1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tìm hiểu việc tích hợp giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tiểu học qua môn tự nhiên và xã hội lớp 1, 2, 3

66 94 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 902,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc giáo dục ý thức chấp hành tốt luật lệ giao thông và an toàn khi tham gia giao thông cũng được tích hợp vào trong chủ đề xã hội của môn học này.. Chính vì những vấn đề trên, em mạnh

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC – MẦM NON

- -

VÕ THỊ HỒNG THỦY

Tìm hiểu việc tích hợp giáo dục An toàn giao thông cho học sinh tiểu học qua môn

Tự nhiên và Xã hội lớp 1, 2,3

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 2

PHẦN 1 - MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Con người từ khi sinh ra cho đến lúc trưởng thành đều chịu sự tác động của giáo dục Đó chính là giáo dục từ gia đình, nhà trường và xã hội Bằng những nhận thức ban đầu do quan sát, tiếp xúc, cùng với sự giáo dục, dần dần

ý thức mới hình thành trong con người Bậc tiểu học chính là giai đoạn bắt đầu giáo dục đạo đức tốt nhất, sau đó đến các bậc học tiếp theo Bởi vì, tiểu học là môi trường đầu tiên học sinh được sống, học tập và được làm quen với tính kỷ luật, tính phải chấp hành nội quy là cở sở ban đầu để hình thành

nhân cách

Trong các vấn đề xã hội thì vấn đề an toàn giao thông luôn chiếm một

vị trí quan trọng đối với các nước phát triển và đang phát triển Hiện nay, tai nạn giao thông vẫn xảy ra với con số gia tăng Đó là hồi chuông cảnh tỉnh mọi người trong toàn xã hội phải thay đổi thái độ sống, thực hiện tốt an toàn giao thông Với số lượng vụ tai nạn giao thông khá cao, gây thiệt hại về mọi mặt như tính mạng, tài sản và chất lượng cuộc sống của mọi người thì mỗi người trong xã hội cần thực tốt An toàn giao thông không chỉ vì lợi ích bản thân mà còn vì lợi ích của mọi người, của cộng đồng Thực hiện tốt An toàn giao thông là đi đôi với việc nâng cao chất lượng cuộc sống xây dựng cộng đồng văn minh, an toàn cho mỗi chúng ta Việc giáo dục an toàn giao thông ở bậc tiểu học phải có sự liên hệ chặt chẽ Từ đó, các em mới có thể phát huy vai trò nhân tố của con người và có thái độ ứng xử đúng đắn, phù hợp với các luật lệ khi tham gia giao thông Hay nói một cách khác, khi giáo dục cho các em nhận thức về an toàn giao thông một cách đúng đắn sẽ tác động một cách tích cực vào thế giới khách quan Cho nên việc giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tiểu học là rất cần thiết

Môn Tự nhiên và Xã hội là môn học rất quan trọng trong trường Tiểu học Bên cạnh các môn học chính như: Toán, Tiếng Việt thì Tự nhiên và Xã

Trang 3

hội sẽ trang bị cho các em những kiến thức cơ bản của bậc học góp phần bồi dưỡng nhân cách toàn diện cho trẻ Các chủ đề trong môn học đều nhằm mục tiêu giáo dục ý thức, kĩ năng cho học sinh tiểu học Việc giáo dục ý thức chấp hành tốt luật lệ giao thông và an toàn khi tham gia giao thông cũng được tích hợp vào trong chủ đề xã hội của môn học này

Chính vì những vấn đề trên, em mạnh dạn chọn đề tài “Tìm hiểu việc

tích hợp giáo dục An toàn giao thông cho học sinh tiểu học qua môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1, 2, 3” để làm khóa luận tốt nghiệp với mong muốn tìm

hiểu kĩ hơn việc lồng ghép giáo dục ATGT trong môn Tự nhiên và Xã hội và hiệu quả của nó, để từ đó góp phần học tốt và dạy tốt môn học này ở Tiểu học

đồng thời chuẩn bị hành trang trong công tác giảng dạy sau này

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu việc dạy và học có tích hợp nội dung giáo dục An toàn giao thông trong môn Tự nhiên và Xã hội để giáo dục ý thức chấp hành ATGT cho HSTH lớp 1, 2, 3 Từ đó đề xuất một số ý kiến nhằm nâng cao hiệu quả dạy

và học có tích hợp nội dung giáo dục An toàn giao thông ở trường Tiểu học

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.2 Khách thể nghiên cứu

- Quá trình giáo dục An toàn giao thông cho học sinh Tiểu học qua môn

Tự nhiên và Xã hội lớp 1, 2, 3

3.2 Đối tượng nghiên cứu

- Các bài học có nội dung về giao thông qua môn TN & XH

- Các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học được sử dụng để giáo dục An toàn giao thông cho học sinh lớp 1, 2, 3 qua môn TN & XH

4 Giả thuyết khoa học

Nếu giáo viên có phương pháp và hình thức tổ chức dạy học thích hợp

để chuyển tải các bài học có nội dung giáo dục An toàn giao thông thì việc

Trang 4

giáo dục ATGT cho học sinh nói riêng cũng như việc dạy và học môn TN &

XH nói chung sẽ được nâng cao

5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc giáo dục ATGT cho HS lớp 1, 2, 3 thông qua môn TN & XH

- Nghiên cứu nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học được sử dụng để giáo dục An toàn giao thông cho học sinh lớp 1, 2, 3 qua môn TN & XH Từ đó xây dựng một số kế hoạch dạy học để giáo dục ATGT cho HSTH

- Tìm hiểu tình hình thực tế về việc giáo dục An toàn giao thông trong dạy và học môn TN & XH

- Thực nghiệm nhằm kiểm chứng hiệu quả của việc giáo dục An toàn giao thông cho học sinh lớp 1, 2, 3 qua môn TN & XH

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Do những hạn chế về điều kiện khách quan và chủ quan, tôi chỉ nghiên cứu việc giáo dục An toàn giao thông cho học sinh lớp 1, 2, 3 Trường Tiểu học Hải Vân qua môn TN – XH

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

- Phương pháp điều tra bằng anket

Trang 5

- Khách thể và đối tượng nghiên cứu

- Giả thuyết khoa học

- Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu

Phần nội dung gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc giáo dục ATGT cho HS

lớp 1, 2, 3 thông qua môn TN & XH

Chương 2: Các bài học, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học để tích

hợp giáo dục ATGT cho HSTH trong môn TN & XH lớp 1, 2, 3

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Phần kết luận và kiến nghị

Trang 6

1.1.1 Những vấn đề chung về an toàn giao thông

1.1.1.1 Hệ thống giao thông Việt Nam

Hệ thống giao thông Việt Nam gồm giao thông đường bộ, đường sắt,

đường thủy, đường hàng không Các tuyến đường bộ, đường sắt, hàng không trong mạng lưới giao thông Việt Nam chủ yếu theo hướng Bắc Nam, phần lớn các tuyến đường thủy nội địa có hướng Đông Tây bởi hầu hết các con sông chính đều đổ từ hướng Tây ra biển

a Hệ thống giao thông đường bộ

Giao thông đường bộ là loại hình phổ biến nhất nước ta Các loại phương tiện giao thông đường bộ là: xe đạp, xe gắn máy, ô tô, xe buýt, xe tải,

xe thô sơ…Trong đó, xe gắn máy (là loại xe mô tô 2 bánh) vẫn là phương tiện

di chuyển chủ yếu của người dân Hiện nay cả nước có khoảng 21 triệu chiếc đang được phép lưu hành, trung bình 4 người dân/ chiếc

