1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xu hướng cách mạng dân chủ tư sản ở việt nam đầu thế kỷ XX (đầu thế kỷ XX đến chiến tranh thế giới thứ nhất)

65 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 568,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặt khác, hơn 30 năm sau duy tân, Nhật Bản đã trở thành một nước tư bản hùng mạnh, nhất là sau chiến thắng vang dội của quân đội Nhật trong chiến tranh Nga – Nhật 1904-1905 càng củng cố

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 2

MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài

Đầu thế kỉ XX, châu Á thức tỉnh, phong trào cách mạng dân chủ tư sản ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa như Iran, Thổ Nhĩ Kì, Trung Quốc, Ấn Độ… mang một nội dung mới: Đấu tranh yêu nước giải phóng dân tộc kết hợp đấu tranh giành quyền dân chủ

Ở nước ta, vào những năm đầu thế kỉ XX, dưới tác động của chính sách khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp, nền kinh tế - xã hội Việt Nam có sự biến đổi Nền kinh tế có tính chất tự nhiên, tự cấp, tự túc đã bị phá vỡ, mặc dù chưa tan rã hoàn toàn Nền nông nghiệp cổ truyền còn chiếm ưu thế, nhưng một nền công thương nghiệp theo kiểu tư bản đã xuất hiện, thể hiện một cảnh quan mới, khác lạ ở Việt Nam và hơn hẳn chế độ phong kiến Đồng thời, mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp ngày càng sâu sắc

Trước sự suy tàn của chế độ phong kiến và những yêu cầu mới của lịch sử, những người yêu nước Việt Nam đã ý thức được sự lỗi thời của thiết chế cũ về mọi mặt, họ nhận thấy rằng, “quan niệm trung quân ái quốc” của thời kì Cần Vương không thể là con đường cứu nước, cứu dân được nữa Đây là những tiền đề cho sự hình thành một xu hướng cách mạng mới

Đúng lúc, các tân thư, tân văn của Trung Quốc, Nhật Bản dội vào nước ta đã giới thiệu những tư tưởng dân chủ tư sản của phương Tây dưới lăng kính của các nhà tư tưởng lập hiến Các học thuyết về nhân đạo, dân quyền của những nhà tư tưởng trong trào lưu triết học ánh sáng Pháp thế kỉ XVIII cũng truyền bá vào Việt Nam, được các sĩ phu yêu nước tiến bộ tiếp thu nồng nhiệt Trào lưu tư tưởng đó đã

cổ vũ, hướng theo họ lý tưởng của cuộc Cách mạng Pháp (1789), cuộc vận động Duy Tân (1898) và Cách mạng Tân Hợi (1911) ở Trung Quốc, giúp họ đoạn tuyệt những tư tưởng quân chủ bảo hoàng, chuyển sang tư tưởng dân chủ cộng hòa Mặt khác, hơn 30 năm sau duy tân, Nhật Bản đã trở thành một nước tư bản hùng mạnh, nhất là sau chiến thắng vang dội của quân đội Nhật trong chiến tranh Nga – Nhật (1904-1905) càng củng cố niềm tin của các sĩ phu yêu nước vào con đường cách mạng tư sản và họ đã dấy lên một phong trào yêu nước theo xu hướng này – đó là

xu hướng Dân chủ tư sản

Trang 3

Với mong muốn tìm hiểu một giai đoạn lịch sử đầu thế kỷ XX, tìm hiểu một

xu hướng cứu nước mới – xu hướng Dân chủ tư sản để thấy được sự chuyển biến của con đường giải phóng dân tộc, thấy được sự hy sinh, đóng góp của các bậc tiền bối, các thế hệ cha ông đi trước trong quá trình tìm ra giải pháp cứu nước Với lý do

trên, tôi chọn đề tài: “Xu hướng cách mạng dân chủ tư sản ở Việt Nam đầu thế kỷ

XX (đầu thế kỷ XX đến chiến tranh thế giới thứ nhất)” làm đề tài khóa luận

2 Lịch sử vấn đề

Từ trước đến nay nghiên cứu về lịch sử Việt Nam thời cận đại đã thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả trong và ngoài nước Trong đó giai đoạn đầu thế kỷ XX, cũng đã được nghiên cứu, phản ánh nhiều trong các cuốn giáo trình

thông sử như: Nguyễn Văn Kiệm với tác phẩm “Lịch sử Việt nam đầu thế kỷ XX đến 1918”, Nguyễn Ngọc Cơ với “Lịch sử Việt Nam từ 1858 – 1918”, Nguyễn Văn Khánh với “cơ cấu xã hội Việt Nam thời thuộc địa (1858 – 1945), Trần Bá Đệ với

“Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến nay”…Những cuốn sách này trình bày một cách khá

chi tiết và đầy đủ về tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của Việt Nam trong giai đoạn đầu thế kỷ XX Trong đó cũng đã đề cập đến quá trình hình thành và phát triển của các trào lưu tư tưởng chính trị, gắn liền với hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của kinh tế - xã hội nước ta, có xét tới tác động ngoại cảnh, những vận động của thế giới và khu vực

Ngoài ra, nghiên cứu về tư tưởng Dân chủ tư sản ở Việt Nam đầu thế kỷ XX

là một vấn đề không mới, đã có một số công trình nghiên cứu, tìm hiểu, một số bài viết về vấn đề này như:

Nguyễn Thị Đảm với tác phẩm “Sự lựa chọn con đường phát triển của lịch

sử dân tộc Việt Nam đầu thế kỷ XX và quá trình phát triển của lịch sử dân tộc từ

1930 đến nay” (2002) Đã làm rõ sự chuyển biến trong hệ tư tưởng yêu nước và

cách mạng Việt Nam, từ hệ tư tưởng phong kiến sang hệ tư tưởng dân chủ tư sản đến hệ tư tưởng cộng sản Sự lựa chọn đó phù hợp với xu thế thời đại và yêu cầu của lịch sử dân tộc

Trần Bá Đệ trong cuốn “Một số chuyên đề lịch sử Việt nam” (2007), đã có

một chuyên đề khai thác những khía cạnh, những mặt, những sự kiện và hiện tượng

có lien quan đến quá trình phát sinh, phát triển của những tư tưởng chính trị cơ bản chi phối hoạt động của phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX Một giai

Trang 4

đoạn lịch sử có đầy biến cố phức tạp, diển ra trên phạm vi quốc gia và quốc tế Lý giải phần nào nguyên nhân thành công củng như thất bại của các trào lưu tư tưởng chính trị được biểu hiện thành các xu hướng cứu nước tư sản và vô sản ở nước ta những năm đầu của thế kỷ XX

Trần Văn Giàu với tác phẩm “Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ

XIX đến cách mạng tháng tám 1945” (tập 2) – Hệ ý thức tư sản và sự bất lực của nó trước các nhiệm vụ lịch sử Tác phẩm đã bàn về hệ ý thức tư sản, các dạng của nó,

các biểu hiện và sự chuyển biến của nó trong gần nửa thế kỷ, tất cả đều được soi rõ dưới ánh sáng của tiêu chuẩn giải phóng dân tộc

Ngoài ra, còn có nhiều tác phẩm đề cập đến Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh hai nhà yêu nước đi đầu trong xu hướng cách mạng dân chủ tư sản đầu thế kỷ

XX như: Chương Thâu với “Phan Bội Châu con người và sự nghiệp cứu nước”,

phản ánh một cách khá đầy đủ về quê hương, con người và các thời kỳ hoạt động

cứu nước của Phan Bội Châu Huỳnh Lý với tác phẩm “Phan Châu Trinh thân thế

và sự nghiệp”, là cái nhìn toàn cảnh về con người và sự nghiệp cứu nước của Phan Châu Trinh Nguyễn Văn Xuân với “Phong trào Duy Tân”, Nguyễn Hiến Lê với

“Đông Kinh Nghĩa Thục”,…

Trên các tạp chí “nghiên cứu lịch sử”, tạp chí “xưa và nay”, trên các trang

web củng đề cập đến vấn đề này

Nhìn chung khối lượng sách báo, các công trình nghiên cứu đã viết khá nhiều

về vấn đề này nhưng chưa có một công trình nghiên cứu nào tìm hiểu một cách sâu sắc về sự hình thành, những biểu hiện cũng như vai trò và hạn chế của xu hướng cách mạng dân chủ tư sản đầu thế kỷ XX đến chiến tranh thế giới thứ nhất ở Việt Nam

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là xu hướng cách mạng dân chủ tư sản ở Việt Nam đầu thế kỷ XX (đầu thế kỷ XX đến chiến tranh thế giới thứ nhất), để thấy được sự chuyển biến trong con đường cứu nước, giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX

Trang 5

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề cập đến xu hướng cách mạng dân chủ tư sản ở Việt Nam đầu thế kỷ XX, Tìm hiểu sự hình thành, những biểu hiện cũng như vai trò, hạn chế của xu hướng cứu nước theo tư tưởng dân chủ tư sản đầu thế kỷ XX

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tư liệu

Đối với đề tài thuộc lĩnh vực kiến thức cơ bản này, nguồn tư liệu chủ yếu giúp cho việc nghiên cứu là các tư liệu thành văn Đó là các bài viết, các tác phẩm lịch sử, các công trình nghiên cứu đã được công bố, các bài luận đăng trên các tạp chí Các tài liệu được lưu trữ tại thư viện trường ĐHSP Đà Nẵng, các thư viện của thành phố Đà Nẵng, củng như trên các webside

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, đứng trên lập trường quan điểm của chủ nghĩa Mác

Lê nin, quan điểm của Đảng Đồng thời trên các tư liệu thành văn thu thập từ nhiều thể loại khác nhau, tôi tiến hành chọn lọc, phân loại và xử lý tư liệu sau đó sử dụng hai phương pháp chuyên ngành : Phương pháp lịch sử và phương pháp logic, kết hợp với phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh để đưa ra những luận điểm chính xác, những kết luận khách quan và khoa học

5 Đóng góp của đề tài

Qua thời gian thực hiện khóa luận bị hạn chế bởi nhiều yếu tố như: Tài liệu tham khảo, trình độ nhiên cứu, thời gian nghiên cứu nên khóa luận chỉ góp phần nhỏ vào việc tổng hợp những nội dung cơ bản của xu hướng cách mạng dân chủ tư sản ở Việt Nam đầu thế kỷ xx, một bước tiến quan trọng trong xu thế cứu nước lúc bấy giờ

Rất mong nhận được sự giúp đỡ của quý thầy cô và các bạn đọc góp ý, xây dựng để khóa luận trở thành tài liệu thiết thực, bổ ích cho quá trình giảng dạy, học tập và nghiên cứu của các bạn sinh viên sau này

6 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung của

đề tài gồm có 2 chương:

Chương 1: Sự hình thành xu hướng cách mạng dân chủ tư sản ở Việt Nam

đầu thế kỷ XX (đầu thế kỷ XX đến chiến tranh thế giới thứ nhất)

