Các tiết truyền đạt kiến thức mới và các tiết luyện tập, thực hành chưa mang lạihiệu quả như mong muốn do nhiều nguyên nhân: Về phía giáo viên, phương pháp thuyếtgiảng truyền thống theo
Trang 1SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP TRỰC QUAN TRONG
DẠY TOÁN Ở TIỂU HỌC
A- PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Toán học là một trong những môn học cơ bản và quan trọng nhất đối với trẻ em.Nếu có căn bản vững chắc về toán, trẻ em sẽ có khuynh hướng học tốt các môn khoa học,cũng như các môn liên quan khác.Việc học giỏi toán gắn liền với sự thành công của họcsinh trong quá trình học ở bậc phổ thông và đối với cả tương lai về sau Đồng thời, nó còngiúp các em phát triển tư duy toàn diện: Học sinh có kĩ năng nắm vững kiến thức, giảithích ý nghĩa của các qui luật, có khả năng sử dụng kiến thức khoa học tự nhiên vào thực
tế, kĩ năng thực nghiệm, kiểm tra, khái quát, sáng tạo… Để đạt được điều đó thì việc họcmôn Toán của học sinh không đơn thuần là chỉ thực hành và ghi nhớ Mà trên hết là các
em phải thấu hiểu các khái niệm, các qui luật của khoa học tự nhiên một cách thấu đáo và
có các thao tác tư duy đúng cách Vì vậy, việc hỗ trợ của giáo viên để các em trở nênthông minh hơn, tự tin và năng động hơn, từ đó các em biết cách giải quyết các vấn đềtrong toán học nói riêng, trong các môn học khác nói chung và trong cuộc sống hằng ngày
là điều hết sức quan trọng và cần thiết Giáo viên hướng dẫn học sinh học toán, giỏi toán
là cách tốt nhất để phát triển tư duy Các em sẽ nắm được chìa khóa mở cánh cửa tri thức,
và trở thành những con người thành đạt sau này
Môn toán có vai trò hết sức quan trọng Nhưng không phải học sinh nào cũng yêuthích toán và giỏi toán Một câu hỏi đặt ra là: “Làm sao giúp các em có lòng say mê toánhọc và ngày càng giỏi toán hơn mà không tạo gánh nặng cho các em?” Đó là vấn đề màchúng ta cần phải có giải pháp giải quyết Hiện nay, hiện tượng nhiều học sinh có cảmgiác sợ học toán và có xu hướng giải toán một cách máy móc, theo các bước định sẵn,theo trí nhớ mà không thật sự hiểu rõ ý nghĩa, bản chất của các khái niệm hay phép tính
Trang 2Do đó, khả năng giải toán của các em thường chỉ bó hẹp trong phạm vi các dạng bài toán
cụ thể mà các em đã được dạy
Mục tiêu nhằm giúp học sinh thay đổi thái độ học tập đối với môn toán, trở nênyêu thích, giỏi toán hơn và nâng cao tinh thần học tập của các em Chúng ta cần áp dụngnhững phương pháp dạy học tích cực để giúp học sinh “thấu hiểu” toán, học toán mộtcách hứng thú nhẹ nhàng Điều đó phát triển rất tốt tư duy logic, sáng tạo cho học sinh.Căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lí và khả năng tiếp thu kiến thức khoa học tự nhiên của trẻtheo từng độ tuổi, em nhận thấy rằng các tính chất trừu tượng, khái quát đặc trưng củamôn toán đối với khả năng tiếp thu, nhận thức của học sinh Tiểu học gặp rất nhiều khókhăn để nắm được nó Để giải quyết vấn đề trên, em đã lựa chọn giải pháp sử dụngphương pháp trực quan trong việc giảng dạy môn toán ở bậc Tiểu học Em mong rằngviệc sử dụng phương pháp này sẽ giúp học sinh dễ dàng hơn trong việc tiếp cận và lĩnhhội kiến thức toán học trừu tượng Mục tiêu đặt ra cần đạt được đối với cả thầy và trò là:Đối với việc học toán thì: “ Học sinh đến trường trong đầu là dấu chấm hỏi Khi về nhàthì chỉ là dấu chấm”
2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Hoạt động giảng dạy và học tập nội dung: giảng dạy toán ở các trường Tiểu học
- Nghiên cứu các vấn đề liên quan đến việc sử dụng phương pháp trực quan trong dạytoán ở bậc Tiểu học
- Học sinh Tiểu học
3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Nắm được đặc điểm tư duy toán học của học sinh Tiểu học
- Tiếp thu các ưu điểm, khuyết điểm tồn tại của phương pháp trực quan Từ đó, bảnthân có định hướng áp dụng phù hợp trong quá trình giảng dạy trên lớp
- Thực nghiệm sư phạm phương pháp trực quan trong giảng dạy toán để kiểm tra đánhgiá hiệu quả tác động đối với việc tiếp thu kiến thức toán của học sinh Từ đó đúc kết kinhnghiệm trong qua trình giảng dạy
Trang 3- Tìm kiếm, phát hiện, đề xuất các phượng tiện trực quan có hiệu quả tích cực trongviệc học toán của học sinh Tiểu học.
4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài
- Đề xuất một số yếu tố mới về đề tài có hiệu quả tích cực trong việc dạy và học toán ởbậc Tiểu học
- Thiết kế một số bài giảng sử dụng phương pháp nghiên cứu
- Thử nghiệm các bài giảng đã thiết kế
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp điều tra giáo dục
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
B - NỘI DUNGCHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
Trang 41.1 Vị trí môn toán ở trường Tiểu học
Mỗi môn học ở Tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển những cơ
sở ban đầu, rất quan trọng của nhân cách con người Việt Nam Trong các môn học ở Tiểuhọc, cùng với môn tiếng việt, môn toán có vị trí quan trọng, vì:
- Các kiến thức, kĩ năng của môn toán ở Tiểu học có nhiều ứng dụng trong đờisống; Chúng rất cần thiết cho người lao động, rất cần thiết để học các môn học khác ởTiểu học và học tập tiếp môn toán ở trung học
- Môn toán giúp học sinh nhận biết những mối quan hệ về số lượng và hình dạngkhông gian của thế giới hiện thực Nhờ đó mà học sinh có phương pháp nhận thức một sốmặt của thế giới xung quanh và biết cách hoạt động có hiệu quả trong đời sống
- Môn toán góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ,phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề; Nó góp phần phát triển trí thôngminh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt, sanngs tạo; Nó đóng góp vào việc hình thành cácphẩm chất cần thiết và quan trọng của người lao động như: cần cù, cẩn thận, có ý chí vượtkhó khăn, làm việc có kế hoạch, có nề nếp và có tác phong khoa học
1.2 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh Tiểu học
1.2.1 Đặc điểm về nhận thức
a) Tri giác
Tri giác của học sinh Tiểu học mang tính chất đại thể ít đi sâu vào chi tiết và mangtính không chủ định Khả năng phân tích một cách có tổ chức và sâu sắc khi tri giác ở họcsinh các lớp đầu bậc Tiểu học còn yếu, các em thường thâu tóm sự vật về toàn bộ, về đạithể để tri giác
Ở học sinh Tiểu học tri giác không chủ định vẫn chiếm ưu thế So với trẻ mẫu giáothì thị giác của học sinh Tiểu học nhạy bén hơn, độ nhạy đó tăng lên trong suốt thời kỳhọc Tiểu học Các em nhạy cảm với các tác động bên ngoài vì hoạt động của hệ thống tín
Trang 5hiệu thứ nhất còn chiếm ưu thế và chưa phân biệt chính xác được các sự vật giống nhau,
đó là khả năng phân tích khi tri giác còn yếu do trẻ có khuynh hướng đoán vội vàng
Ở bậc Tiểu học tri giác của học sinh thường gắn với những hành động và họat độngthực tiễn của các em Vì vậy, tất cả các hình thức trực quan bằng sự vật, bằng hình ảnh vàbằng lời nói cần được sử dụng trong các giờ lên lớp ở bậc Tiểu học Khi bắt đầu học, trẻ
em không chỉ cần hiểu điều mình đọc, mà còn biết nhìn sự vật đúng và tinh, biết nhậnthấy những đặc điểm của sự vật Không những chỉ học suy nghĩ mà học cả quan sát nữa
và thậm chí học quan sát trước khi học suy nghĩ
c) Trí nhớ
Trí nhớ của học sinh Tiểu học còn mang tính trực quan, hình tượng được phát triểnhơn trí nhớ từ ngữ logic Các em nhớ và gìn giữ chính xác những sự vật hiện tượng cụ thểnhanh hơn và tốt hơn những định nghĩa, khái niệm, những lời giải thích dài dòng Họcsinh đầu cấp thường có khuynh hướng ghi nhớ máy móc bằng cách lặp đi lặp lại nhiềulần, có khi chưa hiểu được những mối liên hệ, ý nghĩa của tài liệu và không thể sắp xếplại để diễn đạt bằng lời lẽ của mình Ở học sinh Tiểu học việc ghi nhớ các tài liệu trựcquan có nhiều hiệu quả nhất Tuy nhiên ở lứa tuổi này hiệu quả của việc ghi nhớ các tàiliệu từ ngữ (cụ thể và trừu tượng) tăng rất nhanh Trong việc ghi nhớ các tài liệu từ ngữtrừu tượng vẫn còn phải dựa trên những tài liệu trực quan hình tượng mới vững chắc
d) Tư duy
Trang 6Tư duy của trẻ mới đến trường mang tính trực quan cụ thể, mang tính hình thứcbằng cách dựa vào những đặc điểm trực quan của những sự vật, hiện tượng cụ thể Do vậyviệc sử dụng những sự vật ở bên ngoài và dùng lời nói để tính toán là rất cần thiết.
Tư duy của học sinh Tiểu học chưa thoát khỏi tính trực quan cụ thể, chưa nhậnthức được ý nghĩa của từ “nếu” trong các bài toán có lời văn Nhiều em lung túng dẫn đếnsai lầm trong tư duy Nhờ ảnh hưởng của việc học tập dần dần chuyển nhận thức các mặt
bề ngoài của các hiện tượng đến nhận thức được những thuộc tính và dấu hiệu bản chấtcủa hiện tượng vào tư duy Sự lĩnh hội tri thức không còn dựa trên nhận thức trực tiếpcảm tính mà phần lớn dựa vào cách nhận thức gián tiếp thông qua từ (có sự hỗ trợ của yếu
tố trực quan)
Quá trình vận dụng thao tác tư duy để hình thành khái niệm trải qua ba mức độ:Một là: Tri giác trực tiếp sự vật và hiện tượng cụ thể, học sinh tách ra các dấu hiệu trựcquan, bề ngoài dễ thấy (màu sắc, hình dáng, độ lớn) các dấu hiệu dễ đập vào mắt hay dễgây cảm xúc (hành vi, chức năng, công dụng) nhưng đó thường là những dấu hiệu khôngbản chất, các dấu hiệu thứ yếu; Hai là: Các em biết dựa trên các dấu hiệu không bản chất
và bản chất, nhưng cái bản chất ở đây phải dễ bộc lộ, dễ tri giác và các dấu hiệu đó vẫngắn liền với các hình ảnh trực quan các biểu tượng cụ thể; Ba là: Các em đã biết tách dấuhiệu bản chất ra khỏi các dấu hiệu không bản chất, nhưng vẫn dựa phải dựa vào sự vật cụthể trực quan Các dấu hiệu bản chất được nêu ra vẫn còn chưa đầy đủ
e) Tưởng tượng
Tưởng tượng của các em nhỏ là tính trực quan, cụ thể: Đối với các em lớp 3, lớp 4tính trực quan cụ thể của tưởng tượng đã giảm đi, vì tưởng tượng của các em đã dựa vàongôn ngữ Về mặt cấu tạo hình tượng trong tưởng tượng, học sinh nhỏ chỉ lặp lại hoặcthay đổi chút ít về mặt kích thước và hình dáng những hình tượng tri giác trực tiếp trướcđây Chỉ có các em ở lớp 4, lớp 5 có khả năng nhào nặn, gọt sửa những hình tượng cũ đểsang tạo ra hình tượng mới
Trang 7f) Ngôn ngữ
Ngôn ngữ của học sinh Tiểu học đã phát triển rất rõ rệt cả về số lượng và chấtlượng Do nội dung học tập đã mở rộng, nên ngôn ngữ của các em đã vượt ra khỏi phạm
vi những từ sinh hoạt, cụ thể và đã bao gồm nhiều khái niệm khoa học, trừu tượng
1.2.2 Con đường hình thành kiến thức ở học sinh Tiểu học
Từ thực tiễn dạy học các nhà giáo dục đã rút ra ba con đường hình thành kiến thức
ở học sinh Tiểu học theo các cấp độ trực quan như sau:
Cấp độ một: Từ quan sát và tri giác trực tiếp sự vật và hiện tượng của thế giới đểhình thành biểu tượng và khái niệm khoa học Đây là con đường hết sức quan trọng trongquá trình nhận thức, đặc biệt là học sinh nhỏ tuổi khi mà các em chưa có các biểu tượngban đầu và năng lực tư duy trừu tượng còn thấp
Cấp độ hai: Học sinh tri giác qua hình ảnh các vật hay hiện tượng Ở đây thực tiễn
đã được trừu tượng hóa một bước Để nhận thức được, học sinh cần sử dụng trí tưởngtượng của mình ở một mức độ nhất định nào đó Việc sử dụng hình ảnh trong quá trìnhdạy học làm cho việc vận dụng phương pháp trực quan được thuận lợi bởi không phải lúcnào cũng có thể tạo ra được vật thật trên lớp được Một khi các em đã có kinh nghiệm và
có vốn hiểu biết về tự nhiên và xã hội thì không phải lúc nào vật thật cũng cần thiết trongdạy học Chính lúc này các tài liệu trực quan lại giúp các em hiểu dễ dàng và hệ thốnghơn, đồng thời kích thích trí tưởng tượng các em
Cấp độ ba: Học sinh nhận thức sự vật hiện tượng xung quanh qua ngôn ngữ và kíhiệu, đặc biệt là mô hình, trường hợp này dành cho các lớp lớn, bởi năng lực tư duy trừutượng của học sinh đã phát triển ở mức độ cao và đây là con đường đóng vai trò hết sứcquan trọng trong rèn luyện tư duy nhận thức cho học sinh, để thực hiện theo con đườngnày cần có các sách vở, tài liệu, biểu đồ
1.3 Những tính chất của toán học
1.3.1 Tính trừu tượng
Trang 8Trong toán học, tính trừu tượng thoát ra khỏi mọi nội dung có tính chất liệu mà chỉgiữ lại các quan hệ số lượng, hình dạng và lôgic, tức là chỉ về cấu trúc toán học mà thôi.
Sự trừu tượng hóa của toán học không dừng ở mức độ nhất định mà tiến dần từ mức nàyđến mức khác Tính trừu tượng có được nhờ ba phương thức trừu tượng cơ bản:
- Trừu tượng hóa đồng nhất: Tính chất hay quan hệ chung của đối tượng nghiêncứu được tách xa, xem như là thuộc tính của chính lớp đối tượng đó (còn gọi là trừutượng hóa khái quát)
- Trừu tượng hóa lí tưởng: Từ đối tượng sự vật thật trở thành đối tượng thuần khiếttồn tại trong tư duy
- Trừu tượng hóa giả định: Mở rộng giới hạn thực tế của việc xây dựng các đốitượng toán học với điều kiện xác định, theo giả định cho trước
1.3.2 Tính khái quát và sự khái quát hóa
Tính khái quát trong toán học làm rõ các qui luật; các dấu hiệu bản chất của hangloạt các hiện tượng trong thực tiễn khách quan Tính khái quát có được nhờ sự khái quáthóa Sự khái quát hóa có bốn mức độ:
- Khái quát hóa từ nhiều sự vật, hiện tượng cụ thể Ví dụ: Xét nhiều trường hợp cụthể tìm ra các số chia hết cho 5, sự khái quát hóa cho ta dấu hiệu chia hết cho 5
- Khái quát hóa từ cái đã biết Ví dụ: Mọi hình chữ nhật đều có 4 góc vuông
- Khái quát hóa từ cái khái quát
- Khái quát hóa từ cái chưa biết
Trang 9Lứa tuổi Tiểu học (6-7 tuổi đến 11-12 tuổi) là giai đoạn mới của phát triển tư duy –giai đoạn tư duy cụ thể Trong một chừng mực nào đó, hành động trên các đồ vật, sự kiệnbên ngoài còn là chỗ dựa hay điểm xuất phát cho tư duy Học sinh có khả năng nhận thức
về cái bất biến và hình thành khái niệm bảo toàn, tư duy có bước tiến rất quan trọng, phânbiệt được định tính với định lượng – điều kiện ban đầu cần thiết thể hình thành khái niệm
“số” Học sinh lớp 1 đã nhận thức cái bất biến là sự tương ứng 1-1 không thay đổi khithay đổi cách sắp xếp các phần tử (dựa vào lớp các tập hợp tương đương), từ đó hìnhthành khái niệm bảo toàn “số lượng” của các tập hợp trong lớp các tập hợ đó
Học sinh cuối cấp có những tiến bộ về nhận thức không gian như phối hợp cáchnhìn một hình hợp từ các phía khác nhau, nhận thức được các quan hệ giữa các hình vớinhau ngoài các quan hệ trong nội bộ một hình
Học sinh Tiểu học bước đầu có khả năng thực hiện việc phân tích tổng hợp, trừutượng hóa - khái quát hóa và những hình thức đơn giản của sự suy luận, phán đoán Ở họcsinh Tiểu học, phân tích và tổng hợp phát triển không đồng đều, tổng hợp có khi khôngđúng hoặc không đầy đủ, dẫn đến khái quát sai trong hình thành khái niệm Khi giải toán,học sinh thường bị ảnh hưởng bởi một số từ “thêm”, “bớt”, “nhiều gấp”…tách chúng rakhỏi điều kiện chung để lựa chọn phép tính ứng với từ đó, do vậy dễ mắc sai lầm
Các khái niệm toán được hình thành qua trừu tượng hóa và khái quát hóa nhưngkhông thể chỉ dựa vào tri giác bới các khái niệm toán học còn là kết quả của thao tác tưduy đặc thù Có hai dạng từu tượng hóa: sự trừu tượng hóa từ các đồ vật, hiện tượng cảmtính và sự từu tượng hóa từ các hành động Khi thực hiện trừu tượng hóa nhằm rút ra cácdấu hiệu bản chất, chẳng hạn: thông qua trừu tượng hóa từ các đồ vật (tập hợp cụ thể) loại
bỏ đặc tính màu sắc, kích thước hình thành lớp các tập hợp tương đương, sau đó chỉ quantâm đến cái chung giữa lớp các tập hợp tương đương đó, đi đến khái niệm “số” (trừutượng hóa trên hành động)
Trang 10Học sinh Tiểu học, nhất là các lớp đầu cấp thường phán đoán theo cảm nhận riêng nênsuy luận thường mang tính tuyệt đối Trong học toán, học sinh khó nhận thức về quan hệkéo theo trong suy diễn Chẳng hạn đáng lẽ hiểu: “12=3x4 nên 12:3=4”, thì lại coi đó làhai mệnh đề không có quan hệ với nhau Các em khó chấp nhận các giả thiết, dữ kiện cótính chất hoàn toàn giả định bởi khi suy luận thường gắn với thực tế, phép suy diễn của
“hiện thực” Bởi vậy khi nghe một mệnh đề toán học các em chưa có khả năng phân tíchrành mạch các thuật ngữ, các bộ phận của câu mà hiểu nó một cách tổng quát
CHƯƠNG II: VẤN ĐỀ SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP TRỰC QUAN TRONG DẠY TOÁN Ở TIỂU HỌC
2.1 Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học
Đổi mới phương pháp dạy học hiện nay không chỉ là phong trào mà còn là một yêucầu bắt buộc với mọi giáo viên Bộ GD&ĐT cũng đã đưa ra định hướng chỉ đạo, phátđộng và triển khai mạnh mẽ tại hầu khắp địa phương trên cả nước Tuy nhiên, thực tế chothấy nhiều nhà trường, giáo viên vẫn loay hoay trong công tác đổi mới nhằm đem đến chocác em học sinh những giờ học thực sự bổ ích, lý thú với nội dung giảng dạy hấp dẫn giúpcác em học sinh hứng thú trong học tập và việc lựa chọn phương tiện giảng dạy phù hợptrong những giờ lên lớp
Trong tháng cuối năm 2010, Vụ Giáo dục Tiểu học (Bộ GD&ĐT) đã tổ chức Hộithảo “Chuẩn kiến thức kỹ năng và phương pháp đổi mới giáo dục Tiểu học” trên toànquốc và đã thu về nhiều ý kiến thiết thực từ các Sở GD&ĐT các tỉnh, thành phố; Ttrong
đó, có những ý kiến chia sẻ về thực tế hoạt động đổi mới phương pháp dạy và học tại cáctrường hiện nay Ý kiến cho rằng: “Nếu đối mới là cứ phải sử dụng hết các phương tiệngiảng dạy hiện đại trong giờ học thì giáo viên không thể hoàn thành bài giảng trên lớp củamình và không thể làm được như vậy Đổi mới là cả một quá trình, giáo viên cần có thờigian để tìm hiểu và chọn lọc phương tiện giảng dạy phù hợp nhất với khả năng của mình
để sử dụng chúng một cách chủ động và sáng tạo Đồng thời, giáo án chuẩn bị cũng phải
Trang 11thay đổi để phù hợp với phương tiện và phong cách giảng dạy mới Trong một giờ lên lớp,giáo viên không thể sử dụng hết cả máy chiếu, bảng thông minh, ti vi - đầu đĩa, ta chỉ nênlựa chọn một phương tiện phù hợp, tiện lợi và phổ biến nhất”.
Khảo sát tại các trường Tiểu học trên địa bàn cho thấy hầu hết các nhà trường hiệnnay đều có trang bị ti-vi, đầu đĩa hoặc máy chiếu, rất tiện lợi cho các thầy cô giáo sử dụngtài liệu bằng âm thanh, hình ảnh trong quá trình giảng dạy, giúp bài học trở nên hấp dẫnhơn Hầu hết các nhà trường đều chọn ti-vi, đầu đĩa trang bị cho từng lớp học do chi phíthấp, dễ sử dụng lại gần gũi với các thầy cô giáo và các em học sinh Tuy nhiên, theo chia
sẻ của rất nhiều thầy cô giáo, các thầy cô vẫn chưa thể tận dụng tối đa tác dụng của nhữngphương tiện giảng dạy hiện đại đó Thậm chí, nhiều thầy cô chưa từng “động tới” ti-vi,đầu đĩa trong quá trình giảng dạy Ở nhiều lớp, những phương tiện trên nhiều khi chỉ dừnglại ở chức năng trang trí Việc tìm kiếm các video minh họa cho nội dung bài giảng,những hình ảnh sống động, các mô hình trực quan phù hợp nội dung,… sẽ thu hút các emtham gia vào hoạt động học tập và dễ dàng tiếp thu, ghi nhớ bài hơn Nhưng vì trở ngại lànguồn tài liệu không dồi dào và tốn nhiều thời gian, dẫn đến nhiều giáo viên không chuẩn
bị tốt hoặc sáng tạo các đồ dùng dạy học sử dụng trong những giờ lên lớp Bên cạnh đó,trường hợp có phương tiện đấy nhưng nhiều khi tài liệu và phương pháp giảng dạy phùhợp là cả một vấn đề nan giải Nếu không có một quy trình giảng dạy thích hợp, thì hiệuquả của các phương tiện sẽ không được phát huy đúng cách
Giáo viên cần xây dựng nội dung giảng dạy hấp dẫn Bản thân mỗi thầy cô giáokhi có nguồn tài liệu phong phú, hấp dẫn để truyền đạt tới học sinh cũng sẽ yêu bài giảngcủa mình hơn Đó là yếu tố thúc đẩy các thầy cô lựa chọn và vận dụng phương tiện giảngdạy thích hợp nhất giúp cho hoạt động đổi mới phương pháp dạy và học trên lớp có hiệuquả Sử dụng tốt các phương tiện, đồ dùng dạy học (của học sinh hoặc phương tiện biểudiễn của giáo viên) có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo thực hiện có hiệu quả tiếntrình đổi mới phương pháp dạy học theo hướng dạy học tích cực Trước kia, đồ dùng dạyhọc thường chỉ dành cho giáo viên dùng để minh họa bổ sung những kết luận được nêu ra,
Trang 12học sinh chỉ quan sát để củng cố niềm tin vào những điều giáo viên giảng Trong dạy họctích cực hiện nay, vai trò của đồ dùng dạy học đã thay đổi, đồ dùng dạy học chủ yếu chohọc sinh thực hành và “khám phá” kiến thức mới Vì vậy, tăng cường sử dụng phươngtiện dạy học là một yêu cầu cấp thiết đối với người giáo viên.
2.2 Thực tế dạy học toán hiện nay
Nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh, chương trình sách giáo khoamới đã đổi mới nội dung, kiến thức phù hợp với thực tế, giúp học sinh dễ dàng liên hệtiếp thu, thực hành, luyện tập Nhưng hiệu quả học tập Toán của các em chưa cao do vẫncòn phổ biến tình trạng dạy “chay”, học “chay”
Tình hình thực tế cho thấy có không ít trường Tiểu học hiện còn nhiều tiết lên lớptrong các giờ thực hành, luyện tập chưa đáp ứng đúng yêu cầu, mục tiêu bài học Đặc biệt,đối với các trường vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, tình trạng dạy “chay”,học “chay” trong giờ lên lớp, trong các tiết luyện tập, thực hành là khá phổ biến Hệ quả
là các tiết học diễn ra trong không khí rời rạc, buồn tẻ, học sinh gặp khó khăn trong việcnắm vững kiến thức toán học trừu tượng, khái quát và vận dụng những kiến thức lýthuyết đó vào thực tiễn
Các tiết truyền đạt kiến thức mới và các tiết luyện tập, thực hành chưa mang lạihiệu quả như mong muốn do nhiều nguyên nhân: Về phía giáo viên, phương pháp thuyếtgiảng truyền thống theo lối áp đặt đối với học sinh vẫn còn tồn tại, phương pháp nàykhông chỉ được sử dụng trong các tiết lý thuyết mà còn được áp dụng trong các tiết luyệntập, thực hành đã ảnh hưởng đến việc phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh trongviệc vận dụng các kiến thức lý thuyết để giải quyết một bài tập hoặc một vấn đề thực tế,tạo sức ỳ trong tâm lý tiếp nhận của học sinh Bên cạnh đó, vấn đề đáng quan tâm là đểtiếp nhận các khái niệm trừu tượng toán học thì các em cần sự hỗ trợ của các thiết bị thựchành, dụng cụ trực quan… Tuy nhiên, hiện nay ở nhiều trường, đặc biệt là các trườngmiền núi, vùng sâu, vùng xa, phòng thực hành, thiết bị thực hành, đồ dùng dạy học nhìnchung còn thiếu thốn, chưa đồng bộ Thiếu phương tiện hỗ trợ học tập, thực hành dẫn đếntình trạng thầy dạy “chay”, trò học “chay” Hiệu quả tiết học, tiết thực hành, luyện tập, vì
Trang 13thế mà bị ảnh hưởng Tình trạng nhiều học sinh ghi nhớ kiến thức toán học một cách máymóc mà không thật sự hiểu nó Các em không tự giải thích được câu hỏi đặt ra trong cácbài toán hoặc những suy luận: Tại sao lại sử dụng phép toán này mà không sử dụng phéptoán khác? Tại sao lại có giá trị này? Những điều đó làm các em có cảm giác nặng nề,lung túng mỗi khi giải các bài toán Từ đó, học sinh cảm thấy không hứng thú trong việchọc toán và xem nó như một môn học nặng nề.
Để cải thiện tình trạng bất cập trên giúp học sinh Tiểu học học toán một cách tíchcực, hiệu quả, người giáo viên ngoài việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực thìviệc sử dụng phương pháp trực quan, được xem là một phương pháp dạy học truyềnthống, trong dạy học môn toán là đều hết sức cần thiết
* Thực trạng về sử dụng trực quan trong dạy toán ở các trường tiểu học
- Thuận lợi:
+ Sách giáo khoa mới có các kênh hình rất đẹp, sinh động gần gũi với đời sốngcủa trẻ( ước tính kênh hình nhiều gấp đôi kênh chữ và số)
+ Một số trường được hỗ trợ 01 bộ máy chiếu
+ Nhà trường tạo điều kiện mua sắm đồ dùng cần thiết cho giảng dạy Một sốtrường Tiểu học ở nông thôn được hỗ trợ các thiết bị từ các dự án của chính phủ và củacác tổ chức hỗ trợ từ nước ngoài
+ Các lớp được trang bị bộ đồ dùng dạy học toán
+ Có hệ thống bảng chống loá, bảng phụ, chữ viết của giáo viên rõ ràng, cẩn thận,trình bày trên bảng một cách khoa học
+ Học sinh trang bị mỗi em 01 bộ đồ dùng học toán
+ Trường đã động viên giáo viên tự làm đồ dùng thi sử dụng đồ dùng cấp trường,cấp quận, huyện
+ Chương trình toán hiện nay có cấu trúc đồng tâm, lôgic, thuật ngữ toán họcchính xác, rõ ràng, phù hợp với tư duy trẻ Vì vậy học sinh dễ tiếp thu kiến thức mới và
áp dụng để làm bài tập
Trang 14- Khó khăn:
+ Nội dung dạy toán mang tính trừu tượng
+ Sự nhận thức của học sinh không đồng đều
+ Một số giáo viên chưa ý thức được tầm quan trọng của việc sử dụng trực quanhoặc còn ngại sử dụng đồ dùng
+ Đồ dùng dạy học môn toán được trang bị nhiều nhưng chưa phù hợp với từngbài dạy, chưa đủ để đáp ứng nhu cầu Khi sử dụng trực quan trong dạy học toán ở từngbài dạy phải chọn như thế nào? đưa ra lúc nào cho hợp lý và đạt hiệu quả cao? Điều đóbắt buộc chúng ta phải tìm hiểu, xác định và lựa chọn cách nào cho phù hợp nhất
2.3 Phương pháp trực quan
2.3.1 Quan niệm về phương pháp trực quan
a) Trực quan trong hoạt động dạy học là gì?
Trực quan trong hoạt động dạy học, được hiểu là khái niệm dùng để biểu thị tínhchất của hoạt động nhận thức, trong đó thông tin thu được từ các sự vật hiện tượng củathế giới bên ngoài nhờ sự cảm nhận trực tiếp của các cơ quan cảm giác con người
- Trực quan bằng lời nói: dùng lời nói để mô tả lại các sự vật Lời nói phải mangtính gợi cảm, giàu hình tượng và dễ hiểu làm cho học sinh nhớ lại những biểu tượng đã
có ở trong đầu để xây dựng biểu tượng mới qua lời nói của giáo viên
Trang 15c) Phương tiện trực quan
Phương tiện trực quan là những công cụ mà thầy giáo và học sinh sử dụng trongquá trình dạy học nhằm tạo ra các biểu tượng, hình thành những khái niệm cho học sinhthông qua sự tri giác trực tiếp thí dụ như các vật tự nhiên cây, hoa quả, mô hình, biểu đồ,phim ảnh để dạy học
d) Phương tiện dạy học
Phương tiện dạy học là những công cụ mà thầy giáo và học sinh sử dụng trong quátrình dạy học nhằm đạt được mục đích dạy học đó là: các vật thật, các vật tượng trưng( bản đồ, sơ đồ, biểu đồ), các vật tạo hình ( tranh ảnh, mô hình, hình vẽ, phim) Thínghiệm và các thiết bị thí nghiệm, các phương tiện mô tả đối tượng và hiện tượng bằnglời, bằng kí hiệu ( sách giáo khoa, sách hướng dẫn, tài liệu in, các công thức, phương trình); các phương tiện kỹ thuật dạy học ( phương tiện nghe, nhìn, computer, camera,….)
e) Phương tiện giáo dục
Phương tiện giáo dục là khái niệm dùng để chỉ tất cả các dụng cụ, phương tiện màgiáo viên và học sinh trực tiếp sử dụng trong quá trình giáo dục (dạy học, lao động, vuichơi, sinh hoạt tập thể ) và các điều kiện vật chất cần thiết cho các hoạt động giáo dục
đó ( nhà cửa, bàn ghế, sân bãi, trường…)
f) Phương pháp trực quan trong dạy học toán
Sử dụng phương pháp trực quan trong dạy học toán ở Tiểu học nghĩa là giáo viên
tổ chức hướng dẫn cho học sinh trực tiếp hoạt động trên các phương tiện, đồ dùng dạyhọc, từ đó giúp học sinh hình thành kiến thức và kĩ năng cần thiết của môn toán
Sử dụng phương pháp trực quan trong dạy học toán ở Tiểu học là quá trình kết hợpgiữa cụ thể và trừu tượng nghĩa là tổ chức hướng dẫn cho học sinh nắm bắt được các kiếnthức trừu tượng, khái quát của môn toán dựa trên những cái cụ thể, gần gũi với học sinh,
Trang 16sâu đó vận dụng những quy tắc, khái niệm trừu tượng, để giải quyết các vấn đề cụ thể củahọc tập và đời sống
2.3.2 Vai trò, tác dụng của phương pháp trực quan trong dạy học toán
Do đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học (có tính trực giác, cụ thể) và do tínhchất đặc thù của các đối tượng toán học (tính trừu tượng và khái quát cao) mà phươngpháp trực quan có vai trò quan trọng trong quá trình dạy học toán ở Tiểu học
Với những hình ảnh trực quan (do các đồ dùng biểu diễn mang lại) và lời giảng củagiáo viên học sinh sẽ dễ dàng hơn trong việc tiếp cận và lĩnh hội kiến thức toán học trừutượng Bản chất của phương pháp dạy học này là giáo viên đã tác động vào tư duy họcsinh Tiểu học theo đúng qui luật nhận thức “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng
và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn” Từ đó, nó giúp học sinh tích lũy những biểu tượngban đầu của các đối tượng toán học, tạo chỗ dựa cho quá trình suy nghĩ, tri giác tiếp theođồng thời giúp học sinh phát triển năng lực tư duy trừu tượng và trí tưởng tượng
2.3.3 Một số phương tiện trực quan sử dụng trong dạy học toán ở Tiểu học
Việc sử dụng phương tiện và đồ dùng dạy học có ý nghĩa to lớn trong việc nângcao hiệu quả giờ học nói chung và đặc biệt là giờ học môn toán Chúng mang lại hiệu quảtích cực trong quá trình tiếp thu kiến thức của học sinh Tiểu học Các giờ lên lớp, giáoviên thường sử dụng các dạng đồ dung trực quan trong dạy học toán:
- Những vật thực có trong tự nhiên xung quanh trẻ: sách, vở, bút chì, thước kẻ,viên phấn; Bông hoa, quả cam,…Những mẫu vật cắt bằng giấy (bìa) Những vật tuykhông có trước mắt, nhưng đã quá quen thuộc với các em như: chó, mèo, nhà cửa,…
- Các bộ que tính, khác nhau về màu sắc, kích thước, biểu thị các hàng, lớp đơn vịthập phân
- Những bàn tính vừa dùng để học cấu tạo của số, học các hàng và lớp Bảng cài,bảng nỉ (và các dạng bảng nỉ), bảng từ tính,…
Trang 17- Các bảng tính (bảng cộng, bảng nhân…), các bảng đơn vị đo lường; Các sơ đồ
và bảng mô tả, chỉ dẫn cách giải toán điển hình, chỉ dẫn cách viết số, các phương pháptính, cách tính chu vi, diện tích hình,…Những bảng, biểu này được dùng khi giảng bàihoặc treo trong lớp khi ôn tập,…
- Những sơ đồ, biểu đồ, hình vẽ trên bảng lớp ngay trong từng giờ dạy, giới thiệu,những nét bản chất nhất của đối tượng và quan hệ toán học cần nghiên cứu
Ví dụ loại toán “Tìm hai số biết tổng và hiệu” (lớp 4) có thể được diễn đạt bằngmột trong các sơ đồ sau:
- Các hình ảnh, sơ đồ, …trên phim trong (sử dụng máy chiếu qua đầu (over head))
- Các hình ảnh, sơ đồ, trò chơi,…trong các phần mềm học toán (sử dụng với máy
Nữ ?
50 học sinh8
+8
50
Trang 18- Ngôn ngữ, cử chỉ của giáo viên, lời nói ngắn gọn hấp dẫn, cách diễn tả sinh độngkèm theo các động tác khéo léo của giáo viên cũng ảnh hưởng rất lớn đến việc tiếp thu bàicủa các em.
Bên cạnh đó, những đồ dùng trực quan do chính tay người giáo viên sáng tạo raphù hợp với mục đích của từng tiết dạy cũng là những phương tiện dạy học hiệu quả
2.3.4 Các vấn đề sử dụng phương pháp trực quan trong dạy học toán ở Ttiểu học
a) Quy trình thực hiện
Bước 1: Tổ chức cho học sinh hoạt động trực tiếp trên các đồ dùng trực quan (hình
vẽ, đồ vật, hiện tượng cụ thể…) Học sinh tự làm việc, tự phát hiện (với sự hỗ trợ của giáoviên), từ đó hình thành kiến thức mới (biểu tượng về số, hình thành các quy tắc tính, nhậnbiết các kí hiệu toán học,…)
Bước 2: Củng cố các kiến thức mới thu nhận được thông qua các bài tập vận dụng
có gắn với các hình ảnh trực quan
Bước 3: Luyện tập củng cố kiến thức, kĩ năng thông qua các bài tập trên các đốitượng toán học (số, hình hình học, sơ đồ, biểu bảng,…) mà không kèm theo các hình ảnhtrực quan Lúc này học sinh đã có thể làm việc trực tiếp với các đối tượng toán học thuầntúy mà không phải dựa vào các hình ảnh trực quan ban đầu
b) Ưu điểm
- Phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh Tiểu học: nhận thức của học sinh
Tiểu học còn mang tính cụ thể, gắn với các hình ảnh, hiện tượng cụ thể, trong khi các kiếnthức của môn toán lại có tính trừu tượng và khái quát cao Vì vậy sử dụng phương pháptrực quan sẽ giúp học sinh có chỗ dựa cho hoạt động tư duy trong quá trình lĩnh hội cáckiến thức trừu tượng
Trang 19- Trong quá trình sử dụng phương pháp trực quan, học sinh sẽ được huy động cácgiác quan thông qua các hoạt động như: nghe, nhìn, thực hành (trên các đồ dùng học tập).Điều đó sẽ giúp học sinh không chỉ phát triển năng lực thực hành mà còn giúp học sinhphát triển năng lực tư duy trừu tượng và trí tưởng tượng.
- Nếu không chuyển dần, chuyển kịp thời các phương tiện và đồ dùng trực quan từdạng cụ thể sang dạng trừu tượng hơn để phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh thì
sẽ hạn chế sự phát triển trí tuệ và khả năng tư duy của học sinh
- Đặc biệt lưu ý là trong quá trình hình thành tri thức hoặc khái niệm mới, nếu việc
tổ chức cho học sinh hoạt động trên các phương tiện, đồ dùng trực quan theo một tiếntrình không phù hợp với quá trình nhận thức và tư duy của học sinh thì vô tình người giáoviên có thể sẽ dẫn học sinh đến những nhận thức không đúng hoặc khó tiếp thu các trithức đó
d) Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp trực quan trong dạy toán ở Tiểu học
- Phương pháp trực quan có tầm quan trọng đặc biệt trong việc dạy học, songkhông nên lạm dụng:
+ Các tri thức Toán học vốn có tính trừu tượng và khái quát cao, trong khi tư duycủa trẻ 6 – 11 tuổi còn mang tính cụ thể, hình tượng; Vốn sống của các em còn nghèo nàn.Trực quan sẽ bổ sung vốn hiểu biết cho học sinh, cung cấp chỗ dựa cho hoạt động tư duy;
Trang 20Giúp học sinh dễ chú ý, để từ đó có thể nắm các tri thức trừu tượng một cách vững chắc,
tự giác và phát triển được năng lực tư duy trừu tượng, giúp phát triển trí tưởng tượng
+ Trực quan không phải là mục đích , mà là phương pháp, phương tiện giúp đạtmục đích cuối cùng là nắm các tri thức Toán học trừu tượng, phát triển năng lực tư duy.Nếu bỏ qua khâu “trực quan sinh động” hay tiến hành nó một cách đại khái sẽ không giúpnhận thức sâu sắc đối tượng Ngược lại, nếu lạm dụng trực quan, thì không những tốn thờigian, mà còn kìm hãm năng lực hình thành các biểu tượng không gian, hạn chế năng lựckhái quát hóa, kìm hãm sự phát triển tư duy trừu tượng
- Ở các lớp càng nhỏ, càng phải tổ chức giảng dạy sao cho học sinh có thể thu nhậnkiến thức trên nhiều giác quan nhìn, nghe,…và đặc biệt là hành động (đếm, đong, đo; cắt,ghép, tô…) của bản thân hoặc có thể theo dõi không chỉ lời giảng mà cả các thao tác củagiáo viên minh họa cụ thể các bước tính, các khái niệm, các tính chất
Ví dụ: Để học sinh nắm được cấu tạo số ở lớp 1, thường có hoạt động chia một sốque tính thành hai nhóm một cách tùy ý, mỗi em chủ động chia theo cac cách của mình.Tập hợp tất cả các cách chia, ta sẽ có được tất cả các trường hợp cần nắm về cấu tạo số là
5 và 1; là 4 và 2; là 3 và 3 Có phân tích bằng hành động như vậy, dần dần học sinh mớiphân tích thầm trong óc được
- Cần phải chuyển dần; chuyển kịp thời và đúng lúc từ dạng trực quan này sangdạng trực quan khác với mức độ trừu tượng tăng dần Trật tự dùng có thể là từ vật thực,sang tranh minh họa, rồi đến sơ đồ, biểu đồ
Ví dụ: Khi cho học sinh giải toán, chẳng hạn loại toán về nhiều hơn, ở lớp 2, có thể
có những minh họa trực quan theo thứ tự như sau:
Trang 21Rõ ràng là mức độ trừu tượng tăng dần buộc học sinh phải suy nghĩ nhiều hơn, nếuqua hình 1, học sinh có thể đếm số hoa trên hình và tìm được đáp số thì đến hình 2, họcsinh bắt buộc phải suy luận để hiểu rằng: số que ở tay trái nhiều hơn số que ở tay phải (3que ở trên) và thêm 2 que Qua tới sơ đồ đoạn thẳng, thì hoàn toàn phải dùng suy luận,dựa trên những số cho trong bài, vì ở đây không có đến cả độ chia trên đoạn thẳng đểđếm Đoạn thẳng sẽ tượng trưng cho các sự vật cụ thể nêu trong bài toán bông hoa, quyểnvở,…Sơ đồ đoạn thẳng như trên sẽ là sơ đồ chung cho bài toán “nhiều hơn” Ở đây nếu
bỏ qua các giai đoạn I, II và dạy ngay, dạy sớm sơ đồ đoạn thẳng thì sẽ chỉ làm cho họcsinh nắm vấn đề một cách máy móc Đến khi học sinh thông thạo bài toán này, khôngnhất thiết bắt buộc phải vẽ sơ đồ
- Coi trọng việc chuẩn bị đồ dùng dạy học và tính toán kĩ về cách sử dụng trên lớp+ Khi giáo viên chuẩn bị bài lên lớp, phải đồng thời chuẩn bị đồ dùng dạy học Cầntính toán trước: lúc nào nào đưa ra cho học sinh quan sát, lúc nào thì cất đi, khi cất thì cất
ở đâu để không làm phân tán chú ý của các em Lại phải luyện tập trước cách thao tác,hướng dẫn có trọng tâm để học sinh quan sát được tốt, tránh tình trạng để cho màu sắc rực
rỡ, hình dáng sinh động của các sự vật làm lu mờ các khái niệm toán học cần truyền thụ.Đặc biệt phải tránh các trường hợp vì sơ suất trong việc dùng phương pháp trực quan màdẫn đến tình trạng phản lại mục đích bài giảng
Ví dụ: Để minh họa quan hệ nhiều hơn, cũng là vẽ các bao thư, có thể có hai cáchtrình bày trực quan sau đây:
Trang 22Trong đó cách làm bên tái không tốt vì nó không nêu rõ được ánh xạ 1-1 từ cácphần tử của tập hợp thứ nhất đến tập hợp thứ hai Còn cách làm bên phải là tốt vì đã nêu
rõ được ánh xạ 1-1 này Rõ ràng chỉ cần thay đổi cách bố trí đồ dung trực quan một chút
là trẻ em dễ dàng tiếp thu kiến thức hơn
+ Khi sử dụng các phương tiện kĩ thuật hiện đại, chẳng hạn dùng phần mềm trìnhdiễn (Power point), cần lưu ý không để cho các phương tiện ấy làm toán thay cho họcsinh, không biến tiết học toán thành một buổi xem phim
Ví dụ: Slide 1: đề toán; slide 2: tóm tắt; slide 3: bài giải; slide 4: qui tắc giải;…rốtcuộc học sinh chỉ ngồi xem trình chiếu các slide; mà chẳng giải được gì cả
- Xây dựng hệ thống câu hỏi và hoạt động làm mẫu nhằm giúp học sinh thực hiệncác hoạt động thực hành trên các phương tiện và đồ dùng trực quan Dự đoán những khókhăn, sai lầm mà học sinh có thể mắc phải
- Bố trí lắp đặt vị trí các phương tiện, đồ dùng trực quan một cách hợp lí, thuận tiện
sử dụng
- Chú ý bước đầu giúp học sinh hình thành kĩ năng thực hành với các phương tiện
và đồ dùng trực quan trong quá trình dạy học
- Ngoài bộ đồ dùng dạy học tối thiểu, giáo viên cần tăng cường sử dụng phiếu họctập (vở bài tập) để tổ chức các hoạt động học tập của học sinh Trên mỗi phiếu học tập cónêu lên những công việc độc lập của từng cá nhân hoặc nhóm học sinh cần hoàn thànhtrong thời gian nhất định của tiết học Những công việc giao cho học sinh có thể là câuhỏi hay bài tập cụ thể nhằm dẫn dắt tới một kiến thức, một kĩ năng, rèn luyện một thao tác
Trang 23tư duy hoặc thăm dò thái độ trước một vấn đề Phiếu học tập là một công cụ cho phép cáthể hóa hoạt động học tập của học sinh, tiết kiệm thời gian trong việc tổ chức các hoạtđộng học tập, đồng thời là công cụ hữu hiệu trong việc thu thập và xử lí thông tin ngược.
- Kết hợp chặc chẽ với các phương pháp giảng dạy khác như:
+ Phương pháp đàm thoại (vừa hướng dẫn trên đồ dùng trực quan vừa đàm thoạigiữa giáo viên và học sinh)
+ Phương pháp thực hành (giáo viên và học sinh cùng làm việc trên đồ dùng trựcquan, tránh tình trạng giáo viên làm một mình)
+ Phương pháp giảng giải (giáo viên vừa hướng dẫn học sinh làm (hoặc quan sát)vừa khéo léo giải thích rõ ràng cho học sinh hiểu)
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIÁO ÁN ĐỀ NGHỊ
Trong qua trình tổ chức thực nghiệm, tôi đã đề xuất một số giáo án mẫu có sử dụngphương pháp trực quan trong dạy toán ở Tiểu học Dưới đây là một số giáo án đề xuất:
SO SÁNH CÁC SỐ CÓ HAI CHỮ SỐ
(Toán Lớp Một)
I MỤC TIÊU
Bước đầu giúp HS:
- Biết so sánh các số có hai chữ số (chủ yếu dựa vào cấu tạo của các số có hai chữ số)
- Nhận ra các số lớn nhất, số bé nhất trong một nhóm các số
II ĐỒ DÙNG DẠY HỌC
- GV:
+ Sử dụng bộ đồ dùng học Toán Lớp 1, SGK Toán Lớp 1
Trang 242 Kiểm tra bài cũ (3’)
Gọi 2 HS lên bảng làm bài tập
- HS 1: Có 10 cây cam và 8 cây chanh Hỏi có tất cả bao nhiêu cây?
- HS 2: So sánh
72… 76
15… 10 + 4
85… 81
3 Dạy học bài mới
a> Giới thiệu bài mới(1’)
Dẫn vào bài “So sánh các số có hai chữ số”
b> Các hoạt động
Thời
gian
Hoạt động GV Hoạt động HS
Trang 257’ * Hoạt động 1: Giới thiệu 62 < 65
Mục tiêu: Học sinh biết cách so sánh số
có cùng số chục
Cách tiến hành:
- Dán hình vẽ tượng trưng cho 6 bó
chục và 2 que lẻ
- Ta có bao nhiêu que tính? Tượng
trưng cho số nào?
- Có bao nhiêu chục và bao nhiêu đơn
Trang 26- Ta có bao nhiêu que tính?
- Có bao nhiêu chục và bao nhiêu đơn
vị?
- Các em so sánh số chục và số đơn vị
của hai số 62 và 65
- Dựa vào chữ số ở hanhg chục và hang
đơn vị thì các em hãy cho biết số nào
- Quan sát, kiểm tra, nhận xét
* Hoạt động 2: Giới thiệu 63 > 58
Mục tiêu: HS so sánh được hai số có
65 lớn hơn của số 62
- Quan sát cách ghi và đọc đồngthanh, đọc cá nhân
- Lắng nghe
- Làm vào bảng con
Trang 27- Gồm bao nhiêu bó chục và bao nhiêu
que lẻ? Tượng trưng cho số mấy?
- Dán hình ảnh gồm 5 bó chục và 8 que
lẻ
- Gồm bao nhiêu bó chục và bao nhiêu
que lẻ? Tượng trưng cho số mấy?
- So sánh số chục ở hai số 63 và 58
- Vậy số 63 và số 58 số nào lớn hơn?
- Quan sát
- Gồm 6 bó chục và 3 que lẻ Tượngtrưng cho số 63
- Gồm 5 bó chục và 8 que lẻ Tượngtrưng cho số 58
- Số 63 có số chục nhiều hơn
- Số 63 lớn hơn số 58 Vì số 63 có sốchục lớn hơn
Trang 28Vì sao?
- Nhận xét, kết luận và ghi bảng:
63 > 58 hoặc 58 < 63 ( đọc là 63 lớn
hơn 58 hoặc 58 nhỏ hơn 63)
- Hướng dẫn HS diễn đạt khi so sánh
- Gọi HS quan sát bài tập 1 SGK trang
142 Bài tập yêu cầu làm gì?
- Đồng thanh và cá nhân:
+ Hai số 24 và 28 đều có 2 chục, mà 4nhỏ hơn 8 nên 24 nhỏ hơn 28
+ Hai số 39 và 40 có số chục khácnhau, 3 chục bé hơn 7 chục nên 39 béhơn 70
- Bài tập yêu cầu so sánh các số cóhai chữ số
- Lập nhóm, quan sát phiếu học tập vàđọc yêu cầu của phiếu học tập
Trang 29- Gọi HS nhắc lại cách so sánh các số có hai chữ số.
5 Hoạt động nối tiếp (1’)
- Nhận xét lớp học
- Dặn dò các em về nhà xem lại bài để chuẩn bị cho tiết luyện tập tiếp theo
Trang 30GIẢM ĐI MỘT SỐ LẦN (Toán Lớp Ba)
I MỤC TIÊU
- HS tìm được số sau khi giảm đi một số lần của số ban đầu
- Phân biệt được lúc nào sử dụng phép chia trong bài toán giảm đi nhiều lần hay phép trừtrong bài toán giảm đi một số cụ thể
- Giải được các bài toán lien quan
- Yêu thích học toán, áp dụng vào thực tế
Trang 312 Kiểm tra bài cũ (3’)
3 Dạy học bài mới.
a> Giới thiệu bài mới (1’)
Dẫn vào bài “ Giảm đi một số lần”
Trang 32- Hàng trên có mấy con vịt?
- Hàng dưới có mấy con vịt?
- Số vịt ở hàng dưới bằng bao nhiêu
- Độ dài đoạn thẳng CD bằng bao nhiêu
phần độ dài đoạn thẳng AB?
- Vậy từ độ dài đoạn thẳng AB làm sao
để có độ dài đoạn thẳng CD?
- Độ dài đoạn thẳng AB giảm bao nhiêu
lần để được độ dài đoạn thẳng CD?
- Hàng trên có 6 con vịt
- Hàng dưới có 2 con vịt
- Số vịt ở hang dưới bằng 1
3 số vịt ởhàng trên
- Ta lấy 6 : 3 = 2 (con vịt)
- Đã giảm 3 lần
- Số vịt ở hàng trên giảm 3 lần thìđược số vịt ở hàng dưới
- Quan sát
- Độ dài đoạn thẳng CD bằng 1
4 độdài đoạn thẳng AB
Trang 33- Đọc yêu cầu bài tập và cho biết bài
toán cho biết gì và yêu cầu tính gì?
- Dán bài toán mẫu và phân tích:
Giảm đi 4 lần 12 : 4 = 3
Giảm đi 6 lần 12 : 6 = 2
+ Số đã cho là bao nhiêu?
+ Giảm 12 đi 4 lần ta làm sao?
+ Giảm 12 đi 6 lần ta làm sao?
- Chia lớp làm 3 nhóm theo dãy bàn
Mỗi nhóm sẽ làm bài tập với một số
- Làm trong cá nhân trong vòng 3
Trang 34+ Để tìm số bưởi còn lại ta làm sao?
- Đọc yêu cầu bài tập b> và cho biết bài
toán cho biết gì và yêu cầu tính gì?
- Các em hãy thảo luận nhóm đôi, tóm
tắt và giải bài toán trong vòng 3 phút
- Bài toán cho biết: Làm việc bằngtay mất 30 giờ, thời gian giảm 5 lần.Tính số giờ công việc làm bằngmáy
- Thảo luận và trình bày bài giải
Còn lại
40 quả
Có
? quả
Trang 35+ CD bằng AB giảm đi bao nhiêu lần?
+ CD có độ dài bằng bao nhiêu?
- Nhận xét, bổ sung
- Bài toán cho đoạn AB dài 8cm.a> Vẽ CD bằng AB giảm 4 lầnb> Vẽ MN bằng AB giảm đi 4cm
Trang 36+ MN có độ dài bao nhiêu?
- Các em chú ý điều gì ở phép toán
trong câu a> và b>
- Nhận xét: Khi giảm đi số lần ta sử
dụng phép toán chia Khi giảm đi một
đoạn cụ thể ta thực hiện phép toán trừ
- Các em vẽ vào vở Gọi 2 HS lên bảng
vẽ
+ CD có độ dài là: 8 : 4 = 2 (cm)+ AB giảm đi 4cm
+ MN có độ dài là 8 – 4 = 4 (cm)
- Ở câu a> thực hiện phép toán chia,
ở câu b> thực hiện phép toán trừ
- Lắng nghe
- 2 HS lên bảng vẽ Cả lớp làm vàovở
4 Củng cố
- Muốn giảm một số đi nhiều lần ta làm sao?
- Có 10 quả cam , giảm đi 2 lần Hỏi số quả cam còn lại là bao nhiêu? (Làm vàobảngcon)
5 Hoạt động nối tiếp
- Nhận xét tiết học
- Các em về nhà xem lại bài và chuẩn bị cho tiết luyện tập
Trang 37HỖ SỐ (Môn Toán Lớp 4)
I MỤC TIÊU
- HS nắm được khá niệm về hỗn số
- Có thể đọc, viết hỗn số, xác định giá trị của hỗn số trên tia số
- HS thấy được sự phong phú của toán học, yêu thích toán học hơn
2 Kiểm tra bài cũ (3’)
- Gọi 2 HS lên bảng làm bài tập
+ HS 1: 3 4 5 1; :
10 9 8 2x
+ HS 2: 40 14 6 21; :
7 x 5 25 20
Trang 38- Nhận xét Ghi điểm.
3 Dạy học bài mới
a> Giới thiệu bài mới
Dẫn vào bài “Hỗn số”
b> Các hoạt động
Thời
gian
Hoạt động của GV Hoạt động của HS
* Hoạt động 1: Giới thiệu hỗn số
Mục tiêu: HS nắm được khái niệm về
- Ta có 2 bánh và 3
4 số bánh hay 2 + 3
4
- Quan sát, lắng nghe
Trang 39- Ghi bảng và phân tích:
23
4
- Các em hãy cho biết giá trị của phần
phân số của một hỗn số như thế nào so
với 1?
- Nhận xét: Phần phân số của hỗn số luôn
nhỏ hơn 1
- Khi đọc (hoặc viết ) hỗn số ta đọc (hoặc
viết) phần nào trước?
* Hoạt động 2: Hướng dẫn bài tập.
4
- Lắng nghe
- Phần phân số của hỗn số nhỏ hơn 1
- Khi đọc (hoặc viết ) hỗn số ta đọc(hoặc viết) phần nguyên rồi đọc (hoặcviết) phần phân số
Phần nguyên
Phần phân số
Trang 40- Gọi giơ bảng, nhận xét và gọi đọc cá
- Bài tập yêu cầu viết rồi đọc hỗn số