Hệ thống đường bộ chính tại Việt Nam bao gồm các con đường quốc

lộ, nối liền các vùng, các tỉnh cũng như đi đến các cửa khẩu quốc tế với Trung Quốc, Lào, Campuchia Trong đó tuyến đường chính của cả nước là tuyến Quốc lộ 1A: Là con đường bắt đầu từ tỉnh Lạng Sơn theo hướng nam, qua các tỉnh, thành phố Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hóa ở miền Bắc, qua các tỉnh duyên hải miền Trung tới Đồng Nai, Thành phố

Hồ Chí Minh, Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu và kết thúc tại Cà Mau Đây là con đường có tổng chiều dài

2260 km, qua 31 tỉnh, thành phố của Việt Nam Trên quốc lộ 1 có tổng tất cả

400 cây cầu, trong đó có những cây cầu lớn như cầu Thanh Trì (Hà Nội), cầu

Mỹ Thuận (Tiền Giang), cầu Cần Thơ (Cần Thơ) [13]

Toàn bộ các tuyến đường Quốc lộ có tổng chiều dài khoảng 17.300 km, trong đó gần 85% đã tráng nhựa Ngoài các đường quốc lộ còn có các đường

Trang 7

tỉnh lộ, nối các huyện trong tỉnh, huyện lộ nối các xã trong huyện Các tuyến tỉnh lộ có tổng chiều dài khoảng 27.700 km, trong đó hơn 50% đã tráng nhựa

b Hệ thống giao thông đường sắt

Vận tải đường sắt là phương thức giao thông vận tải đường dài Mạng lưới đường sắt Việt Nam chạy dọc theo chiều dài đất nước Đường sắt, hay vận tải đường sắt, là loại hình vận chuyển/vận tải hành khách và hàng hóa bằng phương tiện có bánh được thiết kế để chạy trên loại đường đặc biệt là đường ray

Hệ thống đường sắt Việt Nam có tổng chiều dài khoảng 2600 km, trong

đó tuyến đường chính nối Hà Nội – TP.HCM dài 1726 km, toàn ngành có

302 đầu máy, 1063 toa tàu chở khách và 4986 toa tàu chở hàng Các tuyến đường sắt từ Hà Nội:

- Hà Nội - TP Hồ Chí Minh: 1726 km, được gọi là Đường sắt Bắc Nam

- Hà Nội - Thái Nguyên

- Hà Nội - Lào Cai: 296 km

- Hà Nội - Hải Phòng: 102 km

- Hà Nội - Đồng Đăng (Lạng Sơn): 162 km

- Hà Nội - Cảng Cái Lân: 180 km (chở hàng)

Đường sắt Việt Nam hiện gồm có hai loại đội tàu hỏa: Các loại tàu khách và các loại tàu chở hàng

Hiện nay phần lớn đường sắt Việt Nam (khoảng 2249km) dùng khổ rộng 1m và toàn tuyến đường sắt Bắc - Nam dùng khổ 1m Có 180 km dùng khổ 1,435 m là tuyến đường Hà Nội - cảng Cái Lân (Quảng Ninh) dùng cho tàu chở hàng [13]

c Hệ thống giao thông đường thủy

Hệ thống đường thủy Việt Nam là hệ thống có khả năng phát triển kinh

tế, nguồn nước và năng lực của đội tàu sông Các tuyến đường thủy nội địa dựa theo các con sông chính như: sông Hồng, sông Đà ở miền Bắc; sông Tiền, sông Hậu ở miền Tây Nam Bộ và sông Đồng Nai, sông Sài Gòn ở miền

Trang 8

Hệ thống đường thủy Việt Nam hiện đang đảm nhiệm 30% tổng lượng hàng hóa lưu chuyển trong nước, riêng khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đảm nhiệm tới 70% lưu thông hàng hóa trong vùng [13]

d Hệ thống giao thông đường hàng không

Hệ thống đường hàng không Việt Nam bao gồm cơ sở hạ tầng là các sân bay quốc tế và các sân bay nội địa Các hãng hàng không của Việt Nam và một số quốc gia khác cùng khai thác

Các sân bay quốc tế gồm: Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, Sân bay quốc

tế Nội Bài, Sân bay quốc tế Đà Nẵng, Sân bay quốc tế Phú Bài (Huế), Sân bay quốc tế Cam Ranh (Khánh Hòa), Sân bay quốc tế Cát Bi (Hải Phòng), Sân bay quốc tế Trà Nóc (Cần Thơ)

Các hãng hàng không của Việt Nam gồm: Vietnam Airlines, Jetstar Pacific, Vasco và hai hãng tư nhân vừa được chính phủ ký quyết định cho phép hoạt động là VietJetAir và Air Speed Up Trong 4 hãng này, hiện tại duy nhất chỉ có Vietnam Airlines trực tiếp thực hiện các đường bay quốc tế

Việt Nam hiện nay có tổng cộng 27 sân bay các loại có bãi đáp hoàn thiện, trong đó có 8 sân bay có đường băng dài trên 3.000 m có khả năng đón được các máy bay loại cỡ trung trở lên [13]

1.1.1.2 Tình hình giao thông ở nước ta hiện nay

Đảng, Nhà nước ta chú trọng phát triển hệ thống giao thông của cả nước bao gồm: Đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường hàng không

- Hệ thống giao thông được xây dựng mới, cải tạo nhiều tuyến đường quan trọng, mạng lưới giao thông của nước ta có chiều dài 200.000km (quốc

lộ, huyện lộ, liên xã, đường chuyên dùng) Nhất là hệ thống giao thông quốc

lộ được đầu tư, củng cố, nâng cấp, cải tạo Tuy nhiên toàn mạng lưới chưa thống nhất, còn bị ách tắc giao thông trong mùa mưa lũ Hệ thống giao thông đường sông còn thô sơ nên nhiều vụ tai nạn thương tâm xảy ra

- Phương tiện giao thông phát triển quá nhanh: Tháng 12/2006 cả nước

có khoảng 19.600.000 phương tiện cơ giới đường bộ, trong đó có gần 973.000

xe ô tô, gần 18.616.000 xe mô tô chưa kể hàng chục triệu xe đạp, xe thô sơ khác Có thể nói, không nơi nào trên thế giới lại có nhiều loại phương tiện cùng tham gia GT trên cùng một tuyến đường như ở Việt Nam ta: nào là ôtô,

Trang 9

xe công nông, xe máy, xe bò, xe ngựa, xe đạp và kể cả tàu hoả…rồi đến người

đi bộ và thậm chí là cả súc vật… tất cả chỉ trên một con đường chật hẹp

- Từ đầu năm đến nay cả nước xảy ra gần 15.000 vụ tai nạn giao thông (TNGT), làm chết trên 11.000 người, bị thương hơn 10.500 người So với năm

2009 tăng 1.788 vụ, giảm 47 người chết và tăng khoảng 2.500 người bị thương Trong đó đường bộ xảy ra nhiều TNGT nhất Nếu tính trung bình thì

số người thiệt mạng mỗi ngày do TNGT là hơn 31 người Tình hình trật tự an toàn giao thông trong 4 năm qua đã có chuyển biến tích cực đáng kể, giảm được một số chỉ tiêu về tai nạn giao thông trên cả nước, cụ thể, trong 3 năm (2008, 2009, 2010) giảm 791 vụ (giảm 5,4%), giảm 1.744 người chết (giảm 13,2%), giảm 407 người bị thương (giảm 6%) So sách các tiêu chí đó tính trên 10.000 phương tiện cơ giới đường bộ thì số vụ giảm 32,8%, số người chết giảm 32,8%, số người bị thương giảm 31,1% Tuy nhiên tình hình vi phạm trật tự an toàn giao thông vẫn diễn ra rất nghiêm trọng [12]