Trang 6

Chương 2: Những biểu hiện của xu hướng cách mạng dân chủ tư sản ở Việt

Nam đầu thế kỷ XX (đầu thế kỷ XX đến chiến tranh thế giớ thứ nhất)

NỘI DUNG Chương 1: SỰ HÌNH THÀNH XU HƯỚNG CÁCH MẠNG DÂN CHỦ TƯ SẢN Ở VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX ( ĐẦU THẾ KỶ XX ĐẾN CHIẾN

TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT) 1.1 Hoàn cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

1.1.1 Sự thất bại của phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX và yêu cầu của lịch

Trang 7

lợi, đẩy thực dân Pháp vào thế bị bao vây khốn đốn Song sự bạc nhược, thiếu kiên quyết, tư tưởng “thủ để hòa” của vua quan nhà Nguyễn đã khiến cho cuộc chiến của chúng ta từng bước bị thất bại Thực dân Pháp đã chớp lấy thời cơ, chiếm lấy từng phần lãnh thổ Việt Nam Vớí hiệp ước Nhâm Tuất (5/6/1862), hiệp ước Giáp Tuất (15/3/1874), hiệp ước Hácmăng ngày (25/8/1883), hiệp ước Pa-tơ-nốt (6/6/1884), triều đình đã đi từ từng bước đến hoàn toàn đầu hàng thực dân Pháp

Trái ngược với triều đình Huế, phong trào đấu tranh trong quần chúng nhân dân vẫn diễn ra rất mạnh mẽ và quyết liệt Cuối thế kỷ XIX, phong trào vũ trang chống Pháp dưới ngọn cờ Cần Vương do vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết đứng đầu bùng nổ Phong trào lan rộng ra khắp các địa phương, kéo dài cho đến hết thế

kỷ XIX, với các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu như: khởi nghĩa Ba Đình (1886-1887), khởi nghĩa Bãi Sậy (1883-1892), khởi nghĩa Hùng Lĩnh (1887-1892), khởi nghĩa Hương Khê (1885-1896) Song phong trào Cần Vương cuối cùng đã tàn lụi với sự thất bại của cuộc khởi nghĩa Hương Khê (1896)

Sự thất bại các phong trào này, đã gây nên một không khí u ám báo trùm trong phong trào giải phóng yêu nước Việt Nam Sĩ phu văn thân ở thế hệ trước bắt đầu bị phân hóa thành năm, thành bảy Một số đã hy sinh trong kháng chiến, trong một cuộc chiến không cân sức, không có lý tưởng vững vàng Một số khác bị bắt bớ, tù đày Một số công khai quay trở về công tác với địch… Thế nhưng, đến thời điểm này, do tình trạng phân hóa trong cơ cấu xã hội Việt Nam, xuất phát từ những chủ trương duy trì chế độ phong kiến lỗi thời, lạc hậu nên hệ tư tưởng mới không có điều kiện nảy nở, truyền bá từ bên ngoài vào Trong điều kiện như vậy, cuộc đấu tranh yêu nước của nhân dân ta nửa cuối thế kỷ XIX vẫn không có con đường nào khác là hướng tới việc khôi phục lại chế độ cũ giống như mơ ước của Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết được thể hiện dưới dạng một bài học kêu gọi nhân dân: “chuyển loạn làm trị, chuyển ngụy làm an, khôi phục lại bờ cõi” Người lãnh đạo tối cao cuối thế kỷ XIX, vẫn là sĩ phu văn thân yêu nước

Tuy vậy, cũng có không ít sĩ phu vẫn một long sắt son với sự nghiệp cứu nước, cứu dân, ngày đêm trăn trở với câu hỏi: Vì sao dân tộc ta mất nước ? Làm thế nào

và đi theo con đường nào để cứu được nước Tóm lại, cuối thể kỷ XIX Việt Nam bước vào một thời kỳ xã hội lố lăng, vua là tượng gỗ, dân là thân trâu, mọi người dân bị tước hết quyền dân sinh, dân chủ tối thiểu Người nông dân bị cướp hết

Trang 8

ruộng đất, công nhân bị bóc lột đến tận xương tủy Phong trào giải phóng dân tộc ở nước ta đang lâm vào tình trạng bế tắc, khủng hoảng về một con đường cứu nước

Sang đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp thực hiện chính sách khai thác thuộc địa lần thứ nhất, chúng tiến hành khai thác trên tất cả các mặt Về kinh tế, thực dân Pháp tiến hành đầu tư, xây dựng cho các ngành công, thương nghiệp, giao thông vận tải…Chính điều này làm cho kinh tế nước ta có sự chuyển biến đó là một nền kinh tế hỗn dung giữa nền kinh tế phong kiến và kinh tế tư bản chủ nghĩa Về chính trị, thực dân Pháp xây dựng hệ thống chính quyền từ trung ương đến địa phương, thực hiện chính sách chia để trị, chia cả nước thành ba kỳ với ba chế độ chính trị khác nhau Nhằm chia rẻ dân tộc ta, biến nhân dân ta thành những người làm giàu cho tư bản Pháp Lúc này triều đình Huế chỉ có “hư danh” chứ không có quyền hành gì ngoài việc thi hành mệnh lệnh của thực dân Pháp Về văn hóa, giáo dục thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân để nô dịch nhân dân, hạn chế học vấn của người dân bản xứ Thực hiên chính sách văn hóa phản động, xuyên tạc giá trị văn hóa truyền thống nhằm thủ tiêu tinh thần dân tộc, làm cho nhân dân ta bị giam hãm trong vòng ngu dốt, lạc hậu

Cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã làm phân hóa giai cấp cũ và xuất hiện một số tầng lớp, giai cấp mới trong xã hội Các tầng lớp, giai cấp mới xuất hiện đều chịu ảnh hưởng của sự thống trị và bóc lột của thực dân Pháp, nên ý thức, thái độ của họ đối với dân tộc khác nhau Các giai cấp, tầng lớp mới trong xã hội đều nhận thức được sự tồn tại và phát triển của chế độ phong kiến sẽ cản trở họ đi lên và phát triển Bên cạnh đó, cuộc sống khốn cùng của một bộ phận tầng lớp nhân dân đã khiến họ hình thành nên một nhận thức mới, họ hiểu ra mọi nguyên nhân đau

khổ, cơ cực của họ là do sự áp bức của cường quyền Họ phải kêu lên “Trời ơi có khổ hay không, khổ gì bằng khổ mắc trong cường quyền”[9;24] Họ nhận thức

được không thể sống nếu còn đế quốc Pháp và phong kiến, để sống còn phải đánh

đổ chúng Do đó hận thù mất nước càng trở nên sâu sắc hơn nó thấm sâu vào trong mỗi người dân Việt Nam và nó đòi hỏi được giải quyết

Như vậy, một mặt thực dân Pháp ra sức tổ chức bộ máy cai trị mới, mặt khác chúng tiếp tục duy trì giai cấp địa chủ phong kiến, duy trì chế độ phong kiến Điều

đó khiến cho mâu thuẫn giai cấp giữa địa chủ phong kiến với nhân dân lao động mà chủ yếu là nông dân ngày càng gay gắt Đồng thời, còn có mâu thuẩn lớn đó là mâu

Trang 9

thuẫn giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp Do đó cách mạng Việt Nam phải tiến lên đánh đổ cả đế quốc và phong kiến Nghĩa là cách mạng phải bao hàm cả nhiệm vụ dân tộc và nhiệm vụ dân chủ, giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội Đây chính là yêu cầu của lịch sử dân tộc Việt

Nam đầu thế kỷ XX

1.1.2 Những chuyển biến của xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX

1.1.2.1 Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp

Vào những năm cuối thế kỷ XIX, khi những cuộc khởi nghĩa của phong trào Cần Vương thất bại, nước ta trở thành thuộc địa của thực dân Pháp Năm 1897 thực dân Pháp bắt đầu cuộc khai thác thuộc địa ở Việt Nam lần thứ nhất với mục đích vơ vét tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho nền kinh tế chính quốc và đồng hóa nhân dân ta

Để tiến hành khai thác thuộc địa thì cần đảm bảo hai điều kiện, đó là phải chiếm được đất đai để khai thác tài nguyên và chiếm được dân để thống trị, bóc lột Đến đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp đã có hai điều kiện này, vì tới giai đoạn này thực dân Pháp đã bình định xong nước ta, chúng có thể bắt tay vào khai thác

Để tiến hành khai thác, Pháp đã cử Pôn Đume làm toàn quyền Đông Dương sang Việt Nam để thực hiện chương trình khai thác Vừa được cử sang làm toàn quyền Đông Dương, ngày 13 tháng 2 năm 1897 đến 22 tháng 3 năm 1897 Đume đã gửi cho bộ hải quân thuộc địa Pháp một chương trình hành động gồm 7điểm, tập

trung vào các vấn đề như: “Hoàn thiện cơ cấu tổ chức hành chính trên toàn lãnh thổ và cho từng xứ ở Đông Dương; Sữa đổi chế độ tài chính, thuế khóa; Xây dựng các thiết bị khai thác, tạo điều kiện chắc chắn cho tư bản Pháp đầu tư vào Đông Dương; Ổn định tình hình chính trị và quân sự, đồng thời khuếch trương ảnh hưởng của Pháp ra vùng Viễn Đông, nhất là đối với các nước lân cận ”[11;189] Chương

trình khai thác đã được thực hiện toàn diện trên tất cả các mặt từ chính trị, kinh tế,

xã hội đến văn hóa, giáo dục

Về chính trị: Để phục vụ kịp thời và đắc lặc cho công cuộc khai thác và bóc lột kinh tế Đume lúc bấy giờ là toàn quyền Đông Dương, đã áp dụng triệt để chính sách “chia để trị” và “dùng người bản xứ trị người bản xứ” Đume tìm mọi cách chia cắt đất nước ta, chia rẻ dân tộc ta để dễ bề cai trị Tổ chức liên bang Đông Dương tiếp tục được kiện toàn để chia rẻ nhân dân Đông Dương, xóa tên Việt Nam,

Trang 10

Lào, Camphuchia trên bản đồ thế giới Chúng liên kết với các thế lực phản động ở Việt Nam để đàn áp về chính trị và vơ vét, bóc lột về kinh tế

Song song với tổ chức hành chính là bộ máy quân sự, cảnh sát, tòa án, nhà

tù Thực dân Pháp ra lệnh bắt thanh niên Việt Nam đi lính, lập lực lượng lính khố xanh, xây dựng lực lượng cảnh sát đặc biệt, lập sở tình báo an ninh

Các lực lượng quân đội, cảnh sát cùng với hệ thống tòa án, nhà tù dày đặc sẵn sàng ngăn chặn, đàn áp và dập tắt mọi sự phản kháng của nhân dân ta Bộ máy thống trị của thực dân Pháp và phong kiến tay sai đã chia cắt một cách giả tạo và tàn nhẫn sự thống nhất của nước ta, biến cả nước ta thành một nhà tù lớn, nhân dân ta thành những người tù khổ sai, đem mồ hôi, máu và nước mắt để làm giàu cho bọn tư sản

và bọn quan cai trị Pháp Tình hình đó đã làm cho mâu thuẩn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp thêm sâu sắc

