 10 hiệp định đã có hiệu lực và đang thực thi cam kết, 3 hiệp định đã ký kết hoặc kết thúc đàm phán nhưng chưa có hiệu lực, 4 hiệp định đang đàm phán

Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực, việc thực hiện các hiệp định thương mại tự do trong thời đại mới cũng đặt ra một số thách thức cho nền kinh tế Việt Nam như: Thách thức về thể chế, cạnh tranh, nguồn nhân lực, các luật pháp liên quan, mà phải có giải pháp đồng bộ trong nhiều vấn đề thì Việt Nam mới có những hành lang pháp lý và

Trang 9

các nguồn lực liên quan chủ động nhất cho tiến trình hội nhập và thực hiện các hiệp định tự do hóa thương mại, đảm bảo sự phát triển của đất nước phù hợp với xu thế kinh tế thế giới

Tài liệu tham khảo

[1] Theo các Báo cáo của các Bộ/ngành của Uỷ ban quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế, Bộ Ngoại Giao

[2] Theo các Báo cáo của các Bộ/ngành của Uỷ ban quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế, Bộ Ngoại Giao

3.http://www.mofahcm.gov.vn/vi/mofa/nr091019080134/ns12022216 2217/

4.http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/NghiencuuTraodoi/2016/37 130/Nhung-tac-dong-cua-hiep-dinh-thuong-mai-tu-do-doi-voi.aspx

5.https://danluat.thuvienphapluat.vn/tong-hop-van-ban-phap-luat-thuong-mai-157746.aspx

6 Nguyễn Thị Thu Hà, DN Việt Nam trước cơ hội và thách thức hội nhập Cộng đồng Kinh tế ASEAN, Tạp chí Con số và sự kiện, số 4/2016 (507)

Ngày đăng: 09/05/2021, 06:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w