Tóm lại, tình hình giao thông còn diễn biến hết sức phức tạp, môi trường giao thông ngày càng xấu đi, tình trạng ách tắc, tai nạn giao thông xảy

ra ở mọi nơi, mọi lúc và bất thường với mức độ lớn, ý thức chấp hành pháp luật của người giao thông thấp, các cơ quan quản lí điều hành giao thông làm việc yếu, kém Những năm gần đây, công tác bảo đảm an toàn trật tự giao thông được cấp ủy Đảng, chính quyền từ Trung ương đến địa phương quan tâm, chỉ đạo, phối hợp đã có những chuyển biến nhất định

1.1.1.3 Một số giải pháp đảm bảo ATGT ở nước ta hiện nay

Rất ít nước có tình trạng GT đa phương tiện và hổn độn như ở Việt nam Có hai phương án đảm bảo an toàn giao thông ở nước ta như sau:

- Nhà nước nên tập trung nguồn kinh phí phục vụ cho đầu tư, quản lý

GT

+ Thu và quản lý tiền bảo hiểm nhân mạng và phương tiện tham gia GT vào một đầu mối, không để tình trạng mua bán thẻ bảo hiểm tràn lan như hiện nay vì đây là một nguồn thu khá lớn

+ Xử phạt hành chính là nguồn thu lớn, nếu tính bình quân mỗi tuần thu

6 tỷ đồng mỗi năm 52 tuần x 6 tỷ = 312 tỷ đồng nếu thu tốt không bị thất thoát thì có đến nghìn tỷ đồng cho mỗi năm

Trang 10

+ Nhà nước cần sớm ra quy định bắt các phương tiện tham gia GT phải nộp một khoản lệ phí hàng năm

+ Nguồn thu từ thuế và phúc lợi XH, từ những cái lợi do không xảy ra TNGT khi hệ thống giao thông được quản lý tốt Tất cả các nguồn thu này được tập trung vào một đầu mối nhằm quản lý có hiệu quả trong việc tăng lương, thưởng, trang bị thiết bị… phục vụ cho quản lý giám sát nhằm giảm thiểu ùn tắc GT và TNGT

- Giảm đến mức tối đa các chỗ cắt nhau, các chỗ dân tự làm, nghiên cứu các mẫu cầu vượt đơn giản loại bêtông, loại bằng kết cấu khung thép gọn nhẹ

ít tốn kém, thời gian thi công nhanh Ở nhiều nước chẳng hạn như Tây Đức họ thi công nhiều cầu vượt vừa đơn giản vừa chắc chắn… để sớm bổ sung vào toàn hệ thống đường trên toàn quốc nhằm giảm tối đa các đường giao nhau ở các nút quan trọng trên toàn tuyến [11]

- Quản lý thật tốt việc nâng cao chất lượng đường sá, bố trí đồng bộ các trang thiết bị tín hiệu, chỉ giới, hệ thống đèn xanh đèn đỏ sử dụng điện, pin mặt trời… để lắp đặt cho tất cả các chỗ giao nhau trên toàn tuyến đường hoặc những chỗ giao nhau nguy hiểm…giúp cho người điều khiển phương tiện khi tham gia GT biết để điều khiển tốt phương tiện đúng phần đường của mình và kịp thời xử lý phòng tránh các sự cố có thể xẩy ra TNGT

- Quy hoạch lại mạng lưới các Công ty vận chuyển hành khách, sáp nhập các cơ sở nhỏ thành các cơ sở lớn, có đủ số lượng đầu xe và bộ máy quản lý đủ nămg lực để điều hành phương tiện và phân bổ khách một cách hợp lý theo từng tuyến và cung đường, tránh tình trạng phóng nhanh, vượt ẩu

để tranh giành khách, gây ra những vụ TNGT thảm khốc đáng tiếc như thời gian vừa qua

- Tuyên truyền nhằm nâng cao ý thức chấp hành an toàn giao thông khi điều khiển các phương tiện giao thông cho tất cả mọi người

1.1.1.4 Hành động của tuổi trẻ học đường góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông

- Tham gia học tập luật giao thông đường bộ ở trường lớp Ngoài ra, bản thân mỗi người phải tìm hiểu, nắm vững thêm các luật lệ và quy định đảm

bảo an toàn giao thông

Trang 11

- Chấp hành nghiêm chỉnh quy định về an toàn giao thông: không lạng lách, đánh võng trên đường đi, không đi xe máy khi chưa có bằng lái, không vượt đèn đỏ, đi đúng phần đường, dừng đỗ đúng quy định, khi rẽ ngang hoặc dừng phải quan sát cẩn thận và có tín hiệu báo hiệu cho người sau biết, đi chậm và quan sát cẩn thận khi qua ngã tư

- Đi bộ sang đường đúng quy định, tham gia giúp đỡ người già yếu, người tàn tật và trẻ em qua đường đúng quy định

- Tuyên truyền luật giao thông: trao đổi với người thân trong gia đình, tham gia các hoạt động tuyên truyền xung kích về an toàn giao thông để góp phần phổ biến luật giao thông đến tất cả mọi người, tham gia các đội thanh niên tình nguyện đảm bảo an toàn giao thông

1.1.2 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh Tiểu học

Tính xúc cảm thể hiện rõ trong tri giác Những đặc điểm, dấu hiệu nào gây cho các em nhiều xúc cảm thì các em tri giác trước hết Vì vậy, những vật trực quan, màu sắc sặc sỡ, bắt mắt, sinh động thì các em tri giác tốt hơn, gây

ấn tượng mạnh với các em Ở lứa tuổi này, các em tri giác về không gian và thời gian còn hạn chế

Tri giác không tự bản thân nó phát triển được Trong quá trình học tập, khi tri giác trở thành hoạt động có mục đích đặc biệt, trở nên phức tạp và sâu sắc, trở thành hoạt động có phân tích, có phân hóa hơn thì tri giác sẽ mang tính chất của sự quan sát có tổ chức Trong sự phát triển của tri giác, vai trò của giáo viên Tiểu học là rất lớn

Trang 12

b Chú ý

Ở các lớp đầu cấp, chú ý không chủ định chiếm ưu thế, các em thường chú ý đến những gì mới lạ, thấy hấp dẫn, các trực quan nổi bật, rực rỡ Nắm được đặc điểm này, người giáo viên tiểu học thường sử dụng đồ dùng dạy học rất phong phú như tranh, ảnh, biểu đò, mô hình, vật thật… Đối với lứa tuổi nhỏ thì trực quan dạy học là rất quan trọng vì đặc điểm chú ý mới được hình thành ở mức độ thấp

Đối với những lớp lớn hơn trong bậc tiểu học thì mới xuất hiện chú ý có chủ định nhưng còn đang ở mức độ thấp và ngày càng hoàn thiện hơn để đáp ứng nhu cầu học tập đề ra Sự tập trung chú ý của các em còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố Vì vậy, người giáo viên cần phải hiểu, quan tâm và nhất là cần khéo léo đưa các em vào bài học một cách nhẹ nhàng và thoải mái Sự khen ngợi, khuyến khích, tuyên dương cũng là một động lực, một tác động khiến các em chú ý hơn vào bài học Đặc biệt, cường độ học tập quá chậm hoặc quá nhanh cũng sẽ ảnh hưởng xấu đến khả năng tập trung chú ý của các em

c Trí nhớ

Do hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất ở tiểu học tương đối chiếm

