1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực tiễn giải quyết các tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa tại tòa án

10 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 349,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết đề cập đến các vấn đề có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa do tác động của dịch bệnh Covid-19, trong đó tập trung làm rõ đây có thuộc trường hợp bất khả kháng để kéo dài thời hạn, từ chối thực hiện hợp đồng trong trường hợp bất khả kháng, thậm chí dẫn đến miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm hay là vấn đề thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Trang 1

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP

VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA TẠI TÒA ÁN

DISPUTE RESOLUTION PRACTICES OF PURCHASE

AND SALE CONTRACT IN COURT

NCS Đặng Quang Dũng 1 , ThS Châu Thanh Quyền 2

Tóm tắt – Trong phạm vi bài viết này, nhóm tác giả sẽ khái quát về hợp

đồng mua bán hàng hóa, qua đó sẽ phân tích, đánh giá thực tiễn giải quyết tranh chấp của quan hệ này tại Tòa án thông qua các bản án cụ thể Đặc biệt, bài viết

đề cập đến các vấn đề có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa do tác động của dịch bệnh Covid-19, trong đó tập trung làm rõ đây có thuộc trường hợp bất khả kháng để kéo dài thời hạn, từ chối thực hiện hợp đồng trong trường hợp bất khả kháng, thậm chí dẫn đến miễn trách nhiệm đối với hành vi vi

phạm hay là vấn đề thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản

Từ khóa: bất khả kháng, hoàn cảnh thay đổi cơ bản, hợp đồng mua bán

hàng hóa, tác động của Covid-19

Cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội, nhu cầu trao đổi, mua bán hàng hóa cũng được mở rộng không chỉ về mặt chủ thể, đối tượng của quan hệ mà còn liên quan đến việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó không bó hẹp ở trong nước mà xảy ra tại nước ngoài Thực tiễn đã chứng minh, khi hợp đồng mua bán hàng hóa được giao kết ngày càng nhiều thì kéo theo đó là các tranh chấp này cũng ngày càng tăng

1.1 Khái quát về hợp đồng mua bán hàng hóa

1.1.1 Khái niệm

Hợp đồng mua bán hàng hóa là một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản Luật Thương mại năm 2005 không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa mà chỉ đề cập đến khái niệm mua bán hàng hóa Theo đó, mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận [1]

1 Học viện Tòa án; Email: quangdung.takt1975@gmail.com

Trang 2

Dựa trên khái niệm chung về hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua, bên mua trả tiền cho bên bán [2] và khái niệm về mua bán hàng hóa, hợp đồng mua bán

hàng hóa có thể hiểu là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó, bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán, bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận

1.1.2 Đặc điểm

Thứ nhất, về chủ thể Hợp đồng mua bán hàng hóa được xác lập giữa các

chủ thể là thương nhân với nhau hoặc giữa thương nhân với các chủ thể hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi chọn áp dụng Luật Thương mại để điều chỉnh quan

hệ hợp đồng mua bán hàng hóa của các bên [3]

Như vậy, khi đề cập đến chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa phải có ít nhất một bên là thương nhân Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và

có đăng kí kinh doanh [4]

Thứ hai, về hình thức Hình thức của hợp đồng là cách thức thể hiện và ghi

nhận ý chí của các bên trong việc giao kết hợp đồng Về nguyên tắc, các bên được

tự do lựa chọn hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa, trừ những trường hợp pháp luật quy định cụ thể hợp đồng được xác lập dưới hình thức nào thì phải tuân thủ theo quy định đó Khoản 1, Điều 24 Luật Thương mại năm 2005 quy định hợp đồng mua bán hàng hóa được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể

Quy định về hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa trong Luật Thương mại năm 2005 có sự tương đồng với quy định tại Điều 11 Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG), theo đó, hợp đồng mua bán không cần phải được kí kết hoặc xác nhận bằng văn bản hay phải tuân thủ một yêu cầu nào khác về hình thức của hợp đồng Hợp đồng có thể được chứng minh bằng mọi cách, kể cả những lời khai của nhân chứng Như vậy, quy định này công nhận nguyên tắc tự do về hình thức hợp đồng, nghĩa là hợp đồng không nhất thiết bắt buộc lập thành văn bản Tuy nhiên, Công ước này cũng có ngoại lệ tại Điều 96, theo đó nếu luật một quốc gia thành viên nào quy định hợp đồng phải được kí kết dưới hình thức văn bản mới có giá trị thì quy định này phải được tôn trọng (kể cả trong trường hợp chỉ cần một trong các bên có trụ sở thương mại tại quốc gia có luật quy định hợp đồng được thể hiện dưới hình thức văn bản) Tại Việt Nam, Công ước này chính thức có hiệu lực từ năm 2017, theo Khoản 2, Điều 27 Luật Thương mại năm 2005 quy định mua bán hàng hoá quốc tế phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lí

Trang 3

vẫn bảo lưu trong mọi trường hợp, hợp đồng bắt buộc phải lập thành văn bản, không chấp nhận hợp đồng giao kết bằng lời nói hoặc bằng hành vi cụ thể

Thứ ba, về đối tượng Hợp đồng mua bán hàng hóa có đối tượng bắt buộc là

hàng hóa Hàng hóa bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai và những vật gắn liền với đất đai [5] Với cách hiểu này, đối tượng được coi là hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa bao gồm hàng hóa hiện hữu hoặc hàng hóa hình thành trong tương lai, có thể là động sản hoặc bất động sản (những vật gắn liền với đất đai) được phép lưu thông trong thương mại

Thứ tư, về mục đích Khi giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa sẽ gắn liền

với mục đích sinh lợi (mục đích lợi nhuận) Cần lưu ý, mục đích lợi nhuận của cá nhân, tổ chức trong hoạt động kinh doanh, thương mại là mong muốn của cá nhân,

tổ chức đó thu được lợi nhuận mà không phân biệt có thu được hay không thu được lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh, thương mại đó Hoạt động kinh doanh, thương mại không chỉ là hoạt động trực tiếp theo đăng kí kinh doanh, thương mại

mà còn bao gồm cả các hoạt động khác phục vụ thúc đẩy, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, thương mại

Ví dụ: Công ti trách nhiệm hữu hạn A được cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh trong lĩnh vực may mặc Hoạt động của Công ti A không chỉ giới hạn

ở việc may sản phẩm là hàng dệt may để phục vụ thị trường mà còn bao gồm cả hành vi mua nguyên vật liệu về để sản xuất, mua sắm trang thiết bị hoặc mua một

số ti vi để cho công nhân giải trí sau giờ làm việc,…[6]

Thứ năm, về nội dung Hợp đồng mua bán hàng hóa thể hiện quyền và nghĩa

vụ của các bên trong hoạt động mua bán, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán, bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận

1.2 Thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án

Hiện nay, khi xảy ra tranh chấp liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa

có 04 hình thức để giải quyết bao gồm thương lượng, hòa giải, Trọng tài hoặc Tòa

án [7] Trong đó, hình thức giải quyết tranh chấp tại Tòa án thường được các bên hướng tới nếu không có sự thương lượng được Các tranh chấp này thông thường liên quan đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của các bên như về chất lượng, số lượng hàng hóa, nghĩa vụ giao nhận hàng, nghĩa vụ thanh toán cũng như liên quan đến các chế tài khi có sự vi phạm hợp đồng Ngoài ra, thực tiễn xét xử còn phát sinh hỗn hợp các tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa, dẫn đến việc giải quyết tranh chấp vụ việc này trước sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự khác trong vụ việc khác

