Trong luật Giáo dục, khoản 2, điều 24 đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng môn học
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC – MẦM NON
- -
NGUYỄN THỊ HOÀI THANH
Tìm hiểu việc sử dụng phương pháp thảo luận trong dạy học môn Khoa học lớp 4, 5
ở bậc Tiểu học
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Mục đích nghiên cứu 7
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 7
4 Giả thuyết khoa học 8
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
6 Phạm vi nghiên cứu 8
7 Phương pháp nghiên cứu 8
8 Cấu trúc đề tài 8
PHẦN NỘI DUNG 10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN TRONG DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC LỚP 4, 5 10
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 10
1.1.1 Tổng quan về phương pháp dạy học 10
1.1.1.1 Khái niệm phương pháp dạy học 10
1.1.1.2 Một số đặc điểm về phương pháp dạy học tiểu học 12
1.1.1.3 Phân loại phương pháp dạy học 14
1.1.1.4 Phương pháp dạy học phát huy tính tích cực học tập của học sinh 15
1.1.2 Tổng quan về hình thức tổ chức dạy học 22
1.1.2.1 Khái niệm về hình thức tổ chức dạy học 22
1.1.2.2 Các hình thức tổ chức dạy học thường sử dụng để dạy học môn khoa học lớp 4, 5 23
1.1.3 Đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học 23
1.1.3.1 Đặc điểm tâm lý chung của học sinh tiểu học 23
1.1.3.2 Đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học 24
Trang 31.1.4 Vai trò của phương pháp thảo luận trong dạy học môn Khoa học lớp 4,
5 27
1.1.4.1 Mục tiêu dạy học môn Khoa học lớp 4, 5 27
1.1.4.2 Vai trò của phương pháp thảo luận trong dạy học môn Khoa học lớp 4, 5 28
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 29
1.2.1 Nội dung dạy học môn khoa học lớp 4, 5 29
1.2.1.1 Nội dung chương trình sách giáo khoa Khoa học lớp 4, 5 29
1.2.1.2 Đặc điểm sách giáo khoa môn Khoa học lớp 4, 5 32
1.2.2 Tìm hiểu tình hình thực tế về việc sử dụng phương pháp thảo luận trong dạy học môn Khoa học lớp 4, 5 ở trường Tiểu học 37
1.2.2.1 Đối tượng điều tra 37
1.2.2.2 Nội dung điều tra 37
1.2.2.3 Phương pháp điều tra 37
CHƯƠNG 2: TÌM HIỂU VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN TRONG DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC LỚP 4, 5 Ở BẬC TIỂU HỌC 49
2.1 PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN 49
2.1.1 Khái niệm của phương pháp thảo luận 49
2.1.2 Các hình thức thảo luận 50
2.1.3 Đặc trưng của phương pháp thảo luận 51
2.1.4 Ý nghĩa của phương pháp thảo luận 51
2.1.5 Tác dụng của phương pháp thảo luận 51
2.2 TÌM HIỂU VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN TRONG DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC LỚP 4, 5 52
2.2.1 Thảo luận cả lớp 52
2.2.1.1 Quy trình thảo luận 52
2.2.1.2 Một số lưu ý khi tổ chức thảo luận cả lớp 53
2.2.2 Thảo luận theo nhóm 54
Trang 42.2.2.1 Quy trình thảo luận 54
2.2.2.2 Kỹ thuật chia nhóm để thảo luận 55
2.2.2.3 Cách giao nhiệm vụ cho các nhóm để thảo luận 58
2.2.3 Các hình thức và nội dung thảo luận trong môn khoa học lớp 4, 5 58
2.3 MỘT SỐ YÊU CẦU ĐỂ TỔ CHỨC HƯỚNG DẪN HỌC SINH THẢO LUẬN CÓ HIỆU QUẢ 64
2.3.1 Yêu cầu về phương tiện 64
2.3.2 Yêu cầu đối với giáo viên 65
2.3.3 Yêu cầu đối với các thành viên trong lớp 66
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM 68
3.1 MỤC ĐÍCH THỰC NGHIỆM 68
3.2 CHUẨN BỊ THỰC NGHIỆM 68
3.2.1 Đối tượng thực nghiệm 68
3.2.2 Nội dung thực nghiệm 70
3.2.3 Tiêu chí thực nghiệm 70
3.3 TIẾN HÀNH THỰC NGHIỆM 70
3.3.1 Lớp thực nghiệm 71
3.3.2 Lớp đối chứng 72
3.4 KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 72
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76
1 Kết luận 76
2 Ý kiến đề xuất 78
2.1 Đối với giáo viên Tiểu học 78
2.2 Đối với các cấp lãnh đạo 78
3 Hướng nghiên cứu tiếp của đề tài 79
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ TRONG ĐỀ TÀI
Bảng 1.1: Kết quả thể hiện mức độ sử dụng các phương pháp dạy học trong môn Khoa học của giáo viên 39
Biểu đồ 1.1: Biểu thị mức độ sử dụng các phương pháp dạy học mà giáo viên
sử dụng trong dạy học môn Khoa học 40 Bảng 1.2: Kết quả thể hiện mức độ yêu thích môn Khoa học của học sinh 43 Biểu đồ 1.2: Biểu thị mức độ yêu thích môn Khoa học của học sinh……….43 Bảng 1.3: Kết quả thể hiện mức độ yêu thích những tiết Khoa học có sử dụng phương pháp thảo luận của học sinh……… 44 Biểu đồ 1.3: Biểu thị mức độ yêu thích những tiết Khoa học có sử dụng phương pháp thảo luận của học sinh……… 44 Bảng 1.4: Kết quả thể hiện mức độ hiểu bài của học sinh qua tiết Khoa học có
sử dụng phương pháp thảo luận……… 45 Biểu đồ 1.4: Biểu thị mức độ hiểu bài của học sinh qua tiết Khoa học có sử dụng phương pháp thảo luận……… 45 Bảng 1.5: Kết quả thể hiện mức độ mở rộng hiểu biết, phát triển và củng cố các quan hệ, kỹ năng giao tiếp của học sinh………46 Biểu đồ 1.5: Biểu thị mức độ mở rộng hiểu biết, phát triển và củng cố các quan hệ, kỹ năng giao tiếp của học sinh……… 46 Bảng 1.6: Kết quả thể hiện mức độ mong muốn giáo viên sử dụng nhiều hình thức tổ chức thảo luận cho các môn học khác của học sinh………46 Biểu đồ 1.6: Biểu thị mức độ mức độ mong muốn giáo viên sử dụng nhiều hình thức tổ chức thảo luận cho các môn học khác của học sinh………47 Bảng 3.1: Kết quả trình độ học sinh của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng ở khối lớp 4, 5……….68 Bảng 3.2: Kết quả điểm của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng ở lớp 4…….71 Biểu đồ 3.1: So sánh kết quả điểm của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng ở khối lớp 4……….72 Bảng 3.3: Kết quả điểm của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng ở lớp 5… 73 Biểu đồ 3.2: So sánh kết quả điểm của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng ở khối lớp 5……….73
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đất nước ta đang trên đà phát triển và đổi mới từng ngày trên mọi lĩnh vực: Kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật Để hội nhập với xu thế phát triển của thời đại, Đảng ta đã vạch ra phương hướng chiến lược: Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế - xã hội Thực hiện chủ trương đúng đắn đó, Bộ Giáo dục & Đào tạo đã và đang phát triển đổi mới đồng bộ giáo dục, đào tạo trong đó có đổi mới chương trình dạy học các cấp nói chung, chương trình tiểu học nói riêng
Để đáp ứng những yêu cầu mà xã hội đặt ra, Giáo dục và Đào tạo phải
có những cải tiến, điều chỉnh, phải thay đổi về nội dung chương trình, đổi mới phương pháp giảng dạy cho phù hợp Định hướng đổi mới phương pháp dạy học đã được xác định trong Nghị quyết TW4 khóa VII (01/1993), Nghị quyết TW2 khóa VIII (12/1996), được thể chế hóa trong Luật Giáo dục (12/1998), được cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và đào tạo đặc biệt chỉ thị
số 15 (07/1999) Trong luật Giáo dục, khoản 2, điều 24 đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng môn học, lớp học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”
Việc đổi mới phương pháp dạy học tất yếu phải đổi mới hình thức dạy học để tạo ra một sự tương tác hợp lý và cần thiết Hình thức tổ chức phổ biến
