1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

thiết kế và quy hoạch sân bay cảng hàng không

278 1,8K 11
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thiết kế và Quy hoạch Sân Bay Cảng Hàng Không
Trường học Trường Đại Học Giao Thông Vận Tải
Chuyên ngành Thiết kế và quy hoạch sân bay cảng hàng không
Thể loại Luận án
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 278
Dung lượng 24,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tham khảo tài liệu 'thiết kế và quy hoạch sân bay cảng hàng không', kỹ thuật - công nghệ, kiến trúc - xây dựng phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Trang 1

PGS TS PHAM HUY KHANG

THIET KE VA QUY HOACH

CANG HANG KHONG

Trang 2

PGS TS PHAM HUY KHANG

THIET KE VA QUY HOACH

SANI BAY

CANG HANG KHONG

NHÀ XUẤT BAN XÂY DUNG

HÀ NỘI - 2006

Trang 3

LOI NOI DAU

Đã gần một thế kỷ - bể từ năm 1919 khi Việt Nam tiếp nhận chiếc

máy bay đầu tiên, ngành hàng không Viét Nam đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận Chúng ta đã hình thành uà phát triển ngành này thành một ngành kinh tế quan trọng, góp phan oào sự nghiệp công

nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước do Đảng khởi xướng uò lãnh đạo Tiện tại chúng ta đã tạo ra được nên tảng của một ngành hang không

dân dụng hiện đạt, có những tiềm năng uà cơ hội, uới sự phái triển đón

đầu uê kỹ thuật để hoà nhập uào ngành oận tải hàng không khu oực uà

Xuất phát từ nhụ cầu thực tế, chúng ta mới bắt đâu hình thành uà đào

tạo những kỹ sự chuyên ngành xây dựng sân bay - cảng hàng không Dây

là những kỹ sự duy nhất được đào tạo ở nước ta uề lĩnh uực này

Tà nơi đào tạo, chúng tôi biên soạn cuốn "Thiết bế uà quy hoạch sân bay - công hàng không" uới mong muốn phục oụ cho sinh uiên, giáo uiên giảng dạy môn học thuộc ngành này Trong chương trình đào tạo chung,

hy vong cuốn sách sẽ góp phần trang bị những kiến thức cơ bản nhất,

góp phần đào tạo, nghiên cứu để từng bước hoàn chỉnh chương trình đào tạo cho chuyên ngành xây dựng đường ôtô uà sân bay

Do nhụ cầu cấp bách uê thời gian uò các điều biện khác, trong quá trình biên soạn không tránh khôi những thiếu sót Rất mong nhận được

sự thông cảm uà mong tiếp tục nhận được sự hợp tác của bạn đọc

Tác giả

Trang 4

Phẩn I THIẾT KẾ SAN BAY - CANG HANG KHONG

Chuong 1

NHUNG VAN DE CHUNG VE VAN TAI HANG KHONG

1.1 LICH SUPHAT TRIEN CUA NGANH HANG KHONG DAN DUNG THE GIGI

Các mốc lịch sử phát triển

Từ thời kỳ phục hưng, Leona Devanhxi và nhiều nhà khoa học khác đã mơ ước làm một cái máy giúp con người bay vào không gian

- Năm 193, hai anh em người Mỹ Orville và Wilburr Wringth đã thực hiện thành

công chuyến bay đầu tiên bằng máy bay có động cơ tại Mỹ (chuyến đầu tiên bay được

300m, cao khoảng 50 m)

Tuy nhiên phải nói rằng chuyến bay đầu tiên của con người phải kể đến sĩ quan Hàng

hải người Nga A.P.Môzaixki thực hiện vào năm 1885 bằng động cơ hơi nước

- Năm 1911 ở Mỹ đã sử dụng máy bay trong việc đưa bưu cục

- Năm 1919 hãng hàng không đầu tiên trên thế giới được thành lập mang tên Dutch

Line KLM bat đầu tiến hành các chuyến bay thương mại

- Nam 1920 có các chuyến bay quốc tế bất đầu từ Mỹ Các hệ thống dẫn đường xuất hiện

- Tại Nga tuyến hàng không đầu tiên được mở là tuyến Mátxcơva - Viễn đông dài

420 km

- Năm 1939 - 1945 công nghiệp sản xuất máy bay chiến đấu phát triển mạnh mẽ,

'năm 1943 mỗi ngày Liên bang Xô Viết sản xuất khoảng 300 máy bay chiến đấu các loại

để bảo vệ tổ quốc

- Nam 1947 máy bay 2 dong co xuat hién nhu IL-12 va IL-2 stic ché vai chục người

vận tốc 220 - 240km/h trở thành máy bay chở khách chủ yếu của Liên bang Xô Viết

- Năm 1950 động cơ phản lực xuất hiện Các máy bay sử dụng loại động cơ này đã tạo ra ký nguyên mới trong vận tải hàng không

Trang 5

Có thể nói trong giai đoạn 1950 -

đến nay vận tải hàng không đã có

những bước tiến vượt bậc trong tất

cả các mật:

+ Số lượng, chất lượng và an

toàn được nâng cao, các loại máy

bay mới được chế tạo, được cải

tiến máy bay chở được nhiều

khách hơn như Boeing 777 và

Airbus - 380 có thể chở 500 - 600

hành khách bay lién mot mach

Chiếc máy bay do anh em nha Wringth ché tao

và bay thành công năm 1903 tốc 900 - 1000km/h (ảnh viện bảo tàng lịch sử hàng không -

Máy bay vận tdi hang hod AN-225

Trang 6

+ Các sân bay được nâng cấp trở thành hiện đại nhất, có hệ thống phục vụ hoàn hảo cho hành khách, cho vận chuyển hàng hoá, cho kiểm soát an toàn ngày càng được

hoàn thiện

+ Các thiết bị phục vụ bay tốt nhất, hệ thống định vị toàn cầu GPS, hệ thống dẫn

đường, lái tự động, hệ thống chống sét Hệ thống dẫn đường trên mặt đất và trên máy bay ngày càng hoàn thiện Phục vụ trên máy bay là tốt nhất

+ Các máy bay chở hàng hoá cũng được chế tạo, sức chở ngày càng tăng, có loại máy bay (IL -96, TU-204, AN-124, Ruxlan, khối lượng cất cánh đến 405 tấn, loại AN-225 Maria 600 tấn

: + Năm 1944, 52 quốc gia trên thế giới nhóm họp tại Chicago (Mỹ) bàn thảo và lập ra

Tố chức hàng không dân dụng quốc tế ICAO (international Civil Aviation Organization), Nam 1990, Viét Nam tham gia tổ chức này và đã có lồ] nước tham gia

L2 NGÀNH HÀNG KHÔNG VÀ VẬN TẢI HÀNG KHÔNG, CƠ SỞ HẠ TẦNG CỦA NGÀNH HÀNG KHÔNG DÂN DỤNG VIỆT NAM

- Việt Nam đón nhận chiếc máy bay đầu tiên vào năm 1919 (*) đó là loại máy bay một động cơ của Pháp

- Sân bay đầu tiên được xây dựng là sân bay Bạch Mai, sân bay Gia Lâm

- Giai đoạn trước năm 1945, thực dân Pháp đã xây dựng một số sân bay Gia Lâm, Bạch Mai (Hà Nội), Cát Bí (Hai Phong), Tan Son Nhat (Sài Gòn) nhằm phục vụ cho mưu

+ Từ hoà bình lập lại đến năm 1975

Về cơ bản, chúng ta chỉ khôi phục lại các sân bay hiện có để phục vụ chủ yếu cho

cuộc chiến đấu, trong thời gian này đã xây dựng thêm sân bay Nội Bài và sân bay Hoà Lạc Chúng ta đã thực sự bất tay vào xây dựng ngành hàng không đân dụng với sự giúp

đỡ to lớn của Liên Xô Ngành hàng không đã hình thành nhưng chủ yếu phục vụ cho sự nghiệp Xây dựng CNXH và chiến đấu bảo vệ tổ quốc Tuy cơ sở vật chất chưa lớn mạnh nhưng cái đáng quý nhất là ta đã đào tạo cho tương lai một đội ngũ phi công đầy bản Tĩnh} phục vụ đắc lực cho ngành hàng không sau này,

Trang 7

+ Giai đoạn từ 1975-1985

Day là thời kỳ nên kinh tế gập rất nhiều khó khăn nhưng chúng ta đã tiếp cận với một nên hàng không do Mỹ để lại Đó là một loạt sân bay, hệ thống điều khiển sân bay, các

máy bay quan su va dan su Day là thời kỳ tiếp cận với hang khong thế giới

+ Giai đoạn 1986 đến nay

Đây là thời kỳ đổi mới của đất nước, sự đổi mới đã tạo ra những đột biến vẻ kinh tế, tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho ngành hàng không phát triển Cho đến nay từ chỗ gần như không có gì chúng ta đã phát triển ngành hàng không thực sự là một ngành kinh tế

quan trọng, đã tiếp cận ngay với công nghệ kỹ thuật hiện đại Nền kinh tế thị trường đã

tạo điều kiện cho chúng ta có tiền để xây dựng cơ sở vật chất của ngành hàng không,

mua trang thiết bị (máy bay, thiết bị điều khiển)

Cho đến nay so với khu vực ta còn khá khiêm tốn, nhưng với xu thế chung nhất định

chúng ta sẽ có điều kiện phát triển ngành này

Những vấn đề đặt ra cho ngành hàng không Yiệt Nam

- Quy hoạch hệ thống cảng hàng không và sân bay Việt Nam

~ Cơ sở vật chất (cơ sở hạ tầng sân bay - máy bay)

- Hệ thống quy trình quy phạm thiết kế, khai thác sân bay

- Đội ngũ cán bộ KHKT phục vụ cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng

Trang 8

Chương 2

TUYẾN HÀNG KHÔNG VÀ CẢNG HÀNG KHÔNG

PHÂN LOẠI VÀ CÁC YẾU TỐ HÌNH HỌC SÂN BAY

ˆ_2.1 CÁC BỘ PHẬN CỦA CẢNG HÀNG KHÔNG VÀ CHUC NANG CUA CHUNG

2.1.1 Cang hang khéng (Airport-aeroport)

2.1.1.1 Giao thong hang khong: là các chuyến bay của các máy bay (máy bay hành khách, máy bay vận tải) ở trong khoảng không gian thực hiện theo các tuyến hàng không quốc tế, các đường hàng không nội địa và theo các hành trình đường di đã được

xác định, các tuyến hàng không đi qua, tham chiếu ở trên mặt đất gọi là các hành lang

bay Hướng và chiều rộng của các tuyến hàng không, các hành trình đường đi, cũng như

các độ cao bay được xác định với việc tuân thủ theo các yêu cầu về độ an toàn bay và có tính đến các điều quan tâm lợi ích của các tổ chức tương ứng phù hợp

Các tuyến hàng không quốc tế và nội địa được trang bị các phương tiện dẫn đường bằng vô tuyến và các phương tiện khác nữa, đảm bảo cho các chuyến bay được an toàn Các thiết bị chỉ dẫn, thuyết minh một cách tỉ mỉ, chỉ tiết về địa vật lý, địa lý tự nhiên và

các đặc trưng của khí hậu phục vụ cho các chuyến bay

Để phục vụ tốt các chuyến bay với mục đích chuyên chở hành khách, hành lý, hàng hoá, bưu điện thư tín cũng như với các mục đích khác nữa, chúng đã hình thành -tạo ra các cảng hàng không và những sân bay

2.1.1.2 Cảng hàng không: là toàn bộ tổ hợp các công trình để tiếp nhận và xuất phát của các máy bay phục vụ vận tải hàng không; để đáp ứng được các mục đích trên tổ hợp này có sân bay, ga hàng không và các công trình ở trên mật đất khác nữa, và những

trang thiết bị cần thiết ở các cảng hàng không sân bay lớn đều có các hệ thống điều

khiển tự động, các phương tiện đồng bộ về cơ giới hoá giao thông di động và cố định, có mạng lưới thông tin liên lạc, công trình kỹ thuật và các trang thiết bị khác mà chúng rat cần thiết cho việc thực hiện các quy trình công nghệ về việc phục vụ các chuyến vận tải, vận chuyển hành khách

Như vậy vé mat cong trình, cảng hàng không gồm tổ hợp các công trình và các trang

thiết bị chuyên dụng được dùng để thực hiện các quá trình công nghệ phục vụ hành

9

Trang 9

khách, hàng hoá và hành lý của hành khách trong mọi điều kiện thời tiết và trong suốt thời kỳ phục vụ của cảng hàng không

Tổ hợp này thường gồm đường cất hạ cánh (đường bãng) và các công trình phụ trợ

của riêng nó, khu phục vụ kỹ thuật

Địa phận của cảng hàng không là vùng đất, vùng trời, đảm bảo được sự cất cánh- bay lên và sự hạ cánh - đỗ xuống của các máy bay, vùng địa phận về phục vụ kỹ thuật (như công trình xây dựng) mà ở trên nó người ta bố trí sắp xếp các toà nhà và các công trình

để đảm bảo cho các chuyến bay được nhanh nhất, tiện lợi nhất, an toàn nhất

Các cảng hàng không hiện đại được xây dựng thường bao g6m đường bang cat ha cánh, các công trình phụ trợ như đường lăn, sản đỗ, sân ga, sân phục vụ kỹ thuật, khu

vực kỹ thuật, khu dịch vụ gồm siêu thị mua sắm (có các cửa hàng miễn thuế), khách sạn,

: nhà hàng, khu giải trí, v.v tuỳ điều kiện khác nhau, các khu vực này liên hoàn với

„ nhau sao cho có thể phục vụ tốt nhất cho các hành khách (di và đến) cũng như các hành khách chờ trung chuyển tuyến bay

2.1.2 San bay (Airfield- Airport}

Sân bay là bộ phận cơ bản của cảng hàng không, sân bay là một phần đất (hoặc là

phần mặt nước cho các tàu sân bay - thuỷ phi cơ bay trên mặt nước) Nó được xây dựng

và trang bị chuyên dụng đặc biệt để cho việc cất cánh, hạ cánh, sự lái, đỗ lại, dừng lại và

để phục vụ bảo dưỡng các tàu bay Sân bay thường được bế trí gần nhà ga để tạo thuận lợi cho việc hành khách đi vào các tàu hàng không và việc đi ra khỏi chúng, thực hiện chuyên chở, vận tải, hay là sự đi chuyển, dịch chuyển của các hành khách đi bộ ra khỏi ga sân bay và ngược lại, thực hiện tác nghiệp xếp dỡ hàng hoá, hành lý và thư tín bưu điện

Sân bay gồm các bộ phận sau:

+ Sân đường: Sân đường là toàn bộ hệ thống đường (công trình hạ tầng) cho phép máy bay cất hạ cánh cũng như chuyển động trên mat đất (còn gọi là sân - đường thao tác hoặc sân -đường hoạt động)

+ Khu phục vụ kỹ thuật: Là toàn bộ các nhà cửa trang thiết bị cần thiết phục vụ cho

máy bay, hành khách và hàng hoá

Chú ý: Cần phân biệt sân bay dân dụng và cảng hàng không:

- Sân bay là một tổ hợp để tiếp nhận các máy bay chính vì vậy tổ hợp này chỉ có các

công trình kỹ thuật cần thiết để máy bay hoạt động Nếu các công trình kỹ thuật này

được bổ sung bằng các công trình thương mại

bay sẽ trở thành cảng hàng không

lếp nhận máy bay thương mại thì sân

- Các sân bay dân dụng phục vụ cho vận tải hàng không gọi là cảng hàng không 10

Trang 10

<Không có khái niệm cảng hàng không quân sự mà chỉ có khái niệm sân bay quân sự

hoặc căn cứ hàng không>

+ Vùng trời của sân bay: Là vùng trời gắn liên với sân bay Để cho sân bay hoạt động

an toàn thì khu vực xung quanh nó phải ở trong điều kiện máy bay có thể hoạt động, tức

là phải đảm bảo tĩnh không của sân bay

Tổ hợp ba bộ phận sân - đường, công trình, không gian của sân bay hợp thành một

mặt bằng tổng thể của sân bay Mặt bằng này sẽ bao gồm các đặc trưng kỹ thuật mà sân

bay phải có và được tiêu chuẩn hoá và được phê duyệt của Nhà nước

2.1.3 Các bộ phận của sân đường

2.1.3.1 Đường băng (Runway)

4) Bộ phận sử dụng để cất - hạ cánh trong sân bay, hay dải cất-hq cánh, thường gọi

tắt là dường bằng

b) Yêu câu của đường bằng

+ Trên các sân bay có số lần cất - bạ cánh lớn phải làm đường bảng có mặt đường

vững chắc, có khả năng tiếp nhận tốt tải trọng của máy bay

+ Mat đường băng phải có độ dốc ngang đảm bảo thoát nước tốt Hai bên đường băng phải bố trí hệ thống thoát nước, để nước ra khỏi khu bay

+ Mật cất đọc của đường bảng phải đảm bảo tầm nhìn và độ bằng phẳng theo yêu

cầu, những chỗ đổi dốc phải bố trí đường cong đứng

+ Khi chọn vị trí đường băng phải xét tới một loạt các nhân tố, đặc biệt là việc đảm bảo tĩnh không, điều kiện địa hình và tình hình địa chất, các điểm dân cư xung quanh

sân bay và hướng gió chủ yếu

+ Đảm bảo tĩnh không thông thoáng là yêu cầu cơ bản đối với việc chọn hướng của

đường băng và cũng là yêu cầu khó giải quyết nhất

+ Về mặt địa hình, bố trí vị trí đường băng hợp lý tức là tạo điều kiện thoát nước, làm khô đất khu bay và giảm khối lượng đào đắp

+ Để khác phục tiếng ồn của động cơ phản lực đến khu dân cư, hướng của đường

bảng không nên đi qua vị trí của thành phố Trong điều kiện không tránh được thì cần

đời sân bay ra cách thành phố 30-40km

+ Việc tính toán hướng gió có tác dụng rất quyết định đối với việc chọn hướng của

đường băng Khi máy bay cất và hạ cánh, hợp lý nhất là tiến hành ngược với hướng gió

Đo vậy việc bố trí đường bang phải căn cứ vào hướng gió chủ yếu

11

Trang 11

e) Cấu tạo của dải bay (Runway strip) (đường băng)

Dải bay có dạng hình chữ nhật, hướng của nó được bố trí song song với hướng gió

chính của khu vực Số lượng dải bay tuỳ thuộc cấp sân bay, khả năng thông hành của dải

bay tức là số lần hạ và cất cánh của máy bay trong một đơn vị thời gian (thường là

1 giờ) Có thể có 1 hay nhiều dải bay, có dải bay chính, dải bay phụ tuỳ thuộc vị trí vào chức năng của sân bay

Bề mặt của dải bay được bố trí bằng vật liệu nhân tạo, có đủ cường độ để chịu tải khi

máy bay cất và hạ cánh, cũng như khi chạy đà

* Bảo hiểm đầu: kéo dài về mỗi đầu của dải bay với một khoảng dài từ 250-400m tuỳ

thuộc cấp hạng sân bay :

* Dién tích làm việc của dải bay dùng để cất hạ cánh, chiều dài và chiều rộng của nó

phụ thuộc vào cấp sân bay trong cảng hàng không

Hình 2.2 Sân bay quốc tế Đalát (Mỹ) 12

Trang 12

trình kỹ thuật)

Nguyên tắc bố trí đường lăn là tránh giao cắt giữa chuyển động của máy bay với các

phương tiện giao thông khác và tránh cắt qua khu vực làm việc của hệ thống đài chỉ huy

bay Việc bố trí của đường lăn trên mặt bằng phải đảm bảo máy bay vận hành theo một

