1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tìm hiểu việc sử dụng thiết bị dạy học để dạy các bài địa lí lớp 4, 5

76 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“TBDH là toàn bộ sự vật, hiện tượng trong thế giới xung quanh tham gia vào quá trình dạy học, đóng vai trò là công cụ hoặc điều kiện để GV và HS sử dụng làm khâu trung gian tác động vào

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC – MẦM NON

- -

NGUYỄN THỊ MỸ LY

Tìm hiểu việc sử dụng thiết bị dạy học

để dạy các bài Địa lí lớp 4, 5

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 2

2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là mục tiêu hàng đầu trong đường lối xây dựng

và phát triển của đất nước ta Để đáp ứng cho nhu cầu phát triển đó, một trong những vấn đề cơ bản cần được quan tâm là hệ thống giáo dục Tại vì giáo dục là một trong những nguồn lực quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước Vì vậy, nghị quyết Trung Ương IV đã chỉ rõ phải đổi mới phương pháp, cách tổ chức dạy học để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Luật Giáo dục, điều 24.2 đã nêu: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát

huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng khả năng tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”

Có thể nói, cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới phát huy tính tích cực học tập cho học sinh mà cấp học đầu tiên là nền tảng vững chắc cho các cấp học tiếp theo thực hiện sự đổi mới và cần được chú trọng là cấp Tiểu học

Trong dạy học ở Tiểu học, Địa lí là một trong những môn học mà GV phải sử dụng nhiều TBDH để HS thu nhận kiến thức có hiệu quả Các TBDH trong môn ĐL

ở TH cũng đã góp phần đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng dạy học TBDH không những là phương tiện minh họa cho lời giảng của GV mà còn là phương tiện giúp GV tổ chức, điều khiển hoạt động học tập, phát triển tư duy cho HS, giúp HS

có cơ hội tự mình phát hiện ra những kiến thức mới

TBDH ĐL ở TH có vai trò quan trọng trong việc chứa đựng nguồn tri thức phong phú và đa dạng, giúp HS lĩnh hội tri thức một cách cụ thể, chính xác, phát triển năng lực tư duy, khả năng tìm tòi, khám phá, vận dụng tri thức Đồng thời giúp

GV tổ chức, điều khiển quá trình nhận thức cho HS một cách chủ động, sáng tạo Mặt khác, những thành tựu của khoa học kĩ thuật và công nghệ ngày càng thâm nhập vào lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có dạy học Các TBDH ngày càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường

Để phát huy được vai trò của TBDH trong việc nâng cao chất lượng dạy học,

Trang 3

hai khâu cơ bản nhất là trang bị và sử dụng thiết bị Trong đó, vấn đề sử dụng hiệu quả TBDH có ý nghĩa quyết định và là khâu đặc biệt quan trọng

HS lớp 4, 5 khi học môn ĐL sẽ gặp rất nhiều sự vật, hiện tượng không phải lúc nào cũng xảy ra trước mắt mình, vì thế các em phải được quan sát chúng trên ảnh, hình vẽ, bản đồ ĐL cũng là một môn học có kiến thức rộng, việc nghiên cứu các kiến thức ĐL là rất trừu tượng với HSTH Nếu không có sự trợ giúp của các TBDH thì khó có thể đạt được kết quả Nhưng, việc sử dụng các TBDH như thế nào

để đạt hiệu quả tốt nhất trong quá trình dạy học là một vấn đề cấp thiết, đáng được quan tâm

Với những lí do trên, tôi đã chọn đề tài “Tìm hiểu việc sử dụng thiết bị dạy

học để dạy các bài Địa lí lớp 4, 5” để làm đề tài khoá luận tốt nghiệp

2 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu hệ thống các TBDH đã được sử dụng trong dạy học môn ĐL lớp 4,

5 Từ đó đề xuất cách sử dụng TBDH để dạy các bài ĐL lớp 4, 5

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình dạy học có sử dụng TBDH để dạy các bài ĐL lớp 4, 5

3.2 Đối tượng nghiên cứu

- Các bài học ĐL lớp 4, 5 có sử dụng TBDH

- Vai trò, nguyên tắc và cách sử dụng TBDH để dạy các bài ĐL lớp 4, 5

- GV và HS lớp 4, 5 trường TH Huỳnh Ngọc Huệ - quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng

- GV lớp 4, 5 trường TH Trần Bình Trọng, trường TH Hải Vân - quận Liên Chiểu,

TP Đà Nẵng

4 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ mục đích trên, tôi đưa ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau

- Tìm hiểu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn về việc sử dụng các TBDH để dạy các bài ĐL lớp 4, 5

- Tìm hiểu nguyên tắc, cách sử dụng các TBDH để dạy các bài ĐL lớp 4,5

Trang 4

Do điều kiện và thời gian hạn chế nên tôi chỉ tìm hiểu việc sử dụng các TBDH

để dạy các bài Địa lí lớp 4, 5

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

Đọc và nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu để thu thập thông tin, cơ sở lí luận cho đề tài

5.2 Phương pháp quan sát

Quan sát các giờ dạy môn Địa lí lớp 4, 5

5.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Thực nghiệm giảng dạy một số giáo án môn Địa lí lớp 4, 5 có sử dụng TBDH

5.4 Phương pháp thống kê, xử lý kết quả

Phân tích, xử lí số liệu, kết quả của việc thực nghiệm và kết quả điều tra thực trạng

5.5 Phương pháp điều tra bằng Anket

Dùng hệ thống câu hỏi để thu thập ý kiến của GV, HS về việc sử dụng TBDH

để dạy các bài Địa lí lớp 4, 5

Trang 5

2: Mục đích nghiên cứu

3: Đối tượng và khách thể nghiên cứu

4: Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

5: Phương pháp nghiên cứu

6: Cấu trúc khoá luận

Phần 2: Phần Nội dung

Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc sử dụng TBDH

để dạy các bài ĐL lớp 4, 5

Chương 2: Tìm hiểu việc sử dụng TBDH để dạy các bài ĐL lớp 4, 5

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Phần 3: Phần Kết luận và kiến nghị

Tài liệu tham khảo

Mục lục

NỘI DUNG

Trang 6

Có rất nhiều khái niệm về TBDH, một số tác giả đã quan niệm rằng:

“TBDH là tổng thể nói chung những máy móc, dụng cụ, phụ tùng cần thiết cho hoạt động dạy và học, chủ yếu đề cập “phần cứng” của phương tiện Phần cứng thường có vai trò truyền tin (mô hình tĩnh hoặc động, máy chiếu các loại, máy tính, camera, máy ghi âm, ) hoặc hình thành và luyện tập kỹ năng (các loại máy, dụng cụ, nguyên vật liệu cho thí nghiệm, thực hành, thực tập sản xuất, )”[13, 3]

“TBDH là toàn bộ sự vật, hiện tượng trong thế giới xung quanh tham gia vào quá trình dạy học, đóng vai trò là công cụ hoặc điều kiện để GV và HS sử dụng làm khâu trung gian tác động vào đối tượng dạy học” [18, 10]

“TBDH là một tập hợp những đối tượng vật chất được GV sử dụng với tư cách là một phương tiện điều khiển hoạt động nhận thức của HS Đối với HS, đó là nguồn tri thức phong phú, sinh động, là các phương tiện giúp cho các em lĩnh hội tri thức và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo” [13, 5]

Từ những khái niệm trên, ta có thể khái quát khái niệm: TBDH là công cụ được GV sử dụng để tác động đến HS trong quá trình dạy học, nhằm thực hiện mục đích dạy và học

1.1.1.2 Phân loại TBDH

Có rất nhiều cách phân loại TBDH:

- Một số tác giả đã chia TBDH thành ba loại:

+ TBDH gồm những tài liệu ĐL như: Các loại bản đồ, lược đồ, mô hình, bảng số liệu, biểu đồ…

+ TBDH kĩ thuật gồm các máy móc và thiết bị như: máy chiếu, máy vi tính…

+ Các cơ sở vật chất dùng để dạy học: phòng triển lãm ĐL, lớp học, vườn ĐL… Đây là điều kiện, tiền đề để dạy học ĐL có hiệu quả

- Một số tác giả lại cho rằng: TBDH là hệ thống đối tượng vật chất và phương tiện kĩ thuật được GV và HS sử dụng trong quá trình dạy học, TBDH được chia

Trang 7

thành 9 loại hình chính sau: Tranh - ảnh giáo khoa, bản đồ - biểu đồ - lược đồ ,

mô hình - vật mẫu - mẫu vật, các dụng cụ dạy học, phim đèn chiếu - phim chiếu bóng, bản trong dùng cho máy chiếu qua đầu, băng - đĩa ghi âm, ghi hình, phần mềm dạy học

- Một cách chia nữa về một số TBDH ĐL cơ bản gồm:

+ Bản đồ: Átlát là nguồn tri thức quan trọng Vì vậy GV cần nghiên cứu kĩ càng nội dung chứa đựng trong bản đồ, từ đó lựa chọn bản đồ phù hợp với nội dung bài học Trên cơ sở đó chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ

+ Máy tính cá nhân: Giúp HS tính toán xử lí số liệu trong Átlát

+ Những thiết bị kĩ thuật hiện đại như: Băng (đĩa) hình, là loại phương tiện có tác dụng cung cấp thông tin bằng hình ảnh

Máy vi tính : Máy vi tính được sử dụng trong dạy họ, có thể giải quyết được các vấn đề cơ bản của quá trình dạy học như: truyền thụ kiến thức, phát triển tư duy, hướng dẫn hoạt động, rèn luyện kĩ năng…

Mạng Internet: Là kênh thông tin khổng lồ và hết sức đa dạng giúp GV và HS tra cứu thông tin bổ sung thêm vào nguồn tri thức của mình

Ngoài ra còn một số phần mềm và các tài liệu khác như sơ đồ, biểu đồ, bảng số liệu thống kê, phiếu học tập

