1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tìm hiểu việc vận dụng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong môn khoa học lớp 4, 5 ở bậc tiểu học

75 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 886,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở Việt Nam, để thực hiện việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế và nhu cầu phát triển của người học giáo dục phổ thông đã và đang từng b

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC – MẦM NON

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Hiện nay, đa số học sinh sống trong hai môi trường có hoàn cảnh khác nhau: một là các em được sự quan tâm chăm sóc quá sức chu đáo của phụ huynh vì sống trong gia đình ít con, hoàn cảnh kinh tế ổn định; hai là những

em sống trong gia đình với nhiều lo toan cho cuộc mưu sinh, phụ huynh bỏ mặc con cái Môi trường hoàn cảnh khác nhau ấy lại thường cùng mang đến cho các em một thiếu sót lớn trong từng bước trưởng thành, đó là kĩ năng sống Vì vậy, việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học qua học tập - sinh hoạt ở trường là điều hết sức cần thiết Giáo dục kỹ năng sống trở thành

xu thế chung của nhiều quốc gia trên thế giới

Trong điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam nói riêng và bối cảnh toàn cầu nói chung, càng ngày chúng ta càng nhận ra tầm quan trọng của việc học các kỹ năng sống để ứng phó với sự thay đổi, biến động của môi trường kinh

tế, xã hội và thiên nhiên Đặc biệt là với lứa tuổi dậy thì, khi các em bước vào giai đoạn khủng hoảng lứa tuổi quan trọng của cuộc đời, các em càng cần được trang bị kỹ năng sống để định hướng phát triển cá nhân một cách tốt nhất

Ở Việt Nam, để thực hiện việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế và nhu cầu phát triển của người học giáo dục phổ thông đã và đang từng bước đổi mới theo hướng từ chủ yếu

là trang bị kiến thức sang trang bị những năng lực cần thiết cho các em học sinh, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học, phù hợp với từng lớp học, tăng cường khả năng làm việc theo nhóm, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng sống, theo Quyết định số 2994/QĐ – BGDĐT ngày 20 tháng 7 năm 2010 của

Bộ Giáo dục và Đào tạo các trường đã triển khai giáo dục kĩ năng sống trong

Trang 3

một số môn học và hoạt động giáo dục ở các cấp học; dựa trên cơ sở những định hướng của đợt tập huấn tăng cường giáo dục kĩ năng sống trong các môn học của Bộ cho các cấp học trong hệ thống giáo dục phổ thông Giáo dục kĩ năng sống trong các môn học ở Tiểu học nhằm đạt mục tiêu trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ năng phù hợp; tạo cơ hội thuận lợi cho học sinh sử dụng quyền và bổn phận của mình và phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức Trong bốn môn học có nội dung lồng ghép có môn Khoa học Sở dĩ môn này được chọn để lồng ghép là

vì nó gắn liền với cuộc sống hằng ngày của các em, những sự vật, hiện tượng

mà các em tiếp xúc nên rất dễ dàng trong việc cho các em nắm bắt nội dung

và hình thành kĩ năng

Xuất phát từ những lí do trên em chọn đề tài “Tìm hiểu việc vận dụng

giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong môn Khoa học lớp 4, 5 ở bậc Tiểu học” làm khóa luận tốt nghiệp với mong muốn tìm hiểu kĩ hơn về việc

dạy học lồng ghép giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong môn Khoa học lớp 4, 5; biết được những thuận lợi, khó khăn trong quá trình dạy học để rút kinh nghiệm cho việc dạy học sau này của bản thân

2 Mục đích nghiên cứu

Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với mục đích sau:

- Thống kê mức độ tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong môn Khoa học lớp 4, 5

- Tìm hiểu việc vận dụng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong môn Khoa học lớp 4, 5 tại trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích đó, nhiệm vụ cần giải quyết của đề tài này là:

- Nghiên cứu lí thuyết: những vấn đề liên quan đến kĩ năng sống

Trang 4

- Thống kê mức độ tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong môn Khoa học lớp 4, 5

- Tìm hiểu việc vận dụng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong môn Khoa học lớp 4, 5 tại trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng

4 Phạm vi nghiên cứu

- Đề tài nghiên cứu ở môn Khoa học lớp 4, 5

- Tìm hiểu ở trường tiểu học Nguyễn Văn Trỗi ở thành phố Đà Nẵng

5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu là quá trình dạy học môn Khoa học ở lớp 4, 5

- Đối tượng nghiên cứu là giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học

6 Giả thuyết nghiên cứu

Trên cơ sở tìm hiểu về việc vận dụng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong môn Khoa học 4, 5 ở bậc Tiểu học sẽ giúp cho giáo viên Tiểu học nói chung và sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học nói riêng có cái nhìn tổng quát

về thực tế dạy học tích hợp giáo dục kĩ năng sống trong môn Khoa học Từ

đó, mỗi người sẽ tìm ra được hướng đi đúng đắn trong việc vận dụng nội dung này vào dạy học thực tế

7 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn bằng cách điều tra thực tế bằng anket, phỏng vấn, dự giờ các tiết dạy

- Phương pháp trắc nghiệm

8 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần Nội dung của đề tài gồm ba chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong môn Khoa học lớp 4, 5 ở bậc Tiểu học

Trang 5

Chương 2: Tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong môn Khoa học 4, 5

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 6

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRONG MÔN KHOA HỌC LỚP 4, 5

Ở BẬC TIỂU HỌC 1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1.1 Đặc điểm tâm lý của học sinh Tiểu học

1.1.1.1 Tư duy

Tư duy của học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp 4, 5 nói riêng mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 4, 5 bắt đầu biết khái quát hóa lý luận Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn

sơ đẳng ở phần đông học sinh tiểu học [7; tr.89]

1.1.1.2 Tưởng tượng

Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dầy dạn Tuy nhiên, tưởng tượng của các em vẫn mang một số đặc điểm nổi bật sau:

Ở đầu tuổi tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững và dễ thay đổi

Ở cuối tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những

hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ở giai đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc,

hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em [7;tr.95]

1.1.1.3 Trí nhớ

Loại trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - lôgic

Trang 7

Giai đoạn lớp 1,2 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa Nhiều học sinh chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cách khái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu

Giai đoạn lớp 4,5ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường Ghi nhớ có chủ định đã phát triển Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay

hứng thú của các em [7;tr.142]

1.1.1.4 Ngôn ngữ

Hầu hết học sinh tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo Khi trẻ vào lớp 1 bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết Đến lớp 5 thì ngôn ngữ viết đã thành thạo và bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh

và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau Ngôn ngữ

có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh giá

được sự phát triển trí tuệ của trẻ [7;tr.137]