đường vòng khép kín, giữa các điểm liên tiếp nhau phải được nối bằng đường thẳng ngắn nhất, vì vậy khi thiết kế đường lăn nên cố gắng nối bằng các đường thẳng, giảm thiểu các

chỗ cong và các chỗ giao nhau để tăng tốc độ lăn và an toàn khi vận hành

Chiêu rộng của đường lăn phụ thuộc vào loại máy bay và kích thước càng của nó

Dọc theo hai bên đường lăn cần bố trí đền tín hiệu, đèn chỉ dẫn để đảm bảo an toàn

cho chuyển động của máy bay trên đường, lan

Do máy bay lăn tập trung theo vệt nên phải xây dựng mặt đường kiên cố cho đường lăn Đường lan có 2 loại, đường lăn chính, đường lăn tắt và đường lăn phụ

Đường lăn chính (Main taxiway): Để vận hành máy bay ra tuyến cất cánh hoặc để

máy bay vận hành từ đường băng về sân ga sau khi hạ cánh

Đường lăn tắt (Exit taxiway): Được bố trí để rút ngắn hành trình lăn của các máy bay tâm ngắn trên sân bay Khởi điểm của các đường lăn này được bố trí tại điểm kết thúc chạy bon hạ cánh của máy bay tính toán Về nguyên tắc, tuyến khởi bay của máy bay

13

Trang 13

loại vừa có thể bố trí tại chỗ nối tiếp giữa đường lăn tắt và đường băng, do đó rút ngắn

được hành trình lăn của loại máy bay này và nâng cao được năng lực thông qua của

đường băng Đường lăn tắt nối với đường lăn chính hoặc trực tiếp nối liền đường băng

với sân ga

Đường lấn phụ (Secondary taxiway): Là đường lăn bao quanh hoặc đi qua sân đỗ để

cho máy bay vận hành từ sân ga đến sân đỗ hoặc trạm tiép xang dau Chiểu dài của đường lăn này tương đối ngắn

Còn được đặt, bố trí gần kể với sân bay là địa phận vùng gần xung quanh sân bay đó

là khu miền, địa phận mà ở trên nó, vùng trời được thực hiện việc điều phối (điều độ các

tàu hàng không máy bay lớn khoảng vùng trời ở phía trên sản bay và ở trên địa phận

vùng lân cận, xung quanh gần nó ở trong các giới hạn, phạm vi đã xác định nằm trong

; bình đồ bản vẽ mặt bằng và dựa theo chiều cao được gọi là vùng sân bay, khu vực

, sân bay

Việc bố trí xếp đặt các toà nhà và các công trình các tuyến đường thông tin liên lạc,

các tuyến đường truyền tải điện cao thế, các đối tượng công trình kỹ thuật vô tuyến và

các công trình khác nữa mà chúng có thể đe dọa vi phạm độ an toàn của các chuyến bay thuộc các tàu hàng không hoặc là có thể tạo ra nhiều các âm tạp đối với sự làm việc bình

thường của các phương tiện kỹ thuật vô tuyến ở các sân bay, nó cần phải phù hợp, thích ứng được sự đồng ý của các bộ ngành, các uỷ ban nhà nước các cục vụ và các tổ chức

khác nhau mà các sân bay này nằm trong sự điều hành quản lý của họ

Các sân bay và những đường băng cất và hạ cánh, để đón nhận được chúng từ trên không, trên bầu trời và để định hướng cho tổ- kíp bay khi cất cánh và hạ cánh của các tàu hàng không chúng đã được đánh dấu cho phù hợp với các quy tắc - quy phạm nhất

Sân đỗ máy bay là mội khu vực SB để chứa máy bay, nạp nhiên liệu, bảo dưỡng máy

bay Thường có sân đỗ nhóm và sân đỗ chuyên dụng

Hình dạng và kích thước SÐ cần đảm bảo các yêu cầu sau:

- Đủ chứa số lượng máy bay tính toán và an toàn chuyển động trên sân đỗ

- Đủ điện tích cho các phương tiện phục vụ kỹ thuật đỗ hoặc đi lại trên SĐ;

- Bảo đảm đủ diện tích bố trí các công trình kỹ thuật đặt ngầm dưới SÐ cũng như các công trình dịch vụ điều hành

14

Trang 14

2.1.4 Bộ phận phục vụ kỹ thuật (PVKT) (Technical service zone-terminal)

Là một bộ phận thuộc cảng sân bay được ghép nối liên kể với sân bay, nơi mà người

ta bố trí các toà nhà và công trình của các cơ quan sản xuất và cơ quan phụ trợ khác

Trong phạm vi giới hạn của vùng địa phan cảng sân bay, người ta có thể đã xây dựng và được trang bị các sân bãi cất cánh và hạ cánh cho máy bay lên thẳng, có sự phân tách ra các dải đường băng tự do của đường hàng không và với sự đảm bảo được các mặt phẳng

bên cạnh sườn nhằm hạn chế chướng ngại vật Để phục vụ hành khách và chuyên chở hàng hoá bằng các máy bay lên thẳng ở trên phần khu mà nó được ghép - nối liền gần

với sân bãi của máy bay Trong trường hợp tổ chức vận tải hàng không bằng máy bay

lên thẳng nằm giữa các điểm dân cư, mà chúng không có các cảng hàng không hoặc là

không có các sân bay, và cũng như nằm giữa cảng hàng không và thành phố thì người ta xây dựng tạm ga trực thăng, máy bay lên thẳng, mà trong trường hợp này là của một xí nghiệp vận tải độc lập

Khu PVKT gồm có:

- Các công trình xây dựng bố trí các thiết bị điều khiển bay như đài chỉ huy máy bay CHẾ trong mọi điều kiện, thời tiết ban ngày cũng như ban đêm

- Các bộ phận phục vụ bảo dưỡng và sửa chữa máy bay

- Nha ga va quảng trường trước ga

Công trình PVHK gồm các nhóm sau:

+ Phục vụ chuyên chở hành khách

+ Các công trình và phương tiện PVKT, máy bay, điều khiển máy bay CHC và cung cấp nhiên liệu xăng dầu

+ Các công trình sản xuất và phục vụ sinh hoạt

+ Các mạng lưới công trình trong và ngoài sân bay

2.1.5 Khu vực ven sân bay và khu vực xung quanh sân bay

Khu vực ven sân bay:

Là phần đất mà trên đó là vùng trời của nó để máy bay lên cao khi cất cánh, liệng xuống khi hạ cánh và cơ động trên không khi cất cánh và chuẩn bị hạ cánh

Vùng trời ở trên khu ven sân bay dọc theo hướng CHC ở cả hai đầu gọi là tính không đầu (TKĐ).Vùng TKĐ cũng như toàn bộ KVSB không được có vật cản làm mất an toàn

khi máy bay CHC cũng như khi bay lượn trên KVSB

Khu vực xung quanh sản bay: đó là địa hình vùng kể, gần với sân bay mà ở trên đó

và ở trong khoảng không gian vùng trời để thực hiện sự điều phối máy bay 6 trong phạm vi giới hạn của địa phận xung quanh sân bay, độ cao của các chướng ngại vật tự

nhiên, thiên nhiên (như núi, đồi, gò, mô cao, các khu rừng) và của các công trình nhân

tạo (như nhà cao tầng, các công trình cao) cần được hạn chế bởi các mặt phẳng nằm

15

Trang 15

nghiêng và nằm ngang theo quy định, có điều kiện mà chúng được gọi là mặt phẳng giới

hạn, các tham số của chúng đã được quy định theo các chỉ tiêu về thiết kế, kích thước, và

độ nghiêng, độ dốc của các mặt giới hạn đó phụ thuộc vào đặc tính của máy bay, đã được quy định đối với các loại sân bay

Các chướng ngại vật, vật cản trở của sân bay có độ cao là tất cả các công trình tạm thời cố định, không di động và hoặc là cố định không di động, di chuyển, hoặc là các bộ phận của chúng đã được bố trí phân bố ở trong vùng này, nó được sử dụng để cho giao thông bay qua của các máy bay mà nó được dành cho sự an toàn giao thông của các máy bay trong khi bay

Ở trong bản quy hoạch bình đồ khu vực địa phận gần, xung quanh sân bay là hình

chữ nhật, thường gồm có ba phần, là bộ phận chung, ở giữa và hai bộ phận ở cạnh biên

(hình 2.4a)

Hình 2.4: Sơ đồ sân bay

4a) Bố trí theo 2 hướng; b) Bố trí theo một hướng 1- dan hướng dai bay; g- phần ngoài; d- phần giữa; B- bể rộng; C- chiều dài của

bộ phận ngoài; í- chiều dài của của bộ phận giữa; f- chiều dài của bộ phận ngoài

Kích thước của các bộ phận thuộc khu vực bề cạnh gần sân bay phụ thuộc vào loại cấp sân bay Chiều rộng của khu vực này là B được thay đổi từ 25 + 40km, các phần khu

vực ở ngoài rìa biên là g có thể có độ dài từ 25 + 30km, còn các phần ở giữa là 20 + 60km

Như vậy, tổng chiều dài độ đài chung tổng quát của khu vực gần chung quanh sân bay là

C chiếm tới 100km và hơn thế nữa, còn chiều rộng của nó đạt tới 1/3 tổng chiều dài

(chiều dài tổng cộng chung)

l6

Trang 16

Ở các trường hợp khi các khu vực của bộ phận ở mép rìa biên có độ cao của các chướng ngại vật lại vượt quá độ cao cho phép thì người ta chấp thuận một khu vực không

có một hoặc cả hai phần, bộ phận mép rìa biên này trong điều kiện để đảm bảo độ an toàn về tính cơ động của việc ghé, đậu, xuất phát, đỗ, hạ cánh của máy bay