Hiện nay, nhiều tác giả thống nhất quan niệm, TBDH ĐL bao gồm: Các TBDH truyền thống và các TBDH hiện đại

a Các TBDH truyền thống: Bản đồ, tranh - ảnh, mô hình, bảng số liệu, biểu

U C Bilich và A C Vasmuc đã định nghĩa: “Bản đồ giáo khoa là những bản đồ

sử dụng trong mục đích giáo dục, chúng cần thiết cho việc giảng dạy và học tập ở tất cả các cơ sở giáo dục dưới mọi hình thức, tạo nên một hệ thống giáo dục dưới mọi hình thức, tạo nên một hệ thống giáo dục cho tất cả các tầng lớp dân cư từ HS

Trang 8

“Bản đồ giáo khoa là biểu hiện thu nhỏ bề mặt Trái Đất lên mặt phẳng dựa

trên cơ sở toán học Bằng ngôn ngữ bản đồ, phương tiện (đồ hoạ) phản ánh sự phân bố, trạng thái, mối liên hệ tương hỗ của khách thể - tương ứng với mục đích, nội dung và phương pháp của môn học trên những nguyên tắc chặt chẽ của tổng quát hoá bản đồ, phù hợp với trình độ phát triển trí óc của lứa tuổi HS, có xét đến

cả yêu cầu giáo dục thẩm mĩ và vệ sinh học đường” [3, 8]

Mục đích của bản đồ giáo khoa là phục vụ ngành giáo dục Nó rất cần cho việc dạy học ở các cấp học, không có bản đồ giáo khoa thì không thể dạy học ĐL được Người ta không thể sử dụng bản đồ ĐL trong dạy học, vì nó không đảm bảo tính sư

phạm, ta hiểu rằng:“ Bản đồ ĐL là những biểu hiện thu nhỏ, được quy định về mặt

toán học, có tính chất hình ảnh – kí hiệu và được tổng quát hoá về mặt Trái Đất ở trên mặt phẳng Những biểu hiện này trình bày sự phân bố, tình trạng và những mối liên hệ của những hiện tượng tự nhiên và xã hội khác nhau đã được lựa chọn và nêu dặc trưng phù hợp với mục đích của mỗi bản đồ cụ thể” [3, 10]

Tuy nhiên, ngoài tính chất đặc trưng của bản đồ ĐL, bản đồ giáo khoa vẫn còn

có tính chất riêng mà bản đồ ĐL khác không có, đó là tính sư phạm Chính vì tính chất riêng này mà ta có thể hiểu bản đồ giáo khoa là bản đồ ĐL dùng để dạy và học

ĐL trong nhà trường

- Ta cần phân biệt rõ khái niêm bản đồ giáo khoa với khái niệm lược đồ:

Lược đồ là những bản đồ đơn giản, thường không có lưới bản đồ, thiếu yếu tố toán học (tỉ lệ bản đồ, hệ thống kinh tuyến, vĩ tuyến ) nên không sử dụng để đo, tính khoảng cách mà chỉ được dùng để cho ta khái niệm chung về các hiện tượng (sự kiện), nhận biết một vài đặc điểm của chúng

Thứ hai: Tranh ảnh Địa lí

Trang 9

Dù lời nói của thầy có hay, có sinh động, hấp dẫn đến đâu thì cũng không có

gì có thể thay thế tranh ảnh Điều đặc biệt nữa là HS không thể đến tận nơi để quan sát và tiếp xúc trực tiếp với những đối tượng đó, có nghĩa là HS khó có thể hình dung được một hình ảnh cụ thể và tiệp nhận kiến thức đầy đủ và dễ dàng được Trong dạy học ĐL, có rất nhiều loại tranh ảnh, như: Các tranh ảnh treo tường, các tranh ảnh trong sách giáo khoa, tranh ảnh do GV sưu tầm,

Tranh ảnh ĐL là phương tiện trực quan được GV sử dụng để minh hoạ cho nội dung bài giảng Nó không chỉ giúp HS nhận thức được sự vật, hiện tượng ĐL một cách thuận lợi, sinh động mà còn còn là nguồn tri thức để HS khai thác, tìm tòi, phát hiện ra những kiến thức ĐL ẩn tàng trong đó

Thông qua tranh ảnh, GV hình thành cho HS các biểu tượng, khái niệm ĐL một cách dễ dàng, chính xác, khoa học và khắc sâu nội dung bài học, giúp HS giảm thiểu việc ghi nhớ máy móc Do đó, ta có thể định nghĩa tranh ảnh như sau:

“Tranh ảnh ĐL là những tài liệu đặc biệt được sao chép một cách trực quan các hiện tượng ĐL thuộc các thời kì và các khu vực khác nhau trên trái đất Các tài liệu ấy có khả năng thay thế phần nào cho những quan sát trực tiếp những đối tượng ĐL phân bố rộng rãi trong không gian”[10, 8]

Thứ ba: Mô hình

Trong vật lí học, mô hình được hiểu là một hệ thống được hình dung trong óc hay được thực hiện một cách vật chất, hệ thống đó phản ánh những bản chất của đối tượng nghiên cứu hoặc tái tạo nó Bởi vậy, việc nghiên cứu mô hình sẽ cung cấp cho ta những thông tin mới về đối tượng

Theo cách hiểu trên, cần đặc biệt chú ý đến sự khác biệt giữa mô hình với đối tượng vật chất Một mô hình chỉ phản ánh một số tính chất của đối tượng vật chất Cùng một đối tượng vật chất nhưng có thể có nhiều mô hình khác nhau

Khái niệm “mô hình” theo định nghĩa chung nhất của nó thì là một cái gì đó (một vật thể, một sự biểu đạt hình tượng…) thay thế cho cái nguyên gốc, nó cho phép thay thế cái nguyên gốc này bởi sự trung gian cho dễ hiểu hơn, dễ đạt tới hơn đối với nhận thức Quan hệ giữa mô hình với thực tế có thể hoặc là sự tương đối về hình thức bề ngoài hoặc là sự tương tự của cái cấu trúc bị che khuất, hoặc là sự tương tự chức năng, hiệu quả

Trang 10

10

Trong lĩnh vực ĐL, mô hình được định nghĩa là: “Những vật có hình dạng, có

thể thu nhỏ hoặc phóng to, nhằm mô phỏng cấu tạo hoạt động của vật gốc để trình bày, nghiên cứu, học tập”[9, 5]

Thứ tư: Bảng số liệu

Mục đích của việc đưa các số liệu vào bảng là muốn đặt các số liệu có liên quan với nhau, ở vị trí gần nhau để người đọc dễ dàng nhận xét, so sánh, từ đó rút ra được kết luận có căn cứ về các hiện tượng Có thể định nghĩa bảng số liệu như sau:

Các số liệu thống kê được đưa ra dưới hình thức tập hợp thành bảng gọi là bảng

số liệu” [10, 10].

Bảng số liệu gồm hai loại chính

Bảng số liệu đơn giản: Là bảng gồm có nhiều số liệu, nhưng trong đó chỉ nói

về một nội dung

Bảng số liệu phức tạp: Là bảng gồm có nhiều số liệu cùng nói về một nội dung nào đó song lại chia ra nhiều đề mục có quan hệ với nhau

Thứ năm: Biểu đồ

“Biểu đồ là cấu trúc đồ hoạ dùng để biểu hiện một cách trực quan hoá bảng

số liệu thống kê về quá trình phái triển của một hịên tượng, mối quan hệ về thời gian và không gian giữa các hiện tượng” [15, 18]

Như vậy, tạm hiểu việc trực quan hoá các số liệu thống kê là khái niệm biểu đồ Biểu đồ có nhiều loại:

Loại biểu đồ biểu hiện các số liệu thống kê về quá trình phát triển của hiện tượng gồm biểu đồ hình cột và biểu đồ treo đường

Loại biểu đồ biểu hiện cơ cấu của hiện tượng gồm có biểu đồ hình tròn, biểu

đồ hình chữ nhật, biểu đồ hình vuông và biểu đồ hình tam giác

Thứ sáu: Sơ đồ

Sơ đồ là một trong những TBDH tự tạo, sử dụng hiệu quả, có tính khả thi cao Lịch sử nghiên cứu của các nhà khoa học, các chuyên gia ĐL đã cho thấy:

“Sơ đồ là một trong những loại TBDH trực quan (dạng mô hình) đem lại hiệu

quả khá cao trong quá trình dạy học Địa lí”[17, 17]

Trang 11

Thực tế cũng đã khẳng định: Sơ đồ đang dần dần trở thành một trong những TBDH, được sử dụng một cách khá phổ biến và rộng rãi trong việc giảng dạy ĐL ở các trường học nói chung

Thứ bảy: Các phiếu học tập

“Phiếu học tập là những tờ giấy rời có nội dung hướng dẫn, yêu cầu HS làm việc

trong một thời gian ngắn tại lớp học và được làm ở nhà trước mỗi bài học” [18, 6]

Thành phần cơ bản của phiếu học tập là:

- Phần định hướng của GV, bao gồm các câu hỏi hay các yêu cầu hoàn thành một nội dung kiến thức nhất định

- Phần kết quả học tập trên phiếu, đó là nội dung HS hoàn thành trên phiếu

Các thiết bị hiện đại được sử dụng trong dạy học ĐL ở nhà trường TH hiện nay gồm có: video- băng hình, máy chiếu Overhead, máy vi tính và các phần mềm

hỗ trợ cho việc dạy học…

Thứ hai: Máy chiếu overhead

Máy chiếu Overhead dùng để chiếu các nội dung ĐL được in vào giấy bóng Đây là phương tiện được sử dụng rộng rãi ngày nay, nhằm phóng to chữ, hình ảnh,