ưu thế nên trí nhớ trực quan – hình tượng phát triển hơn trí nhớ từ ngữ - lôgic Các em ghi nhớ và giữ gìn chính xác những sự vật, hiện tượng cụ thể nhanh hơn và tốt hơn những định nghĩa, những lời giải thích dài dòng Với những học sinh đầu cấp có khuynh hướng ghi nhớ máy móc bằng cách lặp đi lặp lại nhiều lần, có khi chưa hiểu những mối liên hệ, ý nghĩa của tài liệu học tập đó

Vì vậy, các em thường học thuộc lòng tài liệu học tập theo đúng từng câu, từng chữ mà không sắp xếp, sửa đổi lại hay diễn đạt bằng lời của mình Với những học sinh cuối cấp, trí nhớ của các em dần dần thoát khỏi những biểu tượng cụ thể mà được thay thế bằng những khái niệm, cùng với sự phát triển của chức năng sinh lí của bộ não, chúng được khái quát hóa thành những khái niệm từ đó hình thành nên những kĩ năng, kĩ xảo vận động

d Tư duy

Tư duy của trẻ em mới đến trường là tư duy cụ thể, mang tính hình thức bằng cách dựa vào đặc điểm trực quan của những đối tượng và hiện tượng cụ thể [ 8, 48]

Trang 13

Nhờ ảnh hưởng của việc học tập, học sinh tiểu học sinhọc dần dần chuyển từ mặt nhận thức các mặt bên ngoài của sự vật, hiện tượng đến nhận thức các thuộc tính bên trong và dấu hiệu bản chất của sự vật, hiện tượng Điều này tạo khả năng tiến hành những so sánh, khái quát hóa đầu tiên, xây dựng những suy luận sơ đẳng Trên cơ sở đó, học sinh dần dần học được những các khái niệm khoa học

Kĩ năng phân biệt các dấu hiệu và tách ra các thuộc tính bản chất không phải dễ gì thực hiện được ngay Học sinh tiểu học trước hết tập trung vào tri giác những thuộc tính bên ngoài và những dấu hiệu này chưa chắc chắn là đã

là bản chất

Khi khái quát hóa, học sinh tiểu học (lớp 1, 2) thường quan tâm đến dấu hiệu trực quan, bề ngoài có liên quan đến chức năng của đối tượng tức là công dụng và chức năng Nhờ hoạt động học, nhận thức đã phát triển, học sinh lớp

3, 4 đã biết xếp bậc các khái niệm, phân biệt khái niệm rộng hơn, hẹp hơn…

Hoạt động phân tích – tổng hợp còn sơ đẳng, học sinh các lớp đầu cấp chủ yếu tiến hành phân tích – trực quan – hành động khi tri giác trực tiếp đối tượng Học sinh các lớp cuối cấp có thể phân tích đối tượng mà không cần hành động thực tiễn đối với đối tượng đó

Đặc điểm tư duy của HSTH không có ý nghĩa tuyệt đối mà chỉ có ý nghĩa tương đối Quá trình học tập sẽ giúp cho tư duy của các em thay đổi rất nhiều Sự phát triển của tư duy sẽ song song với sự phát triển trí tuệ Quá trình dạy học sẽ là nền móng để các em có một đặc điểm tư duy tốt

e Tưởng tượng

Tưởng tượng là một trong những quá trình quan trọng Tưởng tượng của học sinh phát triển không đầy đủ thì nhất định gặp khó khăn trong học tập Tưởng tượng của HSTH được hình thành và phát triển trong hoạt động học và các hoạt động khác của các em

Tưởng tượng của HSTH đã phát triển và phong phú hơn so với trẻ chưa đến trường Đây là lứa tuổi thơ mộng giúp cho tưởng tượng phát triển Tuy vậy, tưởng tượng của các em còn tản mạn, ít có tổ chức Hình ảnh của tưởng tượng còn đơn giản hay thay đổi, chưa bền vững Càng về những năm cuối

Trang 14

bậc học, tưởng tượng của các em càng gần hiện thực hơn và phản ánh thực tế một cách đầy đủ và chính xác hơn

Tưởng tượng tái tạo từng bước được hoàn thiện gắn liền với những hình tượng đã tri giác trước, hoặc tạo ra những hình tượng phù hợp với những điều

mô tả, hình vẽ, sơ đồ…Một đặc điểm cần lưu ý về trí tưởng tượng của học sinh tiểu học mà đôi khi người lớn dễ hiểu nhầm rằng đó là biểu hiện của sự nói dối, Đôi khi trẻ say mê một sự việc nào đó một cách không chủ định và hoàn toàn không chủ tâm thêm hay bớt vào câu chuyện của mình vì nó muốn người khác chú ý, thích thú câu chuyện của nó hơn [8, 51]

1.1.2.2 Nhân cách của học sinh Tiểu học

a Tính cách

Tính cách của các em được hình thành từ rất sớm Ta có thể quan sát thấy có em trầm lặng, mạnh dạn hay nhút nhát Song những nét tính cách này mới được hình thành, chưa ổn định, có thể thay đổi dưới tác động của giáo

dục gia đình, nhà trường [8, tr 56]

Các nét tính cách chưa hình thành rõ ràng Đôi khi ta có thể nhầm lẫn các trạng thái tâm lí nhất thời là những nét tính cách Hành vi của học sinh Tiểu học có tính xung động – các em có khuynh hướng hành động ngay lập tức dưới ảnh hưởng của kích thích bên trong và bên ngoài Do đó, hành vi của các em dễ có tính tự phát

Tính cách của HSTH thường có đặc điểm là bướng bỉnh và thất thường Đây là hình thức độc đáo để phản ứng lại yêu cầu của người lớn mà các em cho là cứng nhắc, chống lại sự hy sinh cái nó “muốn” cho cái nó “phải”

Phần lớn HSTH có nhiều nét tính cách tốt như: lòng vị tha, tính hồn nhiên, tính chân thực, lòng thương người…Tính bắt chước cũng là một đặc điểm quan trọng của lứa tuổi này Các em thích bắt chước hành vi, cử chỉ… của các nhân vật trong phim, truyện… Tuy nhiên, tính bắt chước là con dao 2 lưỡi, bởi trẻ bắt chước cả cái tốt lẫn cái xấu

HSTH ở nước ta sớm có thái độ và thói quen tốt đối với lao động Các

em học sinh ở nông thôn đều muốn giúp cha mẹ trong lao động của gia đình, muốn lao động trong tập thể đông vui và có ý nghĩa xã hội Lao động đã rèn

Trang 15

cho các em những phẩm chất tốt đẹp như tính kỉ luật, sự cần cù, óc tìm tòi, khả năng sáng tạo…

b Tình cảm

Tình cảm là một mặt rất quan trọng trong đời sống tâm lí và nhân cách Đối với HSTH tình cảm có vị trí đặc biệt và nó là khâu trọng yếu gắn liền nhận thức với hành động của trẻ Tình cảm tích cực không chỉ kích thích học sinh nhận thức mà còn thúc đẩy trẻ em hoạt động Tình cảm, xúc cảm của HSTH có những đặc điểm sau:

- Đối tượng gây xúc cảm cho HSTH thường là những sự vật, hiện tượng

cụ thể, sinh động Xúc cảm, tình cảm của các em gắn liền với hình ảnh trực quan, hình ảnh cụ thể

- HSTH dễ xúc cảm, xúc động và khó kìm hãm xúc cảm của mình Tính

dễ xúc cảm, xúc động thể hiện trước hết ở các quá trình nhận thức: Tri giác, tưởng tượng, tư duy Hoạt động trí tuệ của các em đượm màu sắc xúc cảm Học sinh dễ xúc cảm đồng thời hay xúc động HSTH còn chưa biết kiềm chế những tình cảm của mình, chưa biết kiểm tra sự thể hiện tình cảm ra bên ngoài Các em bộc lộ tình cảm của mình một cách hồn nhiên, chân thật.[8, 60]