Trang 4

1.2.1 Áp dụng lẽ công bằng

Vụ việc 1: Tranh chấp hợp đồng mua bán sắn lát giữa nguyên đơn bà Hồ Thị H; bị đơn bà Trương Thị K và ông Phan Văn N cùng ở tỉnh Gia Lai [8] Nội dung vụ án như sau: Ngày 17/6/2013, bà H với vợ chồng ông N, bà K kí kết “Hợp đồng mua bán sắn lát” có nội dung vợ chồng bà K sẽ bán cho bà H 200 tấn sắn lát Ngoài ra, các bên có thỏa thuận về thời hạn giao hàng, thời hạn thanh toán Tuy nhiên, vợ chồng ông N, bà K đã nhận đủ tiền nhưng đến hạn giao hàng thì không có sắn lát để giao và cũng không trả lại tiền cho bà H Do đó, bà H khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông N, bà K thanh toán cho bà H giá trị sắn lát theo giá thị trường Ông N, bà K thống nhất với yêu cầu của bà H nhưng hiện không có khả năng trả nợ nên đồng ý cấn trừ nợ bằng cách bà H trả nợ ngân hàng thay vợ chồng ông, bà để giải chấp các tài sản mà ông, bà đã thế chấp vay ngân hàng, sau đó tiến hành chuyển nhượng cho bà H Tòa án nhân dân huyện I, tỉnh Gia Lai ban hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự

Tuy nhiên, bà Lê Thị Kim C có đơn đề nghị làm rõ lí do vì sao bà khởi kiện

bà K yêu cầu thanh toán số tiền mua bán cà phê được Tòa án nhân dân huyện I thụ

lí trước (sau đó tạm đình chỉ để ủy thác thu thập lời khai của bà K vì bà K xin tạm vắng ở nơi cư trú đi chữa bệnh ở Thành phố Hồ Chí Minh); còn bà H khởi kiện vợ chồng ông N, bà K sau khi bà khởi kiện nhưng bà K lại có mặt tại nơi cư trú và được Tòa án tổ chức hòa giải trước, giải quyết xong trước vụ án của bà nên dẫn đến vợ chồng bà K không có khả năng thi hành án

Tòa án cấp cao tại TP Đà Nẵng nhận định, hai vụ án nêu trên cùng bị đơn, cùng một Tòa án giải quyết nhưng vụ án của bà C thụ lí trước thì Tòa án lại ra Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án (vì bà K không có ở nơi cư trú cần ủy thác thu thập chứng cứ); vụ án của bà H thụ lí sau thì lại giải quyết trước và công nhận sự thỏa thuận chuyển quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản trên đất của

vợ chồng ông N, bà K cho bà H Hậu quả của việc này làm cho vụ án của bà C khi được giải quyết thì không có tài sản để thi hành làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà C, không đảm bảo nguyên tắc “lẽ công bằng” theo quy định tại Khoản 2, Điều 6 Bộ luật Dân sự Từ đó, hủy toàn bộ Quyết định công nhận sự thỏa thuận của vợ chồng bà K và bà H

1.2.2 Tranh chấp liên quan đến chế tài bồi thường thiệt hại

Vụ việc 2: Tranh chấp hợp đồng mua bán bao bì túi PE loại 1 giữa nguyên đơn Công ti Trách nhiệm hữu hạn X ở Đồng Nai với Công ti Cổ phần Xuất Nhập khẩu S ở Thành phố Hồ Chí Minh [9]

Nội dung vụ án như sau: Ngày 13/5/2011, Công ti TNHH X kí kết hợp đồng mua 6000 kg túi PE loại 1 với Công ti S Các bên thỏa thuận 03 đợt giao hàng vào