Trang 12

12

bản đồ để chiếu cho HS thấy rõ Nhờ vào thiết bị này, HS không chỉ nhận thức bằng thính giác mà cả thị giác, nên ấn tượng về nội dung học tập rõ nét và sâu sắc hơn Thứ ba: Máy tính và các phần mềm hỗ trợ cho việc dạy học

Nhờ vào các chức năng lưu trữ, xử lí và cung cấp thông tin…Máy vi tính có thể giải quyết được các nhiệm vụ cơ bản của quá trình dạy học như: truyền thụ kiến thức, phát triển tư duy, rèn luyện kĩ năng thực hành, ôn tập, củng cố, kiểm tra đánh giá Hiện nay, máy vi tính với hệ thống đa phương tiện (multimedia) ra đời đã tăng cường khả năng phổ cập máy vi tính

Multimedia được hiểu là đa phương tiện, đa môi trường, đa truyền thông: Một phương pháp giới thiệu thông tin bằng máy vi tính, sử dụng nhiều dạng truyền thông như văn bản, đồ hoạ và âm thanh cùng với sự gây ấn tượng bằng tương tác (Interactive) Thông tin multimedia được thể hiện ở các dạng: dạng văn bản (Text), dạng hình họa (Graphics), dạng hoạt ảnh (Animation), dạng ảnh chụp (Image), dạng Video và Audio

Ngày nay, do sự phát triển nhanh chóng của công nghệ phần cứng mà cấu hình của hệ Multimedia đã vượt xa tiêu chuẩn MPC, hàng loạt các thiết bị kĩ thuật số ra đời như: máy quét, cắt ảnh, máy chụp ảnh, máy quay phim, thiết bị ghi âm làm cho hệ thống Multimedia ngày càng trở nên hoàn hảo, đáp ứng hầu hết các nhu cầu của đời sống xã hội

Trong hàng loạt thiết bị ấy, ổ đĩa CD-ROM đóng vai trò hết sức quan trọng Thiết bị này cho phép người sử dụng truy cập thông tin lưu trữ trên đĩa CD ở nhiều dạng (multifomat) khác nhau (văn bản, hình ảnh tĩnh, âm thanh, hoạt hình, phim ) CD-ROM được sử dụng và tra cứu thông tin như trong một thư viện nhỏ nhưng có tốc độ tìm kiếm thông tin rất nhanh Nhờ có khả năng lưu trữ một lượng lớn thông tin theo nhiều dạng khác nhau và tốc độ truy cập lớn mà đĩa CD-ROM đã được sử dụng cho nhiều mục đích Với kĩ thuật nén dữ liệu mới, có thể xếp được 250.000 trang văn bản trong một đĩa CD-ROM Trong giáo dục xuất hiện thêm một

khái niệm mới: SGK điện tử book), CD-ROM gia sư, học tập điện tử

(E-learning), dạy học có máy tính trợ giúp (computer assisted instruction), đĩa video

tương tác (interactive videodisk) Sự ra đời của hệ thống đa phương tiện đã làm thay

đổi diện mạo, vai trò của máy vi tính với tư cách là một TBDH [7, 10]

Trang 13

Trong điều kiện hiện nay, việc sử dụng phần mềm dạy học vào quá trình giảng dạy là rất hiệu quả Ngoài phần mềm được sử dụng phổ biến như Microsost powerpoint, Microsoft office excel,… có rất nhiều phần mềm dạy học phục vụ cho giảng dạy Địa lí như:

Phần mềm NOVOASOFT PAGEPLAYER 3.0 (NPP),

có khả năng trình chiếu như Power Point, chèn các hình

ảnh, tạo được các sự chuyển động, quỹ tích như Sketchpad

Phần mềm 3D World Map - Một công cụ dạy học địa

lý trực quan Một trong số các công cụ dạy học địa lý trực

quan là mô hình quả địa cầu 3D World Map cung cấp cho

người dùng dưới dạng một chương trình bảo vệ màn hình

(Screen saver) vừa trình bày sự vận động của hành tinh xanh vừa chơi một bản nhạc chuẩn mp3 Nó còn cung cấp thông tin về vị trí địa lý được xác định với các thông

số về kinh tuyến, vĩ tuyến và độ cao so với mặt nước biển, diện tích, dân số của 269 quốc gia cùng với 3.000 thành phố trên toàn thế giới

Phần mềm “Trợ lý” Lecture Recorder (thu âm bài giảng

thật “ nhạy” Giúp thầy cô giáo dùng laptop như máy thu âm

để ghi lại mọi bài giảng quan trọng Ưu điểm của Lecture

Recorder là khả năng thu âm cực “nhạy”, hỗ trợ xuất file dưới

dạng WAV, MP3, OGG để dễ dàng chỉnh sửa bằng các phần mềm chuyên dụng

1.1.1.3 Vai trò chung của các TBDH

a Điều khiển hoạt động nhận thức của người học

Đối với HSTH, trước khi được học về một đối tượng ĐL nào đó, các em đã tích luỹ được một số biểu tượng ban đầu do quan sát thực tiễn hoặc do trao đổi, học tập mà có Những biểu tượng dự trữ này không đồng đều giữa các em, mức độ chính xác và sâu sắc của các biểu tượng ở mỗi HS cũng khác nhau Vì vậy, người

GV muốn HS hiểu bài một cách chính xác và sâu sắc thì phải hình thành các biểu tượng, khái niệm từ quan sát trực tiếp các sự vật, hiện tượng ĐL

Tuy nhiên trong các môn học nói chung và đặc biệt môn ĐL nói riêng, không phải lúc nào cũng dễ dàng quan sát các hiện tượng trong thực tiễn Do đó, người ta

sử dụng các dụng cụ, máy móc để tạo nên các hình tượng gián tiếp của các sự vật,

Trang 14

14

hiện tượng- tức là tạo nên các TBDH như tranh ảnh, mô hình, bản đồ, băng hình Nhờ đó, HS có thể quan sát được thiên nhiên, con người trên khắp các vùng miền của đất nước và hoạt động sản xuất của họ Các em còn có thể thấy được hình dạng, vị trí của đất nước Việt Nam, các châu lục và đại dương trên thế giới hay lớn hơn nữa là hình ảnh của Trái Đất chúng ta trong hệ Mặt Trời

Các TBDH giúp HS thu nhận được thông tin về sự vật, hiện tượng ĐL một cách sinh động, tạo điều kiện hình thành biểu tượng, khái niệm ĐL cho HS Biểu tượng về các sự vật, hiện tượng càng rõ ràng, đầy đủ thì chúng giúp cho việc nhận thức càng tốt hơn Nếu thiếu những TBDH này, hoạt động học tập của HS không thể diễn ra hoặc diễn ra rất khó khăn Nói cách khác, trong quá trình dạy học ĐL ở

TH, các TBDH có vai trò là những công cụ giúp GV tổ chức, hướng dẫn và điều khiển các hoạt động nhận thức của HS

b Hình thành và rèn luyện kĩ năng

Trong quá trình làm việc với các TBDH, để tìm ra các kiến thức mới, HS phải tiến hành các thao tác quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp để rút ra kết luận đáng tin cậy Đây chính là các cơ hội giúp các em hình thành và rèn luyện các kĩ năng

ĐL như: Kĩ năng quan sát, kĩ năng sử dụng bản đồ, kĩ năng phân tích số liệu, kĩ năng phân tích mối quan hệ nhân quả,

Việc hình thành và rèn luyện các kĩ năng, kĩ xảo không chỉ giúp cho các em hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập tốt môn ĐL mà còn có ý nghĩa rất lớn trong thực hành, vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn Đây cũng chính là mục đích môn học ĐL

c Hình thành khả năng tư duy trừu tượng

TBDH trong giảng dạy ĐL là chỗ dựa để HS tiến hành các thao tác tư duy cần thiết, lĩnh hội tri thức khoa học và tìm ra những điều chưa biết

Trong quá trình dạy học ĐL lớp 4, 5, các TBDH đều được sử dụng với hai chức năng là minh hoạ và làm nguồn tri thức Nhưng quan trọng và có ý nghĩa nhất vẫn là chức năng làm nguồn tri thức HS vận dụng những kiến thức và kĩ năng đã biết để tìm tòi, phát hiện ra những tri thức mới ẩn tàng trong các nguồn tri thức ấy

HS phải trải qua một quá trình tư duy tích cực mới có thể nhận ra tri thức này Ví dụ: Với một bức tranh ĐL về cảnh hoang mạc, một HS chỉ nhận thức được quang

Trang 15

cảnh hoang mạc “trong đó có các đụn cát, có lạc đà ” một HS khác lại nhận thức được thêm “hoang mạc là một nơi rất hiếm nước” vì trong tranh không thấy các cây cối, sông ngòi, HS thứ ba thì suy luận được: “hoang mạc là nơi có khí hậu khô

nóng, hiếm mưa Những nơi như thế không thuận lợi cho cuộc sống của con người nên dân cư ở đây thưa thớt ” Rõ ràng là cùng một nguồn tri thức nhưng mức độ

nhận thức cuả các em lại khác nhau Chỉ khi trải qua quá trình tư duy tích cực, các

em mới có thể thu được những khái niệm đầy đủ, chính xác nhất

Như vậy, việc sử dụng TBDH một cách đúng phương pháp, đúng mục đích sẽ

có tác động hết sức quan trọng trong việc dạy học các bài ĐL lớp 4, 5 cho HS

d Nâng cao sự hứng thú trong học tập

Trong thực tế, khá nhiều HS nói chung và HSTH nói riêng không muốn học môn ĐL với nhiều lí do khác nhau Có những em vẫn quan niệm rằng, môn học này

là một môn phụ Một số em do khả năng nhận thức có hạn, mức độ tiếp thu chậm nên nhiều phần nội dung kiến thức các em không hiểu và kết quả kiểm tra rất thấp Chính vì những lí do đó mà các em vốn đã không thích học lại càng không muốn học và ngày càng thờ ơ với việc học tập bộ môn này Nhờ sự đa dạng hoá các hình thức tổ chức hoạt động bằng các TBDH trong quá trình giảng dạy ĐL, đã góp phần lôi cuốn, khơi dậy sự ham muốn học tập ở các em