- Tình cảm của HSTH còn mong manh, chưa bền vững, chưa sâu sắc Các em đang ưa thích đang ưa thích đối tượng này nhưng nếu có đối tượng khác hấp dẫn hơn, đặc biệt hơn thì các em dễ dàng bị lôi cuốn vào đối tượng mới, quên mất đối tượng cũ Do đặc điểm này mà tình bạn của các em mau chống được thiết lập Tình cảm của các em ở lứa tuổi này chưa sâu sắc, bền vững và ổn định như người lớn vì những ấn tượng do cảm xúc của các em đem lại còn phải được củng cố, liên kết với nhau, thể nghiệm trong các hoạt động thì mới hình thành nên được những tình cảm bền vững

c Nhu cầu nhận thức

Nhu cầu nhận thức của HSTH phát triển rất rõ nét, đặc biệt là nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh, khát vọng hiểu biết Đầu tiên là nhu cầu tìm hiểu những sự việc riêng lẻ, những hiện tượng riêng biệt (Lớp 1, 2) Sau đó đến nhu cầu gắn liền với sự phát hiện những nguyên nhân, quy luật, các mối quan hệ và quan hệ phụ thuộc giữa các hiện tượng (Lớp 3, 4, 5)

Trang 16

Nhu cầu nhận thức là một trong những nhu cầu tinh thần và nó có vai trò quan trọng đối với sự phát triển trí tuệ của HSTH Nếu các em không có nhu cầu nhận thức thì cũng chẳng có tính tích cực trí tuệ Vào Tiểu học nếu không có nhu cầu nhận thức, học sinh sẽ ngĩ mình học vì cha mẹ, thầy cô giáo hay vì một lí do nào khác chứ không phải vì mình Khi học sinh có nhu cầu nhận thức nhưng nhu cầu đó không được thỏa mãn thì các em sẽ thấy khó

chịu [8, tr55]

Nhu cầu nhận thức là nguồn năng lượng tinh thần để định hướng và tiến lên trong nhiều tình huống khó khăn, trên con đường khám phá kho tàng tri thức của nhân loại Nhu cầu nhận thức của HSTH được hình thành và phát triển nhờ các hoạt động đa dạng trong gia đình, nhà trường và xã hội trong phạm vi nhà trường cần giúp trẻ đạt kết quả cao trong học tập ngay từ lớp 1, thành tích dù nhỏ nhưng sẽ tạo cho trẻ niềm vui và niềm tin vào sức lực cũng như trí tuệ của mình

1.1.3 Giáo dục An toàn giao thông trong trường Tiểu học

1.1.3.1 Thế nào là Giáo dục An toàn giao thông

Giáo dục nhằm giúp cho mỗi cá nhân và cộng đồng có sự hiểu biết về giao thông cùng với các vấn đề của nó; những khái niệm cơ bản về giao thông, đường giao thông và các điều lệ khi tham gia giao thông (kiến thức); những thái độ tích cực tham gia các hoạt động về an toàn giao thông tại trường lớp, địa phương, tuyên truyền mọi người chấp hành tốt luật giao thông, phê phán các hành vi vi phạm giao thông của người khác (thái độ); nhận xét được các hành vi của người tham gia giao thông Chấp hành tốt những quy định về trật tự an toàn giao thông (kĩ năng)

1.1.3.2 Mục tiêu giáo dục ATGT trong trường tiểu học

Kiến thức: Giáo dục để học sinh tiểu học có những hiểu biết cần thiết nhất phù hợp với từng độ tuổi để có thể vận dụng trong đời sống để bảo đảm

an toàn khi tham gia giao thông,

Kĩ năng: Định hình được kỹ năng cơ bản để bảo đảm an toàn khi tham gia giao thông

Trang 17

Thái độ: Có ý thức chấp hành quy định của Luật và có thái độ đúng đắn với những hành vi đúng và chưa đúng của bản thân và mọi người xung quanh

1.1.3.3 Ý nghĩa của việc giáo dục ATGT trong trường tiểu học

Sự thiếu ý thức chấp hành giao thông và thiếu hiểu biết về các điều lệ khi tham gia giao thông là một trong những các nguyên nhân chính gây nên TNGT Do vậy, cần phải giáo dục nhằm nâng cao ý thức chấp hành nghiêm chỉnh các luật lệ giao thông cho mọi người đặc biệt là học sinh tiểu học là rất cần thiết

Với hơn 20 triệu học sinh, sinh viên, việc giảm nguy cơ tai nạn cũng như xây dựng được thế hệ có kỹ năng, ý thức tốt khi tham gia giao thông là một trong những yêu cầu cơ bản và quan trọng của công tác bảo đảm an toàn giao thông Từ sự chuyển biến về nhận thức của học sinh, sinh viên trong việc chấp hành pháp luật về trật tự an toàn giao thông để điều chỉnh hành vi khi tham gia giao thông và tác động đến gia đình, cộng đồng, tạo sự chuyển biến chung của toàn xã hội trong việc chấp hành pháp luật về trật tự an toàn giao thông Đây cũng là một trong những nội dung để thực hiện mục tiêu của giáo dục là: “đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp…”

Theo số liệu thống kê đầu năm 2008, cả nước hiện có gần 7 triệu học sinh tiểu học, khoảng trên 323.000 giáo viên ở gần 15.000 trường tiểu học Giáo dục giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tiểu học tức là làm cho gần

10 % dân số hiểu biết các vấn đề về giáo dục an toàn giao thông Con số này

sẽ nhân lên nhiều lần nếu học sinh tiểu học thực hiện tốt việc tuyên truyền về giáo dục an toàn giao thông trong cộng đồng

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.2.1 Cấu trúc, nội dung chương trình môn TN - XH lớp 1, 2, 3

Chương trình được cấu tạo theo các chủ đề, bao gồm cả kiến thức tự nhiên và xã hội Cấu trúc chương trình phát triển đồng tâm từ lớp 1 đến lớp 3 theo các chủ đề Các chủ đề này được mở rộng và nâng cao theo nguyên tắc từ gần đến xa, từ đơn giản đến phức tạp, giúp học sinh có cái nhìn về con người,

thiên nhiên và cuộc sống xung quanh dưới dạng tổng thể đơn giản [9, 8]

Trang 18

Nội dung chương trình môn TN & XH lớp 1, 2, 3 đã giảm tải số chủ đề Theo chương trình cũ bao gồm 7 chủ đề: Gia đình, Trường học, Quê hương, Thực vật, Động vật, Cơ thể người, Bầu trời và Trái đất Theo chương trình mới bao gồm 3 chủ đề lớn: Con người và sức khỏe, Xã hội, Tự nhiên Ba chủ

đề này bao gồm những nội dung chính như sau:

- Con người và sức khỏe: Các cơ quan trong cơ thể, cách giữ vệ sinh thân thể, cách ăn, ở, nghỉ ngơi vui chơi điều độ và an toàn, phòng tránh bệnh tật Thực hành chăm sóc răng miệng, đầu óc, rửa tay, chân…

- Xã hội: Các thành viên và các mối quan hệ của các thành viên đótrong gia đình, lớp học và nhà trường; Cảnh quan tự nhiên và hoạt động của con người ở địa phương nơi học sinh sinh sống

- Tự nhiên: Đặc điểm cấu tạo và môi trường sống của một số cây, con phổ biến; lợi ích hoặc tác hại của chúng đối với con người Một số hiện tượng

tự nhiên (thời tiết, ngày, đêm, các mùa…) Sơ lược về mặt trời, mặt trăng, sao

và Trái đất

Nội dung của 3 chủ đề lớn không những bao quát được nội dung của 7 chủ đề cũ mà còn tích hợp được 2 môn TN & XH và Sức khỏe nhuần nhuyễn