Dựa theo các điều kiện vẻ bố trí của các sân bay bên cạnh, kế bên, và khi có mặt của

các chướng ngại vật ta cũng có thể cho phép một sự bố trí phân bố theo một hướng, một

chiều (hình 2.4.b) của khu vực xung quanh sân bay đối với trục đọc của dai đường bay Đối với các sân bay như thế người ta đã soạn thảo ra các sơ dé chuyên đụng đặc biệt

về tính cơ động của tác nghiệp an toàn về cất cánh, hạ cánh của các máy bay, các kích

thước của khu vực vùng lân cận cạnh sân bay, xác định được khoảng cách cho phép tối thiểu ở giữa các sân bay cạnh kể nhau mà các khoảng cách này đảm bảo được việc cất

và hạ cánh đồng thời độc lập không phụ thuộc của các máy bay ở trên các sân bay cạnh bên

Các sân bay cạnh nhau được người ta bố trí như thế nào đó để cho các khu vực, gần

xung quanh sân bay của chúng không đặt chồng chéo lên nhau Cùng loại bỏ sự giáo cất các phần nửa bên ngoài của các bộ phận phần ở mép rìa bên của khu vực cạnh gần sân bay khi có điều kiện xác định các chế độ phù hợp đã thích ứng của chuyến bay, các chế

độ này đảm bảo được sự an toàn của các chuyến bay đồng thời cùng xảy ra với từ hai sân bay gần cạnh kể nhau

Ở trong phạm ví giới hạn của phần bộ phận ở giữa của khu vực gần xung quanh sân

bay, cần phải được đảm bảo về độ an toàn của các chuyến bay của máy bay với một

động cơ làm việc, vừa an toàn cho việc bảo dưỡng, an toàn cho việc hạ cánh với việc quay vòng và việc xuất phát ra đi theo hướng đường bay hạ cánh hoặc là theo các hành trình đường đi vuông góc

Ở trên bộ phận của khu vực cận kẻ sân bay vị trí độ cao của các đối tượng công trình

tự nhiên, và của nhân tạo đối với các cảng hàng không của tất cả các loại cấp khác nhau không được vượt quá 200m ở trên độ cao bố trí sân bay (mốc cao trình, độ cao của bể

mat DBNT tinh so với với mực nước biển)

G trong các phần bên rìa mép ngoài của khu vực gần cạnh kể sân bay, thì độ cao của các đối tượng được hạn chế giới hạn bởi mặt phẳng giới hạn mà nó bắt nguồn (đi lên từ các giới hạn chỉ giới của đoạn phần giữa từ độ cao 200m) với độ dốc nghiêng được xác định bởi các tiêu chuẩn (hình 2.5a, b)

Độ cao của các chướng ngại vật ở đằng sau các ranh chỉ giới bên cạnh sườn biên của

bộ phận làm việc, hoạt động của mặt ằng điện tích ở các dải đường băng bay (hình

2.5c) được hạn chế ban đầu bởi mặt phang nghiêng với độ dốc nghiêng là 1:10 đến tới

độ cao là 50m, sau đó là bởi mặt bằng nằm ngang và sau đó một lần nữa lặp lại là bởi

mặt nằm nghiêng với độ dốc nghiêng là 1:25, đến tới độ cao là 200m

17

Trang 17

Trong phạm vi giới hạn của các dải cạnh biên về độ an toàn không cho phép có một

chướng ngại vật nào trong dạng hình thức loại trừ, ở đây người ta bố trí sắp xếp các hệ

thống đèn hạ cánh, hoặc các mốc của các trạm ra đa định hướng (máy vô tuyến)

Khi ở điều kiện là có độ cao của các toà nhà sẽ không được vượt quá ra ngoài giới

hạn với độ đốc nghiêng là 1:10

Phần của khu vực gần cạnh sân bay mà nó ghép nối liên với đải bay và nó chạy kéo đài ra ở hướng cất cánh hoặc hạ cánh của máy bay, mà ở trên đó thực hiện lựa chọn độ cao khi cất cánh và sự giảm đi khi hạ cánh, được gọi là đải của các đường hàng không

(viết tắt DĐB)

Đối với phần này địa phân của khu vực gần, xung quanh sân bay người ta đặt ra các

yêu cầu đặc biệt

18

Trang 18

Kích thước của các dai đường băng ở trong bình đồ, mặt phẳng và độ cao cho phép của các đối tượng cần phải đảm bảo được độ an toàn cho các chuyến bay của máy bay

và trong trường hợp hư hỏng của động cơ, đảm bảo việc đỗ, hạ cánh của máy bay dựa theo các điều kiện về tầm nhìn không tốt và sự hạ cánh bị gián đoạn, đình chỉ

Liên quan tới điều này các yêu cầu đối với DĐB dành cho cất cánh và hạ cánh là Khác nhau, được phân biệt khác nhau

Người ta đã khấu trừ độ cao của các đối tượng trong DĐB khi độ dốc nghiêng của địa hình bát dầu từ ĐBNT tính từ mốc cao trình, giới hạn bên ngoài BHĐ khi có độ đốc nghiêng đi xuống, là tính từ gốc cao trình của mặt mút (đầu nối ngắn nhất) cạnh bên của ĐBNT mà nó thu được nhờ mốc giới hạn chỉ giới của BHD

Dái đường băng đường bay đối với từng trường hợp cất cánh (hình 2.6 a, b) là hình

thang với các hướng phía bên sườn biên mà chúng được sử dụng được toả phân ra dưới một góc là 13” tính từ các giới hạn chỉ giới của dải bay đến tới chiều rộng là 2000m (cho 1000m ở mỗi một phía hướng tính từ trục của DB)

Chiều rộng này tổn tại là cố định tới độ cao là 200m, còn chiều rộng được xác định ở

trong mỗi một trường hợp cụ thể, xuất phát từ điều kiện đạt được về mặt phẳng giới hạn

hạn chế của các chướng ngại vật có độ cao là 200m

Dai các đường bay dành cho trường hợp hạ cánh (hình 2.6a, c) là một hình thang với

các hướng của cạnh sườn biên mà chúng được phân kì dưới một góc là 15° tính từ giới

hạn của đải đường bay đến khi đạt được một mặt phẳng giới hạn hạn chế của các chướng

ngại vật có độ cao là 200m, chiều đài của DBD đành cho cuộc hạ cánh nhìn thấy được

Hinh 2.6: Mat cdt doe dya theo truc của dải đường bay (a), cha đường cất cánh (b),

và hạ cánh (c) 1- trục cha dai bay; 2- đâi bay; 3- dải bay của đường bay

19

Trang 19

Không tính đến các yêu cầu chung đã nêu ra ở trên, còn có các yêu cầu chuyên môn đặc biệt mà chúng đặt ra cho việc giới hạn các chướng ngại vật bởi các bể mặt hiện có

để đảm bảo an toàn hạ cánh của máy bay Các yêu cầu này xác định được độ cao cho phép giới hạn của các đối tượng mà ở chúng đảm bảo được việc đậu xuống an toàn hạ cánh đến độ cao đã được chấp nhận về giải pháp và sự quay vòng lại từ độ cao này khi

có sự hạ cánh bị gián đoạn Độ cao cho phép giới hạn của các đối tượng được xác định

bằng các tính toán trong sự phù hợp với một góc nhất định của độ dốc nghiêng về hạ cánh bởi độ cao của điểm chuẩn khống chế và bằng các yếu tố khác nữa Các yêu cầu về

sự hạn chế giới hạn của các chướng ngại vật ở trong bình đồ và theo chiều cao định

người ta định mức theo các vùng như của giai đoạn cuối cùng của điểm ghé đậu, xuất phát về đỗ hạ cánh và giai đoạn cuối hữu hạn của sự lượn quay vòng lần thứ hai Ở trong giới hạn phạm vi của các dải đường băng, đường hàng không không cho phép bố trí phân bố các toà nhà và công trình mà chúng có liên quan tới việc tập trung đông người

như của các nhà máy công xưởng, các toà nhà ở, sinh hoạt và văn hoá công cộng, cũng như các kho tàng của các sản phẩm vẻ dầu mỡ, các chất cháy nổ và các kho chứa chất gây nổ nguy hiểm khác nữa, v.v

Các tuyến đường điện cao thế trên không về truyền tải điện mà chúng được bố trí ở trong phạm vị giới hạn của các chỉ giới giới hạn của DĐB đều cần phải đáp ứng thoả mãn được các yêu cầu đối với độ cao và được bố trí ở cách xa khỏi chỉ giới giới hạn của

đải đường bay không nhỏ hơn 4km đối với các CHK loại cấp cao

Khoảng cách ở giữa các tuyến đường dây cao thế vẻ truyền tải điện và với các chỉ

giới giới hạn của dải đường bay của cảng hàng không loại cấp cao có thể chiếm tới 2km, như các tuyến được đóng khép kín từ phía hướng của đải đường bay dựa theo toàn bộ chiểu rộng của đải các đường bằng bởi các chướng ngại vật có độ cao (như các kho tang địa phương, các cánh rừng trồng cây) Bên ngoài đải các đường bay hàng không được bố

trí phân bố các tuyến đường truyền tải điện cao thế thông thường không được gần hơn

1km, tính từ chỉ giới giới hạn của dải đường bay và chỉ khi có các mặt của địa hình đang

được đóng, khép kín, che phủ ngoài của các toà nhà và các công trình đã được làm tối,

che ánh sáng lại, và cũng như đáp ứng thoả mãn được các yêu cầu về hạn chế giới hạn về

độ cao của các chướng ngại vật

Các toà nhà và công trình đã được bố trí phân bố ở trong phạm vi giới hạn của các

tuyến đường hàng không cũng như ở trong vùng miền tác động, hoạt động của các mặt

phẳng giới hạn hạn chế có điều kiện quy ước về các chướng ngại vật nhằm mục đích

đảm bảo an toàn cho chuyến bay của các máy bay, cần phải có sự đánh dấu lúc ban ngày

và ban đêm Vì các tác nghiệp về cất hạ cánh được thực hiện từ các dải bay hàng không

6 ca hai phía ngược chiều, các kích thước, cấu hình, hình đáng ngoài của các mặt phẳng

về hạn chế giới hạn quy ước của các chướng ngại vật, độ cao và việc bố trí phân bố chúng đã được xác định để đảm bảo cho cuộc cất cánh cũng như cho việc đỗ hạ cánh xuống của các máy bay