1.1.2 Đặc điểm tâm lí của HSTH

1.1.2.1 Đặc điểm nhận thức

a Tri giác

Tri giác của HSTH mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết và mang tính không chủ đinh, do đó các em phân biệt các đối tượng còn chưa chính xác và dễ mắc sai lầm, có khi còn lẫn lộn [4, 31]

Cuối cấp TH ( lớp 4, 5 ), tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ thích quan sát các sự vật, hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp dẫn, trong quá trình quan sát các em

đã biết chú ý quan sát các chi tiết của đối tượng và đi sâu vào chi tiết riêng rẽ, các

em đã có thể tổng hợp chúng để có được một biểu tượng hoàn chỉnh [14, 31]

Trong sự phát triển của tri giác, vai trò của người GVTH rất lớn, GV không chỉ dạy kĩ năng nhìn mà còn hướng dẫn các em xem xét, không chỉ dạy nghe mà còn dạy cho trẻ biết lắng nghe, tổ chức một cách đặc biệt hoat động của HS để tri

Trang 16

ảnh, mô hình, bản đồ…

b Khả năng chú ý

Sự chú ý có chủ định của HSTH còn yếu, khả năng điều chỉnh chưa mạnh Sự chú ý của HS đòi hỏi một động cở gần thúc đẩy Nếu ở HS các lớp đầu cấp TH thường bắt mình chú ý khi có động cơ gần (được khen, được điểm cao) thì HS các lớp cuối TH chú ý có chủ định được duy trì ngay cả khi có động cơ xa [14, 32] Trong lứa tuổi HSTH, chú ý không chủ định được phát triển Những gì mang tính mới mẻ, rực rỡ, khác thường thì dễ dàng lôi cuốn được sự chú ý của các em Sự chú ý không chủ định càng trở nên mạnh mẽ khi GV sử dụng TBDH thích hợp để gợi cho các em có cảm xúc và học tập tích cực Vì vậy việc sử dụng các TBDH như tranh ảnh, hình vẽ, biểu đồ, mô hình, vật thật hoặc sử dụng các TBDH hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin là điều quan trọng để tổ chức sự chú ý

“Sức tập trung chú ý của HS phụ thuộc vào khối lượng vật thể được chú ý” Cùng một lúc, các em không thể chú ý đến nhiều đối tượng hoặc nhiều chi tiết của đối tượng Do vậy, trong quá trình sử dụng TBDH, GV không nên yêu cầu HS quan sát nhiều đối tượng trong cùng một lúc mà cho học quan sát từng đối tượng riêng rẽ với từng nhiệm vụ cụ thể

“Độ bền vững và chú ý của các em phụ thuộc vào đối tượng chú ý và mức độ hoạt động với sự vật” Vì thế, các thiết bị như bản đồ, lược đồ, bảng số liệu, tranh ảnh phục vụ việc dạy học ĐL phải rõ ràng, đơn giản và trong đó chủ yếu chỉ nên thể hiện các đối tượng ĐL cần thiết nhất GV cũng cần phải tạo điều kiện tối đa cho các em làm việc với chúng

c Tư duy

Tư duy của HSTH là tư duy cụ thể, mang tính hình thức bằng cách dựa vào đặc điểm trực quan của những đối tượng và hiện tượng cụ thể [14, 32]

Trang 17

+ Về khả năng phân tích khái niệm: Nhờ ảnh hưởng của việc học, HSTH dần dần chuyển từ nhận thức các mặt bên ngoài của sự vật, hiện tượng đến nhận thức các thuộc tính bên trong và dấu hiệu bản chất của sự vật, hiện tượng

+ Về khả năng khái quát hoá: HS lớp 4, 5 thường quan tâm đến dấu hiệu trực quan của đối tượng

+ Hoạt động phân tích – tổng hợp còn sơ đẳng: Trong dạy học môn lớp 4, 5

GV nên sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học kết hợp với việc sử dụng các TBDH để tổ chức hoạt động học tập nhằm phát huy tính chủ động học tập cho HS

d Trí nhớ

Do hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất ở HSTH tương đối chiếm ưu thế nên trí nhớ trực quan – hình tượng phát triển hơn trí nhớ từ ngữ logic Các em ghi nhớ và giữ gìn chính xác những sự vật, hiện tượng cụ thể nhanh hơn và tốt hơn những định nghĩa, những lời giải thích dài dòng [14, 32]

Nắm được điều này, GV phải giúp các em biết cách khái quát hoá và đơn giản mọi vấn đề, giúp các em xác định đâu là nội dung cần ghi nhớ, các từ ngữ đúng để diễn đạt nội dung cần ghi nhớ phải đơn giản dễ hiểu, dễ nắm bắt, dễ thuộc và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lý hứng thú và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức, tránh ghi nhớ máy móc, học vẹt

Trong dạy học môn ĐL lớp 4, 5, để giúp các em nhớ nhanh, nhớ lâu những nội dung của bài học, GV cần tổ chức cho các em trực tiếp làm việc với các TBDH để các em tự tìm ra kiến thức

e Tưởng tượng

Tưởng tượng là một trong những quá trình nhận thức quan trọng Tưởng tượng của HS phát triển không đầy đủ thì nhất định gặp khó khăn trong học tập Khi HS học ĐL, nhất thiết phải có các biểu tượng về cảnh quan, phong tục, khí hậu của các vùng, các nước

HS lớp 4, 5 đã có khả năng gọt dũa, nhào nặn những biểu tượng cũ để sáng tạo

ra những biểu tượng mới Dựa vào đặc điểm này, GV không những có thể sử dụng TBDH để hình thành các biểu tượng kí ức mà còn có thể hình thành biểu tưởng mới cho các em

1.1.2.2 Nhân cách của HSTH

Trang 18

18

a Tính cách

Tính cách của các em hình thành từ thời kỳ trước TH Các em hồn nhiên trong mọi quan hệ, tin vào mọi điều như sách vở, người lớn… Tất nhiên niềm tin ấy chỉ là cảm tính Người GV nên tận dụng niềm tin này để giáo dục các em Thầy cô giáo phải làm mẫu đúng, lời nói phải đi đôi với việc làm

b Nhu cầu nhận thức

Những năm đầu bậc TH, nhu cầu nhận thức của HS rất rõ, nét đặc biệt là nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh, khát vọng hiểu biết đầu tiên là nhu cầu tìm hiểu những sự việc riêng lẻ, hình tượng riêng biệt (lớp 1, 2), sau đó là nhu cầu phát hiện những nguyên nhân, quy luật, các mối quan hệ (lớp 3, 4, 5) [14, 39]

Nếu các em không có nhu cầu nhận thức thì không có tính tích cực trí tuệ Nhu cầu nhận thức khi đã được thoã mãn với đối tượng này nó lại ảnh hưởng vào đối tượng mới Đây là tính không ngừng nghĩ của nhu cầu này Quá trình nhận thức không tách khỏi hiện thực thực tiễn của trẻ Vì thế GV cần tổ chức hoạt động học của trẻ, làm cho HS tin vào khả năng của mình, từ đó các em khắc phục được khó khăn tự mình chiếm lĩnh tri thức, học tập suốt đời

c Tình cảm

Đối với HSTH, tình cảm có vị trí đặc biệt và nó là khâu trọng yếu gắn liền nhận thức và hành động của trẻ Tình cảm tích cực không chỉ kích thích HS nhận thức mà còn thúc đẩy trẻ hoạt động Tình cảm, cảm xúc của HSTH có những đặc điểm sau: [14, 39]

Đối tượng gây xúc cảm cho HSTH thường là những sự vật, hiên tượng cụ thể, sinh động Do đó, để giáo dục tình cảm cho HS thì phải đi từ những hình ảnh trực quan, thực tế

Nắm được đặc điểm tình cảm của HSTH thì trong dạy học môn ĐL, GV cần phải sử dụng các TBDH như: bản đồ các vùng - miền nước ta, tranh ảnh về thiên nhiên - quê hương - đất nước, các danh lam thắng cảnh , kết hợp với lời nói Nhằm tác động có hiệu quả trong việc giáo dục đạo đức, lòng yêu quê hương, đất nước sâu sắc hơn Đồng thời hoạt động học tập của các em cũng trở nên tích cực hơn

Trang 19

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.2.1 Nội dung chương trình, đặc điểm sách giáo khoa ĐL lớp 4, 5

1.2.1.1 Nội dung chương trình SGK ĐL lớp 4, 5

a Mục tiêu chương trình dạy học

Kĩ năng: Bước đầu hình thành và rèn cho HS một số kĩ năng ĐL như: Kĩ năng quan sát các sự vật, hiện tượng ĐL, kĩ năng quan sát bản đồ, kĩ năng nhận xét, so sánh, phân tích bảng số liệu, biểu đồ, kĩ năng phân tích các mối quan hệ ĐL đơn giản Thái độ: Góp phần bồi dưỡng và phát triển ở HS thái độ và thói quen ham hiểu biết, yêu đất nước, thiên nhiên, con người, có ý thức và hành động bảo vệ môi trường

b Nội dung chương trình lớp 4, 5

Lớp 4

- Bản đồ và cách sử dụng Bản đồ địa hình Việt Nam

- Thiên nhiên và hoạt động của con người ở miền núi và trung du

+ Đặc điểm tiêu biểu của thiên nhiên (địa hình, khí hậu, sông ngòi)

+ Cư dân (mật độ dân số không lớn, ba dân tộc tiêu biểu với nét đặc trưng về trang phục, lễ hội)