Ba chủ đề này được cụ thể hóa trong chương trình của từng lớp như sau:

Chủ đề Lớp 1 (1 tiết/1 tuần) Lớp 2 (1 tiết/1 tuần) Lớp 3 (2 tiết/1 tuần) 1.Con

- Ăn đủ no, uống đủ

nước để cơ thể khỏe

mạnh

- Các cơ quan vận động

- Thực hành đi, đứng, ngồi đúng tư thế

Luyện tập và vận động để cơ, xương phát triển

- Các cơ quan tiêu hóa thức ăn giúp các

em mau lớn

- Thực hành: Lựa chọn thức ăn, giữ vệ sinh ăn uống, phòng

- Các cơ quan hô hấp, tập thở sâu, thở không khí trong sạch, phòng một số bệnh lây qua đường

hô hấp

- Các cơ quan bài tiết nước tiểu và thực hiện giữ vệ sinh

- Các cơ quan thần kinh, thực hiện chế

độ sinh hoạt khoa

Trang 19

nhiễm giun sán học, tránh căng

thẳng để bảo vệ thần kinh

+ Cách bảo quản và

sử dụng một số đồ dùng trong gia đình

+ Giữ vệ sinh khu vực xung quanh nhà, khu vệ sinh chuồng gia súc

+ An toàn khi ở nhà:

phòng tránh bị ngộ độc

- Lớp học:

Các thành viên trong trường học

+ Cơ sở vật chất trong nhà trường

+ Vệ sinh trường học

+ An toàn khi ở trường: phòng té ngã

- Huyện, quận:

+ Cảnh quan tự nhiên

+ An toàn khi ở nhà: phòng cháy khi đun nấu

- Lớp học:

+ Một số hoạt động chính ở nhà trường tiểu học và vai trò của học sinh trong các hoạt động đó + Mối quan hệ của nhà trường và cộng đồng

- Tỉnh, thành:

+ Một số cở sở văn hóa, giáo dục, y tế… + Làng quê và đô

Trang 20

nhân dân

+ Các đường giao thông và phương tiện giao thông Một số biển báo trên đường

bộ, đường sắt An toàn khi đi đường

thị

+ Vệ sinh môi trường, xử lí phân, rác, nước thải…

- Bầu trời ban ngày, ban đêm

+ Mặt Trời và cách nhìn phương hướng bằng Mặt Trời

+ Mặt Trăng và các

vì sao

- Thực vật và động vật: Đặc điểm cấu tạo của cơ thể động vật và thực vật Sự khác nhau giữa động vật và thực vật Thực vật

và động vật đều có

cơ thể sống

- Mặt Trời và Trái Đất :

+ Mặt Trời: nguồn sáng, nguồn nhiệt Vai trò của Mặt Trời đối với sự sống trên Trái Đất

+ Trái Đất trong hệ Mặt Trời Mặt Trăng và Trái Đất + Trái Đất: Hình dạng, đặc điểm bề mặt và sự chuyển động của Trái Đất Ngày, đêm, năm, tháng và các mùa

Trang 21

1.2.2 Mục tiêu của môn TN & XH

1.2.2.1 Kiến thức

Cung cấp cho HS một số kiến thức cơ bản, ban đầu, thiết thực về:

- Con người và sức khỏe: Thân thể, cách giữ vệ sinh thân thể, và phòng tránh bệnh tật, tai nạn

- Một số sự vật hiện tượng đơn giản trong tự nhiên và xã hội xung quanh có liên quan mật thiết đến học sinh

1.2.2.2 Kĩ năng

Bước đầu hình thành và phát triển ở HS những kĩ năng:

- Tự chăm sóc sức khỏe cho bản thân, ứng xử và đưa ra quyết định hợp

lí trong đời sống để giữ gìn sức khỏe, phòng tránh bệnh tật, tai nạn

- Quan sát, nhận xét, nêu thắc mắc, đặt câu hỏi, thông báo bằng lời nói hoặc hình vẽ những hiểu biết của mình về các sự vật, hiện tượng đơn giản trong tự nhiên và xã hội

1.2.2.3 Thái độ

Hình thành và phát triển ở HS những thái độ và hành vi:

- Có ý thức thực hiện các quy tắc vệ sinh, an toàn cho bản thân, gia đình

và cộng đồng

- Yêu thiên nhiên, gia đình, trường học, quê hương

1.2.3 Tìm hiểu thực tế GD ATGT cho HSTH qua môn TN & XH lớp 1,

2, 3 ở trường Tiểu học

1.2.3.1 Đối tượng điều tra

Do điều kiện khách quan nên đối tượng điều tra của tôi khi thực hiện đề tài này là những giáo viên đang giảng dạy tại các lớp 1, 2, 3 và học sinh thuộc các khối lớp đó tại trường Tiểu học Hải Vân Trong đó, hầu hết giáo viên đều

có trình độ chuyên môn và năng lực sư phạm cao, nhiều giáo viên trẻ năng động, nhiệt tình đã tốt nghiệp đại học chính quy và một số giáo viên đang theo học các lớp tại chức để nâng cao trình độ chuyên môn

1.2.3.2 Nội dung điều tra

- Mức độ liên hệ thực tiễn của các buổi học có nội dung về ATGT

- Nhà trường đã tổ chức những hoạt động ngoài giờ để giáo dục ý thức chấp hành ATGT

Trang 22

- Các phương pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy học mà giáo viên

thường xuyên sử dụng để tích hợp giáo dục ATGT cho học sinh

- Nhận thức của GV về những thuận lợi và khó khăn khi dạy các bài học có nội dung tích hợp giáo dục ATGT

1.2.3.3 Phương pháp điều tra

a Phương pháp điều tra bằng Anket: Những nội dung điều tra trên

được thực hiện dưới dạng câu hỏi trong phiếu điều tra (Anket) trao tận tay GV

và HS

b Phương pháp xử lý thống kê: Sau khi phát phiếu điều tra thăm dò ý

kiến của giáo viên và học sinh, với những phiếu thu lại tôi tiến hành xử lý thống kê trên cơ sở đó mà khái quát được thực trạng nhận thức và thực tế giáo dục ATGT ở trường Tiểu học

c Phương pháp quan sát: Thông qua dự giờ ở trên lớp, tôi nắm được

các hình thức và phương pháp dạy học mà giáo viên sử dụng để tích hợp giáo dục ATGT qua các bài học và quan sát tinh thần, thái độ, hiệu quả tiếp thu nội dung của các em HS trong giờ học tự nhiên và xã hội có tích hợp nội dung trên Ngoài ra, tôi còn quan sát hành vi, thái độ của học sinh khi tham gia giao thông vào giờ đi học hoặc giờ tan trường

d Phương pháp thực nghiệm: Việc trực tiếp giảng dạy ở 2 lớp của khối

2 và 2 lớp ở khối 3 của trường Tiểu học Hải Vân đã giúp tôi thấy được tầm quan trọng của việc tích hợp giáo dục ATGT cho HS thông qua môn tự nhiên

và xã hội

e Phương pháp trò chuyện: Để thu thập được một số thông tin cần thiết

cho việc thực hiện đề tài này, tôi đã tiến hành trao đổi trực tiếp với một số giáo viên như: cô Lê Thị Ánh Tuyết, cô Trần Thị Thanh Thủy, cô Đinh Thị Chi … Các GV đã đưa ra các phương pháp, các hình thức tổ chức dạy học, các thuận lợi và khó khăn trong quá trình giáo dục ATGT cho HS