20

Trang 20

2.2 PHAN LOAI CAC TUYẾN HÀNG KHÔNG, CANG HANG KHONG, SAN BAY

2.2.1 Muc dich

+ Nhằm thống nhất trên phạm vi toàn cầu hệ thống kỹ thuật và các tiêu chuẩn khai

thác khác, tạo sự đồng bộ trong việc sử dụng vào các mục đích khác nhau

+ Nhằm đánh giá năng lực, tiêu chuẩn của từng loại cảng hàng không, sân bay, phục

vụ cho xây dựng, sửa chữa cũng như lắp đặt hệ thống quản lý bay sau này

2.2.2 Phân loại tuyến hàng không

Các tuyến hàng không được phân chỉa thành các loại sau:

+ Tuyến hàng không quốc tế: Là tuyến nối liền các nước thông qua các cảng hàng 'không hoặc sân bay của mỗi nước

+ Tuyến chính: Là tuyến bay nối giữa các trung tâm kinh tế, chính trị của mỗi địa phương, mỗi nước

+ Tuyến địa phương: Là tuyến nối các địa phương trong nước thông qua các sân bay

hoặc cảng hàng không

2.2.3 Phân loại cảng hàng không

+ Phân theo tuyến bay:

- Cảng hàng không quốc tế: là cảng hàng không dùng để tiếp nhận hoặc xuất phát,

cũng như là nơi bảo dưỡng phục vụ các máy bay, thường là các chuyến bay phục vụ các tuyến hàng không quốc tế, các tuyến nối liên các cảng hàng không của các thành phố

lớn ở trong mỗi nước với các cảng hàng không của các nước ngoài khác

- Cảng hàng không chính: là cảng hàng không chính thực hiện một khối lượng vận

chuyển chính, cơ bản đi theo các tuyến hàng không, mà chúng nối liên các trung tâm

hành chính lớn (như trung tâm hành chính, chính quyền của các bang, của một vùng tỉnh 1y và của khu vực), và các trung tâm văn hoá với nhau

- Cảng hàng không nội địa: là các cảng hàng không, sân bay, thực hiện khối lượng

vận chuyển vận tải chính đi theo các tuyến đường hàng không nội địa, chúng nối liển

các trung tâm của khu vực tỉnh ly và các điểm dân cư lớn với các trung tâm của vùng khu vực này cũng như với các làng khu vực dân cư riêng biệt

Chú ý: Việc phân loại này chỉ có ý nghĩa hành chính nhất định và không mang một đặc trưng quan trọng nhất đó là khối lượng công việc, công tác vận tải

+ Phân theo khối lượng vận chuyển:

Cơ sở của việc phân loại các cảng hàng không được phổ biến hiện nay chính là phân loại dựa theo khối lượng vận chuyển hành khách theo nam:

21

Trang 21

Số lượng vận chuyển hành khách theo năm tức là tổng số lượng của tất cả các hành

khách đã bay đi và bay đến sân bay này, kể cả các hành khách liên vận quốc tế, bay

đường dài

Điều đó cũng có nghĩa với việc phân loại theo mật độ, cường độ giao thông, tức là cường độ bay của các máy bay chở khách tính theo năm

Sự phân loại này được thực hiện dựa trên cơ sở kinh nghiệm nhiều năm về khai thác

sử dụng các cảng hàng không, vẻ việc tổ chức và đảm bảo các cuộc, chuyến, vận chuyển bằng hàng không có tính đến những triển vọng của tương lai

Việc phân loại các cảng hàng không dựa theo các tính chất, đặc điểm đã nêu trên,

- CHK có lưu lượng vận chuyển >10.000.000 HK được xếp vào nhóm siêu cấp

- CHK có lưu lượng <100.000 HK thì không phân cấp

Các nhóm máy bay theo chỉ tiêu tầm hoạt động và sức chứa hành khách được phân nhóm như sau:

Nhém I: IL-62, IL-86, IL-76

Nhóm II: TU-154, TU-134, IAK-42

Nhóm HI: AN-24, AN-26, IAK-40

Nhóm IV: L410, AN-28, AN-2

Theo các loại máy bay các nước

2

Trang 22

Bảng 2.2

Các nhóm loại máy bay, tàu hàng không, mà trong cơ sở phân loại của chúng, người

ta đã chấp nhận trọng tải, sức chứa hành khách ở trong các khoang hành khách và khối

lượng của máy bay được nêu ở bảng 2-3

Các cảng hàng không với khối lượng tính theo năm về chuyên chở hành khách mà có

hơn 10.000.000 lượt người thì thuộc vào loại cảng hàng không ngoài cấp bậc, còn có

ít hơn, dưới 100.000 lượt người thì thuộc về cảng hàng không không được phân cấp Dựa theo mức độ tăng lên về khối lượng vận tải hàng không, thì các cảng hàng không, dựa

theo các đặc điểm tính chất phân cấp, phân loại có thể chuyển từ cấp bậc thấp hơn lên cấp bậc cao hơn, nhưng đối với điều này ta cần phải thiết kế lại sân bay và xây dựng

thêm các khu phục vụ kỹ thuật và các công trình mới khác nữa

Việc xếp các cảng hàng không đang hoạt động vào nhóm, loại này hay loại kia, được người ta giải quyết, quyết định trong từng trường hợp riêng biệt xuất phát từ chức năng của cảng hàng không, từ khối lượng và sự tăng lên của việc vận chuyển hàng không và dựa thco khả năng sửa chữa thiết kế lại

Khối lượng hàng năm về vận tải hành khách đã được xác định trên cơ sở của các luận chứng về kinh tế kỹ thuật về xây dựng mới hoặc là thiết kế, xây dựng lại cảng sân bay, cảng hàng không hiện có cho tương lai, với thời gian không nhỏ hơn 1Ô năm, tính từ khi được bắt đầu khai thác sử dụng và của việc thiết kế xây dựng lại, cải tạo lại khoảng thời

Trang 23

Ghỉ chú: Một số số liệu tham khảo về sân bay trên thế giới trong các bảng sau:

10 sân bay đứng đầu thế giới

3 |Dallas/Ft Worth 765.109 |London 63.338.649

4 |Los Angeles (LAX) 645.424 |Tokyo 61.079.478

5 |Phoenix 345.77] |Los Angeles (LAX) 56.198.447

6 {Paris 510.098 Dallas/Ft Worth 52.826.304

7 {Minneapolis 506.656 | Frankfurt 48.450.357

8 |Los Angeles (VNY) 498.477 |Paris 48.303.430

9 |Las Vegas 496.845 |Amsterdam 40.736.009

2.2.4.1 Mục đích

Việc phân cấp sân bay nhằm đơn giản hoá việc so sánh các chỉ tiêu đặc trưng cho

từng loại sân bay, đảm bảo sự phù hợp của hàng loạt các công trình trên sân bay và các

trang thiết bị đồng bộ

24

Trang 24

Việc phân cấp sân bay không có nghĩa là để xác định các yêu cầu về chiều dài đường cất hạ cánh hay cường độ mặt đường mà chỉ để tham chiếu sau khi thiết kế

2.2.4.2 Các phương pháp phân loại sân bay

+ Phân cấp sân bay theo chiều dài đường và khả năng chịu tải của mặt đường băng CHC

Khác với các cảng hàng không, người ta phân loại sân bay dựa theo một vài thông số, các đặc điểm riêng của nó Đặc điểm chính, cơ bản là kích thước của đải đường băng cất

và hạ cánh và khả năng chịu lực

Các sân bay được phân chia nhỏ thành các cấp bậc là A, B, C, D và E Kích thước của cdc dai đường băng (DB) ở trong các điều kiện tiêu chuẩn, kích thước của cdc dai bay (đường bằng) an toàn ở cuối cùng và ở biên sườn, của địa phận vùng ngoại vi sân bay,

được xác định bởi các tiêu chuẩn của quốc gia, quốc tế đối với việc khai thác sử dụng các sân bay dân dụng Thông thường, sự phù hợp này được dựa theo ý nghĩa cấp bậc của cảng sân bay, ứng với cấp bậc của sân bay

Thí dụ như cảng sân bay cấp [ thì cần có loại sân bay có cấp là A, cảng sân bay cấp H cần có sân bay cấp B v.v Song ở trong những trường hợp riêng biệt có thể có sự không tương xứng, phù hợp của cấp sân bay với cấp cảng sản bay, điều này là do tính cấp thiết

về kinh tế xã hội hoặc bởi tính chất cần thiết của quốc gia đó

Ký hiệu | Chiểu dài tính toán | Ký hiệu Sải cánh, m Khoảng cách giữa 2 bánh

SỐ dai bay, m chit ngoài của càng chính, m

Trang 25

Chi ¥ - MN = 1000KN = 10°N = 1,0196kg x 10 kg = 100,4T

- Chiều dài sân bay chuẩn của máy bay là chiều dài tối thiểu cần thiết để máy bay sử dụng

sân bay đó cất cánh với khối lượng cất cánh tối đa, ở độ cao của mặt biển, trong các điều kiện khí quyển tiêu chuẩn, không gió, với độ dốc của đường băng đã ghi trong số tay của máy bay thiết kế

Tương ứng với cấp sân bay sẽ có một loạt các yêu cầu khác đối với sân bay như các

yêu cầu vẻ bể rộng dải bay, kích thước vùng bảo hiểm đầu, bảo hiểm sườn, kích thước

Khác với quy định của Nga, ICAO quy định bất buộc đường cất hạ cánh phải có lẻ

gia cố dọc theo 2 bén mép đường cất hạ cánh, chiều rộng lề gia cố quy định đối với các

sân bay mã chữ D và E là 7,5 m

Nhu vậy nếu tính cả lẻ gia cố thì chiều rộng tổng cộng đường CHC và hai lẻ vật liệu theo tiêu chuẩn ICAO cũng tương tự chiều rộng đường CHC theo tiêu chuẩn của Nga

là 60m

Theo quy dinh ICAO, chiêu rộng bảo hiểm sườn (BHS) quy định:

BHS được bố trí 2 bên đường CHC và cùng với đường CHC tạo thành dải bay, với

chiều dài dải bay vượt chiều dài đường CHC về mỗi đầu không dưới 60m Trừ dải bay

mã số 1 và là đường CHC không có thiết bị CHC, còn chiều rộng dải bay 150m đối với

mã số 3, 4 và 75m đối với mã số 1, 2 Đối với đường CHC được trang bị hạ cánh chính 26

Trang 26

xác và không chính xác và 75m đối với mã số 3, 4; 40m đối với mã số 2 và 30m đối với

mã số 1 khi đường CHC không được trang bị

Dựa theo chức năng về khai thác sử dựng, các sân bay được phân chia thành các dạng

như sau: Các sân bay (có đường vạch tuyến), các sân bay của các cảng sân bay (phân theo tuyến bay, phân theo tuyến hàng không) được dùng để khai thác các loại máy bay, máy bay vận tải cỡ lớn mà chúng chuyên chở hành khách, hàng hoá và thư tín, bưu phẩm và các sân bay này được bố trí, xếp đặt theo các tuyến hàng không, tuyến bay

- Các sân bay chuyên dụng, phục vụ nên kinh tế quốc dân, các sân bay này được dùng để thực hiện các công tác, về ngành hàng không trong các lĩnh vực khác nhau của nên kinh tế quốc dân như: Trong nông nghiệp (khai thác hàng không, hoá chất, khoáng sản rừng, khai thác lâm nghiệp); trong ngành lâm nghiệp, nghề rừng (phòng chống cháy rừng); trong chụp ảnh hàng không: trong dịch vụ phục vụ thám hiểm (như ngành thăm

do địa chất, thăm dò đàn cá, ngư nghiệp v.v ); trong xây dựng (như lấp phép các nhà cao tầng) để giúp đỡ y tế, cứu trợ nhân dân và thực hiện các biện pháp vệ sinh dịch tế, phòng bệnh và trong nhiều mục đích khác nữa

- Các sân bay thuộc nhà máy được dùng để cho các chuyến bay thử nghiệm của các máy bay mà chúng được sản xuất ra bởi các nhà máy hàng không và chúng được xuất

xưởng từ các xí nghiệp sửa chữa máy bay

+ Cac san bay để học tập (tập lái máy bay) được dùng để đảm bảo cho các chuyến bay học tập lái của các máy bay, tàu hàng không

Dựa theo đặc tính, đặc điểm về sử dụng, các sân bay còn được chia nhỏ thành:

- Sân bay cố định vĩnh cửu, dành cho các chuyến bay thường xuyên, đều đặn theo chu

kỳ hàng năm của các máy bay Các sân bay này có các công trình cố định, có trang thiết

bị đầy đủ và chúng đã được đăng ký theo một trình tự nhất định

- Sản bay tạm thời dùng để đảm bảo cho các chuyến bay của các máy bay, tàu hàng

không vào thời kỳ thời gian nhất định trong năm Chúng không có các công trình cố định và các trang thiết bị cố định nhưng chúng vẫn được đăng ký theo số thứ tự nhất định Các sân bay tạm thời cũng là các sân bay trên băng tuyết và các sân bay thuỷ, trên sông biển, tàu sân bay mà chúng có thể được khai thác sử dụng chỉ vào mùa đông khi có băng tuyết và vào mùa hè, khi băng tuyết tan ra Dua theo thời gian khai thác, sử đụng của sân bay trong suốt thời gian một ngày đêm, người ta chia ra: Các sân bay hoạt động suốt cả ngày đêm (24 tiếng) và sân bay hoạt động ban ngày

Dựa theo sự bố trí, xếp đặt và việc sử dụng, các sân bay còn được phân nhỏ thành

các dạng sau đây:

- Sân bay cơ sở dùng để hạ cánh các máy bay, tàu hàng không và chúng có các công

trình cần thiết để đáp ứng mục đích này Các sân bay cơ sở đồng thời cũng là các sân

27

Trang 27

bay để cất cánh và có chức năng chuyên dụng là các sân bay trung gian và cứu hộ dự bị

Từ các sân bay cất cánh hay sân bay chức năng chuyên dụng, các máy bay được bắt đầu hay kết thúc các chuyến bay của mình theo một hành trình, đường đi đã được xác định Chúng thục hiện xếp tải đưa hàng đi hay dỡ tải cho hàng xuống và thực hiện (các chuyến

bay) bảo dưỡng kỹ thuật trước khi bay và sau khi bay của các máy bay

- Các sân bay trung gian dùng để hạ cánh tạm thời (dựa theo lịch trình, thời gian biểu) của máy bay, mà nó bay theo một lịch trình đã được ấn định

Các sân bay dự bị, đự phòng, cứu hộ đã được đưa ra, chỉ rõ ở trong bản kế hoạch của

các chuyến bay, các sân bay này đã được lựa chọn trước khi bay hoặc là trong khi bay, trong chuyến bay, (trong số này có các sân bay cất cánh), mà từ đây, chiếc máy bay có

thể cần đến, nếu hạ cánh ở sân bay chức năng chuyên dụng là không thể được

Dựa theo độ cao ở trên mực nước biển và theo đặc tính của địa hình, các sân bay có

Ñ thể là sân bay ở trên núi, sân bay rừng núi, được bố trí ở trên địa hình, khu vực với cốt địa hình được giao cất nhau và có độ cao tương đối là 500m hoặc cao hơn, ở trong vòng ban kính là 25km tính từ điểm kiểm tra của sân bay (điểm này xác định được vị trí địa lý của nó) và cũng như các sân bay được bố trí ở trên độ cao là 1000m và cao hơn nữa ở

trên mực nước biển,

Các sân bay đồng bằng được bố trí ở trên một địa hình bằng phẳng Việc xếp các sân

bay vào nhóm này hay nhóm kia được dựa theo các tính chất, đặc điểm đưa ra ở trên

Người ta đã tiến hành thực hiện có tính đến tất cả, toàn bộ mọi hoạt động về khai thác,

sử dụng, về vị trí, địa điểm bố trí nó nằm trong hệ thống vận tải và các triển Vọng tương lai về sự phát triển của sân bay và có thể làm chính xác hơn vào mốc thời gian cụ thể

2.3 ĐẶC ĐIỂM CHƯNG CỦA QUÁ TRÌNH CÔNG NGHỆ VẬN TẢI Ở TRONG CẢNG HANG KHONG, SAN BAY CO LGN

2.3.1 Quá trình công nghệ

Quá trình công nghệ, công việc vận tải của cảng hàng không bao gồm hàng loạt các

thao tác sản xuất mà chúng được thực hiện, hoàn thành bởi các công vụ khác nhau như:

Công vụ điều vận, về tổ chức vận tải, công vụ về công trình hang khong, cong vụ vận tải

6 tô chuyên dụng được chuyên môn hoá v.v Tất cả những tác nghiệp này được phân chia thành: thao tác công nghệ và các thao tác nguyên công về điều khiển, quan lý, cơ động Số lượng của chúng khi phục vụ, bao đưỡng cho một chuyến bay có thể chiếm tới

300 + 400 phụ thuộc vào loại nhóm máy bay, tàu hàng không Nhiệm vụ chính của quá trình công nghệ là đảm bảo được sự tiếp nhận bay đến cất cánh bay một cách an toàn và

thường xuyên, định kỳ, đều đặn (theo bảng giờ lịch bay) của số lượng máy bay cần thiết theo yêu cầu Quá trình công nghệ làm việc ở cảng sân bay nói chung bao gồm, ba quá

28

Trang 28

trình công nghệ (quy trình kỹ thuật chính, cơ bản có mối liên hệ tương hỗ lẫn nhau vẻ

phục vụ hành khách và hành lý của họ, về chuyên chở, vận chuyển hàng hoá và thư tín,

bưu phẩm, bưu chính, vẻ bảo dưỡng kỹ thuật các máy bay) Những van dé quan trọng lúc này là việc tổ chức và công nghệ học, các quá trình công nghệ về phục vụ về cung

cấp, cung ứng vật chất, kỹ thuật mà nó đảm bảo cho sự hoạt động sản xuất của cảng

hàng không bằng các giá trị vật chất cần thiết

Hình 2.7: Sơ đã công nghệ về giao thông, chuyển động của các máy bay,

tàu hàng không Ở cảng sân bay

1- sự chạm, tiếp đất, hạ cánh 7- kho hàng hoá

2,2’,3- đường lái tới Ke (bệ sân) 8- hành trình, đường di của các máy bay công vu

3, 4- đường lái từ Ke tới kho hàng (đường có gạch gạch)

4,5,5'- đường lái từ kho hàng đến M.C 9- hành trình, đường đi của các loại máy bay liên vận

` ` quốc tế, chạy đường dài (đường có gạch chấm)

6- nhà ga hàng không

Khi xem xét, nghiên cứu về các quá trình công nghệ ở cảng hàng không cần phải tính

đến việc tổ chức giao thông, đi lại của các máy bay, mà sự tổ chức này có đặc trưng là:

Các máy bay đi đến và khởi hành, xuất phát đều từ các điểm cuối đối lập nhau của đường băng (các đường băng cất và hạ cánh) Điều này được xác định bởi hướng bay của máy bay dựa theo sơ đồ được gắn vòng tròn lại Điều này có ảnh hưởng tới việc quy hoạch, bố trí tổng thể của các bộ phận thuộc cảng hàng không và tới sự bố trí, xếp đặt

các toà nhà và các công trình kỹ thuật, công nghệ

Sơ đồ công nghệ về giao thông, đi lại của các máy bay MB ở trong các cảng hàng

không (xem hình 2.7) cũng như sự chuyển dịch, di chuyển của các đạng, loại vận tải

khác nhau và của các phương tiện cơ giới hoá khác nữa, các luồng hành khách và hàng hoá chính, cơ bản cần phải đảm bảo được:

- Độ an toàn khi di chuyển, đưa, đón hành khách và các nhân viên phục vụ ở trên theo