+ Hoạt động sản xuất gắn với tài nguyên rừng, sức nước, đất, khoáng sản (khai thác chế biến gỗ, quặng, trồng trọt, chăn nuôi gia súc, thuỷ điện, ) Hoạt động dịch vụ (giao thông miền núi và chợ phiên)

+ Thành phố vùng cao (Đà Lạt)

Trang 20

20

- Thiên nhiên và hoạt động của con người ở miền đồng bằng (đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng Nam Bộ)

+ Đặc điểm tiêu biểu của thiên nhiên (địa hình, khí hậu, sông ngòi)

+ Cư dân (mật độ dân số lớn, ba dân tộc tiêu biểu với nét đặc trưng về trang phục, lễ hội)

+ Hoạt động sản xuất gắn với tài nguyên đất, nước, khí hậu, sinh vật (trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông, thuỷ sản Hoạt động dịch vụ (giao thông…)

+ Thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Cần Thơ

- Thiên nhiên và hoạt động của con người ở miền duyên hải (dải đồng bằng duyên hải miền Trung)

+ Đặc điểm tiêu biểu của thiên nhiên (địa hình, khí hậu, đất, nước, sinh vật)

+ Cư dân (dân cư khá đông đúc, hai dân tộc tiêu biểu với nét đặc trưng về trang phục, lễ hội)

+ Hoạt động sản xuất gắn với tài nguyên (trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt và chế biến hải sản)

+ Thành phố: Huế, Đà Nẵng

- Biển Đông, các đảo, quần đảo

+ Sơ lược về thiên nhiên, giá trị kinh tế của biển, đảo

+ Khai thác dầu khí và đánh bắt, chế biến hải sản

Lớp 5:

* ĐL Việt Nam

- Tự nhiên:

+ Sơ lược về vị trí ĐL, diện tích, hình dạng nước ta

Một số đặc điểm nổi bật về địa hình, khoáng sản, khí hậu, sông, biển, các loại đất chính và động, thực vật (sự phân bố và giá trị kinh tế)

- Dân cư:

+ Sơ lược về số dân, sự gia tăng dân số và hậu quả của nó

+ Một số đăc điểm nổi bật về các dân tộc Việt Nam, sự phân bố dân cư

- Kinh tế:

+ Một số đặc điểm nổi bật về tình hình phát triển và sự phân bố nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp

Trang 21

+ Đặc điểm nổi bật về tình hình phát triển kinh tế và sự phát triển công nghiệp + Một số đặc điểm nổi bật về giao thông, thương mại, du lịch

* ĐL thế giới

- Bản đồ thế giới

- Vị trí và một số đặc điểm, đặc trưng từng châu lục, đại dương trên thế giới

- Vị trí và một số đặc điểm nổi bật của khu vực Đông Nam Á

- Vị trí, thủ đô và một số đặc điểm nổi bật của một số quốc gia tiêu biểu ở các châu lục: Trung Quốc, Lào, Cam-pu-chia, Nga, Pháp, Ai Cập, Hoa Kì, Ô-xtrây-li-a

1.2.1.2 Đặc điểm SGK ĐL lớp 4, 5

a Về thiết kế

Sách được trình bày với khổ 17cm x 24cm, cách trình bày thoáng, cỡ chữ to,

số lượng kênh hình nhiều và kích thước các hình phù hợp với HSTH

b Cách trình bày chung của SGK ĐL 4, 5

Sách giáo khoa ĐL ở TH kênh chữ đóng vai trò chủ yếu trong việc cung cấp kiến thức Tuy nhiên, số lượng kênh hình nhiều và đa dạng về thể loại Nó không chỉ minh hoạ cho kênh chữ mà còn là nguồn cung cấp kiến thức, rèn luyện kĩ năng cho HS, cụ thể:

Lớp 4 có 16 lược đồ, 115 tranh ảnh và 8 bảng số liệu

Lớp 5 có 16 lược đồ, 50 tranh ảnh, 7 bảng số liệu và 3 biểu đồ

* Cách trình bày một bài học: Mỗi bài học gồm 4 phần

Tên bài, phần cung cấp kiến thức bằng kênh chữ - kênh hình, phần câu hỏi hoặc yêu cầu các hoạt động học tập và phần tóm tắt trọng tâm của bài được đóng khung

1.2.2.1 Đối tượng điều tra

Đối tượng điều tra là GV đang giảng dạy lớp 4, 5 tại trường TH Do điều kiện khách quan và thời gian hạn chế nên tôi chỉ tiến hành điều tra tại trường TH Huỳnh

Trang 22

22

Ngọc Huệ - quận Thanh Khê, trường TH Trần Bình Trọng – quận Liên Chiểu, Trường TH Hải Vân - quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng

1.2.2.2 Nội dung điều tra

Nhận thức của GV về việc sử dụng TBDH để dạy các bài ĐL lớp 4, 5

Mức độ sử dụng các TBDH để dạy các bài ĐL lớp 4, 5

Những thuận lợi, khó khăn của GV khi sử dụng TBDH để dạy các bài ĐL lớp 4, 5

1.2.2.3 Phương pháp điều tra

a Phương pháp điều tra bằng Anket (Phiếu điều tra): Tôi đã soạn ra hệ

thống các câu hỏi điều tra để làm rõ những nội dung trên

b Phương pháp xử lí, thống kê: Việc tiến hành xử lí, thống kê những phiếu

thăm dò ý kiến của GV thu lại được là cơ sở để tôi nhận xét vấn đề cần điều tra

c Phương pháp đàm thoại: Thông qua trao đổi, trò chuyện với GV để biết rõ

hơn về những khó khăn của GV khi sử dụng TBDH để dạy các bài Địa lí lớp 4, 5

1.2.2.3 Kết quả điều tra

Tổng số phiếu phát ra là 18, tổng số phiếu thu vào là 18

Câu 1: Theo thầy cô, việc sử dụng các TBDH trong dạy học ĐL có cần thiết

Tổng tỉ lệ phần trăm (%)

Rất cần thiết Cần thiết Không cần thiết

Huỳnh Ngọc Huệ Trần Bình Trọng Hải Vân

Trang 23

Biểu đồ 1.1: Mức độ nhận thức của GV về việc sử dụng TBDH

Câu 2: Để phục vụ cho dạy và học ĐL, trường thầy (cô) đang công tác được trang

bị những TBDH nào dưới đây ?

Bảng 1.2: Kết quả thể hiện tình hình trang bị TBDH ĐL ở tường TH

Huỳnh Ngọc Huệ

Trần Bình Trọng

Hải Vân

Tổng tỉ lệ phần trăm (%)

7 Các thiết bị khác như: máy

tính nối mạng, tivi trình chiếu 6 33,3% 33,3%

Biểu đồ 1.2: Tình hình trang bị TBDH ĐL ở trường TH

Câu 3: Trang thiết bị dạy học ĐL hiện nay ở trường thầy (cô) đang công tác có đáp

ứng nhu cầu sử dụng không?

-Tra nh, ả nh

có nội dung ĐL

Hình vẽ,

bả ng số liệu, biểu đồ

Mô hình,

vậ t mẫ u

Má y chiếu overhea d

Phòng

má y vi tính

Cá c thiết

bị khá c như: má y tính nối

mạ ng, tivi trình chiếu Huỳnh Ngọc Huệ Trầ n Bình Trọng Hả i Vâ n

Trang 24

Tổng tỉ lệ Phần trăm (%)

- 14 GV (chiếm 77,8%) trả lời thỉnh thoảng sử dụng tranh, ảnh có nội dung

ĐL và 2 GV (chiếm 11,1%) trả lời thường xuyên sử dụng trong quá trình giảng dạy

- 18 GV (chiếm 100%) trả lời thỉnh thoảng sử dụng hình vẽ, bảng số liệu, biểu

đồ trong quá trình giảng dạy

- 9 GV (chiếm 50%) trả lời chưa bao giờ sử dụng mô hình, vật mẫu và 9 GV trả lời thỉnh thoảng sử dụng mô hình, vật mẫu trong quá trình giảng dạy

- 18 GV (chiếm 100%) trả lời chưa bao giờ sử dụng máy chiếu overhead và máy chiếu projector

Câu 5: Thầy (cô) sử dụng TBDH vào quá trình dạy học ĐL nhằm mục đích gì?

Bảng 1.4: Kết quả thể hiện mục đích sử dụng TBDH ĐL của GV

Trang 25

Tổng tỉ lệ phần trăm (%)

HS tìm tòi, khá m phá

Kích thích sự hứng thú học tậ p của HS

Giúp HS hình thà nh và rèn luyện

kĩ nă ng ĐL Huỳnh Ngọc Huệ Trầ n Bình Trọng Hả i Vâ n

66.7%

33.4% 33.4%

16.8%

Trang 26

26

Biểu đồ 1.5: Mức độ hứng thú của HS khi GV sử dụng TBDH trong quá trình

giảng dạy môn ĐL Câu 7: Khả năng sử dụng máy vi tính của thầy (cô) như thế nào?

Bảng 1.6: Kết quả thể hiện khả năng sử dụng máy vi tính của GVTH

Huệ

Trần Bình Trọng Hải Vân

Tổng tỉ lệ phần trăm (%)

Trang 27

TT Trả lời Huỳnh Ngọc

Huệ

Trần Bình Trọng Hải Vân

Tổng tỉ lệ phần trăm (%)

được nhu cầu.