Trang 5

thứ nhất để đóng gói hàng hóa xuất đi nước ngoài cho khách hàng G tại Hàn Quốc

Ngày 25/8/2011, khách hàng đã gửi thư phàn nàn với Công ti TNHH X về

việc bao bì kém chất lượng, bị rách và bục chỉ dẫn tới việc làm cho hàng hóa bên

trong bị thiệt hại nghiêm trọng Phía công ti Hàn Quốc yêu cầu Công ti TNHH X

phải bồi thường thiệt hại cho những lô hàng bị hư hỏng với số tiền là 20.000 USD

Ngày 17/8/2011, Công ti S đã đến Công ti TNHH X kiểm tra, làm việc và

xác nhận bằng Biên bản về việc bao bì kém chất lượng Sau đó, Công ti S đã có

quyết định thu hồi 02 lô hàng bao bì kém chất lượng còn lại trong thời gian 03

ngày sau khi lập Biên bản

Ngày 22/9/2011, Công ti S đã gửi công văn về việc chia sẻ thất thoát với

Công ti TNHH X số tiền là 12.686.300 đồng Ngày 28/9/2011, Công ti TNHH X

phản hồi bằng Công văn số 08/2011-NTX yêu cầu Công ti S phải bồi thường số

tiền 113.249.042 đồng tương đương 30% trên tổng giá trị 20.000 USD Công ti

TNHH X phải bồi thường cho khách hàng

Ngày 27/10/2011, Công ti S phản hồi Công văn ngày 28/9/2011 của Công ti

TNHH X không đồng ý với mức bồi thường trên và vẫn giữ nguyên mức chia sẻ

tổn thất ban đầu là 12.686.300 đồng

Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 866/2016/KDTM-ST ngày 23

tháng 8 năm 2016, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn Công ti

Cổ phần Xuất Nhập khẩu S phải bồi thường thiệt hại cho Công ti TNHH X, số

tiền cụ thể 113.249.042 đồng do hàng hóa kém chất lượng

Tại phiên tòa phúc thẩm, qua xem xét Biên bản thỏa thuận đặt hàng giữa hai

bên thì không có điều khoản nào quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi

có thiệt hại xảy ra Tại thời điểm nhận hàng Công ti TNHH X cũng không có ý

kiến gì về chất lượng bao bì mẫu mã của sản phẩm mua từ Công ti Cổ phần Xuất

Nhập khẩu S Sau khi khách hàng tại Hàn Quốc yêu cầu Công ti TNHH X phải

bồi thường thiệt hại cho những lô hàng bị hư hỏng thì Công ti TNHH X mới gửi

công văn cho Công ti Cổ phần Xuất Nhập khẩu S về việc bao bì bị hư hỏng và

kém chất lượng Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành thủ tục ủy thác tư pháp để thu

thập chứng cứ đối với khách hàng của nguyên đơn là Công ti G tại Hàn Quốc

Công văn trả lời của Công ti G có nội dung xác nhận nguyên đơn đã bồi thường

20.000 USD cho Công ti G vì lô hàng lẫn sản phẩm có bao bì bị vỡ Tuy nhiên,

không đủ cơ sở để xác định hàng hóa do Công ti TNHH X xuất khẩu bị hư hỏng là

do bao bì không đạt chất lượng, vì trong quá trình xuất khẩu hàng hóa bị hư hỏng

còn có thể do nhiều nguyên nhân khác Từ đó, cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án

sơ thẩm

Trang 6

1.2.3 Tranh chấp liên quan đến nghĩa vụ nhận hàng

Vụ việc 3: Tranh chấp hợp đồng mua bán cây giống cao su giữa nguyên đơn Công ti Cổ phần Q ở Quảng Trị và Công ti Cổ phần Q ở Bình Dương [10]

Nội dung vụ án như sau: Ngày 03/01/2011, Công ti Cổ phần Q và Công ti TNHH TT kí kết hợp đồng mua bán cây giống cao su, đến ngày 23/02/2011 kí tiếp hợp đồng cùng nội dung Các bên thỏa thuận 03 đợt giao hàng, đối với đợt giao hàng 1 là 79.924 cây và đợt 2 là 117.833 cây, các đương sự không có tranh chấp Đối với đợt giao hàng lần 3, Công ti cổ phần Q cho rằng Công ti TT chưa thực hiện hợp đồng Công ti TT cho rằng đã giao hàng nhưng Công ti Q không nhận hàng Từ đó, Công ti TT yêu cầu Công ti Q thanh toán số tiền tương ứng của

03 đợt là 281.624 cây, trong đó có 83.867 cây của đợt 3

Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2018/KDTM-ST ngày 20/03/2018, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị đã quyết định chấp nhận yêu cầu của Công ti TT