từ trước đến nay là bài lên lớp, diễn ra trong bốn bức tường lớp học được quy định theo tiết, buổi, ngày, ít tập trung vào phát triển từng cá nhân học sinh, mà chủ yếu là dạy học theo kiểu “đồng loạt”, “bình quân”, hạn chế đến hiệu quả dạy học môn Khoa học Phương pháp dạy học mới đòi hỏi phải có những hình
Trang 7thức tổ chức học tập hợp lý để thúc đẩy học sinh suy nghĩ, làm việc, trao đổi với nhau nhiều hơn
Trẻ em ở lứa tuổi Tiểu học là một thực thể, một chỉnh thể trọn vẹn nhưng chưa định hình, chưa hoàn thiện mà các em tiếp tục lớn lên, đang phát triển Sự phát triển tư duy của trẻ chỉ có thể phát triển tốt nếu giáo viên tạo ra các hoạt động độc lập Hoạt động độc lập của học sinh Tiểu học được thực hiện chủ yếu thông qua hình thức tổ chức dạy học theo cá nhân và theo nhóm
Để lĩnh hội được tri thức kỹ năng, kỹ xảo dù thực hiện được dưới hình thức dạy học nào, trẻ cũng phải tự vận động, tự tìm hiểu dưới sự tổ chức và dẫn dắt của giáo viên để phát hiện ra kiến thức
Thảo luận theo nhóm hay cả lớp là hình thức giảng dạy đặt học sinh vào môi trường học tập tích cực, trong đó học sinh được tổ chức thành nhóm một cách thích hợp Thảo luận giúp các em rèn luyện và phát triển kỹ năng làm việc, kỹ năng giao tiếp, tạo điều kiện để các em có cơ hội giao lưu, học hỏi lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau, góp phần vào việc giáo dục toàn diện nhân cách cho học sinh
Từ những lý do trên, em đã chọn đề tài nghiên cứu là: “Tìm hiểu việc
sử dụng phương pháp thảo luận trong dạy học môn Khoa học lớp 4, 5 ở bậc Tiểu học” làm khóa luận tốt nghiệp Với mong muốn tìm hiểu kỹ hơn
việc sử dụng phương pháp thảo luận trong dạy học môn Khoa học và hiệu quả của nó, để từ đó góp phần học tốt và dạy tốt môn học này ở Tiểu học đồng thời chuẩn bị hành trang trong công tác giảng dạy sau này
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về việc sử dụng phương pháp thảo luận ở trường Tiểu học, từ đó đề xuất một số ý kiến góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học môn Khoa học lớp 4, 5
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học môn Khoa học
Trang 8- Đối tượng nghiên cứu: Việc sử dụng phương pháp thảo luận trong dạy học môn Khoa học ở bậc Tiểu học
4 Giả thuyết khoa học
Trong quá trình dạy học môn Khoa học lớp 4, 5 nếu ta sử dụng phương pháp thảo luận có thể phát huy được tính tích cực học tập của học sinh Điều
đó sẽ tạo ra những giờ học đạt hiệu quả cao và luôn đáp ứng được yêu cầu đổi mới “Lấy học sinh làm trung tâm”
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc sử dụng phương pháp thảo luận trong dạy học môn Khoa học lớp 4, 5 ở bậc Tiểu học
- Tìm hiểu tình hình thực tế của việc sử dụng phương pháp thảo luận trong dạy học môn Khoa học lớp 4, 5
- Xây dựng một số giáo án dạy học môn Khoa học lớp 4, 5 nhằm minh họa cách tổ chức, hướng dẫn học sinh thảo luận
- Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng hiệu quả của việc sử dụng phương pháp thảo luận trong dạy học môn Khoa học lớp 4, 5
6 Phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện khách quan về thời gian nên phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ giới hạn trong việc nghiên cứu, thiết kế một số bài học về chủ đề “khoa học” trong môn Khoa học lớp 4, 5 để minh họa cho việc tổ chức hướng dẫn học sinh thảo luận
7 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp dự giờ, quan sát
- Phương pháp điều tra bằng Ankét
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp thống kê
8 Cấu trúc đề tài
Trang 9Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chính của đề tài chia làm ba chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng phương pháp thảo luận trong dạy học môn Khoa học lớp 4, 5
- Chương 2: Tìm hiểu việc sử dụng phương pháp thảo luận trong dạy học môn Khoa học lớp 4, 5 ở bậc Tiểu học
- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 10PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC
SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN TRONG DẠY HỌC
MÔN KHOA HỌC LỚP 4, 5
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1 Tổng quan về phương pháp dạy học
1.1.1.1 Khái niệm phương pháp dạy học
Phương pháp nói chung là một khái niệm rất trừu tượng, vì nó không
mô tả những trạng thái, những tồn tại tĩnh trong thế giới hiện thực mà chủ yếu
nó mô tả phương pháp vận động trong quá trình nhận thức và hoạt động của thực tiễn con người Như vậy, phương pháp là cách thức, là con đường nhằm đạt được mục đích đề ra
Phương pháp dạy học là phương pháp được xây dựng và vận dụng vào một quá trình cụ thể - quá trình dạy học Đây là quá trình được đặc trưng ở tính chất hai mặt, nghĩa là bao gồm hai hoạt động: Hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò Hai hoạt động này tồn tại và được tiến hành trong mối quan hệ biện chứng: Hoạt động dạy đóng vai trò chủ đạo (tổ chức, điều khiển)
và hoạt động học đóng vai trò tích cực, chủ động (tự tổ chức, tự điều khiển)
Vì vậy, phương pháp dạy học là tổng hợp những cách thức làm việc của thầy
và trò Trong quá trình thực hiện những cách thức đó, thầy phải giữ vai trò tích cực, chủ động
Thuật ngữ “phương pháp” bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp: “Methodos”, có nghĩa là con đường, cách thức vận động của một sự vật, hiện tượng để đạt được mục đích Theo đó phương pháp dạy học là con đường, cách thức tiến hành hoạt động dạy học để đạt được mục đích dạy học Có nhiều định nghĩa khác nhau về phương pháp dạy học Sau đây là một vài định nghĩa trong số chúng:
Trang 11- Theo I.Ia.Larner (1981): Phương pháp dạy học là một hệ thống những hành động có mục đích của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của học sinh, đảm bảo cho học sinh lĩnh hội được nội dung học vấn [10, 226]
- Theo Iu.K.Babanxki (1983) cho rằng: “Phương pháp dạy học là cách thức tương tác giữa thầy và trò nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển trong quá trình dạy học” [11, 226]
- Theo quan điểm điều khiển học: Phương pháp dạy học là cách thức tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh và điều khiển hoạt động này
- Theo bản chất của nội dung: Phương pháp dạy học là sự vận động của nội dung dạy học
- Nguyễn Ngọc Quang (1989) nhận định: Phương pháp dạy học là cách thức làm việc của thầy và trò trong sự phối hợp thống nhất dưới sự chỉ đạo của thầy và trò tự giác, tích cực, tự lực đạt tới mục đích dạy học [15, 11]
- Tác giả Đặng Vũ Hoạt (1997): Phương pháp dạy học là tổ hợp các cách thức hoạt động của thầy và trò trong quá trình dạy học, được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của thầy nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học [8, 20]
Từ các định nghĩa đã nêu ở trên cho thấy tuy chưa có ý kiến thống nhất
về khái niệm phương pháp dạy học nhưng các tác giả đều thừa nhận rằng phương pháp dạy học có các dấu hiệu đặc trưng sau:
+ Nó phản ánh sự vận động của quá trình nhận thức của học sinh nhằm đạt mục đích đề ra
+ Nó phản ánh sự vận động của nội dung dạy học đã được nhà trường quy định
+ Phản ánh cách tổ chức và điều khiển hoạt động nhận thức và kiểm tra kết quả hoạt động
+ Nó phản ánh cách thức trao đổi thông tin giữa thầy và trò