Huỳnh Ngọc Huệ Trầ n Bình Trọng Hả i Vâ n

11.1%

Biểu đồ 1.7: Thực tế về kĩ năng sử dụng TBDH ĐL hiện nay của GVTH

Nhận xét: Qua tìm hiểu và kết quả điều tra cho thấy: Hiện nay, hầu như các trường

TH đều được cấp một số TBDH ĐL truyền thống như: Bản đồ, lược đồ, tranh ảnh, quả địa cầu…Các TBDH hiện đại thì tuỳ vào điều kiện của từng trường, trường ở trung tâm Thành phố như trường TH Huỳnh Ngọc Huệ thì các TBDH hiện đại như máy tính, tivi trình chiếu đều là tự trang bị, chi phí là do nhà trường huy động sự quyên góp của phụ huynh và các tổ chức xã hội Nhưng nhìn chung, phần lớn các trường TH vẫn còn thiếu và chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng TBDH trong dạy học ĐL như hiện nay Điều đó đã gây khó khăn cho GV khi họ phải tự trang bị những TBDH cần thiết cho việc giảng dạy

Do đó, tình trạng dạy “chay” trong quá trình dạy học các bài ĐL lớp 4, 5 là rất phổ biến, nếu GV có sử dụng thì cũng thỉnh thoảng mà thôi Ngoài ra, thông qua

Trang 28

28

điều tra, ta cũng thấy rằng: GV sử dụng TBDH để dạy môn ĐL chỉ để mang tính chất minh hoạ - hỗ trợ cho lời giảng của GV chứ hầu như GV ít quan tâm đến việc khai thác kiến thức ĐL cho HS từ những TBDH đó

Từ thực trạng trên, chúng ta nhận thấy rằng: Với cách tổ chức dạy học và cách

sử dụng các TBDH như hiện nay thì HS trong giờ học ĐL chủ yếu là nghe giảng, quan sát, ghi nhớ một cách máy móc thông tin mà GV truyền đạt Như vậy các em

HS lớp 4, 5 chỉ thụ động trong quá trình học tập, không phát huy được tư duy, sáng tạo để tự tìm tòi, khám phá kiến thức mới với sự hỗ trợ của TBDH và sự hướng dẫn của người GV

Để dạy học ĐL có hiệu quả thì chỉ khi HS là chủ thể tích cực của quá trình nhận thức, tham gia tích cực vào quá trình học tập để chiếm lĩnh tri thức Cho nên, việc nghiên cứu để nâng cao trình độ sử dụng hiệu quả các TBDH là điều tất yếu Thực trạng cho thấy: Các thầy (cô) đều nhận thức rõ vai trò của TBDH đối với môn ĐL, nhưng việc sử dụng TBDH chưa được thường xuyên cho tất cả các bài dạy, hiệu quả cung cấp kiến thức ĐL thông qua TBDH chưa cao Mặc khác, các TBDH vẫn chưa đủ, nhất là các TBDH hiện đại Bên cạnh đó, các thầy (cô) đều trả lời cần được bồi dưỡng thêm kĩ năng sử dụng TBDH, đặc biệt là các TBDH hiện đại

CHƯƠNG 2: TÌM HIỂU VIỆC SỬ DỤNG THIẾT BỊ DẠY HỌC ĐỂ DẠY CÁC BÀI ĐỊA LÍ LỚP 4, 5

2.1 NGUYÊN TẮC SỬ DỤNG THIẾT BỊ DẠY HỌC ĐỂ DẠY CÁC BÀI ĐỊA

LÍ LỚP 4, 5

TBDH là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy quá trình dạy học đạt được mục đích và kết quả cao Vì vậy, để việc sử dụng các TBDH được thuận lợi và hiệu quả trong mỗi giờ học Địa lí thì các TBDH phải đáp ứng được những yêu cầu sau:

Trang 29

từng khối lớp

2.1.4 Tính tiện dụng

Do điều kiện học tập ở các trường TH chưa đồng bộ về cơ sở vật chất, GV phải mang vác TBDH từ các thư viện, phòng thí nghiệm, hoặc do GV tự làm Sau mỗi buổi học GV lại phải mang về thư viện trả lại hoặc cất đi Do vậy, các TBDH phải đảm bảo tính tiện dụng, không quá cồng kềnh để dễ di chuyển

2.1.5 Tính thẩm mĩ

Các đường nét, hình khối, màu sắc của TBDH phải hài hoà, cân đối nhằm giáo dục tính thẩm mĩ cho HS Đồng thời, các TBDH đảm bảo tính thẩm mĩ còn có tác dụng rất lớn là giúp HS hứng thú, say mê học tập

2.2 NÂNG CAO VIỆC SỬ DỤNG THIẾT BỊ DẠY HỌC ĐỂ DẠY CÁC BÀI ĐỊA LÍ LỚP 4, 5

2.2.1 Nâng cao việc sử dụng các TBDH truyền thống

2.2.1.1 Sử dụng bản đồ ĐL lớp 4, 5

a Sơ lược hệ thống bản đồ trong dạy học ĐL lớp 4, 5

Trong dạy học ĐL lớp 4, 5 bản đồ gồm 2 loại: Bản đồ giáo khoa treo tường và lược đồ trong SGK

Trang 30

30

- Một số bản đồ treo tường hiện đang được sử dụng trong trường TH như: Bản đồ tự nhiên thế giới, các nước trên thế giới, bản đồ trống Việt Nam, ĐL tự nhiên Việt Nam, hành chính Việt Nam, kinh tế Việt Nam

- Lược đồ trong sách giáo khoa chiếm một tỉ lệ lớn kênh hình trong SGK ĐL lớp 4, lớp 5

Lớp 4, gồm các lược đồ sau: Lược đồ các dãy núi chính ở Bắc Bộ, các cao nguyên ở Tây Nguyên, một số cây trồng và vật nuôi chính ở Tây Nguyên, các sông chính ở Tây Nguyên, khu trung tâm thành phố Đà Lạt, đồng bằng Bắc Bộ, thành phố Hà Nội, thành phố Hải Phòng, tự nhiên Đông Nam Bộ, thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Cần Thơ, dải đồng bằng duyên hải miền Trung, đầm-phá ở Thừa Thiên-Huế, thành phố Huế, thành phố Đà Nẵng, Biển Đông - các đảo và quần đảo nước ta Nội dung các lược đồ này chủ yếu thể hiện vị trí, giới hạn và đặc điểm của

sự vật, hiện tượng ĐL như sông, núi, khoáng sản, của các vùng miền khác nhau trên đất nước (dựa theo sự phân chia dạng địa hình)

Lớp 5, chia thành 2 loại lớn là: Lược đồ tự nhiên và lược đồ kinh tế - xã hội

- Trong phần ĐL Việt Nam:

+ Các lược đồ tự nhiên gồm có: Lược đồ Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á, lược đồ địa hình, khoáng sản, khí hậu, sông ngòi, lược đồ khu vực Biển Đông, lược

b Vai trò của bản đồ ( bản đồ giáo khoa, lược đồ)

Bản đồ giúp HS nhìn bao quát khu vực trong một lãnh thổ rộng lớn, xa xôi trên bề mặt trái đất mà các em chưa bao giờ có điều kiện đi đến tận nơi để quan sát Bản đồ phản ánh sự phân bố, những mối quan hệ của các đối tượng ĐL trên bề mặt Trái Đất một cách cụ thể mà không phương tiện nào khác có thể làm được

Trang 31

Bản đồ giúp HS khai thác, củng cố tri thức, phát triển tư duy ĐL Do đó, bản

đồ là phương tiện trực quan, là nguồn tri thức ĐL rất quan trọng Những kí hiệu, màu sắc, cách biểu hiện trên bản đồ là những nội dung đã được mã hoá, trở thành một thứ ngôn ngữ đặc biệt- ngôn ngữ bản đồ

Ở TH, yêu cầu về kiến thức và kĩ năng ĐL chưa đòi hỏi HS phải học về hệ thống kinh tuyến, vĩ tuyến hoặc thực hành đo, tính Mặt khác, HSTH có một số đặc điểm tâm lí như: Tri giác còn mang tính cụ thể, chú ý không chủ định Do đó, lược

đồ được sử dụng nhiều hơn trong quá trình dạy học

Để khai thác được những tri thức trên bản đồ, trước hết HS phải hiểu bản đồ, đọc được bản đồ (nghĩa là phải nắm được những kiến thức về bản đồ), trên cơ sở đó

có được những kĩ năng làm việc với bản đồ Vì vậy, việc hình thành kĩ năng sử dụng bản đồ trong học tập ĐL cho HS là một nhiệm vụ quan trọng đối với GVTH

c Rèn kĩ năng sử dụng bản đồ cho HS lớp 4, 5

Ngoài 2 bài làm quen với bản đồ ở đầu SGK ĐL lớp 4, không có bài học nào dành riêng cho việc rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ cho HS Vì vậy, trong dạy học GV cần phải biết kết hợp chặt chẽ giữa việc giúp HS lĩnh hội kiến thức với việc hình thành, phát triển kĩ năng sử dụng bản đồ cho các em

Một là: Rèn kĩ năng xác định phương hướng trên bản đồ

Ở lớp 4, yêu cầu về kĩ năng xác định phương hướng mới chỉ tập trung ở việc

HS biết cách xác định bốn hướng chính: Đông, Tây, Nam, Bắc trên bản đồ

Đến lớp 5 HS phải xác định thêm bốn hướng phụ nữa là: Đông Bắc, Đông Nam, Tây Bắc, Tây Nam Để hình thành, phát triển kĩ năng xác định phương hướng cho HS, đầu tiên GV phải yêu cầu HS phải nhớ các quy định về hướng trên bản đồ Với những bản đồ tỉ lệ lớn, người ta thường quy ước: Phía trên bản đồ là hướng Bắc, dưới là hướng Nam, bên phải là hướng Đông và bên trái là hướng Tây

GV chỉ cần giới thiệu để HS chấp nhận là trên bản đồ có những dòng kẻ dọc

và kẻ ngang (Vì HS lớp 4, 5 chưa được học về kinh tuyến, vĩ tuyến trên bản đồ) Đường kẻ dọc là kinh tuyến, kẻ ngang là vĩ tuyến Đầu phía trên của kinh tuyến là hướng Bắc, đầu dưới là hướng Nam, đầu bên phải là hướng Đông, bên trái

là hướng Tây Khi đã biết bốn hướng chính, các em HS sẽ tự tìm ra các hướng phụ trên bản đồ: Giữa Bắc và Đông là Đông Bắc, giữa Đông và Nam là Đông Nam…