Về kinh tế: Trong chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897 – 1914), thực dân Pháp đã chú trọng đẩy mạnh đầu tư vào Đông Dương (từ năm 1896 đến năm 1914 đầu tư 514 triệu Phơrăng vàng dưới hình thức vốn nhà nước)

Ngoài việc vơ vét thóc gạo để xuất khẩu, bọn thực dân còn tăng cường việc tước đoạt ruộng đất lập đồn điền Khi nền nông nghiệp mang các yếu tố tư bản chủ nghĩa xuất hiện thì tất yếu sẽ dẫn đến sự xuất hiện các cơ sở công nghiệp chế biến

và sản xuất hàng hóa Các nhà máy xay xát, xay bột, nấu rượu nối tiếp nhau mọc lên Để có đủ lượng gạo xuất khẩu, thương nhân Pháp được chính quyền thực dân giúp đỡ đã sử dụng mọi hình thức ép nông dân phải bán rẻ cho chúng số lúa gạo ít

ỏi của mình Nông dân do đó bị kiệt sức, không còn khả năng để cải tiến kĩ thuật canh tác

Tình hình trên đã dẫn đến hậu quả là nông nghiệp Việt Nam vẫn ở nguyên tình trạng độc canh, năng suất rất thấp mà lại phải đáp ứng nhu cầu xuất khẩu cao, cho nên đời sống nhân dân, nhất là nông dân vô cùng bi đát

Nền công nghiệp Việt Nam lúc này nằm trong tay nhà nước thực dân Hướng phát triển của nó đã được vạch sẵn là: “Chỉ giới hạn trong phạm vi sao cho nền công nghiệp đó không tổn hại đến công nghiệp chính quốc Nền công nghiệp chính quốc phải được nền công nghiệp thuộc địa bổ sung chứ không bị nền công nghiệp này phá hoại” Nói cách khác, công nghiệp thuộc địa được sinh ra là để làm những cái mà công nghiệp Pháp không thể làm được, để cung cấp những sản phẩm đến

Trang 11

những nơi mà sản phẩm công nghiệp Pháp không đến được Phần lớn hàng tiêu dùng phải nhập từ Pháp

Do đó có thể nói rằng nền kinh tế Việt Nam đầu thế kỉ XX về cơ bản vẫn mang nặng tính tự cung tự cấp Các ngành thủ công do đó còn rất cần thiết Nhưng hàng hóa nhập từ Pháp ngày càng nhiều cùng với chính sách độc quyền kinh tế của nhà nước thực dân đã làm cho nhiều ngành thủ công dân gian gặp khó khăn Hàng tiêu dùng cần thiết cho nhân dân hết sức khan hiếm

Pháp độc chiếm thị trường Đông Dương, nắm nguồn thuế, độc quyền thương mại, thuế quan, xuất nhập khẩu Hai thứ thuế trực thu và gián thu tăng mạnh Nhiều thứ thuế mới được đặt ra để nuôi sống một số lượng quan lại đông đúc, nhất là các quan chức Pháp lương cao, đồng thời góp tiền của để hoàn chỉnh cơ sở kĩ thuật cho cuộc khai thác thuộc địa đại quy mô của Pháp

Về văn hóa – giáo dục: Ngu dân về giáo dục, đầu độc về văn hóa là một trong những biện pháp cai trị của thực dân Pháp Mục đích của nền giáo dục thuộc địa là duy trì vĩnh viễn ách cai trị của thực dân Pháp Nền giáo dục Việt Nam lúc ấy phải tuân theo mấy nguyên tắc:

1 Đào tạo một lớp người bản xứ có trình độ học vấn vừa đủ của kẻ thừa hành trung thành và tận tụy vời mẫu quốc

2 Triệt để khai thác nội dung và hình thức của nền giáo dục phong kiến lạc hậu

3 Về mặt tổ chức, cần có sự kết hợp giữa trường học cũ với các loại trường học mới

Những nguyên tắc này được chính quyền thực dân giữ vững cho đến hết chiến tranh thế giới thứ nhất Sau chiến tranh, việc học có những thay đổi lớn về mặt tổ chức song vẫn giữ nguyên tinh thần nô dịch của những nguyên tắc ấy Thực hiện nguyên tắc trên, chính quyền thực dân ở Việt Nam cho mở hai hệ thống trường học: Trường Hán học có được cải tổ đôi chút và hệ thống trường Pháp – Việt

Một số trường sư phạm, trường chuyên nghiệp, trường y dược mở ở Hà Nội, Nam Định, Huế, Gia Định…cuối năm 1907 để tranh giành ảnh hưởng với Đông Kinh Nghĩa Thục, thực dân Pháp quyết định mở trường đại học Đông Dương, nhưng sang năm 1908 chúng lại ra lệnh đóng cửa, mãi đến 1917, mới cho mở lại

Trang 12

Để tuyên truyền cho chính sách thực dân, cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, một số tờ báo bản xứ đã được xuất bản ở Sài Gòn và Hà Nội như Nam Trung nhật báo, Lục tỉnh tân văn, Đại Việt tân báo, Đại Việt công báo, Nông cổ mín đàm Ở Hà Nội có Đăng cổ tùng báo (kế thừa Đại Nam đồng văn nhật báo)

Nói chung, mọi cố gắng của Pháp về văn hóa, giáo dục thời kỳ này đều hướng tới việc thiết lập một nền giáo dục Tây phương, nhằm đào tạo một lớp công chức, nhân viên cần thiết cho guồng máy chính trị và kinh tế thực dân

Song song với chính sách giáo dục nô dịch, thực dân Pháp còn cho thi hành một số chính sách phản động về văn hóa nhằm phá hoại lòng tự hào dân tộc, gieo rắc tư tưởng tự ty trong nhân dân, duy trì nếp sống hũ lậu của xã hội cũ và truyền bá nếp sống tư sản phương Tây không kém phần hũ bại

Tất cả những chính sách trên của thực dân Pháp đã tác động mạnh mẽ đến xã hội Việt Nam làm cho xã hội bị lay động đến tận nền tảng của nó Từ một nước phong kiến tuy lạc hậu nhưng là một nước độc lập, thống nhất, từ đây Việt Nam biến thành một nước bị đô hộ, chia cắt, với một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, có đổi mới nhưng không thực sự tiến bộ và cởi mở, ngược lại ngày càng lệ thuộc vào thực dân Pháp

Tuy nhiên, với cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp, bên cạnh sự thay đổi về kinh tế thì xã hội Việt Nam củng có sự chuyển biến, thay đổi nhanh chóng, tạo cơ sở cho sự phát triển xu hướng cách mạng mới

1.1.2.2 Sự chuyển biến của xã hội Việt Nam qua cuộc khai thác thuộc đị a lần thứ nhất của thực dân Pháp

Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp đã tác động mạnh

mẽ đến xã hội Việt Nam, từ một nước phong kiến lạc hậu nhưng là một nước độc lập thống nhất, từ đây Việt Nam bị biến thành một nước bị đô hộ, chia cắt với một

xã hội thuộc địa nửa phong kiến Nền kinh tế Việt Nam cũng có sự chuyển biến thể hiện trong cơ cấu kinh tế đó là sự kết hợp giữa kinh tế tư bản chủ nghĩa với kinh tế phong kiến tạo ra một nền kinh tế hỗn dung Tuy nhiên, sự chuyển biến rõ nét nhất của xã hội Việt Nam qua cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp là

sự phân hóa trong bộ phận giai cấp cũ, đồng thời xuất hiện một số tầng lớp, giai cấp mới ở cả nông thôn và thành thị

Trang 13

Trước tiên là sự phân hóa trong một bộ phận giai cấp cũ đó là giai cấp địa chủ phong kiến và nông dân Giai cấp địa chủ phong kiến là giai cấp cơ bản của xã hội bị phân hóa thành hai bộ phận: Đại địa chủ và địa chủ vừa và nhỏ Một bộ phận được thực dân Pháp nâng đỡ, ưu thế về kinh tế và chính trị được tăng lên Ngoài địa chủ Pháp, địa chủ nhà thờ, địa chủ quan lại, địa chủ thường, còn xuất hiện thêm một

số địa chủ kiêm công thương Địa chủ Việt Nam đã phát triển hơn trước trở thành chổ dựa đắc lực cho thực dân Pháp trong công cuộc khai thác thuộc địa và duy trì trật tự xã hội Tuy nhiên cũng không thể phủ nhận vai trò của một số địa chủ phong kiến thời bấy giờ, một bộ phận nhỏ vẫn có tinh thần dân tộc, có lòng yêu nước nên vẫn đứng về phía nhân dân, trở thành lực lượng lãnh đạo phong trào chống Pháp đầu thế kỷ XX

Đối lập với thực dân Pháp và giai cấp địa chủ phong kiến nói trên là nông dân, lớp người đông đảo nhất trong xã hội Họ là đối tượng bóc lột chính cũng là đối thủ chính của chính quyền thực dân phong kiến Với cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, thực dân Pháp và địa chủ phong kiến thi nhau bóc lột, xâu xé nông dân Ruộng đất bị mất dần vào tay điền chủ Pháp, nông dân phải đóng rất nhiều thứ thuế, chết đói, phá sản đi làm thuê hoặc tha phương cầu thực là con đường khó tránh khỏi của nông dân Việt Nam lúc bấy giờ Nông dân phá sản có người ở lại nông thôn làm thuê cho địa chủ, một số bỏ làng đi làm tá điền ở các đồn điền lớn của Pháp, số khác ra thành thị kiếm ăn bằng những nghề phụ như : cắt tóc, kéo xe hoặc đi làm bồi bếp, ở vú…sống cuộc đời bấp bênh Một số ít vào các nhà máy, hầm mỏ của tư sản Pháo dần dần trở thành giai cấp công nhân Cuộc sống của nông dân làm vào tình trạng cùng cực không lối thoát Họ đã nhận thấy nguồn gốc của sự cùng khổ của họ là sự bóc lột của đế quốc và phong kiến Nông dân phẫn nộ vì sự bất công đó và không ngừng mong mỏi một cuộc sống dễ thở hơn, tức là mong mỏi

có độc lập, tự chủ và no ầm Yêu cầu độc lập và no ấm chính là cơ sở cho sự thức tỉnh của dân tộc ta về một cuộc cách mạng dân tộc dân chủ Đó cũng là cơ sở xã hội của các cuộc vận động cách mạng theo xu hướng dân chủ tư sản ở nước ta đầu thế

kỷ XX mà nông dân là động lực cơ bản

Bên cạnh sự phân hóa trong giai cấp cũ thì đã xuất hiện một số giai cấp, tầng lớp mới Những công trường, xí nghiệp của thực dân Pháp và tư sản Việt Nam mới

mở trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX phải dùng nhiều nhân công

Trang 14

Đây là lớp công nhân đầu tiên “số này ước độ 55.000 thêm vào đó chừng 2000 công nhân mỹ nghệ làm ở các xưởng thủ công lớn, các trường dạy nghề và hàng chục ngàn công nhân không chuyên nghiệp rải rác trên khắp các công trường đường sắt, đường bộ, cầu, cảng ở 3 kỳ”[18;38] Công nhân đầu thế kỷ XX sống khá tập trung,

có nơi đông đến hàng ngàn người Số phận của công nhân cũng cực khổ không kém nông dân, thay vào sự bóc lột thuế má sưu dịch của nhà nước là sự bóc lột theo lối

tư bản rất khắc nghiệt của bọn địa chủ Nhiều cuộc đấu tranh của công nhân đã nổ

ra gay gắt

Ngoài giai cấp công nhân, đầu thế kỷ XX còn xuất hiện tầng lớp tư sản và tiểu tư sản thành thị Vì bị thực dân Pháp chèn ép nặng nề, tư sản Việt Nam phát triển chậm chạp về mọi mặt, chưa đủ điều kiện để hình thành một giai cấp Tuy vậy,

sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa nói chung và sự lớn lên của tầng lớp tư sản dân tộc nói riêng đã trở thành cơ sở thuận lợi cho sự tiếp thu các trào lưu tư tưởng cách mạng từ bên ngoài dội vào

Như vậy, sau cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp đã làm cho kinh tế, xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX có những chuyển biến quan trọng Sự kết hợp giữa kinh tế tư bản và phong kiến đã làm cho xã hội Việt Nam phân hóa một cách sâu sắc, nhiều giai cấp mới ra đời Các giai cấp này đã đứng lên vũ đài chính trị và đưa ra các quan điểm của mình về vấn đề chính trị Trong hoàn cảnh của xã hội nước ta lúc bấy giờ sứ mệnh giải phóng dân tộc tạm thời giao cho tầng lớp sĩ phu yêu nước tiến bộ, họ có điều kiện tiếp xúc với những chuyển biến mới của tình hình trong nước và những ảnh hưởng bên ngoài Từ đó dẫn đến tầng lớp này có những chuyển biến mới trong việc đưa ra con đường cứu nước, giải phóng dân tộc

1.1.3 Những ảnh hưởng bên ngoài vào Việt Nam đầu thế kỷ XX

1.1.3.1 Những ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản ở Châu Âu

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, các nước đế quốc tiến hành xâm lược và khai thác thuộc địa Do vậy cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ, vấn đề dân tộc trở thành vấn

đề có liên quan đến nhiều quốc gia Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ngày càng gắn chặt với phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân Ở Việt Nam sau khi phong trào Cần Vương thất bại là con đường cứu nước đã đi vào bế tắc, yêu cầu

Trang 15

phải tìm một con đường cứu nước mới cho dân tộc Đến đầu thế kỷ XX với cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã tạo cơ sở cho sự du nhập của luồng tư tưởng mới, tư tưởng dân chủ tư sản ở Châu Âu vào nước ta Tư tưởng dân chủ tư sản ở Châu Âu là thành quả của các cuộc cách mạng tư sản thời cận đại Tư tưởng dân chủ tư sản xuất hiện từ sự khao khát một cuộc sống tự do, muốn thoát khỏi sự chuyên chế của nhà nước phong kiến, sự hà khắc của giáo hội Kitô, thoát khỏi sự áp bức, bóc lột nặng nề của xã hội hiện tại, mơ ước một xã hội mới công bằng

Tư tưởng dân chủ tư sản ở Châu Âu được truyền bá vào Việt Nam qua Tân thư, Tân văn Trước hết là Tân thư, Tân thư nghĩa thông thường là sách mới Đó là loại sách viết bằng chữ Hán, ra đời trong phong trào cải cách ở Trung Quốc Tân thư cũng bao gồm những sách dịch tác phẩm của các nhà tư tưởng Châu Âu như của Vônte, Rutxô…, sách giới thiệu lịch sử, địa lý, truyện danh nhân của các nước

Âu – Mĩ, giới thiệu phong trào Duy tân ở Nhật Bản, sách truyền bá tri thức khoa học Tân thư được truyền bá vào Việt Nam, các nhà nho lớp mới vốn nhạy bén với tình hình đã tiếp thu sâu sắc ảnh hưởng của Tân thư, Tân văn và các tư tưởng tư sản phương Tây qua các loại sách mới, Tiêu biểu như “Đại Đồng Thư” của Khang Hữu

Vi, “Ẩm Băng Thất Tùng” của Lương Khải Siêu, Trung Quốc Hồn, Trung Đông Chiến Kỷ…đặc biệt là sách “Mậu tuất chính biến kí”, kể về cuộc vận động Duy Tân thất bại của vua Quang Tự Những sách báo này giúp họ khắc phục nhanh chóng lòng luyến tiếc chế độ phong kiến, làm cho họ thấy được sự phản động, lạc hậu của chế độ phong kiến do đó cần phải lật đổ nó

Bên cạnh đó còn có những tập sách nêu những tấm gương tiêu biểu của các nhà hoạt động chính trị trên toàn thế giới đã làm cho các sĩ phu Việt Nam hết sức ngưỡng mộ, họ nhận thấy mình cũng phải làm được cái gì đó cho đất nước mình, vì thế các sĩ phu càng cố gắng hơn để giải phóng dân tộc mình

Ngoài các sách của Nhật Bản, Trung Quốc, thì một số học giả Việt Nam cũng có công trong việc viết “tân thư” như Nguyễn Lộ Trạch với “thời vụ sách”, “thiên hạ đại thế luận” gửi triều Nguyễn bày tỏ những đề xuất cải cách Hay tác phẩm “Lưu cầu huyết lệ tân thư”, Phan Bội Châu đã phân tích cuốn Tân thư Trung Hoa, so sánh hoàn cảnh Việt Nam và Trung Hoa, dự đoán về tình hình nước nhà, nêu rỏ cần áp dụng đường lối khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh

Trang 16

Cùng với Tân thư thì Tân văn cũng có ảnh hưởng rất lớn đến các sĩ phu Việt Nam đầu thế kỷ XX, họ đón nhận Tân văn như những tài liệu quý, đặc biệt là tờ dân báo của Trung Quốc

Thông qua Tân thư và Tân văn, các sĩ phu phong kiến được truyền thêm nhiệt huyết yêu nước để làm cách mạng, không còn luyến tiếc gì tới chế độ phong kiến nữa mà tìm ra được con đường cứu nước mới cho dân tộc Nhờ ảnh hưởng của Tân thư, Tân văn nên đầu thế kỷ XX ở Việt Nam đã dấy lên phong trào Duy Tân giống như phong trào Duy Tân ở Trung Quốc Qua Tân thư, trí thức Việt Nam hiểu được các trào lưu tư tưởng mới, hiểu được yêu cầu phải cải cách, họ nhận ra ưu, khuyết điểm của nhân dân, của dân tộc mình, của chính tầng lớp mình để khắc phục, sữa chữa

1.1.3.2 Những ảnh hưởng tích cực, tiến bộ ở Châu Á

Cùng với Tân thư, Tân văn thì đầu thế kỷ XX ở Châu Á đã diễn ra những sự kiện chính trị gây được ảnh hưởng lớn và đã tác động mạnh mẽ đến Việt Nam Những sự kiện chính trị như: Công cuộc Duy tân ở Nhật Bản, cuộc vận động biến pháp ở Trung Quốc, cuộc cải cách ở Xiêm…đã làm cho “Châu Á thức tỉnh”

Trước tiên là Nhật Bản, đầu thế kỷ XX cuộc vận động Duy tân ở Nhật Bản

đã đưa đến kết quả rực rỡ, Nhật Bản trở thành cường quốc và đánh thắng nước Nga Trước khi Duy tân cải cách, Nhật Bản cũng là một nước phong kiến đang lâm vào tình trạng khủng hoảng như chế độ phong kiến ở các nước Châu Á khác Nhưng từ năm 1868 với cuộc Duy tân đất nước toàn diện của Thiên hoàng Minh trị đã làm cho Nhật Bản thoát khỏi nguy cơ xâm lược của các nước Phương Tây, phát triển mạnh mẽ và đang trên con đường phát triển thành đế quốc Đặc biệt, sau cuộc Duy tân Nhật Bản đã giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh Nga – Nhật (1904 – 1905)

Cả thế giới đặc biệt là khu vực Đông Á, Đông Nam Á thừa nhận nhờ có Duy tân nước Nhật mới đạt được những thành tựu như vậy

Đối với Việt Nam thời gian này thì mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc đang rất xấu, với hòa ước Thiên Tân, Trung Quốc công nhận quyền bảo hộ của Pháp đối với Việt Nam Trong điều kiện như vậy những nhà yêu nước Việt Nam đã

tìm đến Nhật Bản, một nước “đồng văn đồng chủng” Đầu thế kỷ XX “với thắng lợi của công cuộc Duy tân, Nhật Bản đã trở thành một cường quốc Đặc biệt, việc Nhật

Trang 17

Bản đại thắng trong cuộc chiến tranh với Nga (1904 – 1905) đã làm ảnh hưởng của Nhật Bản gia tăng mạnh mẽ đối với nước ta”[15;22]

Các sĩ phu nhận thấy:

“Cờ độc lâp đứng đầu phất trước Nhật Bản kia vốn nước đồng văn Thái Đông nổi hiêu Duy tân Nhật Hoàng là đấng anh quân ai bì”[36;16]

Nhật Bản là sự lựa chọn của các sĩ phu yêu nước tiến bộ Việc một nước da vàng như Nhật Bản có thể đánh thắng Nga, một dân tộc da trắng là một niềm tự hào của người Châu Á Người Việt Nam cũng tin tưởng vào khả năng đánh thắng thực dân Pháp xâm lược, vì người Việt Nam cũng da vàng nên có khả năng đánh thắng thực dân Pháp Chính vì thế, những sĩ phu yêu nước đã tìm đến sự giúp đỡ của Nhật Bản “anh cả da vàng” để đánh đuổi thực dân Pháp

Nếu như Nhật Bản là nước “đồng chủng đồng văn” thì Trung Quốc còn hơn thế nữa, Trung Quốc cùng cảnh ngộ mất nước như Việt Nam, ảnh hưởng của Nho giáo của Trung Quốc tới Việt Nam rất sâu đậm Đầu thế kỷ XX, Trung Quốc từ một nước phong kiến độc lập đã trở thành một nước nửa thuộc địa Về đối nội thì đàn

áp, đối ngoại thì nhu nhược, khi thực dân xâm nhập vào Trung Quốc nền kinh tế của Trung Quốc có xuất hiện yếu tố kinh tế tư bản chủ nghĩa Mặc dù còn yếu ớt nhưng cũng nhờ đó tầng lớp công thương, với tư tưởng Duy tân đã xuất hiện Sau chiến tranh Trung – Nhật (1894), uy tín của chính quyền Mãn Thanh ngày càng sút kém, tinh thần cách mạng của nhân dân Trung Quốc lên cao, khuynh hướng cải lương phát triển mạnh mẽ, nhất là trong giới trí thức xuất thân từ sĩ phu phong kiến hay giai cấp tư sản mới được hình thành Chịu ảnh hưởng của những tư tưởng dân chủ tư sản Phương Tây xâm nhập vào Trung Quốc qua sách báo, họ đã sáng lập các học hội, học đường, hiệu sách, ra báo khắp nơi, các nhân vật có tiếng nhất trong cuộc vận động Duy tân là Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Đàm Tự Đồng…