Sau một thời gian tìm hiểu thực tế giáo dục ATGT cho HS tại trường Tiểu học Hải Vân bước đầu giúp tôi nắm được tình hình dạy và học để tích hợp giáo dục ATGT cho HS thông qua môn tự nhiên và xã hội ở trường Tiểu học

Trang 23

cũng như tìm hiểu ý thức khi tham gia giao thông của HS Đây là cơ sở quan trọng giúp tôi có căn cứ để tiến hành thực nghiệm

1.2.3.4 Kết quả điều tra

Qua các PP điều tra đã sử dụng, tôi đã thu được những kết quả sau:

a Khảo sát trên đối tượng là giáo viên

- Tổng số phiếu phát ra: 9

- Tổng số phiếu thu vào: 9

Câu 1: Xin (thầy) cô vui lòng cho ý kiến về mức độ tích hợp giáo dục ý thức

chấp hành an toàn giao thông trong quá trình dạy học môn TN & XH

Bảng 1.1: Bảng thống kê mức độ tích hợp GD ATGT

STT Mức độ tích hợp Kết quả điều tra

Tỷ lệ %

Biểu đồ 1.1: Biểu đồ biểu thị mức độ tích hợp GD ATGT

Qua kết quả thăm dò, tôi nhận thấy rằng 100% GVTH đều tích hợp GD ATGT cho HSTH qua môn TH & XH Trong đó, có 66,7 % GVTH thường xuyên tích hợp nội dung GD ATGT vào bài học, còn lại là các thầy cô thỉnh

Trang 24

thoảng tích hợp Sỡ dĩ có được kết quả như vậy là vì các thầy cô nhận thức được sự cần thiết phải tích hợp các nội dung về ATGT để giáo dục cho các

em Bên cạnh đó, việc đưa những kiến thức để GD ATGT cho các em rất gần gũi, dễ hiểu, dễ thực hiện đối với các em

Câu 2 : Xin (thầy) cô vui lòng cho ý kiến về mức độ liên hệ thực tiễn đến việc

chấp hành an toàn giao thông của bản thân học sinh trong quá trình dạy học

môn TN & XH

Bảng 1.2: Bảng kết quả mức độ liên hệ GD ATGT

STT Mức độ liên hệ thực tiễn Kết quả điều tra

Tỷ lệ %

Biểu đồ 1.2 : Biểu đồ biểu thị mức độ liên hệ GD ATGT

Dựa vào Bảng kết quả và biểu đồ biểu thị mức độ liên hệ GD ATGT ta

thấy 77,8 % GVTH có liên hệ thực tiễn đến việc chấp hành ATGT ở địa phương của bản thân học sinh và có 22,2 % GVTH có liên hệ thực tiễn để GD ATGT cho các em nhưng không thường xuyên Như vậy, với mức độ liên hệ như vậy thì đây là một điều đáng mừng vì khi các em được GV liên hệ tình hình giao thông ở địa phương mình thì các em sẽ nắm được các thông tin về

Trang 25

giao thông ở địa phương mình Từ đó, các em sẽ có ý thức khi tham gia giao

thông và tuyên truyền những người xung quanh mình chấp hành ATGT

Câu 3: Cô thường sử dụng những phương pháp nào để giáo dục ý thức chấp

hành an toàn giao thông? (Đánh dấu x vào một trong các cột với mức độ mà

3 Phương pháp thảo luận 55,6 22,2 22,2

4 Phương pháp điều tra 11,1 33,3 55,6

5 Phương pháp trò chơi 88,9 11,1 0

6 Phương pháp nêu gương 77,8 22,2 0

Mức độ sử dụng các PPDH để GD ATGT được biểu thị theo biểu đồ sau:

77.8

22.2

0 11.1 33.3 55.6

PP Nêu gương

PP Điều tra

Thường xuyên Thỉnh thoảng Không

Phương pháp dạy học

Tỷ lệ %

Biểu đồ 1.3: Biểu đồ biểu thị mức độ sử dụng các PPDH để GD ATGT

Căn cứ vào bảng thống kê và biểu đồ ta thấy đa số các GV thường xuyên sử dụng các phương pháp đặc trưng để dạy học các bài có nội dung GD

Trang 26

ATGT cho HS như: Phương pháp quan sát, phương pháp hỏi – đáp, phương pháp trò chơi, phương pháp nêu gương còn Phương pháp điều tra thì GV rất ít

sử dụng Theo như tôi tìm hiểu thì các cô cho rằng các em trong giai đoạn đầu còn nhỏ rất khó để áp dụng phương pháp này

Vậy là các cô đã thường xuyên sử dụng các phương pháp tích cực và phối hợp nhiều phương pháp với các mức độ khác nhau để giúp các em chủ động, sáng tạo trong việc nắm vững kiến thức về giao thông cũng như hình thành các kĩ năng và nâng cao ý thức chấp hành tốt khi tham gia giao thông

Câu 4: Cô thường sử dụng những hình thức nào để dạy học về nội dung

0 22.2 77.8

0 20

Dạy học tại hiên trường

Tham quan Mức độ sử

dụng

Thường xuyên Thỉnh thoảng Không

Tỷ lệ %

Biểu đồ 1.4: Biểu đồ biểu thị mức độ sử dụng các HTDH để GD ATGT

Theo kết quả mà tôi thống kê được thì GV đã có sử dụng các HTDH để

GD ATGT cho HSTH Tuy nhiên, mức độ sử dụng các HTDH này không

Trang 27

giống nhau Hình thức dạy học trên lớp được sử dụng phổ biến với mức độ cao chiếm tỉ lệ 100% Còn tham quan và dạy học tại hiện trường được ít sử dụng hơn vì không có điều kiện để tổ chức Cụ thể là: 44,4% GV thỉnh thoảng

sử dụng hình thức dạy học tại hiện trường và 22,2% GV thỉnh thoảng sử dụng hình thức tham quan

Câu 5: Trong quá trình giáo dục ý thức chấp hành ATGT cho HS thông qua

môn học, cô thường gặp những thuận lợi gì ?

Qua quá trình điều tra, tìm hiểu các GV ở trường Tiểu học Hải Vân thì tôi được biết đa số các cô đều nhận thấy thuận lợi lớn nhất trong quá trình GD ATGT cho các em là:

Đa số các em đều có ý thức chấp hành tốt luật lệ giao thông nên các em hiểu bài tốt, tiếp thu bài nhanh

Tự nhiên và Xã hội là một môn học rất hấp dẫn nên việc lồng ghép GD ATGT cho các em thông qua môn học này được các em học rất húng thú, tích cực

Địa hình trường gần đường quốc lộ và các em được quan sát điểm đen

về tai nạn giao thông nên rất dễ dàng trong việc giáo dục ý thức ATGT cho các em

Các dụng cụ trực quan phục vụ cho việc giáo dục ý thức ATGT đa dạng, phong phú và có sẵn trong nhà trường Ngoài ra, trong các tiết dạy về ATGT thì giáo viên luôn sử dụng nhiều PPDH, HTDH và hình ảnh minh họa… gây được hứng thú cho HS

Câu 6: Trong quá trình giáo dục ý thức chấp hành ATGT cho HS thông qua

môn học, cô thường gặp những khó khăn gì ?