Trang 32

Ví dụ: Khi dạy bài: Địa hình khoáng sản (SGK LS và ĐL 5), để rèn kĩ năng

xác định phương hướng trên bản đồ, GV có thể đưa ra một số bài tập sau:

Quan sát lược đồ địa hình Việt Nam, em hãy

Hai là: Rèn kĩ năng tìm và chỉ vị trí ĐL của các đối tượng trên bản đồ

GV cần đưa ra những bài tập yêu cầu HS dựa vào bảng chú giải và các kí hiệu, chữ viết trên bản đồ để xác định vị trí của một đối tượng nào đó như: Dựa vào bản

đồ hành chính Việt Nam, hãy tìm và chỉ vị trí của thủ đô Hà Nội, thành phố Cần Thơ, tỉnh Thừa Thiên Huế hoặc dựa vào bản đồ tự nhiên Việt Nam hãy tìm và chỉ

vị trí của dòng sông Hồng, dãy núi Hoàng Liên Sơn

GV hướng dẫn cho HS khi chỉ vị trí một dòng sông, phải chỉ xuôi theo dòng chảy từ thượng nguồn đến hạ nguồn chứ không chỉ theo hướng ngược lại hoặc chỉ một điểm trên dòng sông Khi chỉ vị trí một thành phố, thị xã phải chỉ vào kí hiệu thể hiện thành phố, thị xã chứ không chỉ vào chữ ghi tên thành phố, thị xã Khi chỉ vào một vùng lãnh thổ (một tỉnh, một khu vực, một quốc gia nào đó ) thì phải chỉ theo đường biên giới khép kín của vùng lãnh thổ đó

Để HS nhanh chóng tìm ra các đối tượng ĐL trên bản đồ, GV nên chú ý cho

HS một số dấu hiệu đặc trưng, dễ nhận biết về hình dáng, kích thước của đối tượng

Tên dãy núi Hướng núi

Hoàng Liên Sơn …………

Hướng núi Tên dãy núi Hình cánh cung ………

Trang 33

(câu hỏi ở đây là giống cái gì) Ví dụ: Lãnh thổ phần đất liền của Việt Nam có hình giống chữ S, đồng bằng sông Hồng có hình giống như một tam giác

Ngoài ra, GV cũng cần hướng dẫn cho HS, nên dựa vào toàn bộ khung cảnh

để nhận rõ vị trí của đối tượng trong khung cảnh đó, nghĩa là HS phải nhớ một số đối tượng ĐL xung quanh làm điểm tựa để nhanh chóng tìm ra đối tượng ĐL cần tìm Chẳng hạn HS biết được vị trí đèo Hải Vân thì HS dễ dàng tìm ra vị trí hai thành phố Huế và Đà Nẵng (Huế ở phía Bắc đèo Hải Vân còn Đà Nẵng ở phía Nam đèo Hải Vân) Tương tự như vậy, nếu HS biết vị trí của Huế thì cũng nhanh chóng tìm ra vị trí của Đà Nẵng hoặc đèo Hải Vân

Ví dụ 1: Khi dạy bài 2 “Địa hình và khoáng sản” ( SGK LS và ĐL 5) Để rèn

cho HS kĩ năng tìm và chỉ vị trí ĐL của các đối tượng ĐL trên bản đồ, GV có thể đưa ra câu hỏi như sau: Quan sát lược đồ trống tự nhiên Việt Nam

a Viết trên lược đồ các số 1, 2, 3, 4, 5, 6 vào vị trí các dãy núi, cụ thể:

1 Dãy Sông Gâm 4 Dãy Đông Chiều

2 Dãy Ngân Sơn 5 Dãy Hoàng Liên Sơn

3 Dãy Bắc Sơn 6 Dãy Trường Sơn

b Viết trên lược đồ các chữ a, b, c, d, đ, e, g, h vào vị trí các con sông, cụ thể:

a) Sông Hồng Đ) Sông Cả

b) Sông Đà e) Sông Đồng Nai

c) Sông Thái Bình g) Sông Tiền

Ví dụ 2: Khi dạy bài 1 “Dãy Hoàng Liên Sơn” (LS và ĐL 4) Để rèn kĩ năng

tìm vị trí của dãy Hoàng Liên Sơn GV thực hiện 2 bước sau:

Bước 1: GV chỉ vị trí của Dãy Hoàng Liên Sơn trên bản đồ ĐL tự nhiên Việt Nam Yêu cầu HS dựa vào kí hiệu tìm vị trí của dãy Hoàng Liên Sơn ở hình 1, trang 70, SGK

Bước 2: Yêu cầu HS dựa vào lược đồ các dãy núi chính ở Bắc Bộ và kênh hình trong SGK, lần lượt tìm, chỉ trên lược đồ và cho biết:

+ Những dãy núi chính ở phía Bắc của nước ta Dãy núi nào dài nhất?

+ Dãy Hoàng Liên Sơn nằm ở phía nào của sông Đà?

Trang 34

34

+ Dãy Hoàng Liên Sơn dài bao nhiêu km, rộng bao nhiêu km?

+ Đỉnh núi, sườn và thung lũng ở dãy Hoàng Liên Sơn như thế nào?

Ba là: Rèn luyện cho HS kĩ năng đọc và vận dụng bản đồ

Đọc bản đồ là kĩ năng tương đối khó đối với HSTH Các em phải vận dụng đồng thời cả những kiến thức về bản đồ và kiến thức về ĐL để tìm ra những tri thức

ĐL ẩn tàng trên bản đồ

Để rèn cho HS kĩ năng đọc và vận dụng bản đồ, GV cần hiểu: “ Đọc bản đồ là

thông qua những kí hiệu trên bản đồ mà phân tích và nhìn thấy những nét thực tế của khu vực bề mặt Trái Đất được biểu hiện trên bản đồ” ( Theo N.N Baranxki)

[14, 21] Sau đó, hướng dẫn HS đọc bản đồ theo 3 bước (từ dễ đến khó):

- Bước 1: Là bước đơn giản nhất, HS đọc được vị trí các đối tượng ĐL, có được biểu tượng về các đối tượng đó thông qua hệ thống các ước hiệu ghi trong bản

đồ Ở bước này, HS phải nắm được quy trình sau đây:

+ Mục đích của việc cần làm (ví dụ như tìm sông Hồng, Thành phố Hà Nội, tỉnh Sơn La trên bản đồ,…)

+ Vừa dựa vào kí hiệu ở trong bảng chú giải, chỉ và đọc tên các đối tượng ĐL trên bản đồ (đây là Hà Nội, kia là Hải Phòng, đây là sông Mã, kia là sông Lô )

+ Dựa vào các kí hiệu trên bản đồ để tái hiện các biểu tượng ĐL

- Bước 2: Cao hơn bước 1, đòi hỏi HS phải biết dựa vào những hiểu biết về bản đồ, kết hợp với kiến thức ĐL để tìm ra những đặc điểm tương đối rõ ràng của những đối tượng ĐL biểu hiện trên bản đồ Ví dụ như: Nói tới dãy Hoàng Liên Sơn, ngoài việc xác định được vị trí của nó, HS còn phải hiểu được núi cao hay núi thấp, núi có hướng gì Để đọc bản đồ ở giai đoạn này, quy trình cần tiến hành như sau: + Nắm được mục đích việc làm (ví dụ: Dựa vào bản đồ, nhận xét, đối chiếu, so sánh

độ lớn của các đồng bằng miền Trung với các đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long để nêu đặc điểm: Các đồng bằng miền Trung đều nhỏ, hẹp)

+ Đọc bảng chú giải trên bản đồ để biết được kí hiệu quy ước

+ Tái hiện đối tượng ĐL dựa vào kí hiệu ( như: tái hiện biểu tượng dòng chảy của sông Hồng dựa vào kí hiệu đường uốn khúc màu lam, dựa vào màu sắc và mức độ đậm, nhạc của màu sắc để biết và đoán được dãy núi đó cao hay thấp…)

+ Tìm tên và vị trí đối tượng ĐL trên bản đồ

Trang 35

- Bước 3: Khi đọc bản đồ, HS còn phải biết kết hợp những kiến thức bản đồ với kiến thức ĐL sâu hơn để so sánh, phân tích tìm ra mối quan hệ giữa các đối tượng trên bản đồ và rút ra những kết luận ĐL ẩn thấy trên bản đồ Ví dụ: Mối quan

hệ giữa dãy Hoàng Liên Sơn với hướng trung của địa hình Bắc Bộ, với hướng chảy của sông Hồng, với đặc điểm khí hậu của miền Tây Bắc,

Quy trình đọc bản đồ ở bước này giống bước 2 nhưng thêm:

+ Tổng hợp các đối tượng ĐL trong khu vực để tái tạo biểu tượng về khu vực + Dựa vào các đối tượng ĐL đã có trước đây, phân tích các mối quan hệ giữa các đối tượng biểu hiện trên bản đồ rồi rút ra kết luận mới

Tuy nhiên, do khả năng tư duy, tổng hợp, khái quát của HSTH còn hạn chế nên GV không yêu cầu cao mức độ này với HS

Trong quá trình dạy- học ĐL, việc hình thành kĩ năng này liên tiếp được tiến hành từ thấp đến cao, không phân tách riêng biệt

Ví dụ: Trong bài Dãy Hoàng Liên Sơn (SGK LS và ĐL 4), để rèn kĩ năng đọc

- vận dụng bản đồ cho HS, GV có thể đưa ra hệ thống câu hỏi và bài tập để hướng dẫn HS làm việc với bản đồ (lược đồ) như sau:

1 Cho HS quan sát lược đồ các dãy núi chính ở Bắc Bộ

Chỉ tên những dãy núi chính ở Bắc Bộ

Chỉ vị trí dãy Hoàng Liên Sơn trên lược đồ

Chỉ đỉnh núi Phan-xi-păng trên lược đồ và cho biết độ cao của nó

Kí hiệu các dãy núi thể hiện trên lược đồ thể hiện như thế nào?