Phương pháp dạy học bao gồm phương pháp dạy và phương pháp học:
Trang 12Phương pháp dạy: Phương pháp tổ chức nhận thức, phương pháp điều khiển các hoạt động trí tuệ và thực hành, phương pháp giáo dục ý thức và thái
độ cho học sinh
Phương pháp học: Phương pháp nhận thức và rèn luyện để hình thành
hệ thống tri thức và kĩ năng thực hành, hình thành nhân cách người học
Hai phương pháp này không tồn tại độc lập, tách rời nhau mà nó liên quan và phụ thuộc nhau, chúng vừa là mục đích, vừa là nguyên nhân tồn tại của nhau
Phương pháp dạy học phải luôn luôn được đặt ra trong mối quan hệ giữa mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện và những điều kiện khác
1.1.1.2 Một số đặc điểm về phương pháp dạy học tiểu học
Tính mục đích của phương pháp dạy học
Mục đích và nội dung dạy học quy định phương pháp dạy học Thực chất phương pháp dạy học là phương thức để đạt được mục đích Do vậy mỗi mục đích dạy học đòi hỏi phương pháp dạy học tương ứng và mỗi phương pháp dạy học bao giờ cũng hướng tới đạt mục đích cụ thể nào đó Không có một phương pháp dạy học nào lại đạt được tất cả các mục đích
Mỗi phương pháp dạy học giúp học sinh đạt được trình độ năng lực nhất định Vì vậy, việc xác định mục đích hình thành năng lực ở học sinh để chọn phương pháp dạy học phù hợp là điều rất quan trọng
Tính khách quan và chủ quan của phương pháp dạy học
- Tính khách quan: Mọi phương pháp dạy học đều phải xuất phát từ đối tượng, từ đặc điểm, quy luật vận động, cấu trúc của đối tượng Đối tượng của phương pháp dạy học vừa là nội dung dạy học vừa là người học [7, 21]
- Tính chủ quan: Phương pháp dạy học do chủ thể giáo viên và học sinh tiến hành Hiệu quả của phương pháp dạy học phụ thuộc vào năng lực người
sử dụng Vì vậy, sự nhuần nhuyễn, linh hoạt và sáng tạo tích cực trong việc sử dụng phương pháp dạy học là yếu tố quyết định hiệu quả dạy học [7, 21] Phương pháp dạy học phụ thuộc vào nội dung dạy học
Trang 13Heghen đã nói: “Phương pháp dạy học là sự vận động bên trong của nội dung”, nên không có phương pháp nào nằm ngoài nội dung của nó Nội dung dạy học được triển khai trên cơ sở mục đích dạy học, phản ánh cái khách quan (thế giới khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, nghệ thuật, ), phương pháp dạy học là cái chủ quan – là cách thức, con đường nhằm chuyển tải nội dung dạy học đã xây dựng
Như vậy, nội dung dạy học thay đổi kéo theo sự thay đổi của phương pháp dạy học Trong nhà trường Tiểu học, học sinh được lĩnh hội hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo qua 9 môn học do đó cần sử dụng nhiều phương pháp dạy học khác nhau phù hợp với nội dung từng môn Nội dung dạy học mang tính toàn diện thì phương pháp dạy học cũng mang tính toàn diện
Phương pháp dạy học phụ thuộc vào đặc điểm tâm sinh lý người học Nhận thức của học sinh Tiểu học chủ yếu là nhận thức cảm tính, đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng Vì vậy, phương pháp dạy học trực quan rất hay được sử dụng trong nhà trường Tiểu học
Độ tuổi học sinh Tiểu học còn thấp (từ 6 đến 11 tuổi), năng lực chú ý
và trí nhớ kém bền vững, do đó không nên kéo dài nội dung bài học từ giờ này sang giờ khác Như vậy, giáo viên không nên sử dụng một phương pháp dạy học duy nhất trong giờ lên lớp, mà giáo viên phải biết kết hợp đan xen các phương pháp dạy học khác nhau nhằm giúp học sinh tập trung chú ý cao
Phương pháp dạy học có cấu trúc đa cấp
Trang 14Phương pháp dạy học thực chất là một hệ thống các hành động và thao tác nên việc thiết kế quá trình dạy học đòi hỏi giáo viên bao giờ cũng phải xác lập một hệ thống các hành động, thao tác của thầy và trò tương ứng với từng đơn vị, nội dung dạy học cụ thể và xây dựng chúng thành quy trình Phương pháp dạy học thực chất là sự thực hiện quy trình ấy trong thực tiễn
1.1.1.3 Phân loại phương pháp dạy học
Căn cứ vào một số góc nhìn nhận phương pháp dạy học, người ta chia phương pháp dạy học thành những nhóm sau đây:
Dựa vào nguồn tri thức và đặc điểm tri giác thông tin (X.I.Petropxki, E.La.Golan, X.P.Baranov) có ba nhóm:
- Nhóm phương pháp dùng lời (thuyết trình, vấn đáp, làm việc với sách giáo khoa)
- Nhóm phương pháp trực quan (trình bày trực quan, quan sát)
- Nhóm phương pháp thực hành (luyện tập, ôn tập, thí nghiệm)
Theo đặc điểm của hoạt động nhận thức (M.N.Xcatkin, I.La.Lerner)
- Phương pháp giải thích, minh họa
- Phương pháp tái hiện
- Phương pháp tìm kiếm bộ phận
- Phương pháp sáng tạo
Theo hoạt động dạy và học (M.I.Mackhmutov)
- Phương pháp thông báo và thu nhận
- Phương pháp giải thích và tái hiện
- Phương pháp thiết kế thực hành và tái hiện thực hành
- Phương pháp giải thích kích thích và tìm kiếm
Theo hướng tìm kiếm mối liên hệ nội tại giữa các phương pháp dạy học (Lu.K.Babanxki)
- Phương pháp tổ chức hoạt động nhận thức – học tập
- Phương pháp kiểm tra, đánh giá
Trang 15- Phương pháp kích thích và hành động hình thành động cơ hoạt động nhận thức
1.1.1.4 Phương pháp dạy học phát huy tính tích cực học tập của học sinh
Quan niệm về tính tích cực học tập
- Tính tích cực
Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người, bởi vì để tồn tạo
và phát triển con người luôn phải chủ động, tích cực cải biến môi trường tự nhiên, cải tạo xã hội Vì vậy, hình thành và phát triển tính tích cực xã hội là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục nhằm đào tạo ra những con người năng động, thích ứng và góp phần phát triển cộng đồng Tính tích cực thể hiện trong các hoạt động của con người
- Tính tích cực học tập
Về thực chất là tính tích cực nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết,
cố gắng trí lực và có nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức Tính tích cực nhận thức trong hoạt động học tập liên quan trước hết với “động cơ” học
tập Động cơ đúng tạo ra “hứng thú” Hứng thú là tiền đề của “tự giác” Hứng
thú và tự giác là hai yếu tố tạo nên tính tích cực Tính tích cực sản sinh nếp tư duy độc lập Suy nghĩ độc lập là mầm mống của sáng tạo Ngược lại, phong cách học tập tích cực độc lập sáng tạo sẽ phát triển tự giác, hứng thú, bồi dưỡng động cơ học tập
Khác với quá trình nhận thức trong nghiên cứu khoa học, quá trình nhận thức trong học tập không nhằm phát hiện những điều loài người chưa biết nhằm lĩnh hội những tri thức loài người đã tích lũy được Tuy nhiên trong học tập học sinh cũng phải “khám phá” ra những hiểu biết mới đối với bản thân Học sinh sẽ hiểu, ghi nhớ những gì đã lĩnh hội được qua hoạt động chủ động, nỗ lực của chính mình Đó là chưa nói lên tới một trình độ nhất định, sự học tập tích cực sẽ mang tính nghiên cứu khoa học và người học cũng làm ra những tri thức mới cho khoa học
Trang 16Trong đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát huy tính tích cực nhận thức của người học, phải có sự hợp tác của thầy và trò, sự phối hợp giữa hoạt động dạy với hoạt động học mới thành công
+ Tính tích cực học tập biểu hiện ở những dấu hiệu:
Biểu hiện trong hoạt động cơ bắp: Gắng sức tập một động tác thể dục hoặc thực hiện các thao tác vận động
Biểu hiện trong hoạt động trí tuệ:
Học sinh hăng hái trả lời các câu hỏi của giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn, thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra
Học sinh nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa
Biểu hiện ở cảm xúc:
Tập trung chú ý vào vấn đề đang học
Kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản trước những tình huống khó khăn
Biểu hiện ở sự hứng thú: Quá trình hoạt động tích cực cả về trí tuệ lẫn hoạt động cơ bắp sẽ tạo ra hứng thú nhận thức
Biểu hiện ở kết quả lĩnh hội: Kết quả này được đánh giá bằng hai chỉ số: hiệu quả học tập và chất lượng học tập
Trong các biểu hiện trên, kết quả học tập vẫn được coi là dấu hiệu quan trọng, là cái đích cần hướng tới, phản ánh sự thành công hay thất bại của phương pháp dạy học
Tính tích cực học tập thể hiện qua các cấp độ từ thấp lên cao như:
Trang 17+ Bắt chước: học sinh gắng sức làm theo mẫu hành động của thầy, của bạn…
+ Tìm tòi: độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm cách giải quyết khác nhau về một số vấn đề…
+ Sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo, hữu hiệu
Quan niệm về phương pháp dạy học phát huy tính tích cực học tập của học sinh
- Phương pháp dạy học tích cực
Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học
"Tích cực" trong phương pháp dạy học tích cực được dùng với nghĩa
là hoạt động, chủ động, trái nghĩa với không hoạt động, thụ động chứ không
dùng theo nghĩa trái với tiêu cực
Phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động
Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy Cách dạy chỉ đạo cách học, nhưng ngược lại thói quen học tập của trò cũng ảnh hưởng tới cách dạy của thầy Chẳng hạn, có trường hợp học sinh đòi hỏi cách dạy tích cực hoạt động nhưng giáo viên chưa đáp ứng được, hoặc có trường hợp giáo viên hăng hái áp dụng Phương pháp dạy học tích cực nhưng không thành công vì học sinh chưa thích ứng, vẫn quen với lối học tập thụ động Vì vậy, giáo viên phải kiên trì dùng cách dạy hoạt động để dần dần xây dựng cho học sinh phương pháp học tập chủ động một cách vừa sức, từ thấp lên cao Trong đổi mới phương pháp dạy học phải có sự hợp tác cả của thầy và trò, sự phối hợp nhịp nhàng hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành công Như vậy, việc
Trang 18dùng thuật ngữ "Dạy và học tích cực" để phân biệt với "Dạy và học thụ động"
- Những dấu hiệu đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực
+ Một là dạy và học không qua tổ chức các hoạt động học tập của học
sinh
Trong phương pháp dạy học tích cực, người học - đối tượng của hoạt động "dạy", đồng thời là chủ thể của hoạt động "học" - được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức
đã được giáo viên sắp đặt Được đặt vào những tình huống của đời sống thực
tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp "làm ra" kiến thức, kĩ năng đó, không rập theo những khuôn mâu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo
Dạy theo cách này thì giáo viên không chỉ giản đơn truyền đạt tri thức
mà còn hướng dẫn hành động Chương trình dạy học phải giúp cho từng học sinh biết hành động và tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng đồng
+ Hai là dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học
Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh - với sự bùng nổ thông tin, khoa học, kĩ thuật, công nghệ phát triển như vũ bão - thì không thể nhồi nhét vào đầu óc học sinh khối lượng kiến thức ngày càng nhiều Phải quan tâm dạy cho học sinh phương pháp học ngay từ bậc Tiểu học và càng lên bậc học cao hơn càng phải được chú trọng
Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự
Trang 19học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển
tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp
mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên
+ Ba là tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của học sinh không thể đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hóa về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập
Áp dụng phương pháp tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hóa này càng lớn Việc sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin trong nhà trường
sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hóa hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi học sinh
Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Lớp học là môi trường giao tiếp thầy - trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới Bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của người thầy giáo
Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc trường Được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ 4 đến 6 người Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không thể có hiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh
Trang 20thần tương trợ Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội
Trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc gia; năng lực hợp tác phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà trường phải chuẩn bị cho học sinh
+ Bốn là kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy
Trước đây giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh Trong phương pháp tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học Liên quan với điều này, giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi để học sinh được tham gia đánh giá lẫn nhau Tự đánh giá đúng
và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho học sinh
Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế
Với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn
là một công việc nặng nhọc đối với giáo viên, mà lại cho nhiều thông tin kịp thời hơn để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học
Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành người thiết
kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh
tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình Trên lớp, học sinh hoạt động là
Trang 21chính, giáo viên có vẻ nhàn nhã hơn nhưng trước đó, khi soạn giáo án, giáo viên đã phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi của học sinh Giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình
độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của học sinh mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên
- Phân biệt dạy và học thụ động với dạy và học tích cực
- Giáo viên thuyết trình, giảng giải,
đưa ra các kiến thức mang tính áp
đặt
- Giáo viên huy động vốn kiến thức
và kinh nghiệm sống của học sinh đẻ xây dựng bài
- Giáo viên cho ví dụ mẫu rồi học
sinh giải những bài tập tương tự
- Học sinh suy nghĩ, trao đổi với các bạn về cách giải bài tập với sự trợ giúp của giáo viên
- Học sinh ít hoặc không có cơ hội để
nêu ý kiến các nhân hoặc thắc mắc
về bài học
- Khuyến khích học sinh nêu ý kiến
cá nhân, nêu thắc mắc về vấn đề đang học
- Giáo viên nhận xét, bổ sung câu trả
lời của học sinh
- Giáo viên khuyến khích học sinh nhận xét, bổ sung câu trả lời của bạn
- Giao tiếp giáo viên – học sinh nổi
lên hàng đầu
- Giao tiếp học sinh – học sinh được chú trọng, học sinh học hỏi lẫn nhau
Trang 221.1.2 Tổng quan về hình thức tổ chức dạy học