Bản án có kháng cáo, cấp phúc thẩm nhận định theo Biên bản giao nhận cây ngày 24/10/2011 thể hiện nội dung: “Thời gian bứng bầu chuyển ra bãi tập kết từ ngày 06/10 đến 24/10/2011 đã tiến hành giao nhận 83.867 cây; chủng loại bầu 2 tầng lá; chất lượng cây giống tốt…” Và nội dung xác nhận của ông Đinh Hoàng H2 – Nguyên Quyền Trưởng phòng Nông nghiệp của Công ti Q thể hiện: “…theo bảng tổng hợp giao nhận cây… tính đến ngày 21/9/2011 đã nhận 46 đợt tổng cộng 79.924 cây và số cây kiểm kê còn lại đạt tiêu chuẩn là 194.766 cây” Lời khai nhận của ông H3 – Nguyên Quyền Trưởng phòng Nông nghiệp của Công ti Q phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với lời trình bày của Công ti

TT về việc giao nhận stump bầu cao su giống 2 tầng lá đợt 3 theo biên bản giao nhận ngày 24/10/2011, Công ti Q đã nhận 83.867 cây Do vậy, bản án sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của Công ti TT về việc buộc Công ti Q thanh toán giá trị của 281.624 cây đã giao nhận (03 đợt) là có cơ sở

1.3 Vấn đề thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa do tác động của dịch bệnh Covid-19

1.3.1 Trường hợp bất khả kháng

Khi thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa, không phải trong mọi trường hợp, hợp đồng đều được thực hiện một cách thuận lợi, đúng như ý chí khi các bên giao kết hợp đồng Quá trình đó có thể xảy ra những sự kiện mang tính chất chủ quan lẫn khách quan dẫn đến hợp đồng không thể thực hiện được, một khi vấn đề này xảy ra sẽ dẫn đến sự vi phạm nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lí sẽ được đặt ra đối với từng hành vi vi phạm cụ thể

Theo Khoản 1, Điều 294 Luật Thương mại năm 2005 quy định 04 trường

Trang 7

dịch bệnh Covid-19 nên hợp đồng không thể thực hiện được thì có được xem là sự kiện bất khả kháng hay không

Luật Thương mại năm 2005 không giải thích như thế nào là sự kiện bất khả

kháng, tuy nhiên, theo Khoản 1, Điều 156 Bộ luật Dân sự năm 2015, “sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép” Như vậy, mặc dù có sự kiện dịch bệnh đang diễn ra, tuy nhiên,

để được xem là sự kiện bất khả kháng chỉ khi bên có hành vi vi phạm đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép nhưng vẫn không thể thực hiện đúng hợp đồng thì mới được xem là sự kiện bất khả kháng Về điều này, pháp luật bắt buộc bên vi phạm hợp đồng phải có nghĩa vụ chứng minh trường hợp miễn trách nhiệm [11]

Trong các giao dịch dân sự nói chung,“trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”[12]

Tuy nhiên cần lưu ý, khi có sự kiện bất khả kháng, không đồng nghĩa với việc trong mọi trường hợp, bên vi phạm không tiếp tục thực hiện hợp đồng Khi đó, đối với hợp đồng mua bán hàng hóa không có thời hạn cố định về giao hàng các bên có thể thỏa thuận kéo dài thực hiện hợp đồng, nếu không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được thì thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng được tính thêm một thời gian bằng với thời gian xảy ra trường hợp bất khả kháng cộng với thời gian hợp lí để khắc phục hậu quả nhưng không được kéo dài quá thời hạn sau đây [13]:

(i) 05 tháng đối với hàng hóa mà thời hạn giao hàng được thỏa thuận không quá 12 tháng, kể từ khi giao kết hợp đồng

(ii) 08 tháng đối với hàng hóa mà thời hạn giao hàng được thỏa thuận trên

12 tháng, kể từ khi giao kết hợp đồng

Tuy nhiên, thực tiễn xảy ra trường hợp, quá thời hạn nêu trên, bên vi phạm hợp đồng vẫn không thực hiện nghĩa vụ, khi đó pháp luật đưa ra giải pháp các bên

có quyền từ chối thực hiện hợp đồng và không bên nào có quyền yêu cầu bên kia bồi thường thiệt hại Nhưng, nếu muốn từ chối thực hiện hợp đồng thì bên từ chối phải thông báo cho bên kia biết trước khi bên kia bắt đầu thực hiện các nghĩa vụ của hợp đồng, thời hạn thông báo là trong thời hạn không quá 10 ngày, kể từ khi kết thúc thời hạn kéo dài [14]