2 Đánh dấu x vào ô  trước ý trả lời đúng:

Trong các dãy núi chính ở Bắc Bộ, dãy nào dài nhất?

 Dãy Sông Gâm

 Dãy Ngân Sơn

 Dãy Bắc Sơn

 Dãy Đông Chiều

Dãy Hoàng Liên Sơn

Trong quá trình hướng dẫn HS đọc bản đồ, GV nên kết hợp việc rèn luyện kĩ năng mô tả các đối tượng ĐL dựa vào bản đồ như: mô tả dãy núi, một dòng sông, một vùng đất Muốn cho HS biết cách miêu tả một đối tượng ĐL nào đó, GV nên

Trang 36

36

đưa ra dàn ý nói về nội dung cần mô tả cho HS hiểu Ví dụ, khi mô tả về một dòng sông, HS phải mô tả lần lượt theo các ý: Sông bắt nguồn từ đâu? Đổ nước ra đâu? Sông chảy theo hương nào? Sông dài bao nhiêu ki-lô-mét? Đây là sông lớn hay sông nhỏ?

2.2.1.2 Sử dụng tranh ảnh ĐL lớp 4, 5

a Sơ lược hệ thống tranh ảnh trong dạy học ĐL lớp 4, 5

Trong dạy học ĐL lớp 4, 5 có các loại tranh ảnh sau: các tranh ảnh treo tường, các tranh ảnh trong SGK, tranh ảnh do GV sưu tầm,

Lớp 4: Có các tranh ảnh về đê sông Hồng, đồi chè vùng trung du Bắc Bộ, một phần dãy Hoàng Liên Sơn, chợ nổi trên sông, vườn cây ăn quả ở đồng bằng Nam

Bộ, làng chài ven biển

Lớp 5: Có các tranh ảnh về rừng lá kim ôn đới, xa van châu Phi, ba chủng tộc chính trên thế giới, rừng rậm Amadôn

Tranh ảnh dùng trong sách giáo khoa lớp 4 và lớp 5 nhằm giới thiệu, minh hoạ

về thiên nhiên, hoạt động sản xuất và con người của các vùng miền trên đất nước cũng như một số tranh ảnh nói về thiên nhiên, hoạt động sản xuất và con người của một số nước trên thế giới

- Tranh ảnh nói về thiên nhiên, hoạt động sản xuất và con người Việt Nam gồm: cảnh đỉnh Phan-xi-păng, bản người Mông, nhà sàn ở Hoàng Liên Sơn, nhà rông ở Tây Nguyên, cảnh phiên trợ ở vùng cao, ruộng bậc thang ở Hoàng Liên Sơn, một số mặt hàng thủ công truyền thống ở Hoàng Liên Sơn, người Thái, người Mông, người Dao, người Gia-rai, người Ê-đê, người Xơ-đăng, lễ hội cồng chiêng, múa hát trong lễ hội cồng chiêng…

- Tranh ảnh nói về thiên nhiên, hoạt động sản xuất và con người trên thế giới gồm: vịnh biển (Nhật Bản), bán hoang mạc (Ca-dắc-xtan), đồng bằng (In-đô-nê-xi-a), rừng tai-ga (LB Nga), dãy núi Hi-ma-lay-a (phần thuộc Nê-pan), người dân Đông Á (Nhật Bản), người dân Nam Á (ấn Độ), đền ăng-co-vát (Cam-pu-chia), Luông Pha-băng (Lào), Vạn Lí Trường Thành (Trung Quốc), dãy núi cao (An-pơ), đồng bằng (Trung âu), Phi-o (bán đảo Xcan-đi-na-vơ), rừng lá kim (đồng bằng Đông âu), người dân Thuỵ Điển (Bắc âu), thu hoạch lúa mì, nhà máy hoá chất, thủ

đô Mát-xcơ-va (LB Nga), cánh đồng nho ở Pháp, một số cảnh thiên nhiên châu Phi,

Trang 37

người da đen ở châu Phi, một số hoạt động sản xuất của dân châu Phi, Kim tự tháp

Ai Cập, một số cảnh thiên nhiên châu Mĩ, người Anh-điêng, một số hoạt động kinh

tế châu Mĩ, nhà Quốc hội ở Thủ đô Oa-sinh-tơn (Mĩ), Gấu cô-a-la, Căng-gu-ru, núi băng và chim cánh cụt

Ngoài ra, GV còn có thể sưu tầm tranh ảnh ở trên mạng, tạp chí, sách, báo…để phục vụ cho việc dạy học ĐL

b Vai trò của tranh ảnh

Các biểu tượng ĐL thường được hình thành bằng con đường so sánh và óc tưởng tượng, mà tranh ảnh có tác dụng rất lớn trong việc hình thành biểu tượng ĐL cho HS lớp 4, 5 Tranh ảnh có thể phản ánh những đối tượng ĐL và những lãnh thổ

mà các em chưa được nhìn thấy bao giờ Ví dụ như: Cây bao báp, ngựa vằn, lạc đà

ở hoang mạc Xa-ha-ra, Đó là những biểu tượng, những hình ảnh cụ thể, nhưng do nhận thức chủ yếu bằng con đường tưởng tượng nên những biểu tượng ĐL khi được tái hiện trong ý thức các em khác nhau Cùng ngựa vằn, lạc đà ở hoang mạc Xa-ha-

ra nhưng biểu tượng của mỗi em một khác Điều đó, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh nhận thức và trí tượng của mỗi em

Vì thế, trong việc giúp HS có những biểu tượng đúng, rõ ràng, cụ thể về những đối tượng ĐL, tranh ảnh thực sự là một trong những TBDH rất có ưu thế

c Hướng dẫn HS quan sát tranh ảnh để các em tự khám phá kiến thức mới

GV phải xác định những kiến thức trong bài mà HS có thể khai thác qua tranh ảnh Sau đó, dựa vào mục đích quan sát và trình độ hiểu biết của HS, xây dựng hệ thống các câu hỏi, bài tập để điều khiển tri giác và hướng dẫn tư duy của HS theo hướng quan sát cần thiết để rút ra kiến thức GV có thể giới thiệu thêm các tư liệu cần thiết liên quan đến tranh ảnh, giúp cho việc quan sát tranh ảnh đầy đủ, sâu sắc Tranh ảnh phục vụ cho HS khai thác kiến thức phải biểu hiện được đầy đủ, rõ ràng, có trọng tâm những tính chất, đặc điểm của đối tượng được trình bày Bên cạnh đó, đối tương sử dụng là HSTH nên tính mỹ thuật của tranh ảnh phải được chú

ý đặc biệt Tranh ảnh phải có màu sắc đẹp, đường nét hình ảnh phải rõ ràng, sắc nét

GV cần hướng dẫn HS trình tự khai thác một bức tranh, ảnh như sau:

- Nắm được mục đích quan sát trên tranh ảnh

Trang 38

38

- Quan sát từ cái toàn thể đến cái bộ phận, từ cái bên ngoài đến cái bên trong của sự vật, hiện tượng

- Bước đầu so sánh với các đối tương cùng loại mà các em đã biết

Để nắm được đầy đủ các đặc điểm và thuộc tính quan trọng nhất của biểu tượng và khái niệm ĐL, GV cần hướng đẫn HS khai thác ở các tư liệu khác để bổ sung thêm vì tranh ảnh chỉ có tác dụng giúp cho HS khai thác một số đặc điểm và thuộc tính nhất định Như vậy thì việc sử dụng tranh ảnh mới có hiệu quả

Ví dụ 1: Khi dạy bài “Một số dân tộc ở Hoàng Liên Sơn” (LS và ĐL 4)

Để hình thành biểu tượng về nhà sàn cho HS thông qua tranh ảnh GV cần xác định những đặc điểm của nhà sàn mà HS có thể quan sát qua bức tranh là:

+ Nhà sàn thường có ở những vùng núi cao

+ Nhà sàn được làm bằng các vật liệu tự nhiên như: gỗ, tre, nứa

+ Nhà sàn khác nhà gỗ ở chỗ có chân

Căn cứ vào tranh nhà sàn ở Hoàng Liên Sơn, GV cho HS quan sát và có thể

đưa ra các câu hỏi:

1 Em thường gặp hình ảnh này ở đâu?

2 Đánh dấu x vào ô  trước những ý trả lời đúng

Theo em, nhà sàn thường bằng vật liệu gì? ( Đưa ra một số đáp án để HS lựa chọn như: Gỗ, tre - nứa, cỏ tranh, sắt, thép)

3 Nhà sàn và nhà ở khác nhau như thế nào?

Ví dụ 2: Khi dạy bài 5 “Tây Nguyên” (SGK LS và ĐL 4)

Để hình thành khái niệm về cao nguyên cho HS, GV chia lớp thành nhóm 4 Sau đó cho HS xem một số tranh ảnh, giới thiệu thêm tư liệu về một số cao nguyên như: Cao nguyên Đắk Lắk, cao nguyên Kom Tum, cao nguyên Di Linh, cao nguyên Lâm Viên

GV yêu cầu mỗi nhóm trình bày một số đặc điểm tiêu biểu của mỗi cao nguyên Đồng thời lắng nghe các nhóm khác trình bày Trên cơ sở đó để so sánh, đối chiếu những đặc điểm chung của các cao nguyên Từ đó, hình thành khái niệm cao nguyên như sau: Cao nguyên là một khu vực có địa hình tương đối bằng phẳng hay hơi gợn sóng, với độ cao so với mực nước biển là trên 500m, bị hạn chế bởi các vách bậc hay sườn dốc rõ nét với vùng đất thấp xung quanh

Ngày đăng: 08/05/2021, 21:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w