1.1.1.5 Ý chí

Ở đầu tuổi tiểu học hành vi mà trẻ thực hiện còn phụ thuộc nhiều vào yêu cầu của người lớn (học để được bố cho đi ăn kem, học để được cô giáo khen, quét nhà để được ông cho tiền, ) Khi đó, sự điều chỉnh ý chí đối với việc thực thi hành vi ở các em còn yếu Đặc biệt các em chưa đủ ý chí để thực hiện đến cùng mục đích đã đề ra nếu gặp khó khăn

Đến cuối tuổi tiểu họccác em đã có khả năng biến yêu cầu của người lớn thành mục đích hành động của mình, tuy vậy năng lực ý chí còn thiếu bền

Trang 8

vững, chưa thể trở thành nét tính cách của các em Việc thực hiện hành vi vẫn

chủ yếu phụ thuộc vào hứng thú nhất thời.[7; tr.130]

1.1.1.6 Tình cảm

Tình cảm của học sinh tiểu học mang tính cụ thể trực tiếp và luôn gắn

liền với các sự vật hiện tượng sinh động, rực rỡ, Lúc này khả năng kiềm chế

cảm xúc của trẻ còn non nớt, trẻ dễ xúc động và cũng dễ nổi giận, biểu hiện

cụ thể là trẻ dễ khóc mà cũng nhanh cười, rất hồn nhiên vô tư

Vì thế có thể nói tình cảm của trẻ chưa bền vững, dễ thay đổi, tuy vậy so với tuổi mầm non thì tình cảm của trẻ tiểu học đã "người lớn" hơn rất nhiều

Trong quá trình hình thành và phát triển tình cảm của học sinh tiểu học luôn luôn kèm theo sự phát triển năng khiếu: Trẻ nhi đồng có thể xuất hiện các năng khiếu như thơ, ca, hội họa, kĩ thuật, khoa học, khi đó cần phát hiện và bồi dưỡng kịp thời cho trẻ sao cho vẫn đảm bảo kết quả học tập mà không

làm thui chột năng khiếu của trẻ [7;tr.125]

1.1.1.7 Sự phát triển nhân cách

Nét tính cách của trẻ đang dần được hình thành, đặc biệt trong môi

trường nhà trường còn mới lạ, trẻ có thể nhút nhát, rụt rè, cũng có thể sôi nổi, mạnh dạn Sau 5 năm học, "tính cách học đường" mới dần ổn định và bền vững ở trẻ

Nhìn chung việc hình thành nhân cách của học sinh tiểu học mang những

đặc điểm cơ bản sau: Nhân cách của các em lúc này mang tính chỉnh thể và

hồn nhiên, trong quá trình phát triển trẻ luôn bộc lộ những nhận thức, tư

tưởng, tình cảm, ý nghĩ của mình một cách vô tư, hồn nhiên, thật thà và ngay

thẳng; nhân cách của các em lúc này còn mang tính tiềm ẩn, những năng lực,

tố chất của các em còn chưa được bộc lộ rõ rệt, nếu có được tác động thích ứng chúng sẽ bộc lộ và phát triển; và đặc biệt nhân cách của các em còn

mang tính đang hình thành, việc hình thành nhân cách không thể diễn ra một

sớm một chiều, với học sinh tiểu học còn đang trong quá trình phát triển toàn

Trang 9

diện về mọi mặt vì thế mà nhân cách của các em sẽ được hoàn thiện dần cùng

với tiến trình phát triển của mình [7;tr.61]

1.1.2 Một số vấn đề liên quan đến giáo dục kĩ năng sống

1.1.2.1 Khái niệm kĩ năng sống

Có nhiều quan niệm rộng, hẹp khác nhau về KNS:

- Tổ chức Y tế thế giới (WHO):

KNS là khả năng để có hành vi thích ứng (adaptive) và tích cực (positive), giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của

cuộc sống hàng ngày

- Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF):

Kĩ năng sống là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình hành vi mới Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và phát triển kỹ năng

- Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO), kĩ năng sống gắn với 4 trụ cột của giáo dục, đó là:

+ Học để biết (Learning to know) gồm các kĩ năng tư duy như: tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề, nhận thức được hậu quả,…;

+ Học làm người (Learning to be) gồm các kĩ năng cá nhân như: ứng phó với căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức, tự tin,…;

+ Học để sống với người khác (learning to live together) gồm các kĩ năng

xã hội như: giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông;

+ Học để làm (Learning to do) gồm kĩ năng thực hiện công việc và các nhiệm vụ như: kĩ năng đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm,…

Từ những quan niệm trên đây, có thể thấy kĩ năng sống bao gồm một loạt các kĩ năng cụ thể, cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người Bản chất của kĩ năng sống là kĩ năng tự quản lí bản thân và kĩ năng xã hội cần

Trang 10

thiết để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc có hiệu quả Nói cách khác, kĩ năng sống là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó

tích cực trước các tình huống của cuộc sống [8]

1.1.2.2 Khái niệm về giáo dục kĩ năng sống

Giáo dục kĩ năng sống là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, là xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp cho người học có cả kiến thức, thái độ, giá trị và các kĩ năng thích hợp

Bản chất của giáo dục kĩ năng sống là làm thay đổi hành vi người học

1.1.2.3 Phân loại kĩ năng sống

Theo UNESCO, WHO, UNICEF: Kĩ năng sống bao gồm các kĩ năng cốt lõi sau:

- Kỹ năng giải quyết vấn đề

- Kỹ năng suy nghĩ/ tư duy phân tích có phê phán

- Kỹ năng giao tiếp hiệu quả

- Kỹ năng ra quyết định

- Kỹ năng tư duy sáng tạo

- Kỹ năng giao tiếp ứng xử cá nhân

- Kỹ năng tự nhận thức/ tự trọng và tự tin của bản thân, xác định giá trị

- Kỹ năng thể hiện sự cảm thông

- Kỹ năng ứng phó với căng thẳng và cảm xúc

Trong giáo dục chính quy ở nước ta hiện nay, kĩ năng sống thường được phân loại theo các mối quan hệ:

- Nhóm các kĩ năng nhận biết và sống với chính mình:

+ Kĩ năng tự nhận thức

+ Kĩ năng xác định giá trị

+ Kĩ năng đặt mục tiêu

Trang 11

+ Kĩ năng kiềm chế cảm xúc

+ Kĩ năng ứng phó với căng thẳng

+ Kĩ năng quản lí thời gian

+ Kĩ năng đảm nhận trách nhiệm

- Nhóm các kĩ năng nhận biết và sống với người khác:

+ Kĩ năng giao tiếp

+ Kĩ năng giải quyết mâu thuẫn

+ Kĩ năng thương lượng/từ chối

+ Kĩ năng thể hiện sự cảm thông

+ Kĩ năng hợp tác

+ Kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, giúp đỡ

- Nhóm các kĩ năng ra quyết định một cách hiệu quả:

+ Kĩ năng tìm kiếm và xử lí thông tin

+ Kĩ năng tư duy phê phán

+ Kĩ năng tư duy sáng tạo

+ Kĩ năng ra quyết định

+ Kĩ năng giải quyết vấn đề

Có nhiều cách phân loại kĩ năng sống và có sự khác nhau giữa các cách: chỉ ra các kĩ năng sống cụ thể (UNESCO, WHO và UNICEF); phân thành các nhóm kĩ năng sống (Anh); phân loại theo các mối quan hệ (Việt Nam) Tuy nhiên sự phân loại chỉ là tương đối Trên thực tế, các kĩ năng sống thường

không hoàn toàn tách rời nhau mà có liên quan chặt chẽ đến nhau [8]

1.1.2.4 Tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh

* Kĩ năng sống thúc đẩy sự phát triển cá nhân và xã hội

Có thể nói, kĩ năng sống chính là những nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực, lành mạnh Người có kĩ năng sống phù hợp sẽ luôn vững vàng trước những khó khăn thử thách; biết ứng xử, giải quyết vấn đề một cách tích cực và phù hợp; họ thường thành

Trang 12

công hơn trong cuộc sống, luôn yêu đời và làm chủ cuộc sống của chính mình Ngược lại, người thiếu kĩ năng sống thường bị vấp váp, dễ bị thất bại trong cuộc sống Không những thúc đẩy sự phát triển cá nhân, kĩ năng sống còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội, giúp ngăn ngừa các vấn đề xã hội và bảo vệ quyền con người Việc thiếu kĩ năng sống của cá nhân là một nguyên nhân làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội như nghiện rượu, nghiện ma túy, mại dâm, cờ bạc… Việc giáo dục kĩ năng sống sẽ thúc đẩy nhanh những hành vi mang tính xã hội tích cực, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống xã hội

và giảm các vấn đề xã hội Giáo dục kĩ năng sống còn giải quyết một cách tích cực nhu cầu và quyền con người, quyền công dân được ghi trong luật

pháp Việt Nam và quốc tế [1;tr.10]

* Giáo dục kĩ năng sống là yêu cầu cấp thiết đối với thế hệ trẻ

Giáo dục kĩ năng sống ngày càng trở nên cấp thiết đối với thế hệ trẻ vì:

- Các em chính là những chủ nhân tương lai của đất nước, là những người sẽ quyết định sự phát triển của đất nước trong những năm tới Nếu không có kĩ năng sống, các em sẽ không thể thực hiện tốt trách nhiệm đối với bản thân, gia đình và xã hội

- Lứa tuổi học sinh là lứa tuổi đang hình thành những giá trị nhân cách, giàu ước mơ, ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá song còn thiếu hiểu biết sâu sắc về xã hội, còn thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo, kích động Đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cơ chế thi trường hiện nay, thế hệ trẻ thường xuyên chịu tác động đan xen của những yếu tố tích cực và tiêu cực, luôn được đặt vào hoàn cảnh phải lựa chon những giá trị, phải đương đầu với những khó khăn, thách thức, những áp lực tiêu cực Nếu không được giáo dục

kĩ năng sống, nếu thiếu kĩ năng sống các em dễ bị lôi kéo vào các hành vi tiêu cực, bạo lực,vào lối sống ích kỉ, lai căng, thực dụng, dễ bị phát triển lệch lạc

về nhân cách Một trong các nguyên nhân dẫn đến các hiện tượng tiêu cực của một bộn phận học sinh phổ thông trong thời gian vừa qua như nghiện hút, bạo

Trang 13

lực học đường, ăn chơi sa đọa… chính là do các em thiếu những kĩ năng sống cần thiết như kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng từ chối, kĩ năng kiên định, kĩ năng giải quyết mâu thuẫn, kĩ năng thương lượng, kĩ năng giao tiếp…

Vì vậy, giáo dục kĩ năng sống cho thế hệ trẻ là rất cần thiết, giúp các em rèn luyện hành vi có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, cộng đồng và Tổ Quốc; giúp các em có khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với gia đình, bạn bè và mọi người,

sống tích cực, chủ động, an toàn, hài hòa và lành mạnh.[1;tr.11]

* Giáo dục kĩ năng sống nhằm thực hiện yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông

Đảng ta đã xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội Để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cần phải có những người lao động mới phát triển toàn diện,

do vậy cần phải đổi mới giáo dục nói chung và đổi mới giáo dục phổ thông nói riêng Nhiệm vụ đổi mới giáo dục đã được thể hiện rõ trong các nghị quyết của Đảng và Quốc hội, trong Luật Giáo dục năm 2005

Nghị quyết 40/2000/QH10 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông

đã khẳng định mục tiêu là xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình

độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới Luật giáo dục năm 2005, Điều 2 đã xác định: Mục tiêu của giáo dục phổ thông là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp; trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc Như vậy mục tiêu giáo dục phổ thông đã chuyển từ chủ yếu là trang bị

Trang 14

kiến thức cho học sinh sang trang bị những năng lực cần thiết cho các em đặc biệt là năng lực hành động, năng lực thực tiễn Phương pháp giáo dục phổ thông cũng đã được đổi mới theo hướng “phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy, sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự

học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” [1;tr.12]

* Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong các nhà trường phổ thông là

xu thế chung của nhiều nước trên thế giới

Hiện nay, đã có hơn 155 nước trên thế giới quan tâm đến việc đưa kĩ năng sống vào nhà trường, trong đó có 143 nước đã đưa vào chương trình chính khóa ở Tiểu học và Trung học Việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh

ở các nước được thực hiện theo 3 hình thức:

- Kĩ năng sống là một môn học riêng biệt

- Kĩ năng sống được tích hợp vào một vài môn học chính

- Kĩ năng sống được tích hợp vào nhiều hoặc tất cả các môn học trong chương trình

Tuy nhiên, chỉ có một số không đáng kể các nước đưa kĩ năng sống thành một môn học riêng biệt như Malaixia Còn đa số các nước để tránh sự qua tải trong nhà trường, thường tích hợp kĩ năng sống vào một phần nội dung môn học, chủ yếu là các môn khoa học xã hội như giáo dục sức khỏe, giáo dục giới tính, quyền con người, giáo dục môi trường…