1.1.2.1 Khái niệm về hình thức tổ chức dạy học
Hình thức tổ chức dạy học là những cách tổ chức quá trình học tập cho học sinh phù hợp với mục tiêu, nội dung bài học, nhằm làm cho bài học đạt được kết quả tốt nhất [8,264]
Các hình thức dạy học rất đa dạng, chúng phân biệt với nhau bởi các yếu tố:
- Số lượng học sinh tham gia
- Thời điểm học sinh thực hiện hoạt động học tập
- Không gian tiến hành học tập
- Đặc điểm và tính chất hoạt động của giáo viên và học sinh: Mối quan
hệ giữa dạy và học có tính tập thể hay tính cá nhân; mức độ tích cực tự lực hoạt động nhận thức của học sinh; sự chỉ đạo của giáo viên đối với hoạt động học tập
- Mục tiêu cần đạt của bài học
- Điều kiện hoàn cảnh địa lý, nơi tiến hành hoạt động dạy học
Theo các dấu hiệu đó, ta có những hình thức tổ chức dạy học khác nhau:
- Xét theo số lượng học sinh, có hình thức tổ chức dạy học cá nhân, học nhóm, học tập thể
- Xét theo thời gian, có học ở nhà, học tại lớp, học trong phòng thí nghiệm, học tại trường…
- Xét theo đặc điểm hoạt động, có bài lên lớp, thảo luận, bài luyện tập, rèn luyện kĩ năng, kỹ xảo
- Xét theo mục tiêu cần đạt, có bài lĩnh hội tri thức mới, bài luyện tập, bài ôn tập, bài kiểm tra
- Xét theo mục điều kiện địa lý, có dạy lớp ghép, dạy từ xa…
Trang 23Như vậy, các hình thức tổ chức dạy học ở tiểu học rất đa dạng phong phú Mỗi hình thức có những đặc điểm riêng, có ưu điểm, nhược điểm và chúng có thể bổ sung, khắc phục lẫn nhau
Việc lựa chọn hình thức nào phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, trong đó quan trọng nhất là trình độ sư phạm của giáo viên Chọn đúng hình thức tổ chức dạy học phù hợp với mục đích, nội dung bài học góp phần nâng cao chất lượng dạy học
1.1.2.2 Các hình thức tổ chức dạy học thường sử dụng để dạy học môn khoa học lớp 4, 5
Tùy theo nội dung của từng bài học, giáo viên có thể kết hợp các hình thức tổ chức dạy học một cách linh hoạt để nâng cao chất lượng học tập Để
đề cao vai trò chủ động nhận thức của người học, giáo viên không chỉ chú trọng đến hình thức dạy trên lớp (dạy học đồng loạt, cá nhân, theo nhóm) mà cần phải tổ chức dạy học ở ngoài lớp (vườn trường, nông trường…) và những hình thức khác như đóng vai, trò chơi
Sơ đồ các hình thức tổ chức dạy học thường sử dụng để dạy học môn Khoa học:
1.1.3 Đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học
1.1.3.1 Đặc điểm tâm lý chung của học sinh tiểu học
Được đi học là một bước ngoặt qua trọng trong đời sống của trẻ Nhà trường Tiểu học là một môi trường hoàn toàn khác với môi trường nhà trẻ, mẫu giáo và gia đình Gia nhập nhà trường Tiểu học, trẻ phải thực hiện hoạt
HÌNH THỨC TỔ CHỨC
DẠY HỌC
Ngoài lớp Trong lớp
Trang 24động học, một hoạt động nghiêm túc, có kỷ cương, có những yêu cầu nghiêm ngặt: phải thức dậy đúng giờ, không được bỏ học, phải hoàn thành đầy đủ bài tập về nhà theo đúng thời hạn Tính chất quan hệ qua lại giữa giáo viên với trẻ, giữa trẻ với gia đình cũng thay đổi Điều này dễ làm các em mệt mỏi, làm tiêu tan tâm lý đi học như đi hội Vì vậy phải chuẩn bị tâm lý sẵn sàng đi học cho trẻ
Đại đa số trẻ em đều được chuẩn bị sẵn sàng về mặt tâm lý để đến trường phổ thông Chúng muốn đến trường để xem ở trường có gì khác so với
ở nhà Do trẻ chỉ hứng thú với đặc điểm bên ngoài của quá trình học tập nên hứng thú đó dễ mất đi Vì vậy cần làm cho trẻ hứng thú với chính quá trình học tập, với sự hấp dẫn của nội dung tri thức Chính vì thế, yêu cầu đặt ra đối với các nhà sư phạm là phải lựa chọn, sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy học phù hợp để tham gia học tập của học sinh Trẻ em ở lứa tuổi Tiểu học là một thực thể, một chỉnh thể trọn vẹn nhưng chưa định hình, chưa hoàn thiện mà các em tiếp tục lớn lên, đang phát triển Trong mỗi em, mỗi bộ phận, mỗi cơ quan của cơ thể với những chức năng riêng cũng được phát triển không đồng đều, chưa hoàn thiện Tất cả những gì các em có thể được đang còn ở trước mắt các em
Sự thay đổi hoạt động chủ đạo diễn ra khi trẻ bắt đầu đi học Hoạt động chủ đạo của lứa tuổi này là hoạt động học tập, nó làm thay đổi một cách cơ bản những hành vi của trẻ Vì vậy, hành động học được xem là đối tượng để lĩnh hội, sau đó trở thành phương tiện để tiếp thu tri thức, khái niệm khoa học Cách học vừa là tiền đề, công cụ, phương tiện vừa là mục đích của dạy học
1.1.3.2 Đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học
a Tri giác
Tri giác của học sinh Tiểu học mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết
và mang tính không chủ định, do đó các em phân biệt các đối tượng còn chưa chính xác dễ mắc sai lầm, có khi còn lẫn lộn Ở các lớp đầu cấp, tri giác thường gắn liền với hành động, hoạt động thực tiễn Những gì phù hợp với
Trang 25nhu cầu của các em, những gì các em thường gặp trong cuộc sống và gắn với hoạt động của các em, những gì giáo viên chỉ dẫn thì các em mới tri giác được Ở các lớp cuối cấp tri giác của các em mang tính mục đích và có phương hướng rõ ràng hơn
Tính xúc cảm thể hiện rõ trong tri giác Những dấu hiệu, những đặc điểm nào gây cho các em nhiều xúc cảm thì các em tri giác trước hết Tri giác
về không gian, thời gian còn hạn chế
Tri giác không tự bản thân nó phát triển được mà qua quá trình học tập, tích lũy tri thức, tri giác trở thành hành động có mục đích, có sự phân tích sâu sắc Trong sự phát triển của tri giác, vai trò của người giáo viên là rất lớn Người giáo viên hàng ngày không chỉ dạy những khái niệm mà còn dạy học sinh những kỹ năng hoạt động, phối hợp các giác quan, liên hệ những gì đã học hàng ngày để nâng cao kỹ năng hiểu biết, các kỹ năng hoạt động một cách thành thạo
em Khả năng phát triển chú ý có chủ định, phát triển tính bền vững, sự tập trung chú ý ở học sinh cuối cấp là rất cao Bản thân quá trình học tập đòi hỏi các em phải rèn luyện thường xuyên sự chú ý có chủ định, ý chí Chú ý có chủ định được phát triển cùng với động cơ học tập mang tính xã hội cao, với sự trưởng thành về ý thức, trách nhiệm đối với kết quả học tập
c Trí nhớ
Ở Tiểu học, trí nhớ trực quan – hình tượng phát triển hơn trí nhớ từ ngữ
- logic Các em ghi nhớ và giữ gìn chính xác những sự vật, hiện tượng cụ thể nhanh hơn và tốt hơn những định nghĩa, những lời giải thích dài dòng Học
Trang 26sinh lớp 1, 2 có khuynh hướng ghi nhớ máy móc bằng cách lặp đi lặp lại nhiều lần, có khi chưa hiểu những mối liên hệ, ý nghĩa của tài liệu học tập đó
Ở các lớp cuối cấp, trí nhớ của các em dần dần thoát khỏi những biểu tượng
cụ thể và được thay thế bằng những khái niệm Đến lớp 4,5 cùng với sự phát triển của chức năng sinh lý bộ não, chúng được khái quát hóa thành những khái niệm, từ đó hình thành nên những khái niệm những kỹ năng, kỹ xảo hoạt động
Ở các lớp cuối cấp, tưởng tượng của các em gần hiện thực, phản ánh thực tế đầy đủ và đúng đắn hơn Các em có khả năng gọt rửa, nhào nặn những biểu tượng cũ để sáng tạo ra những biểu tượng mới Điều này có được là nhờ các
em đã biết dùng ngôn ngữ để xây dựng hình ảnh có tính chất khái quát và trừu tượng hơn Biểu tượng của tưởng tượng dần trở nên hiện thực hơn, phản ánh đúng đắn hơn môn học, nội dung đã học, biểu tượng không còn bị đứt đoạn