Bên cạnh những thuận lợi nêu trên thì các cô cũng đã có nhận thức về những khó khăn sau:

Việc hiểu biết về luật lệ giao thông của các em còn nhiều hạn chế và một số HS chưa hiểu hết tầm quan trọng của việc chấp hành ATGT đặc biệt là các em HS lớp 1 nên các cô còn khó khăn trong việc giáo dục cho các em Đặc điểm tâm lí của HSTH giai đoạn này có tính hay bắt chước thế nhưng một số phụ huynh chưa làm gương cho con em mình Mặt khác phụ huynh vẫn ít quan tâm đến việc GD ATGT cho các em nên việc phối hợp với

Trang 28

nhà trường và địa phương để giáo dục, hình thành thói quen chấp hành tốt ngay từ đầu cho các em vẫn còn nhiều khó khăn

Trên 50% giáo viên cho rằng không có điều kiện để tổ chức cho các em tham quan hay dạy học tại hiện trường chủ yếu là hạn hẹp về thời gian và sợ không kiểm soát tất cả HS, các em dễ gặp nguy hiểm

Từ những kết quả trên, tôi có một số kết luận sau:

+ GV có sự quan tâm, tích cực trong quá trình giảng dạy, giáo dục ATGT cho HSTH

+ GV đã linh hoạt, khéo léo sử dụng nhiều PPDH và HTDH nhằm phát huy hiệu quả cao trong quá trình giáo dục ATGT cho HSTH

+ Các cô cũng đã nhận thức được những thuận lợi và khó khăn khi GD ATGT cho các em

b Khảo sát trên đối tượng là học sinh

Tôi đã tiến hành khảo sát trên đối tượng là học sinh ở khối lớp 2 và 3

- Tổng số phiếu phát ra: 178

- Tổng số phiếu thu vào: 174

Câu 1: Em nhận thấy môn Tự nhiên và xã hội như thế nào ?

Bảng 1.5: Bảng kết quả mức độ nhận thấy môn TNXH

STT Mức độ nhận thấy Kết quả điều tra

Trang 29

Mức độ nhận thấy được biểu thị theo biểu đồ sau:

95.6

2.3

0 2.1 0

10 20 30 40 50 60 70 80 90 100

Mức độ

nhận thấy

Ý nghĩa hấp dẫn Bình thường Rất khô khan Học rất chán

Tỷ lệ %

Biểu đồ 1.5: Biểu đồ biểu thị mức độ nhận thấy về môn TN & XH

Qua kết quả khảo sát trên thì ta thấy đa số các em cho rằng môn TN & XH

là môn rất ý nghĩa và hấp dẫn Số còn lại cho rằng môn này bình thường hoặc học rất chán

Câu 2: Em có hứng thú khi học môn Tự nhiên và Xã hội không?

20 40 60 80 100

Mức độ

hứng thú

Có Bình thường Không

Tỷ lệ %

Biểu đồ 1.6: Biểu đồ biểu thị mức độ hứng thú khi học môn TN & XH

Trang 30

Với kết quả điều tra như trên quả là một điều đáng mừng vì có tới trên 90% học sinh thích học môn TN & XH Đây là một môn học rất bổ ích cho các em và với tỉ lệ HS thích học môn này cao nhu vậy thì sẽ mang lại hiệu quả khi dạy và học môn này

Câu 3: Em có hứng thú khi học các bài học về chủ đề giao thông không?

Có Bình thường Không

Tỷ lệ %

Biểu đồ 1.7: Biểu đồ biểu thị mức độ hứng thú khi học các bài về chủ đề

giao thông trong môn TN & XH

Có đến 159/174 HS có hứng thú khi học các bài học về chủ đề giao thông Một khi các em đã có hứng thú học thì các em sẽ chăm chú nghe giảng

và tiếp thu bài nhanh giúp cho công tác GD ATGT đạt hiệu quả cao

Câu 4: Trước khi học các bài học có tích hợp nội dung giáo dục ATGT, em đã

chấp hành an toàn giao thông như thế nào?

- Tốt: 105/174 chiếm 60,3%

- Bình thường: 52/174 chiếm 29,9%

- Không chấp hành: 17/174 chiếm 9,8%

Trang 31

Mức độ chấp hành được biểu thị theo biểu đồ sau:

60.3

29.9

9.8

0 10 20 30 40 50 60 70

Mức độ chấp hành

Tốt Bình thường Không chấp hành

Tỷ lệ %

Biểu đồ 1.8: Biểu đồ biểu thị mức độ chấp hành trước khi học các bài có

tích hợp nội dung giáo dục ATGT trong môn TN & XH

Theo thống kê ta có khoảng 60% HS biết chấp hành an toàn giao thông Mặc dù chưa học các bài học có tích hợp nội dung giáo dục ATGT thế nhưng các em chấp hành an toàn giao thông với tỉ lệ như vậy là khá cao

Câu 5: Sau khi học các bài học có tích hợp nội dung giáo dục ATGT, em đã

chấp hành an toàn giao thông như thế nào?

20 40 60 80 100

Mức độ

chấp hành

Tốt Bình thường Không chấp hành

Tỷ lệ %

Biểu đồ 1.9: Biểu đồ biểu thị mức độ chấp hành sau khi học các bài có

tích hợp nội dung giáo dục ATGT trong môn TN & XH

Trang 32

Với số liệu thống kê ở trên, ta thấy rằng tỉ lệ HS chấp hành tốt tăng lên

và tỉ lệ HS không chấp hành hoặc chấp hành bình thường giảm xuống đáng

kể Như vậy, các em tiếp thu kiến thức về ATGT rất tốt và đã có nhiều tiến bộ tích cực khi tham gia giao thông

Câu 6: Em có tuyên truyền mọi người xung quanh phải chấp hành luật lệ khi

tham gia giao thông không?

- Thường xuyên: 129/174 chiếm 74,1%

Thường xuyên Thỉnh thoảng Không

Tỷ lệ %

Biểu đồ 1.10: Biểu đồ biểu thị mức độ tuyên truyền mọi người xung

quanh chấp hành luật lệ khi tham gia giao thông

Dựa vào biểu đồ trên ta thấy rằng mặc dù còn rất nhỏ nhưng đã có 129/174 chiếm 74,1% HSTH thường xuyên tuyên truyền mọi người xung quanh phải chấp hành luật lệ khi tham gia giao thông Đây là một tín hiệu đáng mừng vì khi các em biết tuyên truyền mọi người tức là các em đã nhận thức được chính bản thân các em cũng phải chấp hành ATGT

Kết luận: Sau một quá trình tìm hiểu thực tế giáo dục ATGT cho HSTH

qua môn TN & XH lớp 1, 2, 3 ở Trường Tiểu học Hải Vân, tôi đã rút ra một

số kết luận sau:

Trang 33

- Về phía giáo viên:

+ 100% GVTH đã tích hợp và liên hệ thực tiễn đến việc việc giáo dục ý thức chấp hành an toàn giao thông cho học sinh thông qua các bài học trong môn TN & XH

+ GV đã linh hoạt, khéo léo sử dụng nhiều PPDH và HTDH nhằm phát huy hiệu quả cao trong quá trình giáo dục ATGT cho HSTH

+ Các GVTH đã hiểu được tác dụng và ý nghĩa của việc giáo dục ATGT trong trường tiểu học Từ đó, các cô đã có sự quan tâm, tích cực giáo dục ATGT cho các em học sinh của mình

- Về phía học sinh:

+ Đại đa số các em nhận thấy môn TN & XH rất ý nghĩa, hấp dẫn vì thế các em rất thích học môn này

+ Sau khi học các bài học có tích hợp nội dung giáo dục ATGT, các em

đã biết chấp hành tốt và thường xuyên tuyên truyền mọi người xung quanh cũng chấp hành ATGT để có một cuộc sống tốt đẹp hơn

Như vậy, sau một thời gian khảo sát ở trường Tiểu học Hải Vân, tôi thấy việc GD ATGT cho HSTH là rất cần thiết Vấn đề này đã, đang và sẽ nhận được sự quan tâm của thầy và trò trong quá trình dạy và học ở trường

Ngày đăng: 08/05/2021, 21:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w