Từ những lí do trên có thể khẳng định việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong trường phổ thông là rất cần thiết và có tầm quan trọng đặc biệt

1.1.2.5 Mục tiêu giáo dục kĩ năng sống cho học sinh

Mục tiêu giáo dục của Việt Nam đã chuyển từ mục tiêu cung cấp kiến thức cho học sinh sang hình thành và phát triển những năng lực cần thiết ở người học để đáp ứng sự phát triển và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Mục tiêu giáo dục của Việt Nam thể hiện mục tiêu giáo dục của

Trang 15

thế kỉ XXI: học để biết, học để làm, học để tự khẳng định và học để cùng chung sống

Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông nhằm các mục tiêu sau:

- Trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ năng phù hợp Trên cơ sở đó hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực; loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong các mối quan

hệ, các tình huống và hoạt động hàng ngày

- Tạo cơ hội thuận lợi để học sinh thực hiên tốt quyền, bổn phận của

mình và phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.2.1 Thực tế việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh ở trường Tiểu học

Học tập là một nhu cầu thường trực của con người trong mọi thời đại Học tập không chỉ dừng lại ở các tri thức khoa học thuần túy mà còn được hiểu là mọt tri thức về thế giới trong đó có cả những mối quan hệ, cách ứng

xử với môi trường sống xung quanh Kĩ năng sống là một trong những vấn đề quan trọng đối với mỗi cá nhân trong quá trình tồn tại và phát triển Chương trình học hiện nay đang gặp phải nhiều chỉ trích do quá nặng về kiến thức hàn lâm trong khi những tri thức vận dụng cho đời sống hằng ngày bị thiếu vắng Hơn nữa, người học đang chịu nhiều áp lực về học tập khiến cho không còn nhiều thời gian cho các hoạt động ngoại khóa, hoạt động xã hội Điều này đã dẫn đến sự “xung đột” giữa nhận thức, thái độ và hành vi với những vấn đề xảy ra trong cuộc sống

Mặc dù, ở một số môn học, các hoạt động ngoại khóa, giáo dục kĩ năng sống đã được đề cập đến, tuy nhiên, do nội dung, phương pháp, cách thức truyền tải chưa phù hợp với tâm sinh lí của đối tượng nên hiệu quả lồng ghép còn chưa cao, hơn nữa ngành giáo dục vẫn chưa có một chương trình, quy định cụ thể về đưa giáo dục kĩ năng sống vào trong nhà trường

Trang 16

Các chuyên gia cho rằng một khiếm khuyết rất lớn trong giáo dục và đào tạo học sinh là chúng ta mới chỉ nghiêng về đào tạo mà coi nhẹ phần giáo dục toàn diện cho học sinh Vì vậy khi các em gặp phải những tình huống, những vấn đề trong thực tiễn thì các em còn lúng túng, không tìm ra hướng đi và cách giải quyết đúng đắn Từ đó các hành vi của các em không được hình thành, mà nếu hình thành thì bị lệch lạc

1.2.2 Cấu trúc và chương trình môn Khoa học lớp 4, 5

1.2.2.1 Cấu trúc

- Môn Khoa học tích hợp kiến thức của các lĩnh vực Vật lý, Hoá học, Sinh học, giáo dục sức khoẻ, giáo dục môi trường, giáo dục kỹ năng sống dưới dạng chủ đề

Có 4 chủ đề:

+ Chủ đề "Con người và sức khoẻ"

+ Chủ đề "Vật chất và năng lượng"

+ Chủ đề "Thực vật và động vật"

+ Chủ đề “Môi trường và tài nguyên thiên nhiên”

Tuy ở mức độ đơn giản nhưng kiến thức trong môn Khoa học được lựa chọn từ những kiến thức thuộc các khoa học khác như: Cơ học, âm học, nhiệt học, điện học, quang học, hoá học vô cơ và hữu cơ, thực vật, động vật Do đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học, các kiến thức khoa học chỉ dừng lại

ở mức độ vĩ mô mà chưa đi sâu vào cấu trúc vi mô của các chất Các mối quan hệ có tính quy luật của sự vật và hiện tượng tự nhiên chỉ được nghiên cứu mặt định tính mà chưa đi sâu về mặt định lượng

- Nội dung được lựa chọn thiết thực, gần gũi, có ý nghĩa đối với học sinh, giúp học sinh có thể vận dụng chúng vào cuộc sống hàng ngày

- Chú trọng hình thành và phát triển các kỹ năng học tập các môn khoa học thực nghiệm như quan sát, thí nghiệm thực hành

Trang 17

- Chương trình được biên soạn theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận

thức của học sinh

1.2.2.2 Nội dung

* Chủ đề “Con người và sức khỏe”

a Lớp 4: 17 tiết + 2 tiết ôn tập chủ đề

- Con người cần gì để sống?

- Trao đổi chất ở người

- Các chất dinh dưỡng có trong thức ăn Vai trò của chất bột đường

- Vai trò của chất đạm và chất béo

- Vai trò của vi-ta-min, chất khoáng và chất xơ

- Tại sao cần ăn phối hợp nhiều loại thức ăn?

- Tại sao cần ăn phối hợp đạm động vật và đạm thực vật?

- Sử dụng hợp lý các chất béo và muối ăn

- Ăn nhiều rau quả chín, sử dụng thực phẩm sạch và an toàn

- Một số cách bảo quản thức ăn

- Phòng một số bệnh do thiếu chất dinh dưỡng

- Phòng bệnh béo phì

- Phòng một số bệnh lây qua đường tiêu hoá

- Bạn cảm thấy thế nào khi bị bệnh?

- Ăn uống khi bị bệnh

- Phòng tránh tai nạn đuối nước

Trang 18

- Từ tuổi vị thành niên đến tuổi già

- Vệ sinh tuổi dậy thì

- Thực hành: Nói "Không!" đối với các chất gây nghiện

- Phòng tránh tai nạn giao thông đường bộ

- Ôn tập: Con người và sức khoẻ

* Chủ đề “Vật chất và năng lượng”

a Lớp 4: 33 tiết + 2 tiết ôn tập chủ đề

- Nước: Tính chất của nước; ba thể của nước; vòng tuần hoàn nước trong thiên nhiên; nước cần cho sự sống; nước bị ô nhiễm; một số cách làm sạch nước; bảo vệ và tiết kiệm nước

- Không khí: Sự tồn tại của không khí; các tính chất của không khí; các thành phần của không khí; không khí cần cho sự sống; gió, phòng chống bão; không khí bị ô nhiễm, bảo vệ bầu không khí trong sạch