1.3.2 Trường hợp thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản

Khái niệm về sự thay đổi hoàn cảnh cơ bản mặc dù không được làm rõ, nhưng Bộ luật Dân sự năm 2015 đã nêu ra những điều kiện cụ thể để một sự kiện

được coi như là sự thay đổi hoàn cảnh cơ bản phải đủ 05 điều kiện sau đây [15]: (i) Sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan xảy ra sau khi giao kết hợp

Trang 8

đồng; (ii) Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không thể lường trước được về

sự thay đổi hoàn cảnh; (iii) Hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác; (iv) Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên; (v) Bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng mà không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích

Như vậy, nguyên nhân xảy ra phải là nguyên nhân khách quan, tức là không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của bất kì bên nào Điều này cũng đồng nghĩa với việc những trường hợp có chủ đích, có tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp làm cho một sự kiện diễn ra dẫn đến bên còn lại bị bất lợi thì sẽ không đáp ứng được điều kiện của sự thay đổi hoàn cảnh cơ bản

Vấn đề đặt ra, dịch bệnh Covid-19 có được xem là sự thay đổi hoàn cảnh cơ

bản

Ví dụ: Doanh nghiệp A và Doanh nghiệp B giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, trong đó Doanh nghiệp A đặt mua hàng hóa của Doanh nghiệp B nhưng yêu cầu nguyên liệu làm ra hàng hóa phải có xuất xứ từ quốc gia C Nếu sử dụng không đúng nguyên liệu đó, Doanh nghiệp B phải chịu phạt 8% phần nghĩa vụ vi phạm; nếu giao hàng chậm thì sẽ tính lãi 7% giá trị hợp đồng, kể cả trường hợp bất khả kháng Tuy nhiên, sau khi giao kết hợp đồng, dịch bệnh lây lan trên phạm

vi toàn thế giới, trong đó có quốc gia C Do đó, quốc gia C có chính sách đóng cửa biên giới, mọi hoạt động xuất khẩu tạm dừng nên Doanh nghiệp B không thể cung cấp đầy đủ nguyên liệu như thỏa thuận ban đầu Thêm vào đó, nhiều công nhân của Doanh nghiệp B xin nghỉ không hưởng lương để tránh dịch bệnh, một số thuộc diện cách li tập trung Khi đó, nguy cơ dẫn đến một bên vi phạm thực hiện hợp đồng là điều có thể xảy ra Đồng thời, để xem dịch bệnh Covid-19 có được xem là sự thay đổi hoàn cảnh cơ bản, cần phải thông qua hoạt động chứng minh tại Tòa án

Theo quy định, trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản, bên có lợi ích

bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng trong một thời hạn hợp lí [16] Tuy nhiên, thực tiễn xảy ra nhiều trường hợp các bên không thể đàm phán lại hợp đồng, trong trường hợp đó cần phải có chủ thể thứ ba trung gian để đưa ra quyết định phù hợp cho các bên Theo đó, trường hợp các bên không thể thỏa thuận được về việc sửa đổi hợp đồng trong một thời hạn hợp lí, một trong các bên có thể yêu cầu Tòa án: (i) Chấm dứt hợp đồng tại một thời điểm xác định; (ii) Sửa đổi hợp đồng để cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên do hoàn cảnh thay đổi cơ bản Tòa án chỉ được quyết định việc sửa đổi hợp đồng trong trường hợp việc chấm dứt hợp đồng sẽ gây thiệt hại lớn hơn so với các chi phí để

Trang 9

chấm dứt hợp đồng, Tòa án giải quyết vụ việc, các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác [18]

Cần lưu ý:

Thứ nhất, mặc dù Trọng tài cũng là một trong những chủ thể giải quyết

tranh chấp nhưng không có quyền can thiệp vào hợp đồng khi hoàn cảnh thực hiện hợp đồng thay đổi cơ bản

Thứ hai, muốn xác định dịch bệnh Covid-19 có được xem là sự thay đổi

hoàn cảnh cơ bản, tức xác định sự thật thì phải thông qua hoạt động chứng minh, muốn vậy phải xác định đối tượng chứng minh ở đây là 05 điều kiện nêu trên Đồng thời, phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp, đảm bảo các quy định tại Chương VII Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

Thứ ba, việc Tòa án can thiệp vào hợp đồng của các bên là giải pháp cuối

cùng khi các bên không muốn cùng nhau tìm ra giải pháp cho hợp đồng Và Tòa

án sẽ đưa ra giải pháp, có thể sẽ chấm dứt hợp đồng hoặc điều chỉnh một số nội dung của hợp đồng để các bên có thể chịu ít thiệt hại nhất do sự thay đổi hoàn cảnh cơ bản Việc Tòa án sửa đổi nội dung của hợp đồng chỉ diễn ra khi việc chấm dứt hợp đồng sẽ gây ra thiệt hại lớn hơn so với những chi phí thực hiện hợp đồng khi mà hợp đồng được sửa đổi

Trong sự phát triển kinh tế – xã hội hiện nay, nhu cầu trao đổi, mua bán hàng hóa cũng vì vậy không ngừng phát triển Các giao dịch đó ngày càng phong phú và có tính chất phức tạp dẫn đến các tranh chấp mà Tòa án giải quyết đối với hợp đồng mua bán hàng hóa cũng ngày càng tăng Các nguyên nhân dẫn đến tranh chấp cũng có sự đa dạng, trong đó, tiềm ẩn phát sinh các tranh chấp liên quan đến yếu tố do tác động của dịch bệnh Covid-19 Bên cạnh sự kiện bất khả kháng, quy định về hoàn cảnh thay đổi cơ bản cũng là một quy định rất có ý nghĩa đối với các chủ thể giao dịch, tạo thêm giải pháp giải quyết vấn đề trong hoàn cảnh khó khăn nhất định

Xuất phát từ nguyên tắc trong giao kết hợp đồng là tự nguyện thỏa thuận, bên cạnh các quy định về sự kiện bất khả kháng, các bên cũng nên coi trọng quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản Theo đó, để dễ dàng cho các bên trong giải quyết tranh chấp, các bên trong hợp đồng nên thỏa thuận rõ ràng về 05 điều kiện, quy định rõ trách nhiệm của các bên phải thực hiện khi xảy

ra sự thay đổi cơ bản Khi đó, việc giải quyết tranh chấp, dù thông qua đàm phán lại hợp đồng hay giải quyết tại Tòa án sẽ thuận lợi hơn

Trang 10

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam Luật Thương mại 2005

[2] Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam Bộ luật Dân sự 2015

[3] Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam Luật Thương mại 2005

[4] Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam Luật Thương mại 2005

[5] Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam Luật Thương mại 2005

[6] Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Việt Nam Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 về hướng dẫn thi hành một

số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự

[7] Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam Luật Thương mại 2005

[8] Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng Quyết định giám đốc thẩm số 04/2019/KDTM-GĐT ngày 26/4/2019

[9] Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh Bản án phúc thẩm số 18/2018/KDTM-PT ngày 16/5/2018

[10] Tòa án nhân dân cấp cao Đà Nẵng Bản án phúc thẩm số 16/2018/KDTM-PT ngày 08/10/2018

[11] Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam Luật Thương mại 2005

[12] Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam Bộ luật Dân sự 2015

[13] Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam Luật Thương mại 2005

[14] Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam Luật Thương mại 2005

[15] Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam Bộ luật Dân sự 2015

[16] Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam Bộ luật Dân sự 2015

[17] Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam Bộ luật Dân sự 2015

[18] Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam Bộ luật Dân sự 2015

Ngày đăng: 09/05/2021, 03:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w