mà đồng nhất thành một hệ thống
Trong dạy học ở Tiểu học, giáo viên cần hình thành biểu tượng thông qua sự mô tả bằng lời nói, điệu bộ, cử chỉ của mình Ngôn ngữ chính xác, giàu nhạc điệu, sử dụng đồ dùng dạy học và tài liệu dạy học sinh động là một yêu cầu bắt buộc
e Tư duy
Tư duy của trẻ mới đến trường là tư duy cụ thể, mang tính hình thức Nhờ ảnh hưởng của việc học tập, học sinh Tiểu học dần dần chuyển từ nhận thức các mặt bên ngoài đến nhận thức các thuộc tính bên trong và những dấu hiệu bản chất của sự vật hiện tượng Điều này tạo khả năng tiến hành những
Trang 27so sánh, khái quát hóa đầu tiên, xây dựng những suy luận sơ đẳng Trên cơ sở
đó, học sinh dần dần học tập các khái niệm khoa học
Khi phân loại và khái quát hóa đối tượng, hầu hết học sinh còn dựa vào các dấu hiệu tác động mạnh đến các giác quan như màu sắc, hình dáng, kích thước…Do đó, đảm bảo tính trực quan trong dạy học là cần thiết nhưng không nên lạm dụng quá mức Giáo viên cần dạy học sinh quan sát, so sánh, suy luận
Đặc điểm tư duy của học sinh Tiểu học không có ý nghĩa tuyệt đối mà chỉ có ý nghĩa tương đối Trong quá trình học tập, tư duy của học sinh thay đổi rất nhiều Khi trẻ bắt đầu đến trường thì chức năng trí tuệ còn tương đối Trong quá trình học tập, tư duy của học sinh thay đổi rất nhiều Khi trẻ bắt đầu đến trường thì chức năng trí tuệ còn tương đối yếu so với chức năng tri giác, trí nhớ Nhưng trí tuệ sẽ được phát triển vượt mức hơn cả tri giác lẫn trí nhớ Ở đây, vai trò của nội dung dạy học và phương pháp dạy học đặc biệt quan trọng Nội dung dạy học và phương pháp dạy học tương ứng với nhau thì trẻ em có một số tư duy hoàn toàn khác
Từ những đặc điểm tư duy của học sinh Tiểu học, giáo viên cần phải lựa chọn và sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học một cách hợp lý Trong dạy học môn Khoa học giáo viên nên phối hợp một cách linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học khác nhau nhằm phát huy tính tích cực học tập, chủ động hoạt động của học sinh
1.1.4 Vai trò của phương pháp thảo luận trong dạy học môn Khoa học lớp 4, 5
1.1.4.1 Mục tiêu dạy học môn Khoa học lớp 4, 5
Môn Khoa học ở Tiểu học nhằm giúp học sinh:
- Có một số kiến thức cơ bản, ban đầu và thiết thực về:
+ Sự trao đổi chất, nhu cầu dinh dưỡng và sự lớn lên của cơ thể người; cách phòng chống một số bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm
+ Sự trao đổi chất, sự sinh sản của động vật, thực vật
Trang 28+ Tính chất và ứng dụng của một số chất, một số vật liệu và dạng năng lượng thường gặp trong đời sống và sản xuất
- Bước đầu hình thành và phát triển ở học sinh những kỹ năng:
+ Ứng xử phù hợp với các vấn đề sức khỏe của bản thân, gia đình và cộng đồng
+ Quan sát và làm một số thí nghiệm thực hành khoa học đơn giản gần gũi với đời sống, sản xuất
+ Nêu thắc mắc, đặt câu hỏi trong quá trình học tập, biết tìm thông tin
- Hình thành và phát triển ở học sinh những thái độ và thói quen:
+ Tự chăm sóc, thực hiện các quy tắc vệ sinh, an toàn cho bản thân, gia đình và cộng đồng
+ Ham hiểu biết khoa học, biết vận dụng những kiến thức đã học vào đời sống
+ Yêu thiên nhiên, con người, đất nước, yêu cái đẹp; có ý thức và hành động bảo vệ môi trường xung quanh
1.1.4.2 Vai trò của phương pháp thảo luận trong dạy học môn Khoa học lớp 4, 5
Môn Khoa học có một vị trí rất quan trọng, nó là một môn học gần gũi với các em học sinh Nội dung môn học được phát triển và mở rộng thêm từ các chủ đề trong môn Tự nhiên và xã hội lớp 1, 2, 3 Nội dung cốt lõi của chương trình Khoa học được sắp xếp thành ba chủ đề lớn đối với cả lớp 4 và lớp 5 là: “Con người và sức khỏe”, “Xã hội”, “Tự nhiên”
Học tập môn Khoa học không phải chỉ hiểu được những khái niệm chung chung về con người về con người và sức khỏe, những hiện tượng đơn
Trang 29giản trong xã hội, yêu thiên nhiên, có ý thức giữ gìn và bảo vệ môi trường mà phải nắm được bản chất của kiến thức đó Trên cơ sở đó hình thành và phát triển những kỹ năng và phát triển những thái độ và thói quen để học sinh độc lập suy nghĩ, tự tìm tòi, phát hiện kiến thức chứ không nên áp đặt những kiến thức cho sẵn Chính vì những đặc điểm nội dung của chương trình, phương pháp thảo luận đóng vai trò quan trọng trong dạy học môn học này Tổ chức cho học sinh thảo luận giúp học sinh có cơ hội trình bày ý kiến và suy nghĩ của mình và biết lắng nghe ý kiến của các bạn trong lớp và tạo điều kiện để phát triển các kỹ năng nói, giao tiếp và tranh luận phát huy được tính chủ động, tích cực của học sinh trong quá trình học tập
Mặt khác ở lứa tuổi Tiểu học, tâm sinh lý của các em phát triển chưa bền vững, thích học nhưng chóng chán, dễ nhớ nhưng mau quên, sự tập trung chú ý chưa cao… Nếu một giờ học mà chỉ có sự hướng dẫn, giảng giải của giáo viên thì không thu hút được sự tham gia học tập của tất cả học sinh, không tạo được không khí học tập có hiệu quả Vì vậy tổ chức cho các em thảo luận trong quá trình dạy học sẽ góp phần tạo nên một giờ học sinh động, hấp dẫn, học sinh sẽ tích cực tham gia học tập từ đó phát triển năng lực sáng tạo và tư duy của mình
từ đó sẽ tạo cho các em niềm say mê, yêu thích học tập môn Khoa học
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Nội dung dạy học môn khoa học lớp 4, 5
1.2.1.1 Nội dung chương trình sách giáo khoa Khoa học lớp 4, 5
Trong chương trình Tiểu học mới do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành tháng 11 năm 2001, môn Khoa học được dạy ở lớp 4 và lớp 5 một tuần 2 tiết Môn Khoa học có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những kiến thức khoa học sơ đẳng ban đầu về các hiện tượng và sự vật gần gũi trong tự nhiên, bao gồm cả con người và các hoạt động của con người tác động vào thế giới
tự nhiên; bước đầu hình thành cho các em một số kỹ năng quan sát, dự đoán
và vận dụng kiến thức khoa học vào cuộc sống Đồng thời góp phần hình thành cho các em một số thói quen, hành vi có lợi cho sức khỏe cá nhân, gia
Trang 30đình và cộng đồng Những kiến thức, kỹ năng, phương pháp học môn Khoa học là cơ sở để học tiếp các môn Sinh học, Vật lý, Hóa học ở bậc học trên Chương trình môn Khoa học mới đã được xây dựng theo quan điểm chỉ đạo:
- Tích hợp các nội dung của các khoa học tự nhiên (vật lý, hóa học, sinh học) với khoa học về sức khỏe
- Nội dung được lựa chọn thiết thực, gần gũi và có ý nghĩa với học sinh; giúp các em có thể vận dụng những kiến thức khoa học vào cuộc sống hằng ngày
- Chú trọng tới hình thành và phát triển các kĩ năng trong học tập khoa học như quan sát, dự đoán, giải thích các sự vật, hiện tượng tự nhiên đơn giản
và kỹ năng vận dụng kiến thức khoa học vào cuộc sống
- Tăng cường tổ chức các hoạt động học tập nhằm tạo điều kiện cho học sinh phát huy tính tích cực, tự lực tìm tòi phát hiện ra kiến thức và thực hành những hành vi có lợi cho sức khỏe cá nhân, gia đình và cộng đồng
Bảng dưới đây cho một cách nhìn tổng quát về nội dung chính và sự phát triển các mạch kiến thức của chương trình môn Khoa học – 2000
Ăn uống khi ốm đau
- Phòng một số bệnh do ăn nhiều hoặc ăn thừa chất dinh dưỡng và một số bệnh lây