- Âm thanh: Các nguồn âm; sự lan truyền âm thanh; âm thanh trong cuộc sống; chống tiếng ồn

- Ánh sáng: Các nguồn sáng; bóng tối; ánh sáng cần cho sự sống, ánh sáng và việc bảo vệ đôi mắt

- Nhiệt: nóng lạnh và nhiệt độ; vật dẫn nhiệt và cách nhiệt; các nguồn nhiệt; nhiệt cần cho sự sống

b Lớp 5: 25 tiết + 2 tiết ôn tập và kiểm tra học kỳ I + 2 tiết ôn tập chủ đề

Trang 19

- Đặc điểm và công dụng của một số vật liệu thường dùng: Tre, mây, song; kim loại (sắt, đồng, nhôm) và hợp kim (gang, thép); đá vôi; gốm (gạch, ngói); xi măng; thủy tinh; cao su; chất dẻo; tơ sợi

- Sự biến đổi của chất: Sự chuyển thể của chất; hỗn hợp; dung dịch; sự biến đổi hoá học

- Sử dụng năng lượng: năng lượng; sử dụng năng lượng chất đốt; sử dụng năng lượng gió và năng lượng nước chảy; sử dụng năng lượng điện; lắp mạch điện đơn giản; an toàn và tránh lãng phí khi sử dụng điện

* Chủ đề “Thực vật và động vật”

Lớp 4

- Thực vật cần gì để sống?

- Nhu cầu nước của thực vật

- Nhu cầu chất khoáng của thực vật

- Nhu cầu không khí của thực vật

-Trao đổi chất ở thực vật

- Động vật cần gì để sống?

-Trao đổi chất ở động vật

- Quan hệ thức ăn trong tự nhiên

- Chuỗi thức ăn trong tự nhiên

- Ôn tập thực vật và động vật

- Ôn tập và kiểm tra cuối năm

b Lớp 5:

- Cơ quan sinh sản của thực vật có hoa

- Sự sinh sản của thực vật có hoa

- Cây con mọc lên từ hạt

- Cây con có thể mọc lên từ một số bộ phận của cây mẹ

- Sự sinh sản của động vật

- Sự sinh sản của côn trùng

Trang 20

- Tài nguyên thiên nhiên

-Vai trò của môi trường tự nhiên đối với con người

- Tác động của con người đến môi trường rừng

- Tác động của con người đến môi trường đất

- Tác động của con người đến môi trường không khí và nước

- Một số biện pháp bảo vệ môi trường

- Ôn tập: Môi trường và tài nguyên thiên nhiên

1.2.3 Mục tiêu dạy học môn Khoa học lớp 4, 5

Sau khi học xong môn Khoa học, học sinh cần đạt được:

1.2.3.1 Về kiến thức

- Sự trao đổi chất, nhu cầu dinh dưỡng, sự sinh sản và phát triển của cơ thể người; một số bệnh thông thường và truyền nhiễm, cách phòng tránh

- Sự trao đổi chất, sự sinh sản của thực vật, động vật

- Đặc điểm và ứng dụng của một số chất, một số vật liệu và dạng năng lượng thường gặp trong đời sống và sản xuất

Trang 21

- Biết phân tích, so sánh rút ra những dấu hiệu chung và riêng của một số thực vật, hiện tượng đơn giản trong tự nhiên

1.2.3.3 Về thái độ

- Khơi dậy lòng ham hiểu biết khoa học và vận dụng kiến thức vào đời sống

- Tự giác thực hiện các quy tắc vệ sinh, an toàn cho bản thân, gia đình và cộng đồng

- Yêu con người, thiên nhiên, đất nước, có ý thức bảo vệ môi trường

1.2.4 Tìm hiểu thực tế việc vận dụng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua môn Khoa học lớp 4, 5

1.2.4.1 Đối tượng điều tra

Do điều kiện khách quan nên với đề tài này đối tượng điều tra của tôi là những giáo viên đang giảng dạy ở hai khối lớp 4, 5 và học sinh thuộc hai khối này tại trường tiểu học Nguyễn Văn Trỗi Trong đó hầu hết các giáo viên đều

có kinh nghiệm giảng dạy lâu năm, có chuyên môn sâu và nghiệp vụ sư phạm vững vàng, đạt trình độ chuẩn của giáo dục Tiểu học, một số giáo viên đang tham gia các lớp học bồi dưỡng, tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn

1.2.4.2 Nội dung điều tra

Giáo dục kĩ năng sống đã được đưa vào chương trình bắt buộc trong các môn học từ năm 2010 cho đến nay đã được gần hai năm Trong hai năm áp dụng dạy học tích hợp giáo dục kĩ năng sống đã thực hiện như thế nào? Để tìm hiểu về vấn đề đó, tôi tiến hành điều tra về các nội dung sau:

- Phương pháp dạy học được áp dụng trong dạy học môn Khoa học để lồng ghép giáo dục kĩ năng sống vào bài dạy

- Nhận thức của giáo viên về nội dung chương trình môn Khoa học có tích hợp giáo dục kĩ năng sống

- Những thuận lợi và khó khăn trong dạy học môn Khoa học có lồng ghép giáo dục kĩ năng sống

- Nhận thức của học sinh khi học bài học có tích hợp giáo dục kĩ năng sống

1.2.4.3 Phương pháp điều tra

Trang 22

Để tiến hành tìm hiểu về thực tế việc vận dụng giáo dục kĩ năng sống trong môn Khoa học lớp 4, 5 ở trường tiểu học Nguyễn Văn Trỗi tôi đã sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp điều tra bằng Anket: Những nội dung điều tra trên được thực hiện dưới dạng câu hỏi trong phiếu điều tra (Anket) trao tận tay giáo viên

và học sinh

- Phương pháp xử lí thống kê: Sau khi phát phiếu điều tra thăm dò ý kiến giáo viên và học sinh, với những phiếu thu lại tôi tiến hành xử lí thống kê, trên cơ sở đó khái quát được thực tế

- Phương pháp quan sát: Qua các tiết dự giờ chúng tôi tìm hiểu việc vận dụng giáo dục kĩ năng sống trong các bài dạy của giáo viên, thấy được tầm quan trọng khi lồng ghép nội dung này vào bài học

- Phương pháp thực nghiệm: Việc trực tiếp giảng dạy ở hai khối lớp 4, 5

đã giúp tôi thấy được tầm quan trọng của dạy học lồng ghép giáo dục kĩ năng sống để hình thành và phát triển cho các em những kĩ năng cần thiết được đưa

ra trong từng bài học

Thông qua tiến hành điều tra bước đầu giúp tôi nhìn nhận được thực tế vận dụng lồng ghép giáo dục kĩ năng sống trong môn Khoa học của giáo viên

và kết quả nắm bắt và nhận thức của học sinh sau các bài học

1.2.4.4 Kết quả điều tra

Qua sử dụng các phương pháp điều tra trên, tôi đã thu được những kết quả như sau:

a Điều tra trên đối tượng là giáo viên

- Tổng số phiếu phát ra là: 10

- Tổng số phiếu thu vào là: 10

Câu hỏi 1: Xin cô (thầy) cho biết ý kiến của mình về cấu trúc, nội dung

chương trình môn Khoa học ở bậc tiểu học hiện nay như thế nào?