Năm 1897, Nhật chiếm lưu cầu, Khang Hữu Vi đã viết thư lên vua Quang Tự

và nêu ra nguy cơ mất nước, yêu cầu thực hiện “biến pháp” Và cuộc chính biếnMậu Tuất (1898) ở Trung Quốc đã ảnh hưởng to lớn đến tư tưởng của các sĩ

phu yêu nước Việt Nam “Sách của Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi với sĩ phu Việt

Trang 18

Nam lúc đó như liều thuốc hay chữa bệnh, sách làm thay đổi nhận thức của con người”[9;32]

Cuộc vận động “biến pháp” của Trung Quốc đã tạo điều kiện khách quan thuận lợi, ảnh hưởng đến phong trào Duy tân, phong trào giải phóng dân tộc của nước ta đầu thế kỷ XX Qua các tác phẩm của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, tư tưởng dân chủ tư sản Phương Tây của Rútxô, Môngtetkyơ, được giới thiệu với sĩ phu Việt Nam Trên cơ sở những sự biến đổi kinh tế của xã hội Việt Nam, cộng với ảnh hưởng của cuộc vận động “biến pháp” từ bên ngoài vào, tư tưởng tư sản bắt đầu xuất hiện trên vũ đài chính trị Việt Nam

Ngoài ra, năm 1911 cách mạng Tân Hợi của Trung Quốc thành công, đã “kết thúc chế độ phong kiến tồn tại hàng 2000 năm nay, đưa quan niệm dân chủ cộng hòa vào tận đáy sâu lòng mọi người” (Lê Nin) Cuộc cách mạng Tân Hợi đã tác động không nhỏ đến các sĩ phu yêu nước Việt Nam lúc bấy giờ Sau khi cách mạng Tân Hợi thành công, Phan Bội Châu về lại Trung Quốc thành lập tổ chức Việt Nam Quang Phục Hội, tuyên bố từ bỏ chủ trương quân chủ lập hiến để thành lập nền cộng hòa, vì nếu không vứt bỏ lập trường dân chủ để theo cộng hòa thì sẽ lạc lõng

và bị cô lập

Như vậy, vào đầu thế kỷ XX với những chuyển biến ở trong nước cả về kinh

tế và xã hội, cùng với những điều kiện bên ngoài đã tác động không nhỏ đến tư

tưởng của các sĩ phu yêu nước tiến bộ Việt Nam, Phan Bội Châu viết “Nếu không

có cuộc chính biến nước Tàu (1898), cùng cuộc Nga – Nhật chiến tranh (1904), sách của Khang Lương truyền sang thì giấc mộng bát cổ của sĩ phu ta e đến ngày nay cũng chưa nguôi”[4;171] Tầng lớp sĩ phu đã phần nào nắm bắt được nguyện

vọng của quần chúng nhân dân là được sống độc lập, no ấm và được hướng dẫn bởi những tư tưởng chính trị mới đã đảm nhiệm vai trò của một giai cấp lãnh đạo, động viên được đông đảo quần chúng nổi dậy đấu tranh và dẫn dắt phong trào cách mạng nước ta theo kịp trào lưu cách mạng thế giới Đó là trào lưu cách mạng tư sản với tư tưởng dân chủ tiến bộ hơn, để hình thành nên một xu hướng chính trị mới đầu thế

kỷ XX

1.2 Sự hình thành xu hướng chính trị mới ở Việt Nam đầu thế kỷ XX

Tiếp thu tư tưởng của các nhà canh tân cuối thế kỷ XIX, sang đầu thế kỷ XX cùng với những thay đổi, chuyển biến ở trong nước cũng như những ảnh hưởng, tác

Trang 19

động từ bên ngoài, một số nhà tư tưởng, nhà yêu nước tiêu biểu như: Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn An Ninh…đã từ bỏ dần hệ tư tưởng phong kiến mạnh dạn đi tìm một hệ tư tưởng, chính trị mới cho dân tộc Theo Phan Bội Châu hệ tư tưởng Nho giáo đã hết vai trò lịch sử và chỉ làm cho dân tộc ta mất dần sức sống Phan Châu Trinh cũng cho rằng, do chế độ phong kiến đã thực sự thối nát, mục ruỗng, nhu nhược nên đã để cho quyền lực chính trị rơi vào tay thực dân Pháp Bộ máy của chế độ phong kiến là bù nhìn như quân cờ trên bàn tướng, tầng lớp nho sĩ vẫn chìm đắm trong hư văn chưa kịp chuyển biến theo thời thế Là trí thức tây học, Nguyễn An Ninh cũng coi sai lầm lớn nhất là quá đề cao tư tưởng Nho giáo, dẫn đến cản trở quá trình phát triển của lịch sử Nhiều nhà yêu nước, nhà

tư tưởng tiến bộ khác như Trần Qúy Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Lương Văn Can…cũng đã kịch liệt phê phán Nho giáo và chế độ phong kiến, thể hiện trong tư tưởng và sự bất hợp tác với chế độ phong kiến

Từ việc phê phán chế độ phong kiến cùng với những chuyển biến trong nước

và những tác động từ bên ngoài, các nhà yêu nước đã tiếp thu tư tưởng Dân chủ tư sản, học tập kinh nghiệm của các cuộc cách mạng tư sản Trung Quốc, Nhật Bản bước đầu xây dựng và hình thành nên xu hướng cách mạng mới đầu thế kỷ XX – xu hướng Dân chủ tư sản

Xu hướng Dân chủ tư sản là một khái niệm dùng để chỉ một hướng đi của phong trào duy tân mà theo đó sẽ có sự định hướng về con đường giải phóng và phát triển xã hội, đoạn tuyệt với chế độ quân chủ và hướng tới xã hội tiến bộ hơn

Sự tiến bộ đó sẽ được tìm thấy trong các mô hình xã hội phương Tây – cuộc cách mạng tư sản từ thế kỉ XVI – XVII Nói cách khác, xu hướng dân chủ tư sản là một hướng đi, thoát khỏi xã hội phong kiến lạc hậu để xây dựng một xã hội tiến bộ theo

mô hình phương Tây

Ở phương Tây, tư tưởng dân chủ được hình thành trên cơ sở kinh tế - xã hội của nó, nên mang tính thuần thục, điển hình, phản ánh nguyện vọng, khát khao làm chủ xã hội của con người Mục đích của tư tưởng dân chủ tư sản ở phương Tây là vì lợi ích giai cấp, như Hồ Chí Minh đã từng nói, giai cấp tư sản dùng chữ Tự do, Bình đẳng, Đồng bào để lừa dân, xúi dân đánh đổ phong kiến, khi đánh đổ phong kiến rồi thì nó lại thay phong kiến áp bức dân Ở Việt Nam, việc lựa chọn dân chủ tư sản là

vì lợi ích của dân tộc: đi tìm con đường cứu nước, giành độc lập tự do Những

Trang 20

người hấp thụ và truyền bá tư tưởng dân chủ tư sản chủ yếu là tầng lớp sĩ phu được

tư sản hóa trong hoàn cảnh giai cấp tư sản Việt Nam ra đời muộn và rất nhỏ bé Cho nên, tư tưởng dân chủ tư sản ở nước ta có tính đặc thù: không thuần thục, điển hình như ở phương Tây, các phạm trù dân chủ tư sản vẫn chịu ảnh hưởng của Nho giáo

Trước hết, về mục đích cách mạng, các nhà tư tưởng đều thống nhất mục

đích là cứu nước, cứu dân, giành độc lập dân tộc Phan Bội Châu viết: “Phan Bội

Châu lấy việc cứu quốc làm chủ nghĩa, cho nên muốn cho nước ta độc lập Lại lấy việc cứu dân làm chủ nghĩa, cho nên không muốn ngó thấy dân ta phải lầm than”[3;478] Đối với ông, “phải xóa bỏ chính thể quân chủ, vì đó là một chính thể rất xấu xa vậy” và phải “đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục nước Việt Nam và thành lập nước Cộng hòa dân chủ”[3;135] Còn Phan Châu Trinh - người khởi xướng tư

tưởng dân chủ tư sản ở Việt Nam thì xác định rõ chủ đích của mình là đánh đổ chế

độ phong kiến và đưa dân tộc đi theo con đường dân chủ tư sản Ông viết: “… năm

1911 tôi được qua Tây để xem xét cái học thuật văn minh Âu châu Đã mười hai năm, tôi ăn nằm trên cái mảnh đất dân chủ, hớp cái hơi không khí tự do, nh ờ vậy

mà tôi hiểu được lẽ chánh đáng trong thế giới, phần nghĩa vụ của quốc dân, và cũng biết được chắc cái mục đích của nước nhà nên thay đổi lại thế nào Chúng ta bây giờ cần phải đánh thức nhau dậy,… làm cho tiệt hẳn cả cái sức ma quỷ chuyên chế nó đã ám ảnh chúng ta mấy ngàn năm nay;… ấy là cái chủ ý và mục đích của tôi đấy”[8;592] Cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, vấn đề giành độc lập dân tộc là

nhiệm vụ hàng đầu của dân tộc ta Vì vậy, có thể nói, tuy bằng nhiều con đường cứu nước khác nhau, song các nhà tư tưởng đều hướng đến độc lập dân tộc Tư tưởng chính trị như vậy về cơ bản là đúng

Về phương pháp cách mạng, đề ra hai phương pháp: cách mạng bạo động và đấu tranh ôn hòa Phan Bội Châu cho rằng, thực dân Pháp là kẻ thù không đội trời chung với dân tộc ta; chúng không cho dân tộc ta phát triển kinh tế, mở mang văn hóa, giáo dục, đàn áp dã man mọi sự phản kháng, kể cả phản kháng hòa bình nhất Cho nên không thể sử dụng con đường hòa bình để giành độc lập dân tộc, mà chỉ có

sự lựa chọn duy nhất là phương pháp bạo động Ông viết: “Vẫn biết bạo động với tự

sát đều là việc làm của những kẻ kiến thức hẹp hòi, không biết lo xa, nhưng nếu sự thể buộc tự sát, thà rằng xoay ra bạo động mà chết còn hơn Vì cứ bạo động may ra còn trông được có chỗ thành công trong muôn một Huống gì tôi đã suy đi tính lại,

Trang 21

lúc nầy bỏ sự bạo động ra không còn có việc gì đáng làm hơn nữa ”[3;201] Ông coi

cách mạng bạo lực là một vấn đề cơ bản Có thể nói, Phan Bội Châu là người đầu tiên xây dựng một hệ thống lý luận sơ khai về bạo lực cách mạng với ba vấn đề lớn: một là, phải tiến hành xây dựng lực lượng vũ trang; hai là, chuẩn bị mua sắm vũ khí; ba là, công tác binh vận Theo Phan Châu Trinh, bạo động là chết, bởi nhân dân