- Sự sinh sản ở người Sự lớn lên và phát triển của cơ thể người, vệ sinh tuổi dậy thì, chống bị lợi dụng cơ thể, không sử dụng các chất gậy nghiện
- Phòng chết đuối
- Phòng một số bệnh qua muỗi truyền: sốt rét, xuất
Trang 31nhiễm qua đường tiêu hóa (Tiêu chảy, kiết lỵ)
huyết, viêm não, viêm gan
- Không khí: Thành phần, tính chất, vai trò Sự chuyển động của không khí, gió, bão, phòng chống bão Sự ô nhiễm không khí Bảo vệ bầu không khí trong sạch
- Âm: Các nguồn âm, sự truyền âm, âm thanh trong cuộc sống, chống tiếng ồn
- Ánh sáng: Các nguồn sáng,
sự truyền ánh sáng Vai trò của ánh sáng, bóng đèn và ứng dụng thực tế
- Nhiệt: Cảm giác nóng, lạnh, nhiệt độ, nhiệt kế, các nguồn nhiệt, vai trò của nhiệt
- Tính chất và ứng dụng của một số vật liệu thường dùng: Kim loại (sắt, đồng, nhôm) và hợp kim (gang, thép, duy-ra);
đá vôi; gốm (gạch ngói), xi măng, thủy tinh; cao su, chất dẻo, tơ sợi
- Tầm quan trọng và cách sử dụng một số dạng năng lượng thường gặp: Than đá, dầu mỏ, khí đốt, Mặt Trời, gió, nước; năng lượng điện
3 Thực vật
và động vật
- Sự trao đổi chất của thực vật và động vật với môi trường
- Sự sinh sản của cây xanh
- Sự đẻ trứng và đẻ con của một số động vật
Trang 32và tài nguyên
thiên nhiên
tài nguyên Vai trò của môi trường đối với con người Tác động của con người đối với tự nhiên Dân số và tài nguyên Một số biện pháp bảo vệ môi trường
1.2.1.2 Đặc điểm sách giáo khoa môn Khoa học lớp 4, 5
a Cấu trúc nội dung
So với chương trình Khoa học hiện hành chương trình Khoa học mới
đã được tinh giảm đáng kể Một số nội dung kiến thức được bỏ hẳn, một số được sắp xếp lại và được dạy tích hợp vào những nội dung ở lớp khác hoặc được dạy trong chương trình môn học khác Cụ thể là:
- Ở lớp 4:
+ Các nội dung về đất, quặng được bỏ hoàn toàn Trong đó một số kiến thức về đá vôi, xi măng được đưa lên dạy ở lớp 5 Những kiến thức khác được dạy trong phần Địa lý của môn Lịch sử và Địa lý
+ Nội dung về hệ thần kinh được chuyển xuống dạy ở lớp 3 trong môn
Tự nhiên và xã hội
- Ở lớp 5:
+ Bỏ hoàn toàn chủ đề “Đồ vật thường dùng”, những nội dung trong chủ đề này xét thấy học sinh đã được học ở các lớp 1, 2, 3 trong môn Tự nhiên và xã hội nên không cần phải hệ thống lại ở lớp 5
Những nội dung cốt lõi của chương trình Khoa học hiện hành được giữ lại trong chương trình Khoa học mới, chúng được sắp xếp thành 3 chủ đề lớn đối với cả lớp 4 và lớp 5 là: “Con người và sức khỏe”, “Xã hội”, “Tự nhiên” Riêng ở lớp 5 có thêm chủ đề “Môi trường và tài nguyên thiên nhiên” nhằm
hệ thống hóa lại toàn bộ mối quan hệ tương tác giữa hoạt động của con người, giữa sự tiến bộ về Khoa học, Kỹ thuật của xã hội đối với tự nhiên – Chỉ ra trách nhiệm của con người đối với tự nhiên
Trang 33Sách giáo khoa Khoa học 4 gồm 70 bài ứng với 70 tiết của 35 tuần thực học Trong đó có 60 bài học mới và 10 bài ôn tập, được phân phối như sau:
- Con người và sức khỏe: 17 bài mới và 2 bài ôn tập, kiểm tra
- Vật chất và năng lượng: 33 bài mới và 4 bài ôn tập, kiểm tra
- Thực vật và động vật : 10 bài mới và 4 bài ôn tập, kiểm tra
Sách giáo khoa Khoa học 5 gồm 70 bài ứng với 70 tiết của 35 tuần thực học Trong đó có 61 bài học mới và 9 bài ôn tập, được phân phối như sau:
- Con người và sức khỏe: 19 bài mới và 2 bài ôn tập, kiểm tra
- Vật chất và năng lượng: 25 bài mới và 4 bài ôn tập, kiểm tra
- Thực vật và động vật : 10 bài mới và 1 bài ôn tập, kiểm tra
- Môi trường và tài nguyên thiên nhiên:7 bài mới và 2 bài ôn tập, kiểm tra
Nội dung kiến thức trong sách giáo khoa Khoa học mới được phát triển theo nguyên tắc từ gần đến xa, dẫn dắt học sinh mở rộng vốn hiểu biết từ bản thân đến gia đình, lớp học, trường học; từ tính chất và ứng dụng một số chất, một số vật liệu và dạng năng lượng thường gặp trong đời sống sản xuất; từ sự trao đổi chất và sự sinh sản của cây xanh và một số động vật đến ảnh hưởng qua lại giữa con người và môi trường, một số biện pháp bảo vệ môi trường tự nhiên
Tích hợp những nội dung giáo dục sức khỏe vào nội dung khoa học với định hướng là chú trọng cho học sinh thực hành, nhằm giúp các em không chỉ
có kiến thức về dinh dưỡng, vệ sinh cơ thể, bảo vệ môi trường sống và phòng ngừa bệnh tật mà còn biết thực hiện những hành vi sức khỏe có lợi cho bản thân, gia đình và cộng đồng
b Cách trình bày
Khổ sách
Sách giáo khoa mới có kích thước là 17cm x 24cm trong khi đó khổ sách của sách giáo khoa cũ chỉ là 14,5cm x 20,5cm Với kích thước lớn hơn
Trang 34một trang, sách giáo khoa mới có thể tăng số lượng hình ảnh hoặc có thể chứa được hình ảnh và cỡ chữ lớn hơn so với sách giáo khoa cũ
Cách trình bày chung của cuốn sách
Trong các cuốn sách Khoa học 4, 5 kênh hình và kênh chữ được kết hợp tương đối chặt chẽ và cân đối vừa cung cấp kiến thức cho học sinh vừa giúp các em định hướng, tìm tòi, phát hiện những kiến thức mới
- Kênh hình: Được tăng lên đáng kể so với sách giáo khoa cũ Chiếm
ưu thế trong sách giáo khoa Các hình ảnh được trình bày sống động, màu sắc tươi sáng nhằm thu hút và hấp dẫn học sinh học tập Chức năng của kênh hình không đơn thuần làm nhiệm vụ minh họa cho kênh chữ mà nó còn làm nhiệm
vụ cung cấp thông tin, là nguồn tri thức của học sinh, vừa làm nhiệm vụ chỉ dẫn hoạt động học tập
- Kênh chữ: Gồm một hệ thống “lệnh” yêu cầu học sinh làm việc, thực hiện các hoạt động học tập So với các lớp 1, 2, 3 kênh chữ ở lớp 4, 5 được tăng cường không chỉ làm nhiệm vụ cung cấp thông tin (ở mục Bạn cần biết)
và chú thích một số hình ảnh, mà còn có chức năng hướng dẫn các hoạt động quan sát, thí nghiệm, thực hành cho học sinh để các em có thể hoạt động chiếm lĩnh tri thức mới Hầu hết các bài học đều có mục bạn cần biết cung cấp cho học sinh những thông tin quan trọng, những khái niệm đơn giản Ngôn ngữ giao tiếp trong sách giáo khoa cũng hoàn toàn đổi mới, cuốn sách được coi là người bạn của học sinh, vì vậy cách xưng hô với người học là
“bạn” Đặc biệt, so với sách giáo khoa lớp 4, trong sách giáo khoa lớp 5 kênh chữ được tăng cường hơn để hướng dẫn học sinh làm thực hành hoặc cung cấp cho học sinh các thông tin để làm bài tập hay trả lời các câu hỏi trong bài Các câu hỏi và “lệnh” trong sách giáo khoa đi kèm với các ký hiệu chỉ dẫn hoạt động học tập của học sinh:
- “Kính lúp”: Quan sát và trả lời câu hỏi
- “Dấu chấm hỏi”: Liên hệ thực tế và trả lời
- “Cái kéo và quả đấm”: Trò chơi học tập
Trang 35- Chủ đề “Con người và sức khỏe” có ký hiệu trang trí là hình ảnh tập luyện của các cô bé, cậu bé vào sáng sớm và chủ đề được trang trí bằng màu hồng
- Chủ đề “Vật chất và năng lượng” có ký hiệu trang trí là hình ảnh những cây cầu và chủ đề được trang trí bằng màu cam
- Chủ đề “Thực vật và động vật” có ký hiệu trang trí là hình ảnh các loài động vật, thực vật và chủ đề được trang trí bằng màu xanh lá cây
- Chủ đề “Môi trường và tài nguyên thiên nhiên” có ký hiệu trang trí là hình ảnh núi rừng, cây xanh và tài nguyên dầu mỏ và chủ đề được trang trí bằng màu xanh da trời
Đây chính là điểm hoàn toàn mới so với bộ sách giáo khoa cũ
Cách trình bày từng bài học
Sách giáo khoa cũ không quy định số trang cho mỗi bài học, tùy theo