Sau khi thống kê các ý kiến từ phiếu điều tra, kết quả như sau:

Trang 23

- Phù hợp: 7/10 phiếu, chiếm 70%

- Chưa phù hợp: 3/10 phiếu, chiếm 30%

Trong 10 phiếu phát ra, có 7/10 phiếu cho rằng cấu trúc và nội dung chương trình môn Khoa học ở Tiểu học hiện nay phù hợp, chiếm 70 %, có 3 phiếu cho rằng chưa phù hợp, chiếm 30 % Cô Hoàng Thị Lài (chủ nhiệm lớp 5/3) cho rằng nội dung chương trình môn Khoa học còn nặng, kiến thức nhiều nên học sinh chưa nắm bắt được hết những nội dung cần truyền tải, các kiến thức về vật lí, hóa học học sinh chưa hiểu được bản chất

Câu hỏi 2: Theo ý kiến của cô (thầy) những kĩ năng sống cần giáo dục

được đưa ra trong từng bài đã phù hợp với khả năng của học sinh chưa?

- Phù hợp: 6/10 phiếu, chiếm 60%

- Chưa phù hợp: 4/10 phiếu, chiếm 40%

Có 6/10 phiếu cho rằng những kĩ năng sống cần giáo dục đưa ra trong từng bài đã phù hợp, chiếm 60%; còn 4/10 phiếu cho rằng những kĩ năng sống cần giáo dục đưa ra trong từng bài chưa phù hợp, chiếm 400% Cô Ngô Thị

Hà (chủ nhiệm lớp 5/1) cho rằng có một số bài học, kĩ năng sống cần đạt được

là quá nhiều, trong một tiết dạy 35 phút, giáo viên không thể giúp học sinh hình thành đầy đủ được tất cả các kĩ năng, cô Thủy cho rằng có một số kĩ năng sống còn chưa cụ thể nên giáo viên gặp nhiều khó khăn khi hướng dẫn học sinh

Câu hỏi 3: Trong các bài học có lồng ghép giáo dục kĩ năng sống của m ôn

Khoa học, xin cô thầy cho biết đã sử dụng những phương pháp nào sau đây để dạy học sinh?

Trang 24

Bảng 1.1: Bảng kết quả thể hiện việc sử dụng các PPDH để GD KNS

Trang 25

Qua số liệu điều tra được kết hợp với dự giờ các tiết dạy mẫu của giáo viên, tôi nhận thấy rằng trong mỗi tiết học của môn Khoa học, giáo viên đã sử dụng các phương pháp dạy học rất đa dạng, những phương pháp được các giáo viên đều sử dụng đó là phương pháp trực quan, phương pháp vấn đáp, phương pháp thảo luận nhóm Phương pháp đóng vai còn được sử dụng chưa nhiều vì giáo viên cho rằng tổ chức cho học sinh đóng vai mất quá nhiều thời gian trong khi một tiết dạy chỉ được 35 phút Đây là những phương pháp chủ yếu để phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh Qua đó tôi thấy các giáo viên đã vận dụng rất tốt các phương pháp để đạt hiệu quả dạy học tối ưu

Câu 4: Xin thầy cô cho biết mức độ sử dụng các phương pháp đó như thế

nào? (thường xuyên, thỉnh thoảng, không sử dụng)

Trang 26

Biểu đồ 1.2: Biểu đồ biểu thị mức độ sử dụng PPDH để GD KNS

Nhìn vào kết quả điều tra và biểu đồ, chúng tôi thấy các phương pháp được các giáo viên sử dụng một cách thường xuyên Điều này chứng tỏ các giáo viên đã kết hợp nhiều phương pháp dạy học vào một tiết dạy để tránh gây nhàm chán, thu hút sự tìm tòi của học sinh

Câu hỏi 5: Xin cô (thầy) cho biết những kĩ thuật dạy học đã được sử dụng

trong các bài có lồng ghép giáo dục kĩ năng sống như thế nào?

Sau khi thống kê phiếu điều tra kết quả như sau:

Bảng 1.3: Bảng thống kê mức độ sử dụng KTDH để GD KNS

STT

Kĩ thuật dạy học

Mức độ sử dụng

Trang 27

Khăn trải bàn

Chia nhóm

Đặt câu hỏi

Động não

Biểu đồ 1.3: Biểu đồ thể hiện mức độ sử dụng các KTDH để GD KNS

Như vậy qua kết quả thống kê và dự giờ các tiết dạy mẫu tôi thấy rằng những kĩ thuật dạy học để phát huy tính tích cực của học sinh trong các tiết giáo dục kĩ năng sống đã được các giáo viên triển khai một cách rộng rãi, các giáo viên đã sử dụng nhiều kĩ thuật dạy học trong một tiết dạy Đây là các kĩ thuật chủ yếu để thực hiện một bài dạy có lồng ghép giáo dục kĩ năng sống để giúp các em hình thành kĩ năng một cách thuận tiện và rõ ràng nhất Tuy nhiên kĩ thuật dạy học “khăn trải bàn” chưa được giáo viên sử dụng rộng rãi, chỉ một số ít giáo viên ở các lớp có số học sinh giỏi cao mới thực hiện kĩ thuật này Vì theo ý kiến của các giáo viên hầu hết các em chưa biết khái quát, tổng hợp những ý kiến chung từ các ý kiến của cá nhân học sinh nên khi thực hiện

kĩ thuật dạy học này giáo viên phải mất rất nhiều thời gian để tổng hợp lại cho các nhóm

Trang 28

Câu hỏi 6: Theo ý kiến của cô (thầy), học sinh đã hình thành được các kĩ

năng cần có sau khi học các bài có lồng ghép giáo dục kĩ năng sống chưa?

Với câu hỏi này, kết quả thu được như sau:

- Đã hình thành: 6/10 phiếu (chiếm 60%)

- Hình thành chưa đầy đủ: 4/10 phiếu (chiếm 40%)

- Chưa hình thành: 0/10 phiếu (chiếm 0%)

Như vậy qua điều tra bằng phiếu Anket và phỏng vấn trực tiếp giáo viên thì 60% giáo viên cho rằng trong các tiết có lồng ghép giáo dục kĩ năng sống thì học sinh đã hình thành được các kĩ năng cần có mà trong bài học yêu cầu, còn 40% giáo viên cho rằng học sinh không thể hình thành đầy đủ được các kĩ năng cần có vì có một số kĩ năng còn quá trừu tượng rất khó khăn cho học sinh trong việc hình thành và hoàn thiện kĩ năng

Câu hỏi 7: Trong dạy học môn Khoa học ở Tiểu học có tích hợp giáo dục kĩ

năng sống, cô (thầy) thường gặp những thuận lợi và khó khăn nào?

Thống kê các ý kiến đưa ra trong phiếu điều tra và thu thập thông tin từ việc phỏng vấn trực tiếp các giáo viên cho rằng:

* Thuận lợi:

Giáo dục kĩ năng sống là một nội dung mới chỉ mới được đưa vào dạy học hai năm Vì vậy, trong quá trình dạy học đã có sự thay đổi về phương pháp dạy học, thực hiện các kĩ thuật dạy học mới nên học sinh rất hứng thú học tập Trong từng tiết học, các em đã biết tự trao đổi thông tin với nhau để hình thành cho mình những kĩ năng cần có dưới sự hướng dẫn của giáo viên Thay vì những tiết dạy chỉ có cung cấp kiến thức, với những tiết có lồng ghép giáo dục kĩ năng sống, các em được thực hành kĩ năng nhiều hơn, giúp các em linh hoạt, nhanh nhẹn hơn và hiệu quả của tiết dạy thành công hơn Tất cả các giáo viên đều cho rằng lồng ghép giáo dục kĩ năng sống vào trong bài dạy là một việc làm cần thiết

Trang 29

* Khó khăn

Bên cạnh những thuận lợi thì dạy học lồng ghép giáo dục kĩ năng sống còn gặp một số khó khăn 80% giáo viên cho rằng, các tiết dạy có lồng ghép giáo dục kĩ năng sống yêu cầu phải tổ chức cho học sinh hoạt động, thảo luận nhiều Vì vậy rất khó khăn cho giáo viên trong quá trình quản lí và điều khiển lớp trong khi số học sinh trong các lớp đều trên 40 học sinh Bên cạnh đó, để một tiết dạy lồng ghép giáo dục kĩ năng sống đạt mục tiêu thì giáo viên cần phải có sự chuẩn bị kĩ lưỡng về giáo án, tìm ra các phương pháp, hình thức mới để có thể giúp học sinh hình thành kĩ năng, trong khi một buổi có đến 6 tiết dạy, không có nhiều thời gian để chuẩn bị Ngoài ra, trong một số tiết học các kĩ năng sống cần được giáo dục quá nhiều, một số kĩ năng sống còn trừu tượng, khó giải thích với học sinh nên quá trình hướng dẫn học sinh hình thành kĩ năng cũng gặp khó khăn

b Điều tra trên đối tượng là học sinh

Để tìm hiểu về thực tế dạy học lồng ghép giáo dục kĩ năng sống trong môn Khoa học ở Tiểu học, tôi đã tiến hành điều tra khảo sát trên đối tượng là học sinh hai khối lớp 4, 5

- Tổng số phiếu phát ra: 180 phiếu

- Tổng số phiếu thu về: 160 phiếu

Kết quả thu thập được sau khi tổng hợp phiếu điều tra về nhận thức cũng như hứng thú của học sinh với các bài học lồng ghép giáo dục kĩ năng sống trong môn Khoa học

Câu hỏi 1: Em có thích học môn Khoa học không?

- Có: 152/160 phiếu chiếm 95%

- Không: 8/160 chiếm 5%

Qua số liệu thống kê, tôi thấy hầu hết các em đều yêu thích môn Khoa học Khi phỏng vấn một số em thì các em cho rằng môn Khoa học là những kiến thức rất gần gũi với cuộc sống của các em nên các em có thể trình bày

Trang 30

được những nội dung có trong bài học và nắm bắt nó dễ dàng Bên cạnh đó trong môn Khoa học có những kiến thức về Vật lí, Hóa học, những hiện tượng đối với các em rất lạ lẫm, kích thích sự tìm tòi ở các em Tuy nhiên một số ít cho rằng không thích học môn Khoa học vì các em cho rằng môn Khoa học

có nhiều kiến thức mới và khó

Câu hỏi 2: Trong bài học có tích hợp giáo dục kĩ năng sống và bài học

không tích hợp giáo dục kĩ năng sống, em thích bài học nào?

- Bài học có tích hợp giáo dục kĩ năng sống 135/160 chiếm 84,4%

- Bài học không tích hợp giáo dục kĩ năng sống 25/160 phiếu chiếm 15,6%

Như vậy, qua số liệu trên cho ta thấy, phần lớn các em thích thú với bài học có tích hợp giáo dục kĩ năng sống Các em cho rằng các bài học có tích hợp giáo dục kĩ năng sống thì được giáo viên tổ chức sinh động hơn so với các bài không tích hợp giáo dục kĩ năng sống

Câu hỏi 3: Trong các bước giáo dục kĩ năng sống được thực hiện trong bài,

em thích bước nào?

Bảng 1.4: Bảng thể hiện mức độ hứng thú của học sinh trong tiến trình dạy học

STT Các bước giáo dục kĩ năng sống Tỉ lệ %

Trang 31

Câu hỏi 4: Em thấy những kĩ năng sống đã được hình thành trong các bài

học các em đã vận dụng được trong cuộc sống hàng ngày hay không?

- Có: 145/160 phiếu chiếm 90,6%

- Không: 5/160 phiếu chiếm 3,15%

- Thỉnh thoảng: 10/160 phiếu chiếm 6,25%

Biểu đồ 1.4: Biểu đồ thể hiện mức độ vận dụng các KNS

Theo kết quả thống kê từ phiếu điều tra và phỏng vấn trực tiếp học sinh, hầu hết các em cho rằng những kĩ năng sống được hình thành từ các bài học rất có ích cho cuộc sống hàng ngày của các em Các em cho rằng môn Khoa học c ó những nội dung hiện hữu trong cuộc sống hàng ngày nên những kĩ năng đó cũng được dễ dàng vận dụng vào thực tiễn cuộc sống Vậy nên khi gặp tình huống có vấn đề, các em không còn bị lúng túng như trước nữa mà đã mạnh dạn hơn trong việc giải quyết các vấn đề đo Nhưng số ít học sinh cho rằng các em khó vận dụng những kĩ năng đã được học từ các bài học vào thực tiễn cuộc sống vì trong quá trình học, các em chưa thể nắm bắt được đó là những

Trang 32

kĩ năng gì và cách vận dụng nó ra sao Đó cũng là một trong những hạn chế trong việc dạy học kĩ năng sống trong môn Khoa học nói riêng và các môn học khác nói chung

Câu hỏi 5: Em có hứng thú với các hình thức dạy học mà giáo viên sử dụng

trong các bài dạy có tích hợp giáo dục kĩ năng sống không?