“không có chỗ nương thân, không có khí giới mà dùng, không có tiền của mà tiêu,…

quyết không thể sống nổi trong cái thế giới này, lại còn chống cự được với ai nữa”[8;352-353] Phan Châu Trinh chủ trương sử dụng phương pháp đấu tranh hòa

bình đòi dân sinh, dân chủ một cách công khai với mục đích “trông dân có trí, dân

có đường sống” Ông viết: “Cho nên sự vận động của đảng tôi, toàn là tụ tập dân

chúng đường đường chính chính, diễn thuyết, họp chí sĩ, khảo cứu chính trị thời thế,

ăn to nói lớn, người và việc ai nấy đều thấy, cho nên xét nó rất dễ ”[8;545] Phương

pháp đấu tranh hòa bình có ưu điểm là không gây ra tổn thất về tính mạng và vật chất của nhân dân, làm cho nhân dân thức tỉnh, vươn lên làm cách mạng Tuy nhiên, hiệu quả của phương pháp này không cao và không triệt để, bởi bản chất của chủ nghĩa thực dân là dùng bạo lực phản cách mạng để xâm lược, áp bức các dân tộc thuộc địa và nhân dân lao động Còn phương pháp cách mạng bạo động, về cơ bản, phù hợp với công cuộc đấu tranh giành độc lập, song cần phải có thời gian chuẩn bị, không thể nóng vội Có thể nói, quan điểm của Phan Bội Châu là đúng trong chiến lược, còn quan điểm của Phan Châu Trinh thì đã đáp ứng được yêu cầu thực tế của

xã hội lúc bấy giờ

Vấn đề vị trí và vai trò của nhân dân cũng đã được các quan tâm Cuối thế kỷ XIX, trong tư tưởng canh tân, Đặng Huy Trứ coi dân là gốc của nước, là chủ của thần; khí mạnh của nước là lấy dân làm gốc Tư tưởng này là một trong những cơ

sở, tiền đề giúp Phan Bội Châu phát triển quan điểm: dân là chủ nước, nước là của dân Ông cho rằng, vua phải lấy dân làm trời, dân chính là trời của kẻ đứng đầu cai trị nước, rằng một nước có ba điều quan trọng là nhân dân, đất đai, chủ quyền, trong

đó nhân dân đứng thứ nhất Tư tưởng này chống lại tư tưởng “tôn quân quyền”, đối lập hoàn toàn với quan điểm Nho giáo đương thời Nói về vai trò của nhân dân, Phan Bội Châu nhấn mạnh: “Dân ta là chủ nước non”; “nước ta hẳn là gia tài tổ nghiệp của dân ta rồi, bỏ mất nó là do dân ta, thì thu phục lại nó tất cũng phải do dân ta làm” và “nước được cường thịnh là nhờ có nhân dân” Có thể nói, quan niệm

Trang 22

dân vi bản - dân là gốc đã được Phan Bội Châu nâng lên một trình độ cao hơn - dân không chỉ là gốc, mà còn là chủ nước, là khí mạnh dân tộc, là chủ thể cuộc cách mạng giành độc lập dân tộc Quan điểm dân là chủ nước, nước là nước của dân là một bước chuyển tư tưởng căn bản từ quân chủ sang dân chủ Đây là một điều mới

mẻ trong suy tư chính trị đương thời, là một bước tiến vượt bậc so với suy tư chính trị phong kiến Để thực hiện quyền dân chủ, các nhà tư tưởng chủ trương: khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh! Theo Phan Châu Trinh, khai dân trí là phải bỏ lối học tầm chương trích cú, thơ văn, phù phiếm của người xưa, mở trường dạy chữ quốc ngữ, kiến thức khoa học thực dụng, bài trừ hủ tục xa hoa Để mở mang dân trí, Phan Bội Châu cho rằng, phải phát triển giáo dục, bởi “giáo dục là gốc rễ để xây dựng nền chính trị” Tư tưởng về khai dân trí thực sự làm cho dân tộc thay đổi nếp suy tư cũ kỹ để vươn lên tầm nhận thức mới cao hơn, phù hợp với sự phát triển của thời đại Chấn dân khí là làm cho mọi người thức tỉnh tinh thần tự lực, tự cường, giác ngộ được quyền lợi của mình, giải thoát khỏi sự kìm kẹp của chế độ quân chủ chuyên chế Hậu dân sinh tức là phải làm cho mọi người biết phát triển kinh tế, mở mang ngành nghề, làm cho cuộc sống ấm no, hạnh phúc

Như vậy, với những nội dung trên có thể thấy đến đầu thế kỷ XX đã hình thành một xu hướng chính trị mới ở Việt Nam đó là xu hướng dân chủ tư sản Đây chính là sự chuyển biến từ tư tưởng phong kiến sang tư tưởng dân chủ tư sản và tiến gần đến chủ nghĩa Mác Lênin Xu hướng chính trị mới này tập trung vào nội dung quan trọng là tự cường dân tộc, nâng cao dân trí, bồi dưỡng sức dân, truyền bá tư tưởng dân chủ và dân quyền Xu hướng chính trị mới này là sự tiếp thu những giá trị, những tinh hoa của phương Đông và cả phương Tây, đặc biệt là tư tưởng dân chủ tiến bộ của phương Tây Mặc dù có những nội dung mới, cách mạng và tiến bộ, thể hiện tinh thần yêu nước nhiệt tình, căm thù giặc cao độ, nhưng do điều kiện, hoàn cảnh lúc bấy giờ, trong tư tưởng chính trị giai đoạn này có những biểu hiện dao động, mơ hồ, thậm chí có lúc đi đến thỏa hiệp với thực dân Chẳng hạn, Phan Châu Trinh chủ trương dựa vào Pháp để thực hiện dân chủ, còn Phan Bội Châu thì chủ trương dựa vào Nhật để cầu viện Nguyên nhân của những sai lầm này chính

là chưa có một lý luận khoa học soi đường, nên chưa nhận thức đầy đủ bản chất của chủ nghĩa thực dân, đế quốc Không những thế, trong các phạm trù dân chủ tư sản

Trang 23

mà các ông nêu ra vẫn còn chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo ở những mức độ nhất định

Trang 24

Chương 2: NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA XU HƯỚNG CÁCH MẠNG

2.1 Xu hướng dân chủ tư sản được biểu hiện trên các lĩnh vực

Như đã trình bày ở trên, đến đầu thế kỷ XX từ việc tiếp thu các trào lưu tư

tưởng mới, các sĩ phu yêu nước ở Việt Nam đã có sự chuyển biến từ ý thức hệ phong kiến sang ý thức hệ tư sản Lớp người này có tư tưởng ly khai với tư tưởng phong kiến cổ truyền, lỗi thời chuyển sang xu hướng mới – đó là xu hướng dân chủ

tư sản Sự chuyển biến này được biểu hiện ở cả nội dung và hình thức và đầy đủ trên tất cả các lĩnh vực từ chính trị tư tưởng, kinh tế, văn hóa, giáo dục…

2.1.1 Trên lĩnh vực tư tưởng chính trị

Thất bại của phong trào yêu nước theo ngọn cò phong kiến cùng với những trào lưu tư tưởng mới từ bên ngoài dội vào đã khiến các sĩ phu có sự thay đổi về mặt tư tưởng chính trị Các sĩ phu yêu nước đã nhận thức được nguyên nhân mất

nước và con đường cứu nước “Ngồi ngẫm nghĩ lý do vì sao mất nước, vì đâu dân

ta khốn khổ, thì thấy có hai nguồn cơn là ngu và hèn”[9;35] Và họ còn nêu thêm

“Và chúng ta không có đường lối mở mang dân trí vì chúng ta không có quyền bình

để cổ động dân khí Trí khôn của dân chưa mở mang, thì sao không ngu được? Chí khí của nhân dân chưa phấn chấn thì trách gì mà chẳng hèn? Mất nước vì thiếu dân trí và dân khí”[9;35] Muốn khôi phục độc lập dân tộc, thì phải mở dân trí, trấn

hưng dân khí, đó là tư tưởng phổ biến của sĩ phu yêu nước đầu thế kỷ XX Các cụ

đã chọn đường lối Tân học văn minh để khai dân trí, trấn dân khí, tiêu biểu là phong trào Duy Tân, phong trào Đông Du và Đông Kinh Nghĩa Thục Từ thực tế nước ta rơi vào tay thực dân Pháp, lớp sĩ phu đầu thế kỷ XX đã nhận ra rằng: Thủ cựu là mất nước, thủ cựu từ triều đình đến sĩ phu và dân chúng khiến trí khôn bị giam cầm,

bế tắc, tối tăm, vì thế từ chỗ sùng bái “sách thánh hiền”, các cụ đã chuyển sang sùng bái văn minh học thuật Phương Tây Lần dầu tiên trong lịch sử dân tộc vấn đề lạc hậu, thủ cựu được nhận thức như một lực cản sự tiến bộ xã hội, một trong những nguyên nhân lớn dẫn đến mất nước Do đó muốn cứu nước phải xóa sự lạc hậu, thủ cựu tức là phải Duy Tân, cải cách, phải mở mang dân trí, trấn hưng dân khí

Trang 25

Biểu hiện thứ hai là mối quan hệ giữa dân và nước Cuối thế kỷ XIX, Nho giáo còn thịnh, người ta nhận thức Vua là Thiên Tử, là chủ nhân của nước, của dân Nhận thức bị hạn hẹp trong mối quan hệ Quân - Thần, Phụ - Tử, Phu – Phụ, dân chỉ biết tôn Vua, dân là của Vua, nước cũng là của Vua, dân ít biết đến nước Nhưng đến đầu thế kỷ XX, khi tiếp xúc với văn minh Phương Tây, các sĩ phu đã nhận thấy

ở Châu Âu có thói quen dân chủ cộng hòa, và có dân chủ, dân quyền, công ích Trái lại xứ ta chỉ có áp bức, chỉ có phục tùng, chỉ có hư văn, do đó cần phải thay thế quân chủ bằng dân chủ, thực hiện sự thay đổi ấy là sức mạnh của người dân Dân mới là người xây dựng đất nước, nhân dân là chủ của nước:

“Thịt xương máu mủ một đàn

Vì dân mới có giang san nước nhà”

(Tăng Bạt Hổ) Muốn khôi phục đất nước phải dựa vào dân:

“Biết thế nước dầu mai khôi phục

Ắt nhờ dân chung sức làm ra Dân ta là chủ nước non

Ta không biết giữ thì còn trách ai?”

Như vậy các sĩ phu yêu nước đầu thế kỷ XX đã nhận thức hoàn toàn mới về quan hệ nước – dân Đó là quan hệ mật thiết không thể tách rời, dân là người chủ xây dựng và bảo vệ đất nước chứ không phải ai khác

Chữ nước đã mang một nội dung mới không phải là Vua mà là non sông, tổ tiên, lịch sử, đồng bào cùng chung lưng đấu cật với nhau trong công cuộc giữ gìn đất nước Các cụ đã sáng tác thơ văn “Kêu gọi hồn nước” “Hồn nước” chính là hồn dân tộc, là ý thức dân tộc Kêu gọi hồn về với nước tức là dân thức tỉnh, có ý thức giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân Một vấn đề hoàn toàn mới trong tư tưởng yêu nước đầu thế kỷ XX là vấn đề dân quyền Từ nhận thức mất nước là mất chủ quyền, nên chủ trương giành độc lập, khôi phục dân quyền Biện pháp cứu nước là “mở mang dân trí, chấn hưng dân khí, bồi dưỡng nhân tài” hoặc “mở mang dân khí, khai thông dân trí, hậu dân sinh” Những biện pháp này đã chịu ảnh hưởng ít nhiều tư tưởng cải cách dân chủ của Lương Khải Siêu và Khang Hữu Vi ở Trung Quốc Tiến lên một bước trên con đường nhận thức là xác định rõ chính thể của một nước Việt Nam trong tương lai, thông qua tôn chỉ của Duy Tân hội Tôn chỉ ghi rõ: “Đánh

Trang 26

đuổi thực dân Pháp, khôi phục nước Việt Nam, lập thành nước quân chủ lập hiến” Tuy chưa cắt đứt hoàn toàn tư tưởng quân chủ, nhưng Duy Tân hội đã hướng tới một thể chế có quốc hội, tức là đã bước vào ngưỡng cửa của cách mạng Dân chủ tư sản Từ năm 1906 tư tưởng dân chủ càng được củng cố trong tư tưởng lãnh đạo cách mạng Việt Nam Nhận thức về dân quyền, về chính thể nhà nước rõ ràng hơn

Từ nhận thức cũ Vua là chủ của nước chuyển sang nhận thức mới dân là chủ của nước “Dân ta là chủ nước non Dân là dân nước Nước là nước dân” Với nhận thức mới đó Phan Bội Châu thừa nhận: “Chính thể cộng hòa” là đúng và Phan Châu Trinh khẳng định: “Nếu không đánh đổ được nền quân chủ thì dù có khôi phục

được nước cũng không phải là hạnh phúc cho dân” Trong thư gửi Toàn quyền Bô

(PaulBeau) năm 1906 Phan Châu Trinh yêu cầu chính phủ Pháp cải cách chính trị, thành thực khai hóa cho dân Việt Nam Đến 1912 tư tưởng cộng hòa mới được khẳng định qua tôn chỉ của Việt Nam Quang Phục Hội Phan Bội Châu đã tự nhận

rằng: “Sau khi sang Nhật được nghiên cứu nguyên nhân cách mạng nước ngoài và chính thể các nước thì rất say sưa với lý luận của Lư Thoa (Rút xô) Được giao thiệp rộng với các đồng chí Trung Hoa nên trong đầu óc đã xếp tư tưởng quân chủ lại một xó”, quyết định theo chủ nghĩa Tam Dân Lập ra tổ chức cách mạng mới là

Việt Nam Quang Phục Hội với chủ trương “Đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục nước

Việt Nam, thành lập nước cộng hòa dân quốc Việt Nam”

Như vậy trên lĩnh vực chính trị tư tưởng cách mạng Việt Nam đã chuyển từ

hệ tư tưởng quân chủ thuộc phạm trù cũ phong kiến sang tư tưởng dân chủ thuộc phạm trù mới dân chủ tư sản

Một trong những nội dung quan trọng của cuộc vận động cải cách Duy Tân là cải cách về kinh tế mà người khởi xướng là Phan Châu Trinh cùng những đồng chí nhiệt thành Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng

Trang 27

Thương nghiệp là lĩnh vực được chú trọng phát triển khá mạnh trong các ngành kinh tế của phong trào Duy Tân “Dĩ thương hợp quần” – lấy buôn bán để tập hợp nhau lại cùng lo việc nước; buôn bán còn để kiếm lời để nuôi dưỡng các hoạt động khác như mở trường học, nuôi thầy giáo, cung cấp sách vở cho học sinh Vì vậy gọi buôn bán là “Quốc thương” và việc lập những hội buôn chung (hợp thương) được đặc biệt chú ý

Thương cuộc Hội An (Quảng Nam) là thương cuộc đầu tiên của phong trào, được thành lập vào những tháng cuối năm 1905 hoặc đầu năm 1906 Lúc bấy giờ Hội An là địa điểm thuận lợi nhất, là thành phố lớn, sầm uất, thương khách đông đảo, có cả khách buôn người nước ngoài nhất là người Trung Hoa Hội An cũng là nơi giao thương của các thuyền bè, chở hàng hóa ở các đường sông, đường bộ, đường biển đổ về Hội An cũng có nhiều thuận lợi trong việc tiếp nhận những sách báo mới tiến bộ từ Bắc, Nam và từ Trung Hoa vào Các nhà lãnh đạo Duy Tân đã chọn đúng vị trí đột phá này để từ đó phát triển dần dần ra các nơi khác

Cùng với thương cuộc Hội An, “Hiệp thương Diên Phong và nghĩa thục Diên Phong do Phan Thúc Duyện tổ chức và điều hành đã được đánh giá là hai cơ sở tầm

cỡ nhất ở Quảng Nam, có thể so sánh với Công ti Liên Thành ở Phan Thiết, Triều Dương ở Nghệ An và Đông Kinh Nghĩa Thục ở Hà Nội”

Ngoài hai thương cuộc nổi tiếng trên, ở Quảng Nam lúc này còn có nhiều hàng hiệu của sĩ phu với quy mô nhỏ hơn

Ở Quảng Ngãi, các Hội buôn quy mô không lớn như Quảng Nam, nhưng rất nhiều dưới dạng cửa hàng như: thuốc bắc, nội hóa, quán cơm… Những cửa hàng này vừa là nơi liên lạc, vừa là nơi cung cấp tài chính cho các hoạt động khác của các nhà hoạt động cách mạng Duy Tân

Sau chuyến Nam du của Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, năm 1906, Nguyễn Trọng Lội cùng Nguyễn Quý Anh, Hồ Tá Bang, Trần Lệ Chất, Ngô Văn Nhượng lập Công ti Liên Thành buôn nước mắm đặt trụ sở ở Phan Thiết, Sài Gòn… Ngoài Liên Thành, nhiều công ti buôn bán được thành lập ở Bình Thuận nhưng quy mô nhỏ hơn

Tại Nghệ An, Hà Tĩnh thành lập Triều Dương thương quán (6/1906) với sự góp vốn của Đặng Nguyên Cẩn và Ngô Đức Kế

Trang 28

Về nông nghiệp, một số sĩ phu mở các hội khai khẩn đất hoang làm ruộng, thường gọi là “nhàn điền”, trồng lúa, ngô, đậu, chè…

Vùng đất Quảng Nam có nguồn lợi lớn do quế mang lại, các chủ vườn đua nhau sửa sang vườn quế, chung nhau tìm thêm đất để trồng quế, chè, tiêu Chính Phan Châu Trinh cũng góp phần vào công cuộc khuếch trương vườn quế bằng cách hùn vốn với các nhà kinh doanh khác Các Hội nông trồng quế theo Huỳnh Thúc Kháng đều được thành lập từ năm 1906

Ở Quảng Ngãi, Hội nông có cơ sở chính tại khu rừng thuộc làng Tình Phú, huyện Nghĩa Hành với vài chục mẫu khẩn hoang, chuyên trồng đỗ, khoai lang, số Hội viên khoảng 70 người do Nguyễn Bá Loan làm Hội trưởng

So với thương nghiệp thì hoạt động về nông nghiệp gặp nhiều khó khăn hơn vì phải đối phó với cảnh sơn nam chướng khí, nhân công tại chỗ thiếu phải đi thuê mướn liên xã Đã thế, các nhà Nho còn bị hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm lập đồn điền nên kết quả về vật chất chưa có gì đáng kể Nhưng qua phong trào lập Hội nông, việc tuyên truyền một phương pháp canh tác khoa học, chọn giống, loại cây trồng… đã được phổ biến trong nhân dân

Phan Bội Châu với chủ trương phát triển kinh tế phục vụ cuộc cách mạng đầu thế kỉ XX Đối với phong trào cải lương hợp pháp, Phan Bội Châu tưởng như xa lạ, không quan tâm tới Nhưng thực ra bên trong và đằng sau giữa hai xu hướng vẫn có liên hệ mật thiết

Mùa thu năm 1905, khi từ Nhật Bản trở về nước lần thứ nhất, nhận thức của Phan Bội Châu về tầm quan trọng của việc chấn hưng kinh tế phục vụ cuộc vận động cách mạng đã được xác lập rõ rệt hơn Thời gian ở Nhật Bản đã tác động tư tưởng của Phan Bội Châu Nhận thức rõ tình trạng chậm trễ, lạc hậu của đất nước

và cho rằng chính tình trạng xấu ấy đã làm đất nước mình bị hèn yếu nên khi nhiệm

vụ “cầu viện quân sự” bị thất bại, Phan Bội Châu đã thấy cần phải thay đổi kế hoạch Phan Bội Châu thấy cần phải có một thời kì chuẩn bị khá dài để “tạo nên một cơ sở thực sự vững chắc” Vì vậy, nhiệm vụ canh tân đất nước, đưa nước nhà tiến kịp trình độ các nước văn minh”, phải được đặt ra một cách bức thiết, và coi đó

là một sự hỗ trợ không thể thiếu được đối với nhiệm vụ “đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục độc lập dân tộc cho Tổ quốc Việt Nam”

Trang 29

Đến đầu năm 1906, sau khi Đặng Nguyên Cẩn đề nghị Phan Bội Châu lập các hội Nông, Thương, Học thì Cụ chấp nhận ngay và khuyến khích lập Triều Dương thương quán ở Vinh Đến khoảng 6/1906, khi trở về Hương Cảng, Phan Bội Châu lại lập ra “Việt Nam thương đoàn công hội” (tồn tại khoảng 1 năm), vừa là để “kinh doanh lợi chung”, vừa là trạm nghỉ chân cho các đoàn Đông Du Những hoạt động trên đã đánh dấu sự chuyển hướng tư tưởng của Phan Bội Châu về phát triển kinh

tế

Lý tưởng của Phan Bội Châu là phấn đấu cho một nước Việt Nam độc lập và giàu mạnh Muốn vậy, về kinh tế phải lo phát triển kinh doanh, sản xuất để tăng thêm của cải cho đất nước Hơn nữa, trước mắt nhu cầu về kinh phí cho phong trào Đông Du cũng thúc đẩy Cụ lưu ý đến vấn đề tài chính và của cải vật chất:

“Than ôi nỗi sự đời gian khổ Khổ gì hơn không có của dùng”

Vấn đề tài sản quốc gia có liên quan đến sự tồn tại của một nước Từ năm

1903, Phan Bội Châu đã đề cập đến khi viết “Lưu Cầu huyết lệ tân thư”: “Tài sản là huyết mạch của nước, huyết mạch phải lưu thông trong tay chân và ngón đốt, không thể một khắc gián đoạn” Cụ cũng quan niệm rõ ràng tài sản không chỉ có tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng mà còn bao gồm cả tiền tệ Trong phạm vi tư liệu sản xuất, Cụ thường nhắc đến những của cải tồn tại dưới dạng những sản vật tự nhiên như hầm mỏ, ruộng đất, lâm sản, hải sản… Tuy nhiên, Phan Bội Châu đặc biệt nhấn mạnh sự tồn tại dưới dạng tiền tệ Đồng tiền giữ vai trò đại biểu cho sức sống của

xã hội Cụ viết: “Tiền của tức là máu mỡ của dân ta Ở đây tôi không nói là không nên yêu tiếc Nhưng yêu tiếc thì phải bảo vệ nó, làm cho nó sinh sôi nảy nở, khiến cho tiền của đó thành vật sống mà không phải vật chết Phan Bội Châu còn nói:

“Thân mình làm ra của cải thì phải lấy của cải mà mở thêm thân Đó mới là việc làm đủ cả “trí lẫn nhân” Lấy tiền của mình để tích trữ, để hô hào quốc dân hoặc mở mang thương điếm hoặc lập ngân hàng

Như vậy, Phan Bội Châu đã thấy rõ cần phải sử dụng tiền để “biến nó thành một món to chứ không phải món nhỏ” Phan Bội Châu nhận thấy cần phải làm cho đồng tiền sinh lợi, cho nên ông đã kêu gọi mọi người góp tiền kinh doanh, “đem dùng vào những công cuộc hữu ích hoặc lập ngân hàng, hoặc mở mang thương điếm, hoặc kết nông xã để khai khẩn đất hoang, hoặc lập công trường để chấn hưng

Trang 30

bách nghệ, hợp vốn của nghìn người để lo ích lợi chung, mỗi người xuất ra không bao nhiêu mà thu lợi thì vô cùng” Như vậy, đối với Phan Bội Châu đồng tiền luôn trở thành vốn liếng để tăng thêm của cải vật chất của xã hội Ở đây, vấn đề của cải vật chất được đặt ra gắn liền với một tư tưởng dân tộc mạnh mẽ

Xuất phát từ quan niệm cần phải làm đồng tiền “sinh sôi nảy nở”, Phan Bội Châu chủ trương phải biết buôn bán và lập các Hội công thương, bao gồm trong đó các ngành sản xuất thủ công và buôn bán nội hóa Vai trò động lực của các hội buôn này trong phong trào cách mạng được Phan Bội Châu đề cập trong “Trùng Quang tâm sử” Sau khi đã tụ tập được những người đồng chí trong một địa điểm ở vùng trung du, các nhân vật chính của cuốn truyện này quyết định mở một cái quán ở đồng bằng để buôn bán những sản phẩm nông nghiệp từ miền núi đưa về, và mua muối, gạo từ miền biển lên

Đối với Phan Bội Châu, việc mua bán cũng nhằm mục đích phục vụ công cuộc vận động cách mạng cho nên trong một văn bản mới phát hiện nói về 10 chủ trương của Hội Duy Tân do Phan Bội Châu khởi thảo, trong đó có chủ trương thứ 2 và thứ

9 nói rõ: “Nhanh chóng có được những nguồn tài chính, thành lập các hội buôn và hội công Cũng vì vậy, ngay sau đó đã có nhiều yếu nhân của hội hưởng ứng chủ trương này Mai Lão Bang viết: “Lão Bang phổ khuyến thư “kêu gọi đồng bào chấn hưng kinh tế” Nguyễn Thượng Hiền cũng có “hợp quần doanh sinh thuyết” Dưới hình thức thơ ca, Nguyễn Thượng Hiền đã trình bày kế hoạch kinh doanh của mình

và tỏ ý than phiền về tình trạng đồng bào nước ta thiếu óc thực tiễn và thiếu óc thương nghiệp:

“Đã không biết bán ôn cày cấy

Đọc thi tư nay mấy kẻ dùng Trắng hai tay, gạo hết, tiền không Lấy gì thương” lấy gì nông?

Lấy gì học nghệ, hưng công bây giờ?”

Có thể nói, từ 1906 đến 1909, hướng hoạt động chủ yếu của hội Duy Tân và Phan Bội Châu là tập trung vào chương trình phát triển kinh tế này, nó cũng quan trọng như việc lựa chọn gửi thanh niên du học Đó là hai nhiệm vụ chính trị phải song song và hỗ trợ lẫn nhau Phan Bội Châu đã kêu gọi mở rộng công việc thành lập các hội hợp cổ Lúc này, Nguyễn Thành và các đồng chí của ông ở miền Trung

Trang 31

và miền Nam đã lập được 72 chi hội công thương, có trách nhiệm, có trách nhiệm trong thời gian trước mắt cung cấp tiền bạc cho thanh niên Đông Du, đồng thời tạo nên bầu không khí và những phương tiện cho phép họ hoạt động sau khi được đào tạo xong Trụ sở của các chi hội và các cửa hiệu buôn bán cũng là những “hộp thư” liên lạc giữa những người hoạt động trong và ngoài nước của Hội Duy Tân

Về biện pháp buôn bán để sinh lợi, ngoài vấn đề chú trọng đến việc giao lưu hàng hóa giữa các khu vực kinh tế khác nhau trong nội địa giữa miền núi và đồng bằng, trong nam và ngoài Bắc Phan Bội Châu cũng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của vấn đề buôn bán với nước ngoài để khắc phục tình trạng: “Mấy lâu nay của cải của dân ta như dầu mỡ cứ ra hoài mà không vào” Cụ mong muốn hàng hóa của nước ta xuất cảng ngày càng nhiều và vượt hẳn khối lượng phải nhập cảng

Về vấn đề góp vốn, Phan Bội Châu cho rằng không có nhiều vốn thì không thể

mở rộng thương điếm, không mong có cái “tiểu thành” hoặc “đại thành” Nhưng vấn đề mà cụ Phan quan tâm hơn cả chính là ở chỗ, mọi người phải đoàn kết, hợp quần với nhau trong một hoạt động có tổ chức, người góp cửa, người góp công để mưu việc chung

Như vậy, đối với Phan Bội Châu, quy mô của việc buôn bán đã vượt ra khỏi khuôn khổ một quầy hàng nhỏ bé của người tiểu thương mà có dáng dấp của một hãng buôn, một công ti thương mại lớn Tất nhiên, trong số những người tham gia hoạt động thương mại này phải có người quản lí đứng ra phụ trách và trông coi Nhưng dưới mắt Phan Bội Châu, quan hệ giữa người quản lí và nhân viên làm việc trong các tổ chức kinh doanh thương nghiệp ấy cũng phải quan hệ giữa những nhà

tư bản với những người làm thuê Những người làm công việc quản lí hay đứng đầu một công ti theo Cụ phải là “những người có đạo đức, có danh vọng”, “những người siêng năng, cần mẫn” được mọi người tin phục cử ra Đây là một sự lí tưởng hóa cơ cấu của một tổ chức kinh tế mà nội dung hoạt động của nó có tính chất tư bản chủ nghĩa Tuy nhiên, khi đề cập đến việc kinh doanh công thương nghiệp, Phan Bội Châu không hề chú ý đến mối quan hệ giữa chủ và thợ và trình độ chuyên môn của người quản lí

Trong tư tưởng kinh tế của Phan Bội Châu, sản xuất nông nghiệp cũng chiếm một vị trí quan trọng Đây là ngành đem lại của cải vật chất, làm giàu có cho đất nước

Trang 32

Phan Bội Châu khẳng định: Đối với nước mà công thương nghiệp chưa phát triển như Việt Nam thì nghề nông càng có vị trí quan trọng Không chỉ hô hào, Cụ còn kêu gọi đẩy mạnh phát triển nông nghiệp Phan Bội Châu còn đề cập đến cả tới vấn đề kĩ thuật trong nông nghiệp như dẫn nước vào ruộng, cải tạo môi trường sống, vấn đề phân vùng cư dân, khai khẩn đất hoang

Để mở mang kinh tế, sản xuất ra nhiều của cải, Phan Bội Châu không quên đề cập đến vấn đề sản xuất công nghiệp, đặc biệt là khai thác tài nguyên phong phú của đất nước, chế tạo ra hàng hóa vật dụng để dùng và đem bán trên thị trường quốc tế

để làm giàu cho Tổ quốc Cụ viết: “Đất nước ta cũng nhiều mỏ vàng, mở bạc cũng

có trương đúc, xưởng thợ, sao lại ngu dại để cho của cải mất hết, sớm tối để cho tay chân nhọc nhằn vất vả đến thế? Đó là tại triều đình không có chí đấu lợi, giành quyền đó mà thôi”

2.1.3 Trên lĩnh vực văn hóa, giáo dục

Từ nửa cuối thế kỷ XIX, trong xu thế chung của cả khu vực văn hóa Việt Nam

cổ truyền đã và đang phải đối mặt với trào lưu văn hóa phương Tây Sự thật lịch sử

đã chỉ ra rằng ở Việt Nam đã sớm có một dòng tư tưởng canh tân nhận thức được sự cần thiết phải hướng văn hóa của dân tộc tới những giá trị tiến bộ mới lạ của khu vực và của thời đại, đồng thời phải kế thừa bảo lưu những giá trị tốt đẹp đã từng là chỗ dựa cho dân tộc trường tồn phát triển

Sau hơn bốn chục năm kể từ khi thực dân Pháp nổ súng ở Đà Nẵng rồi cưỡng đoạt độc lập tự do của dân tộc, cho tới thời điểm đầu thế kỷ XX, trên thực tế chúng

đã đồng thời áp đặt nền văn hóa thực dân lên nền văn hóa cổ truyền của Việt Nam Văn hóa cổ truyền của dân tộc dường như đứng trước bọn diệt chủng hoặc lai căng, mất gốc

Trong điều kiện như vậy, sau khi được tiếp thu những tư tưởng tiến bộ từ bên ngoài, đặc biệt là tư tưởng dân chủ tu sản qua Tân thư, Tân văn Các sĩ phu yêu nước đã có sự thay đổi trong tư tưởng của mình, họ đã mạnh dạn đứng lên đấu tranh chống lại chính sách đồng hóa về mặt văn hóa của thực dân Pháp Phan Châu Trinh

là người dám đứng lên đương đầu với nhà cường quyền đòi cải cách thể chế chính trị "Thư gửi toàn quyền Beau” của ông là bản cáo trạng tố cáo các quan tham lại nhũng, chính trị hư hại đương thời, đòi hỏi cải cách, thực thi một văn hóa chính trị tiến bộ và nhân đạo hơn, dưới một hình thức công khai trực diện Có thể nói, với

Ngày đăng: 08/05/2021, 21:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w