độ dài, ngắn mà mỗi bài học có số trang khác nhau Cấu trúc một bài học thường gồm 3 phần (phần cung cấp thông tin có thể bằng kênh chữ hoặc kênh hình, cũng có bài kết hợp cả kênh chữ và kênh hình Phần kiến thức cần ghi nhớ được đặt trong khung Phần câu hỏi ở vị trí cuối cùng để kết thúc bài học đồng thời nhằm giúp củng cố và kiểm tra những gì đã học được)
Trong sách giáo khoa mới, mỗi bài học được trình bày gọn trong hai trang mở liền nhau giúp học sinh dễ dàng theo dõi và có cách nhìn hệ thống toàn bài học (Còn các bài Ôn tập thì được trình bày trong 3 trang, riêng đối
Trang 36với bài Ôn tập chủ đề “Môi trường và tài nguyên thiên nhiên” thì được trình bày trong 4 trang) Tiến trình mỗi bài học được sắp xếp theo một lôgic hợp lý,
cụ thể:
- Bài học có thể bắt đầu bằng việc yêu cầu học sinh suy nghĩ, nhớ lại kiến thức cũ, đến vốn sống của các em rồi mới yêu cầu học sinh làm thí nghiệm, thực hành hoặc quan sát các hình ảnh trong sách giáo khoa để phát hiện những kiến thức mới
- Có thể bắt đầu bằng việc học sinh quan sát tranh ảnh trong sách giáo khoa hay quan sát ngoài thiên nhiên để tìm ra những kiến thức mới rồi tới những câu hỏi nhằm áp dụng những điều đã học được vào thực tế cuộc sống
- Kết thúc bài học, học sinh được củng cố lại những điều đã học bằng nhiều hình thức khác nhau như trò chơi, vẽ hình… mà còn không đơn thuần chỉ là trả lời câu hỏi Ngoài ra, ở phần kết thúc của một số bài còn yêu cầu học sinh sưu tầm tranh ảnh, mẫu vật để làm phong phú thêm những kiến thức
đã được học trên lớp
Qua việc nghiên cứu sách giáo khoa chúng tôi nhận thấy việc trình bày từng chủ đề, từng bài đã góp phần vào việc phát huy tính tích cực học tập của học sinh Điều này thể hiện ở chỗ: nhiều bài học có tên là một câu hỏi, tạo cho các em sự tò mò, mong muốn khám phá kiến thức Ví dụ như các bài: “Con người cần gì để sống?”, “Nước có những tính chất gì?”, “Thực vật cần gì để sống?” (Lớp 4), “Nam hay nữ?”, “Cơ thể chúng ta được hình thành như thế nào?” (Lớp 5) Trong mỗi bài học nguồn thông cung cấp cho học sinh chủ yếu
là hình ảnh Trong sách giáo khoa mới, phần lớn dưới các bức tranh không có ghi chú, cuối mỗi bài học không có phần tóm tắt trọng tâm mà chỉ có những câu hỏi thích hợp với những ký hiệu chỉ dẫn hoạt động học tập mà học sinh phải thực hiện Với cách trình bày như vậy, mỗi bài học đã thể hiện được một chuỗi các trình tự hoạt động học tập của học sinh Vì vậy trong quá trình dạy học, giáo viên phải tổ chức cho học sinh hoạt động học tập để các em tự tìm
ra và chiếm lĩnh kiến thức mới, hình thành kỹ năng và thái độ
Trang 371.2.2 Tìm hiểu tình hình thực tế về việc sử dụng phương pháp thảo luận trong dạy học môn Khoa học lớp 4, 5 ở trường Tiểu học
1.2.2.1 Đối tượng điều tra
Đối tượng điều tra là những giáo viên đang giảng dạy các lớp 4, 5 tại trường Tiểu học và các em học sinh lớp 4, 5 trường Tiểu học Trần Cao Vân, trường mà tôi đã khảo sát và thực nghiệm đề tài
1.2.2.2 Nội dung điều tra
Nội dung điều tra tìm hiểu những vấn đề sau:
- Mức độ sử dụng các phương pháp dạy học khi giáo viên dạy học môn Khoa học ở Tiểu học
- Mức độ sử dụng phương pháp thảo luận trong dạy học môn Khoa học lớp 4, 5
- Nhận thức của giáo viên về những nội dung của môn Khoa học và vai trò của phương pháp thảo luận trong dạy học môn Khoa học
- Cách tổ chức, hướng dẫn học sinh tiến hành thảo luận khi dạy học môn Khoa học ở Tiểu học
- Nhận thức của giáo viên về những thuận lợi và khó khăn khi sử dụng phương pháp thảo luận trong dạy học môn Khoa học
- Sự yêu thích, thái độ, nguyện vọng mong muốn của học sinh trong các giờ học Khoa học có tổ chức thảo luận
1.2.2.3 Phương pháp điều tra
- Phương pháp Anket (phiếu điều tra): Các nội dung mà tôi đưa ra trên đây được thể hiện dưới dạng câu hỏi trong phiếu điều tra gửi tới tận tay các giáo viên và các em học sinh
- Phương pháp xử lý thống kê: Sau khi phát phiếu điều tra thăm dò ý kiến giáo viên và học sinh với những số liệu thu lại được từ phiếu điều tra tôi
xử lý thống kê bằng phương pháp thống kê, trên cơ sở đó nhận xét được thực trạng
Trang 38Ngoài ra, để kết quả điều tra thực trạng đảm bảo tính khách quan và chính xác hơn, tôi còn sử dụng một số phương pháp khác đó là phương pháp quan sát, phỏng vấn và phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp quan sát: Thông qua việc dự giờ các tiết học ở lớp chúng tôi tìm hiểu giáo viên sử dụng các phương pháp dạy học nào để phát huy được tính tích cực học tập của học sinh
Quan sát để tìm hiệu quả của giờ dạy: Mức độ sử dụng phương pháp thảo luận trong dạy học, đặc biệt là tổ chức cho học sinh thảo luận trong dạy học môn Khoa học; mức độ tham gia học tập của các em trong các tiết học, không khí lớp học có sôi nổi, học sinh có mạnh dạn tham gia hay nhút nhát, rụt rè…, sự tiến bộ của các em qua từng tiết học
- Phương pháp phỏng vấn: Để thu thập được một số thông tin cần thiết tôi đã tiến hành trao đổi với một số giáo viên có kinh nghiệm trong lĩnh vực dạy Tiểu học như: cô Lê Thị Diệu Linh, cô Trà Thị Hà,…Việc trao đổi trực tiếp đã giúp tôi có thêm nhiều kinh nghiệm, các giáo viên bày tỏ được những thuận lợi và khó khăn trong việc tổ chức cho học sinh thảo luận
- Phương pháp thực nghiệm: Thông qua một số tiết trực tiếp giảng dạy, tôi hiểu được sâu sắc vai trò của phương pháp thảo luận trong dạy học môn Khoa học Đồng thời nhận thức được tầm quan trọng của việc kết hợp linh hoạt giữa các phương pháp dạy học với nhau
Việc điều tra mà tôi tiến hành ở đây bước đầu giúp tôi có thể hình dung được thực trạng nhận thức và thực tế sử dụng hình thức dạy học theo nhóm
Đó là những cơ sở hết sức quan trọng giúp tôi có căn cứ để tiến hành thực nghiệm và hi vọng đến việc ứng dụng nghiên cứu vào thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn Khoa học
1.2.2.4 Kết quả điều tra
Qua các phương pháp điều tra đã được sử dụng tôi đã thu được kết quả như sau:
a Điều tra trên đối tượng giáo viên
Trang 39Tổng số phiếu phát ra là 15 phiếu, tổng số phiếu thu vào là 15 phiếu
Câu 1: Trong dạy học môn Khoa học ở bậc Tiểu học, cô (thầy) đã sử dụng những phương pháp dạy học nào?
TT Các phương pháp
dạy học
Mức độ sử dụng Thường
xuyên Thỉnh thoảng Không sử
Trang 40Biểu đồ 1.1: Biểu thị mức độ sử dụng các phương pháp dạy học
mà giáo viên sử dụng trong dạy học môn Khoa học
6 Phương pháp điều tra
Nhìn vào bảng thống kê và biểu đồ ở trên tôi thấy các giáo viên sử dụng tối đa các phương pháp dạy học để dạy học môn Khoa học Hầu hết các giáo viên đều sử dụng phương pháp thảo luận trong giảng dạy Như vậy, tất
cả các giáo viên được điều tra đều hiểu được tác dụng và vị trí quan trọng của việc tổ chức cho học sinh thảo luận đối với môn Khoa học
Kết quả cho thấy 82,6% giáo viên thường xuyên sử dụng phương pháp thảo luận, còn lại 12,3% giáo viên có sử dụng phương pháp thảo luận nhưng ở mức độ thỉnh thoảng, chỉ một số ít 5,1% không sử dụng phương pháp này Giải thích cho điều này, các giáo viên cho biết phương pháp dạy học thường xuyên được sử dụng nhất là phương pháp quan sát, hỏi đáp Muốn phát huy tối đa vai trò của phương pháp thảo luận, người giáo viên cần phải biết kết hợp linh hoạt với các phương pháp dạy học khác như phương pháp quan sát,