- Hứng thú: 147/160 phiếu chiếm 91,9%

- Không hứng thú: 4/160 phiếu chiếm 2,5%

- Bình thường: 9/160 phiếu chiếm 5,6%

6,25 3,15 90,6

Biểu đồ 1.5: Biểu đồ biểu thị mức độ hứng thú khi học các bài có lồng

ghép giáo dục kĩ năng sống

Qua kết quả thống kê từ phiếu điều tra và phỏng vấn trực tiếp học sinh thì hơn 91% học sinh cho rằng các em rất hứng thú khi giáo viên tổ chức các hình thức dạy học khác nhau trong một tiết dạy, việc thay đổi cách thức dạy

Trang 33

và học thường xuyên giúp các em tránh việc học nhàm chán, tiếp thu được bài học tốt hơn và tiết học trở nên thoải mái hơn Còn hơn 9% các em cho rằng chưa hứng thú và cảm thấy bình thường với các hình thức tổ chức dạy học mà giáo viên triển khai cho học sinh

* Kết luận: Thông qua khảo sát thực tế bằng việc phỏng vấn trực tiếp, dự

giờ các tiết dạy mẫu của giáo viên cũng như phát phiếu điều tra thăm dò ý kiến của giáo viên và học sinh trường Tiểu học Nguyễ Văn Trỗi để tìm hiểu

về việc vận dụng giáo dục kĩ năng sống trong dạy học môn Khoa học ở Tiểu học, tôi rút ra được một số kết luận sau:

- Về phía giáo viên:

+ Hầu hết các giáo viên đều cho rằng các kĩ năng sống cần đạt được đưa

ra trong từng bài học đã phù hợp với học sinh và việc đưa kĩ năng sống vào dạy học là cần thiết đối với học sinh, trong lúc mà kiến thức còn quá nặng với học sinh Tiểu học thì việc dạy học kĩ năng sống sẽ thu hút học sinh học tập hơn

+ Giáo viên đã biết lựa chọn và và vận dụng các phương pháp dạy học khác nhau cũng như sử dụng các kĩ thuật dạy học tích cực vào các bài học có nội dung lồng ghép giáo dục kĩ năng sống một cách linh hoạt và đem lại hiệu quả cao trong dạy học

+ Những hình thức dạy học mà giáo viên sử dụng đã thu hút hầu hết các

em, các em cảm thấy hứng thú với các hình thức mà giáo viên tổ chức, sự tham gia của các em vào bài học tích cực hơn

Trang 34

Như vậy qua khảo sát giáo viên và học sinh tôi thấy rằng giáo dục kĩ năng sống đưa vào các bài dạy là rất cần thiết, có vai trò quan trọng trong việc giáo dục học sinh Nếu kĩ năng sống được dạy một cách có khoa học, bài bản thì học sinh sẽ rất hứng thú và hiệu quả đưa lại là rất cao

Trang 35

CHƯƠNG 2: TÍCH HỢP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRONG MÔN KHOA HỌC LỚP 4, 5 Ở BẬC TIỂU HỌC 2.1 NỘI DUNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRONG NHÀ TRƯỜNG TIỂU HỌC

Dựa trên cơ sở phân tích kinh nghiệm giáo dục của quốc tế và thực trạng giáo dục kĩ năng sống ở Việt Nam những năm qua, có thể đề xuất nội dung giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông nói chung và nhà trường tiểu học nói riêng bao gồm các kĩ năng sống cơ bản, cần thiết sau: 2.1.1 Nhóm kỹ năng nhận thức:

Kỹ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ

Kỹ năng giao tiếp không lời

Kỹ năng thuyết trình và nói được đám đông

Kỹ năng diễn đạt cảm xúc và phản hồi

Trang 36

sinh

2.2.2 Phương pháp dạy học

Phương pháp dạy học là lĩnh vực rất phức tạp và đa dạng Có nhiều quan niệm, quan điểm khác nhau về phương pháp dạy học Phương pháp dạy học được hiểu là cách thức, là con đường hoạt động chung giữa giáo viên và học sinh, trong những điều kiện dạy học xác định, nhằm đạt tới mục đích dạy học

2.2.2.1 Các bình diện của phương pháp dạy học

Phương pháp dạy học có ba bình diện:

- Bình diện vĩ mô là quan điểm về phương pháp dạy học

- Bình diện trung gian là phương pháp dạy học cụ thể

- Bình diện vi mô là kĩ thuật dạy học

* Quan điểm dạy học

Trang 37

Là những định hướng tổng thể cho các hành động phương pháp, trong đó

có sự kết hợp giữa các nguyên tắc dạy học, những cơ sở lí thuyết của lí luận dạy học, những điều kiện dạy học và tổ chức cũng như những định hướng về vai trò của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học

Là những định hướng mang tính chiến lược, cương lĩnh, là mô hình lí thuyết của phương pháp dạy học Ví dụ: quan điểm dạy học phân hoá, dạy

học tình huống, dạy học tương tác, dạy học giải quyết vấn đề…[8]

* Phương pháp dạy học

Ở bình diện trung gian, khái niệm phương pháp dạy học được hiểu với nghĩa hẹp (phương pháp dạy học cụ thể), là những hình thức, cách thức hành động của giáo viên và học sinh nhằm thực hiện những mục tiêu dạy học xác định, phù hợp với những nội dung và điều kiện dạy học cụ thể Ví dụ: phương pháp đóng vai, thảo luận, nghiên cứu trường hợp điển hình, trò chơi, thuyết

Các Kĩ thuật dạy học chưa phải là các phương pháp dạy học độc lập mà

là những thành phần của phương pháp dạy học Ví dụ trong phương pháp thảo luận nhóm có các kĩ thuật dạy học như: kĩ thuật chia nhóm, kĩ thuật đặt câu

hỏi kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật phòng tranh, kĩ thuật các mảnh ghép …[8]

2.2.2.2 Một số phương pháp dạy học tích cực

* Phương pháp dạy học nhóm:

- Dạy học nhóm còn được gọi bằng những tên khác nhau như: Dạy học hợp tác, dạy học theo nhóm nhỏ, trong đó học sinh của một lớp học được chia

Ngày đăng: 08/05/2021, 21:05

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w