địa phận, vùng của cảng hàng không

2

Trang 29

- Đảm bảo thời hạn, thời gian tối thiểu vẻ sự đưa đi, đưa đến của hành khách và của

hàng hoá, bưu chính và của các máy bay ở trong cảng sân bay

- Đảm bảo số lượng tối thiểu về sự gặp nhau và giao cất nhau của các tuyến đường giao thông, đi lại của các máy bay, của việc vận tải ô tô chuyên dụng, chuyên môn hoá, của các phương tiện cơ giới hoá và của chiều dài quãng đường đi bộ và (chiều đài) vận chuyển hành khách, việc đưa đến, cung cấp đồ ăn uống, đưa, trả hành lý, bưu chính và hàng hoá

Tất cả các quá trình công nghệ ở trong các cảng sân bay hiện đại đã được thực hiện, hoàn thành với việc sử dụng các phương tiện cơ giới hoá và tự động hoá từng phần, từng

bộ phận riêng biệt mà chúng đảm bảo được một mức độ cần thiết về phục vụ hành

khách Tính hiệu quả, hiệu lực, hiệu suất của việc áp dụng, sử dụng các phương tiện cơ

giới hoá và tự động hoá là chỉ tiêu quan trọng của công tác vận tải ở cảng hàng không

Ở hàng không mẫu hạm, tau san bay để nhằm giảm bớt, rút ngắn khoảng thời gian

chung về việc ghép thành bộ và nâng cao việc chất tải thương mại của các chuyến bay, người ta đã thực hiện việc lập ra một hệ thống tự động hoá các thao tác công nghệ và

điều khiển cơ động việc liên hợp chất tải hàng hoá, hành khách và bưu chính của chuyến

bay MB của các máy bay

các vị khách, hành khách bay đi, bay đến các hành khách quốc tế và hành khách chuyển

tiếp cũng như người tiễn, đưa, đón (hành khách chuyển đổi máy bay)

~ Hành khách chuyển tiếp máy bay là hành khách mà đi đến một (điểm) sân bay lớn,

cảng hàng không, trong phạm vi phục vụ vận tải bởi một chuyến bay và sau đó lại tiếp tục bay đi bằng một chuyến bay khác; còn hành khách liên vận quốc tế là vẫn tiếp tục ra

đi bằng chính chuyến bay đó, nhưng họ đi đến, nghỉ tạm ở một điểm, một cảng sân bay

có việc bán vé và đảm bảo các lượng thông tin khác nhau ở các đại lý thành phố hoặc là

ở các ga sân bay thành phố, trong việc đưa đón hành khách tới nơi hạ cánh khí đi, đến,

vào máy bay, hoặc là đi đến ga hàng không ở cảng hàng không Một phần hành khách

30

Trang 30

và các vị khách quý được sử dụng các phương tiện vận tải công cộng của thành phố (như

xe khách, xe buyt, xe điện, tàu điện ngầm, ðtô, taxi ) Việc dua đón hành khách bằng

vận tải trên mặt đất đến cảng hàng không là một trong số các bộ phận hợp thành của

ngành phục vụ hành khách, mà nó cần có chi phí về thời gian đáng kể (từ 1+1,5 gid) Việc tiết kiệm thời gian cho việc đi qua từ thành phố vào đến cảng hàng

không và ngược lại ta có thể đạt được nhờ giâm bớt các hành trình đi lại của các phương

tiện vận tải, giảm bớt khoảng cách đi lại của phương tiện vận tải, giảm bớt sự phục vụ

hành khách trước khi bay đi, và cũng như nhờ sự bố trí, sắp xếp tối ưu các ga hàng không thành phố và của các đại lý, đối với cảng hàng không Khối lượng công việc cơ bản về phục vụ hành khách đã được hoàn thành ở các ga hàng không và ở các nhà khách

của cảng hàng không Sơ đồ công nghệ vẻ tổ chức giao thông, đi lại của các luồng hành khách ở trong các ga hàng không và ở các công trình phục vụ khác nữa, đã được người ta soạn thảo ra khi thiết kế tại các ga sân bay, nó cần phải đảm bảo được khả năng vận tải, khả năng thông qua đã được ấn định

- Việc tổ chức phục vụ các hành khách bay đi có thể được thực hiện bằng hai dạng

hình thức là việc đăng ký bán vé và đặt chỗ, bố trí hành lý là hình thức cố định, và hình thức tự đo

- Hình thức cố định là tổ chức phục vụ hành khách của chuyến bay này ở tại hai hay

ba chỗ làm việc cố định (ở phòng đăng ký), còn hình thức tự do là ở trên bất cứ nơi làm

việc nào, nằm trong phạm vi mình phục vụ của hệ thống điều khiển tự động Các quá

trình đăng ký bán vé, sip xếp, bố trí hành lý và phân loại hành lý dựa theo các hướng

của chuyến bay

Việc đăng ký cố định tại chỗ có thể được thực hiện bằng hai phương pháp

- Phương pháp chính, trong đó tiến hành thống kê sự đăng ký phiếu của hành khách

và hành lý, cân hành lý của mỗi hành khách tính đến các lượng thông tin dựa theo các

cuộc vận chuyển hàng hoá và hành khách cho mỗi một hành khách, nói chung, dựa theo chuyến bay và các địa điểm hạ cánh và phương pháp được đơn giản hoá, trong đó người

ta không thực hiện thống kê đăng ký các phiếu gửi đi của hành khách và hàng hoá, mà tiến hành kiểm tra sự đúng đắn của việc đặt mua vé, chữ ký trên vé theo số thứ tự phù hợp với thẻ ở các phiếu đăng ký

- Khi ở dạng hình thức đăng ký tự đo của các vé và việc đăng ký đặt mua, xếp dat hành lý, người ta đã áp dụng các phương pháp đăng ký chính và thực hiện nó trong phòng thao tác của ga sân bay ở cảng hàng không hoặc ở ga hàng không của thành phố,

ở sau các máy móc được trang bị chuyên dụng

- Khi có sự hạ cánh của hành khách ở trong các máy bay, và khi có sự cất cánh ra đi của họ là ngược nhau, có thể có hai phương pháp đưa đón hành khách đó là việc đưa đón

tập thể theo nhóm, hoặc riêng lẻ Phương pháp theo nhóm tập thể được người ta áp dụng

31

Trang 31

khi đưa đón hành khách bằng xe buýt đến máy bay từ ga hàng không thành phố và

ngược lại, và trong sự đưa tiễn của người trực ban tuỳ tùng để đón tiếp và hạ cánh, là bằng quãng đường đi bộ từ ga hàng không đến chỗ đỗ bến xe gần nhất hoặc bằng đoàn ôtô,

ôtô rơmooc, bằng xe khách đến các nơi xa xôi của máy bay và theo hướng ngược lại

- Phương pháp cá nhân được người ta áp dụng không có sự đi kèm của người nhân viên là khi có sự bố trí các máy bay ở gần với ga hàng không và các hành lang hành khách của nó Ở trên các tuyến đường hàng không, mà chúng được đặc trưng bởi các luồng hành khách rất lớn thì việc thực hiện vận chuyển hành khách, hành lý, hàng hoá

và bưu chính bằng MB các máy bay có trọng tải chứa lớn (như loại máy bay chở khách

cỡ lớn) Trong trường hợp này, ở cảng bàng không, sơ đồ công nghệ về phục vụ hành khách cần phải được tách ra thành sơ đồ độc lập và người ta thực hiện bố trí, đăng ký các hành khách bay đi ở trong một phòng chuyên dụng, đặc biệt ở ga hàng không hoặc là ở

trong các công trình khác hay toà nhà khác được dùng để làm việc này, chúng được trang bị bằng các trang thiết bị cần thiết, các phương tiện cơ giới hoá và thông tin liên

lạc Các nơi đỗ của máy bay cẩn phải được gần nhất, đạt độ gần tối đa tới các phòng

phục vụ hành khách (đến 30 + 50m)

Việc tổ chức vận chuyển hành lý, hàng hoá, bưu chính ở trong máy bay có trọng tải,

sức chứa lớn ta có thể thực hiện theo ba phương án là:

- Đơn lẻ, từng chiếc một, khi toàn bộ hành lý được đăng ký (khối lượng đến 15 kg) được xếp dat & trong gian hành lý, hàng hoá thì ở trong các khoang hàng hoá

- Phương pháp hỗn hợp, là bộ phận hành lý không được đăng ký được xếp đặt ở trong các gian hành lý, số hành lý còn lại cũng như hàng hoá và bưu chính ở trong công ten nơ thùng chứa trong khoang hàng hoá

- Vận chuyển bằng công ten nơ là toàn bộ hành lý, hàng hoá và bưu chính đều được

xếp đặt vào trong l6 công ten nơ

Người ta thấy rằng khi tổ chức vận chuyển hành khách đã khá thường xuyên, cần tính

đến việc phục vụ đối với các loại hành khách riêng biệt Như là: Sự phục vụ các hành khách của các chuyến bay chuyên cơ đặc biệt và bay kiểm tra mà trình tự bản kê khai, danh sách đã xác định, được tổ chức theo một đơn đặt hàng từ trước ở trong phòng chuyên môn đặc biệt (các buồng, phòng, các gian nhà) bằng các nhóm chuyên môn chuyên nghiệp về phục vụ của cục tổ chức vận tải

Việc phục vụ các hành khách nước ngoài được thực hiện trong phạm vi bộ phận vận

tải quốc tế

Quá trình công nghệ tổ chức đăng ký hành khách cần phải được xem xét nghiên cứu

Việc đăng ký hành lý và thực hiện nghiên cứu nó và tiến hành kiểm tra hành lý và kiểm tra cá nhân hành khách, các cựu chiến binh, những người có công, người đã tham gia

32

Trang 32

cuộc chiến tranh đều có quyền được phục vụ ngoại lệ Đặc biệt khi bán vé và đỗ lại nghỉ

ngơi cũng như khi hạ cánh ở các sân bay

2.3.3 Việc tiếp nhận và gửi hàng hoá

Việc tiếp nhận và gửi hàng hoá được thực hiện chuyên chở bằng hai phương pháp là:

- Bằng các máy bay vận tải hàng hoá chuyên dụng và các máy bay hành khách

Để thực hiện các lượng vận chuyển này, cần có các ke hàng hoá, sân bãi hàng hoá, buồng vận tải, bưu chính và các khoang khác nữa, ở trên các ke hành khách và các

công trình phụ

- Ke vận tải để thực hiện các công việc xếp đỡ hàng hoá khi có sự chất tải và dỡ tải thương mại của các máy bay hành khách và máy bay vận tải Sân bãi hàng hoá được

dùng để tiếp nhận hàng hoá của khách hàng gửi đến và để đưa trả hàng cho người đến

nhận hàng Yêu cầu chính của việc xử lý hành lý, được đưa trả hành khách trước khi hạ cánh ở trong máy bay, là việc đảm bảo được hướng của nó ở cảng hàng không, mà từ đây, hành khách để ý tới Lúc này có một ý nghĩa quan trọng đối với việc tính toán cho các hệ thống phân loại, tuyển chọn và định tâm khi chất tải của máy bay đó là khối

lượng trung bình của hành lý thuộc của mỗi một hành khách Thực tiễn, việc tiếp nhận

hành lý với việc cân trọng lượng của nó ở trong nhiều cảng hàng không đã chỉ ra rằng:

Đối với hành khách trong phần lớn các trường hợp đều có chiếm một chỗ để hành lý với trọng lượng từ 10 + 12 kg Ở trong các cảng hàng không quốc tế lớn, một hành khách

chiếm tới 2 + 3 chỗ để hành lý và do vậy, vào “Giờ cao điểm” đã buộc phải xử lý để ra

tới đến 8000 chỗ hành lý trong một giờ

Người ta thực hiện xếp tải vào máy bay các hành lý của hành khách cất cánh đi cũng như của các hành khách liên vận quốc tế và khách chuyển tiếp (đổi máy bay) dưới sự chỉ

đạo và kiểm tra của nhân viên điều phối điều độ dựa theo định tâm trong sự phối hợp phù hợp chặt chẽ với biểu đồ định tâm được lập ra cho mỗi một chuyến bay, trong đó đã chỉ rõ trình tự và sự phân phối hành lý ở trong gian hành lý của máy bay Việc xử lý

hành lý của các hành khách đi đến sân bay gồm có các thao tác sau, đưa hành lý ra khỏi

máy bay, vận chuyển nó tới chỗ giao trả ở nhà ga hàng không hoặc là ở nhà khách hàng không riêng biệt, đật lên thiết bị truyền tai (như băng chuyển, băng tải) và giao trả

cho khách

2.3.4 Bảo dưỡng, phục vụ các máy bay

- Trình tự và biện pháp thực hiện hoàn thành các tác nghiệp về bảo dưỡng kỹ thuật và

chuẩn bị cho máy bay cất cánh hoặc là tiếp nhận nó sau một chuyến bay đã được quy

định bởi các chỉ dẫn công nghệ về các công việc theo quy trình thao tác phụ thuộc vào

loại của chuyến bay (từ địa điểm cất cánh hoặc là ở địa điểm bay đến)

33

Trang 33

- Việc bảo dưỡng kỹ thuật là sự đồng bộ toàn bộ các biện pháp về kỹ thuật và tổ chức, chúng được thực hiện ở trong quá trình khai thác máy bay nhằm mục đích đảm bảo được

tính hiệu quả cẩn thiết của công tác vận tải khi chuyên chở hàng hoá và hành khách Việc bảo dưỡng kỹ thuật được thực hiện hoàn thành dựa theo các quy phạm đã được xác định, tạo ra một hệ thống bảo đưỡng, phục vụ mà nó được đặt ra ở trong các quy trình

thao tác các quy tắc đối với mỗi một loại máy bay Trong hệ thống bảo dưỡng kỹ thuật,

ta có thể chia ra thành hai tiểu hệ thống, hệ thống nhỏ, quan trọng nhất là bảo dưỡng phòng ngừa và sự phục hỏi sửa chữa, đã được tính đến các điều kiện khai thác máy bay

và có cả các danh mục, bản kê khai các công việc về phòng ngừa với sự chỉ dẫn chu kỳ

tuần hoàn của chúng

- Các quy trình thao tác xem xét, nghiên cứu việc thực hiện các hình thức bảo dưỡng

kỹ thuật về phòng ngừa, để phòng, về cơ động nhanh và về chu kỳ tuần hoàn cho các

máy bay Bảo dưỡng kỹ thuật phòng ngừa để phòng mang một tính chất dự báo có kế hoạch gồm cả việc kiểm tra khả năng làm việc và độ tin cậy của các bộ phận kết cấu và các chỉ tiết của máy bay cũng như các trang thiết bị của nó không phụ thuộc vào tình

trạng thực tiễn của chúng Các hình thức cơ động nhanh về bảo dưỡng kỹ thuật gồm các

công việc khi ở bãi nơi đỗ tạm thời của máy bay, ở ke hàng không việc bảo dưỡng trước khi bay và sau khi bay

- Việc bảo dưỡng kỹ thuật theo định kỳ máy bay được thực hiện sau một chuyến bay nhất định tính theo số giờ đã bay hoặc là đựa theo trạng thái vật lý

- Ở trong tất cả các hình thức bảo dưỡng kỹ thuật của máy bay, người ta đã sử dụng một số lượng lớn các phương tiện cơ giới hoá ở mặt đất khác nhau mà chúng có thể là dạng cố định, và có dạng chuyển động, di chuyển được (như các phương tiện xe tự hành,

xe có lắp động cơ chạy được)

34

Trang 34

Chương 3

NHUNG DAC DIEM KY THUAT CUA MAY BAY

3.1 NHUNG DAC TINH KY THUAT CUA MAY BAY VAN TAI DUNG TRONG HANH KHONG DAN DUNG

Hiện nay có nhiều loại máy bay, của nhiều hãng sản xuất máy bay khác nhau

Trang 35

Chiều Chiều Khoảng Khoảng Chiêu dai - Tải trọng

Loại máy bay rộng Sai] “gai cách bánh cách 2 đường Số lượng cất cánh : cánh (m) trước - sau | bánh bảng |hành khách| lớn nhất

i 2 3 4 5 6 7 8

A300-600 44.8 53,3 16,6 96 2316| 247-375 165000

|A310-300 43,9 46,6 14,9 9.6 2306| 200-280 149997 A320-200 33,8 37,5 12,5 1,6 1715] 138-179 71998 A321-100 34,1 44,5 N/A 7,6 N/A 186 82200 A330-300 60,3 63,7 25,6 10,7 N/A 295-336 208000 4340-200 60,3 59,4 23,2 10,7 2316| 262-375 253511 ,A340-300 60,3 63,7 25,6 10,7 NIA 295-336 253500

|Alrbus VLA-600* 76,0 80,0 N/A N/A N/A 500-600 NA Albus AST2* 39,0 94,8 35,0 N/A NA 250 N/A 8727-200 32,9 46,6 19,2 57 2620 145-189 83823

|B737-300 28,6 33,4 12,5 5,2 1920 128-149 56472 1B737-400 28,6 36,5 14,3 5,2 2224 146-189 62822 IB737-500 28,6 31,0 111 5,2 1554 108-149 52390 IB737-600* 34,3 31,2 N/A NIA N/A 108-132 65060 IB737-700% 34,3 33,6 N/A NIA N/A 128-149 69626 1B737-800* 34,3 39,5 N/A N/A N/A 162-189 78244 'B747-100 59,4 70,7 25,6 110 2895 452-480 322048 1B747-300 59,4 70,7 25,6 11,0 2346 355-608 322048 IB747-400 649 70,4 25,6 11,0 2651 400 362871 B747-X* 88,0 85,0 NIA 170 N/A 600-800 771101 B757-200 37,8 473 18,3 73 1767 186-239 99790 B767-200 41,5 48,5 19,7 9,3 1828 216-256 142880 IB767-300 475 54,9 22,8 93 2438 251-290 156485 IB777-200 60,6 63,7 25,9 11,0 26511 306-375 242670 B777-300* 60,6 73,5 25,9 11,0 2651 368 299369 Boeing HSCT* 39,6 94,5 N/A N/A 3352 292 315000 MD-81 32,6 45,1 22,1 5,1 2209 155-172 63502

|IMD-87 32,6 39,7 19,2 51 2316 130-139 67812

|MD-90-30 32,6 46,5 23,5 5,1 2072 156-172 70760 IDC-10-30 50,3 55,5 22,1 10,7 2631 255-390 259453 IDC- 10-40 50,3 55,5 22,1 10,7 4416 255-399 251742 IMD-11 31,8 613 246 10,7 2956 323-410 273287 L-1011-550 30,0 50,0 188 14,0 2803 246-330 231330 (Concorde 25,3 62,6 18,2 T7 3443 108-128 185064

|BAC111-500 28,3 32,6 126 43 2102 85-104 53999

36

Trang 36

i 2 3 4 5 6 7 8 BAe146-300 26,2 31.0 12,5 47 1706 103 44225 F-28-4000 250 29.6 10,4 5,1 1584 85 33112 P-50 28.0 25,3 97 7,2 1356 50,0 20820 I-100 28,0 325 14,0 5,0 1720 107 44452

|ATR-42-300 244 227 8,8 4,1 1090 42-50 16699 ATR-72 26,8 271 10,8 41 1408 64-74 21500 EMB-120 Braslla 19,5 20,0 6.8 2,0 1402 30 11500

Hình 3.1: Ba hình chiếu của máy bay

Đặc trưng của một số loại máy bay:

Boeing | 66.234 | 55.202 | 43.05 | 33.63 | 11.65 | 11.93 | 13.06 | 87 | 4.29 | 16.87 | 0.43 |0.794 4.34 25.86 KC-97L

Trang 38

M

Trang 39

“Tham khảo kích thước một số loại máy bay

HH F 11H #72 MỊ

|| B-777-300ER

| Tải FT 1Á, IM B1?

11 FT 1⁄4 IH [4177 art am aan lộ

Ngày đăng: 03/12/2013, 17:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm