ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC – MẦM NON ------ NGUYỄN THỊ THANH THU Tìm hiểu việc sử dụng đồ dùng dạy học trong dạy học chủ đề Vật chất và năng lượng
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC – MẦM NON
- -
NGUYỄN THỊ THANH THU
Tìm hiểu việc sử dụng đồ dùng dạy học trong dạy học chủ đề Vật chất và năng
lượng của môn Khoa học lớp 4
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Vai trò của đồ dùng dạy học trong dạy học
Đồ dùng dạy học ( ĐDDH ) có vị trí và tầm quan trọng đặc biệt dạy học các môn học nói chung và môn Khoa học nói riêng ở tiểu học, nhất là trong tiến trình đổi mới chương trình, nội dung và phương pháp dạy học hiện nay ở tiểu học Nó tạo điều kiện trực tiếp cho người dạy và người học phát huy năng lực hoạt động nhận thức, tiếp cận thực tiễn, nâng cao tính khách quan khoa học của kiến thức Trên cơ
sở hướng dẫn, điều khiển của giáo viên, học sinh trực tiếp thao tác trên thiết bị - ĐDDH sẽ góp phần đắc lực cho việc hình thành các kĩ năng cơ bản, tạo sự lôi cuốn, hấp dẫn, làm cho lao động sư phạm hiệu quả hơn
Thực hiện đổi mới chương trình phổ thông nói chung và chương trình tiểu học nói riêng, theo nghị quyết của Quốc hội ngày 9 tháng 12 năm 2000 bao gồm việc xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, biên soạn sách giáo khoa mới, nâng cấp và đổi mới trang thiết bị, chuẩn hóa trường học…Thực chất đây
là công cuộc đổi mới đồng bộ và toàn diện giáo dục tiểu học nhằm góp phần đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, tiếp cận trình
độ giáo dục tiểu học của các nước trong khu vực và trên thế giới
Để đổi mới toàn diện và đồng bộ giáo dục tiểu học, ngành Giáo dục và Đào tạo đã đưa ra các giải pháp tổng thể, trong đó có giải pháp tăng cường và chuẩn hóa
cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục phục vụ dạy học Việc tăng cường và chuẩn hóa ĐDDH đặt ra đòi hỏi người giáo viên tiểu học đó là khả năng khai thác và sử dụng hợp lí ĐDDH trong việc dạy học nói chung và dạy học môn Khoa học nói riêng, là một yêu cầu hết sức quan trọng đặt ra nhằm nâng cao chất lượng dạy học trong việc triển khai và thực hiện chương trình sách giáo khoa mới
1.2 Việc đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học hiện nay
Theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh trong quá trình hoạt động nhận thức là rất quan trọng Điều quan trọng là làm thế nào để phát huy hết khả năng của học sinh Đó là
Trang 3một bài toán mở cho giáo viên nói chung và giáo viên tiểu học nói riêng Vấn đề đặt
ra ở đây chính là khai thác và sử dụng các ĐDDH một cách có hiệu quả trong quá trình giảng dạy Việc “dạy chay - học chay” sẽ làm cho người học thụ động, không phát huy tính sáng tạo, chủ động Vì vậy, với sự hỗ trợ đắc lực của ĐDDH sẽ là cầu nối giữa người dạy với người học, giúp cho tư duy và nhận thức của người học phát triển theo chiều hướng lôgic là trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng đến thực tiễn
Trước đây, trong dạy học, chúng ta chỉ chú ý đến truyền thụ tri thức thuần túy nhưng tiến hành đổi mới phương pháp dạy học chúng ta chú trọng cả công cụ, phương tiện, thiết bị vật chất để truyền tải kiến thức, hình thành kĩ năng cho học sinh Đó là một yêu cầu đặt ra cho người giáo viên tiểu học trong việc chuẩn bị các điều kiện, phương tiện dạy học cũng như việc sử dụng và khai thác chúng
1.3 Đặc điểm của môn học và nhận thức của học sinh tiểu học
Khoa học là một môn học mang tính thực tiễn, giúp cung cấp những hiểu biết
cơ bản, ban đầu và thiết thực về thế giới tự nhiên, con người Học môn Khoa học là học sinh được học cách quan sát, ghi chép, phân tích, so sánh, cách làm thí nghiệm
và giải thích các kết quả Qua đó hình thành và rèn luyện cho học sinh các kĩ năng
để vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống thực tiễn Đồng thời, nó còn góp phần bồi dưỡng và phát triển ở học sinh những thái độ và thói quen cần thiết để ứng xử với các tình huống trong cuộc sống, đáp ứng mục tiêu giáo dục toàn diện ở bậc Tiểu học Để giúp học sinh nắm bắt được những kiến thức thực tiễn, thì giải pháp sử dụng ĐDDH là một trong các phương pháp dạy học đạt được hiệu quả cao, nó tác động vào các hoạt động nhận thức của học sinh theo đúng quy luật: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng” Nó giúp học sinh hiểu rõ hơn về bản chất của mọi khái niệm trừu tượng, là cơ sở khoa học minh chứng có sức thuyết phục, là sự vật trực quan sinh động nhất, giúp việc học trở nên nhẹ nhàng, hiệu quả
1.4 Thực tế sử dụng ĐDDH môn Khoa học ở tiểu học hiện nay
Ở môn Khoa học lớp 4, các tiết học có sử dụng ĐDDH chiếm tỉ trọng tương đối cao Để đạt được những kiến thức và kĩ năng cần thiết của bài học, giáo viên cần sử dụng, khai thác và phát huy tối đa vai trò của đồ dùng dạy học
Trang 4Hiện nay do nhiều nguyên nhân khác nhau việc khai thác và sử dụng ĐDDH môn Khoa học ở tiểu học của nhiều giáo viên chưa thực hiện triệt để Nhiều khi giáo viên chỉ dùng để hướng dẫn lặp lại theo sách giáo khoa, hầu như rất ít khi sử dụng các thiết bị, bộ đồ dùng học tập để chiếm lĩnh tri thức Ngoài ra có một số giáo viên sử dụng chưa đúng lúc, đúng chỗ, nhiều khi còn lạm dụng gây sự mất tập trung của học sinh
Với những lí do trên, tôi đã lựa chọn nội dung “Tìm hiểu việc sử dụng đồ
dùng dạy học trong dạy học chủ đề Vật chất và năng lượng của môn Khoa học lớp 4” để nghiên cứu làm khóa luận tốt nghiệp cuối khóa
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lí luận và thực tiễn về việc sử dụng ĐDDH trong
dạy học chủ đề Vật chất và năng lượng của môn Khoa học 4 ở trường Tiểu học Từ
đó, đề xuất một số ý kiến góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Khoa học 4 ở trường Tiểu học
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học có sử dụng ĐDDH trong môn Khoa học lớp 4
3.2 Đối tượng nghiên cứu
- Việc sử dụng ĐDDH trong dạy học chủ đề Vật chấ và năng lượng của môn Khoa học ở lớp 4
- Các bài học có sử dụng ĐDDH
- Giáo viên (GV) và học sinh (HS ) khối lớp 4 trường Tiểu học Hải Vân
- Các nguyên tắc và cách sử dụng ĐDDH trong dạy học môn Khoa học ở lớp 4
4 Giả thuyết khoa học
Cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản, thiết thực và hình thành, phát triển những kĩ năng về tự nhiên, con người là mục tiêu của môn Khoa học ở trường Tiểu học Nếu giáo viên hiểu rõ vai trò đặc biệt của ĐDDH , từ đó có kĩ năng sử dụng chúng như thế nào để mang lại hiệu quả cao trong mỗi tiết học, điều này sẽ giúp học sinh có hứng thú hơn trong học tập, lĩnh hội tri thức có hiệu quả hơn, góp phần nâng cao chất lượng dạy học
Trang 55 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và tìm hiểu việc sử dụng ĐDDH trong dạy học chủ đề
“Vật chất và năng lượng” của môn Khoa học lớp 4
- Tìm hiểu việc sử dụng ĐDDH của giáo viên trường Tiểu học Hải Vân
- Tìm hiểu tình hình tiếp thu bài của học sinh Tiểu học qua những tiết học có sử dụng ĐDDH
- Thiết kế bài giảng có sử dụng ĐDDH nhằm kiểm chứng hiệu quả của việc sử dụng ĐDDH trong quá trình dạy học
- Thử nghiệm bài giảng đã thiết kế
- Quan sát lớp học và lấy ý kiến
- Kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giờ dạy qua việc sử dụng ĐDDH
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Do hạn chế về điều kiện khách quan và chủ quan, em chỉ tìm hiểu việc sử
dụng ĐDDH trong quá trình dạy học chủ đề “Vật chất và năng lượng” của môn
Khoa học ở lớp 4/1, 4/2, 4/3 tại Trường Tiểu học Hải Vân, quận Liên Chiểu,Thành phố Đà Nẵng
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Đọc các sách, báo có liên quan đến đề tài, sau đó phân tích, tổng hợp, hệ thống các tri thức đã học để thu thập thông tin, cơ sở lí luận cho đề tài
6.2 Phương pháp quan sát
Quan sát các giờ dạy Khoa học lớp 4 ở Trường Tiểu học
6.3 Phương pháp điều tra bằng anket
Dùng hệ thống câu hỏi để thu thập ý kiến của giáo viên và học sinh về vấn đề nghiên cứu
6.4 Phương pháp vấn đáp
Trực tiếp phỏng vấn để lấy ý kiến của giáo viên về vấn đề nghiên cứu
Trang 6CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
CHƯƠNG 2:TÌM HIỂU THỰC TẾ SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG DẠY HỌC TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ VẬT CHẤT VÀ NĂNG LƯỢNG CỦA MÔN KHOA HỌC LỚP 4
CHƯƠNG 3: SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG DẠY HỌC TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ VẬT CHẤT VÀ NĂNG LƯỢNG CỦA MÔN KHOA HỌC LỚP 4
CHƯƠNG 4: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
Phần 3: Kết luận và kiến nghị
Trang 7PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 TỔNG QUAN VỀ ĐỒ DÙNG DẠY HỌC TRONG DẠY HỌC
1.1.1 Khái ni ệm, phân loại ĐDDH
1.1.1.1 Khái niệm ĐDDH
Theo quyết định số 182-QĐ ngày 18 tháng 3 năm 1972 ban hành Quy chế
tạm thời quản lý ĐDDH của Bộ Giáo dục: ĐDDH là một trong những phương tiện
quan trọng giúp giáo viên nâng cao chất lượng giảng dạy và giúp học sinh nâng cao chất lượng học tập, có tác dụng lớn đối với việc thực hiện mục tiêu đào tạo của nhà trường Những đồ dùng này là những hình ảnh, dụng cụ, đồ vật phục vụ cho
việc dạy và học mà học sinh có thể nhìn thấy được đặc biệt là được sử dụng trong công tác giảng dạy, có khả năng chứa đựng và chuyển tải thông tin
1.1.1.2 Phân loại ĐDDH
Cho đến nay, các nhà giáo dục vẫn có rất nhiều quan điểm khác nhau về ĐDDH Mỗi quan điểm phân loại đều dựa trên tính chất, cấu tạo và mức độ sử dụng trong quá trình giảng dạy Cơ sở phân loại ĐDDH dựa vào các căn cứ chủ yếu sau:
- Cơ sở khoa học về con đường nhận thức của học sinh trong quá trình học tập
- Chức năng của các loại hình ĐDDH
- Yêu cầu về mặt sư phạm và khả năng trang bị, sử dụng chúng trong nhà trường hiện nay
Cho nên, ĐDDH có thể phân thành các loại sau:
+ Mẫu vật: có thể dưới dạng vật thật, vật nhồi, tiêu bản tùy theo môn học, mẫu vật được chế tạo theo những chủng loại khác nhau
+ Mô hình và hình mẫu: là những sản phẩm chế tạo phản ánh trung thực, khái quát vật thật, nó giúp cho người quan sát có thể hình dung cấu trúc không gian của toàn thể cũng như bộ phận cơ bản nhất của vật thật với kích thước được phóng to thu nhỏ
+ Phuơng tiện đồ họa: hình bảng của giáo viên trên bảng là loại phương tiện được tạo ra bởi giáo viên nhằm tập trung sự chú ý của học sinh vào những mặt chủ yếu của đối tượng nghiên cứu trong những điều kiện thích hợp kết hợp với lời giảng
Trang 8+ Thiết bị thí nghiệm: Là những dụng cụ được chế tạo đặc chủng phục vụ cho những môn học tương ững như hóa học, vật lí, kĩ thuật,
+ Các phương tiện kĩ thuật dạy học như những phương tiện nghe - nhìn, máy kiểm tra, máy vi tính, máy chiếu,
Đứng trên nhiều góc độ nhìn nhận, đánh giá ĐDDH khác nhau, có thể hiểu
một cách tổng quan, ĐDDH là những công cụ mà người dạy và người học sử dụng
nhằm thực hiện nhiệm vụ dạy học
1.1.2 Vai trò, ý nghĩa và chức năng của ĐDDH
1.1.2.1 Vai trò, ý nghĩa của ĐDDH
Như chúng ta đã biết, con đường nhận thức đi từ “trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng quay trở lại phục vụ thực tiễn” hay “ Tính trực quan là tính chất có tính quy luật của quá trình nhận thức khoa học” Do đó, khi dạy các môn học, đặc biệt là các môn có liên quan đến các kiến thức khoa học cần chú ý đến những vấn đề sau: học sinh tri giác trực tiếp các đối tượng nhận thức Con đường nhận thức này được thể hiện dưới dạng HS quan sát các đối tượng nghiên cứu ở trong các giờ học hay khi đi tham quan Dưới sự hướng dẫn của GV , HS tri giác không phía bản thân đối tượng nghiên cứu mà tri giác những hình ảnh, biểu tượng, sơ đồ phản ánh một bộ phận nào đó của đối tượng Trong khi tri giác những biểu tượng đó có sơ đồ hóa hoặc hình ảnh của đối tượng và hiện tượng, quá trình cần nghiên cứu, người học có thể tự tìm hiểu được bản chất của các quá trình và hiện tượng đã thực sự xảy ra Những tính chất và hiểu biết về đối tượng được HS tri giác không chỉ bằng thị giác mà còn bằng xúc giác, thính giác và trong một số trường hợp ngay cả khứu giác cũng được sử dụng
Sử dụng ĐDDH trong quá trình dạy học là con đường kết hợp chặt chẽ giữa cái cụ thể và cái trừu tượng, bằng hành động vật chất, bằng ngôn ngữ bên ngoài để chuyển thành ngôn ngữ bên trong (tư duy) phù hợp với đặc điểm HS tiểu học Sử dụng thiết bị dạy học ở bậc tiểu học cần coi trọng việc xây dựng cho HS biết quan sát và thực hành một cách có tổ chức, có kế hoạch, có suy nghĩ, biết tư duy một cách độc lập, linh hoạt, sáng tạo, biết ghi nhớ một cách hợp lí, khoa học, biết tưởng tượng một cách đúng hướng, phong phú Sử dụng ĐDDH chính là tạo điều kiện để
Trang 9GV đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học Đồng thời nó còn hướng người học hoạt động tích cực hóa, cá thể hóa trong hoạt động học tập, rèn luyện Phát huy hết tài năng của mỗi GV và tiềm năng của mỗi HS
Trên cơ sở phân tích trên, ta thấy rằng ĐDDH có ý nghĩa to lớn với quá trình dạy học Cụ thể:
ĐDDH giảm nhẹ công việc của GV và giúp cho HS tiếp thu kiến thức một cách thuận lợi Có được đồ dùng thích hợp, người GV sẽ phát huy hết năng lực sáng tạo của mình trong công tác giảng dạy, làm cho hoạt động nhận thức của HS trở nên nhẹ nhàng và hấp dẫn hơn, tạo ra cho HS những tình cảm tốt đẹp với môn học
ĐDDH giúp làm sinh động nội dung học tập, nâng cao hứng thú học tập bộ môn, nâng cao lòng tin của người học vào khoa học
ĐDDH còn giúp cho người học phát triển năng lực nhận thức, đặc biệt là khả năng quan sát, tư duy (phân tích, tổng hợp các hiện tượng, rút ra những kết luận có
độ tin cậy…); giúp GV tiết kiệm được thời gian trên lớp trong mỗi tiết học, điều khiển được hoạt động nhận thức của người học, kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của người học được nhuận lợi và có hiệu suất cao
Nói tóm lại, ĐDDH góp phần nâng cao hiệu suất lao động sư phạm của thầy
em hiểu bài tốt, chính xác và mang lại hiệu quả cho cả tiết học
* Hình thành kỹ năng
ĐDDH còn giúp học sinh phát triển năng lực nhận thức, đặc biệt là khả năng quan sát, tư duy (phân tích, tổng hợp các hiện tượng, rút ra những kết luận có độ tin
Trang 10cây, ), giúp học sinh hình thành cảm giác thẩm mỹ, được hấp dẫn bởi cái đẹp, cái đơn giản, tính chính xác của thông tin chứa trong phương tiện.[7, tr.186]
* Phát triển hứng thú học tập
Trong một tiết học, ĐDDH sẽ làm sinh động nội dung học tập Những bài học có nội dung phức tạp, khó hình dung hoặc cần biểu diễn cho HS trực tiếp nghe – thấy – sờ,…thì ĐDDH sẽ giúp cho GV làm được điều đó thông qua tranh, ảnh, sơ
đồ, các dụng cụ - thiết bị thí nghiệm,…Đây là khâu quan trọng trong quá trình giảng dạy ĐDDH sẽ nâng cao hứng thú học tập bộ môn, nâng cao lòng tin của học sinh vào khoa học của các em
* Tổ chức điều khiển quá trình dạy học
Ở những bài học có nội dung quá trừu tượng hay nhưng bài có nội dung cần khái quát thì ĐDDH ( ở đây chẳng hạn như sơ đồ, phiếu học tập,…) sẽ giáo viên tiết kiệm được thời gian trên lớp trong mỗi tiết học, giúp giáo viên điều khiển được hoạt động nhận thức của học sinh, kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học sinh
được thuận lợi và có hiệu suất cao
1.1.3 Yêu cầu đối với ĐDDH
Trong quá trình dạy học, để chế tạo, bảo quản, sử dụng các loại ĐDDH , người giáo viên cần phải nắm được yêu cầu đối với các loại ĐDDH
Với mỗi loại ĐDDH sẽ có những yêu cầu riêng nhưng nhìn chung về đánh giá chất lượng của các loại phương tiện dạy học, người ta thường dựa vào các tiêu chí chính: tính khoa học sư phạm, tính nhân trắc học, tính thẩm mỹ, tính khoa học
kỹ thuật, tính kinh tế
1.1.3.1 Tính khoa học sư phạm [4, tr.128]
- ĐDDH phải đảo đảm cho học sinh tiếp thu được kiến thức, kỹ năng kỹ xảo nghề nghiệp tương ứng với yêu cầu của chương trình học, giúp giáo viên truyền đạt cho học sinh các kiến thức phức tạp, làm cho họ phát triển khả năng nhận thức và tư duy logic
- Nội dung và cấu tạo của ĐDDH phải đảm bảo các đặc trưng của việc dạy lí thuyết, thực hành và các nguyên lí sư phạm cơ bản
Trang 11- ĐDDH phải phù hợp với nhiệm vụ sư phạm và phương pháp giảng dạy, thúc đẩy khả năng tiếp thu của học sinh
- Các ĐDDH tập hợp thành bộ phải có liên hệ chặt chẽ về nội dung, bố cục
và hình thức trong đó mỗi loại trong một bộ phải có vai trò và chỗ đứng riêng
- ĐDDH phải phù hợp với phương pháp dạy học và có tác dụng thúc đẩy việc sử dụng các phương pháp dạy học hiện đại và các hình thái tổ chức dạy học tiên tiến
1.1.3.2 Tính nhân trắc học [4, tr.128]
- ĐDDH dùng để biểu diễn trước HS phải được nhìn rõ ở khoảng cách 8m Các ĐDDH dùng cho cá nhân học sinh không được chiếm nhiều chỗ trên bàn học
- ĐDDH phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của HS và GV
- Màu sắc phải sáng sủa, hài hòa và giống với màu sắc của vật thật (nếu là
- ĐDDH phải được bảo đảm về tuổi thọ và độ vững chắc
- ĐDDH phải được áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới nhất nếu có thể
- ĐDDH phải có kết cấu thuận lợi cho việc chuyên chở và bảo quản
1.1.3.5 Tính kinh tế [4, tr.130]
Trang 12Tính kinh tế là một chỉ tiêu quan trong khi lập luận chứng chế tạo mới hay đưa vào sử dụng các thiết bị dạy học mẫu
- Nội dung và đặc tính kết cấu của ĐDDH phải được tính toán để với một số lượng vừa đủ, chi phí thấp nhưng vẫn bảo đảm hiệu quả cao nhất
- ĐDDH phải có tuổi thọ cao và chi phí bảo quản thấp Hiệu quả dạy học chính là sự tăng chất lượng, khối lượng kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh, phù hợp với yêu cầu của chương trình, ít tiêu hao sức lực của GV và HS
1.1.4 Nguyên tắc và cách bảo quản các loại ĐDDH
1.1.4.1 Nguyên tắc sử dụng các loại ĐDDH
ĐDDH có tác dụng làm tăng hiệu quả của quá trình nhận thức của người học, giúp cho người học thu nhận được kiến thức về đối tượng thực tiễn khách quan Tuy vậy, nếu không sử dụng ĐDDH một cách hợp lí thì hiệu quả sư phạm của ĐDDH không những không tăng lên mà còn làm cho người học khó hiểu, rối loạn, căng thẳng,…Do đó, các nhà sư phạm đã nêu lên các yêu cầu trong sử dụng ĐDDH sau đây:
* Sử dụng ĐDDH đúng lúc
Sử dụng ĐDDH có nghĩa là đưa nó vào lúc cần thiết, lúc học sinh mong muốn nhất ( mà trước đó GV đã dẫn dắt, nêu vấn đề, gợi ý…) và được quan sát, gợi nhớ trong tạng thái tâm sinh lí thuận lợi nhất
Hiệu quả của ĐDDH được nâng cao rất nhiều nếu nó xuất hiện đúng vào lúc nội dung, phương pháp của bài giảng cần đến nó Cần đưa ĐDDH vào theo trình tự bài giảng, tránh việc trưng ra hàng loạt trong một tiết học hoặc biến phòng học thành phòng trưng bày, triển lãm ĐDDH phải được đưa ra sử dụng và cất giấu đúng lúc
Nếu các ĐDDH được sử dụng một cách tình cờ, chưa có sự chuẩn bị trước cho việc tiếp thu của HS thì sẽ không mang lại kết quả mong muốn, thậm chí còn làm tản mạn sự theo dõi của HS
Với cùng một ĐDDH cũng cần phải phân biệt thời điểm sử dụng: khi nào thì được đưa vào trong giờ giảng, khi nào thì dùng trong buổi hướng dẫn ngoại khóa, trưng bày trong giờ nghỉ,…hoặc cho HS mượn về nhà quan sát
Trang 13* Sử dụng ĐDDH đúng chỗ
Sử dụng ĐDDH đúng chỗ tức là phải tìm vị tìm vị trí để giới thiệu, trình bày trên lớp hợp lí nhất, giúp HS có thể đồng thời sử dụng nhiều giác quan để tiếp thu bài giảng một cách đồng đều ở mọi vị trí trên lớp
Một yêu cầu hết sức quan trọng trong việc giới thiệu ĐDDH trên lớp là phải tìm vị trí lắp đặt sao cho toàn bộ lớp có thể quan sát rõ ràng, đặc biệt là hai hàng HS ngồi sát hai bên tường và hàng ghế cuối lớp
Vị trí trình bày phải đảm bảo các yêu cầu chung và riêng của nó về điều kiện chiếu sáng và các yêu cầu kĩ thuật riêng biệt khác
Phải bố trí chỗ cất giấu đồ dùng ngay tại lớp sau khi sử dụng để không làm mất tạp trung tư tưởng của HS khi nghe giảng
Vì vậy, khi chuẩn bị bài giảng, GV cần phải lưu ý đến các vấn đề sau: Phải
áp dụng các ĐDDH một cách có hệ thống, đa dạng hóa hình thức của các ĐDDH
Để phát huy hiệu quả và nâng cao vai trò của ĐDDH, khi sử dụng, GV cần nắm vững ưu nhược điểm và các khả năng cũng như yêu cầu của đồ dùng để việc sử dụng ĐDDH phải đạt được mục đích dạy học và góp phần nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học Tuy nhiên, những vấn đề trên chỉ mới vạch ra con đường, phương hướng khi sử dụng ĐDDH Việc sử dụng ĐDDH có hiệu quả hay không phụ thuộc vào khả năng sáng tạo, kinh nghiệm nghề nghiệp của người GV
1.4.1.2 Cách bảo quản các loại ĐDDH
ĐDDH là những phương tiện khoa học kĩ thuật giúp GV nâng cao chất lượng dạy và HS nâng cao chất lượng học, hướng nghiệp nhằm chuẩn bị bước vào cuộc sống phát triển năng khiếu và tiếp tục học lên các cấp cao hơn Chống “dạy chay”
Trang 14và “học chay” được đề ra nghiêm túc và cần thiết Do đó việc thực hiện quy chế bảo quản và sử dụng ĐDDH là một việc việc làm mang tính pháp lệnh ĐDDH là tài sản chung dù được hình hành từ bất cứ nguồn nào đều được bảo quản tốt và sử dụng thường xuyên
Bộ Giáo dục ban hành quy chế này nhằm quy định chế độ trách nhiệm, khắc phục những hiện tượng tham ô, lãng phí và để đưa công tác quản lý ĐDDH của các trường học và của các cấp quản lý giáo dục ngày càng vào nề nếp
Sau đây là trích một số nội dung cơ bản của Quy chế bảo quản và sử dụng ĐDDH đối với thiết bị dạy học bộ môn:
Chương I: Nguyên tắc chung
Điều 1: ĐDDH bao gồm máy móc, dụng cụ thí nghiệm, mô hình, mẫu vật, hóa chất, tranh ảnh, bản đồ, phim các loại, dụng cụ Thể dục – Nhạc – Họa, dụng cụ lao động, vườn trường, ruộng trường, đồ chơi mẫu giáo, dụng vụ xưởng trường, phòng truyền thống và ngoài sân bãi.[6, tr.73]
Tất cả các vật tư khoa học – kỹ thuật nói trên là tài sản chung của nhà nước giao cho trường quản lý
Điều 3: Các cấp quản lý giáo dục phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc các trường học sử dụng và bảo quản tốt các thứ đã có, trang bị bổ sung hàng năm để đảm bảo đồng bộ theo danh mục đã ban hành.[6, tr.74]
Chương II: Những quy định cụ thể về bảo quản
Điều 4: Các trường học nhất thiết phải phòng thí nghiệm hoặc phòng ĐDDH Điều 7: Các trường phải có sổ tài sản và sổ cho mượn theo mẫu đã ban hành của Bộ…
Điều 8: Chế độ kiểm kê: Mỗi năm 2 kỳ vào đầu năm học và trước khi nghỉ
Trang 151.1.5 Điều kiện để phát huy hiệu quả ĐDDH
Môi trường sư phạm của nhà trường là môi trường vật chất và tinh thần (nề nếp học tập, tinh thần làm việc, quan hệ thầy trò ) Ở đây, chúng ta chỉ đề cập đến môi trường vật chất, nói khác hơn, đó là cơ sở vật chất của nhà trường bao gồm: không gian, ánh sáng, âm thanh, nhiệt độ, độ ẩm, sự lưu thông của không khí, hình thức và nội dung bố trí các đồ vật, nơi làm việc của HS và GV (lớp học, phòng thực hành, xưởng )
Bảo đảm các nguyên tắc sử dụng ĐDDH là có tác dụng làm tăng hiệu quả của quá trình nhận thức của HS , giúp cho HS thu nhận được kiến thức về đối tượng thực tiễn khách quan Tuy vậy, nếu không sử dụng ĐDDH một cách hợp lý thì hiệu quả sư phạm của ĐDDH không những không tăng lên mà còn làm cho HS khó hiểu, rối loạn, căng thẳng Do đó, các nhà sư phạm đã nêu lên các nguyên tắc đúng lúc, đúng chỗ, đúng cường độ Như vậy, không phải bao giờ và bất cứ đâu ĐDDH cũng
có tác dụng tích cực đến hoạt động nhận thức của HS Nhiều khi, nếu được sử dụng không đúng với những yêu cầu sư phạm cụ thể, ĐDDH lại có tác dụng theo chiều tiêu cực, làm cho học sinh hoang mang, hiệu quả tiếp thu kém để phát huy hết hiệu quả và nâng cao vai trò của ĐDDH khi sử dụng, người GV phải nắm vững ưu nhược điểm và các khả năng cũng như yêu cầu của đồ dùng để việc sử dụng ĐDDH phải đạt được mụch đích dạy học và phải góp phần nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học
1.2 ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ CỦA HS TIỂU HỌC
1.2.1 Đặc điểm nhận thức của HS lớp tiểu học
1.2.1.1 Tri giác
Tri giác của HS tiểu học mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết và mang tính không chủ định, do đó các em phân biệt các đối tượng còn chưa chính xác, dễ mắc sai lầm, có khi còn lẫn lộn giữa những đối tượng có những đặc điểm gần giống nhau Tuy vậy không nên nghĩ HS tiểu học chưa có khả năng phân tích, tách các dấu hiệu, các chi tiết nhỏ của một đối tượng nào đó Vấn đề là ở chỗ khi tri giác sự phân tích một cách có tổ chức ở học sinh ở bậc tiểu học còn yếu Điều này có nghĩa
là trong quá trình tiếp thu tri thức, các em cần được tiếp xúc với đối tượng, trực tiếp
Trang 16nhìn thấy, cầm, nắm,… các sự vật, hiện tượng thì trẻ mới dễ dàng nhận biết những đối tượng ấy Ở các lớp cuối cấp, tri giác của các em mang tính mục đích và có phương hướng hơn Trong sự phát triển của tri giác, vai trò của GV tiểu học rất lớn
GV hằng ngày không chỉ dạy kĩ năng nhìn mà còn hướng dẫn các em xem xét, không chỉ dạy nghe mà còn dạy trẻ biết lắng nghe, tổ chức một cách đặc biệt hoạt động của HS để tri giác một đối tượng nào đó, dạy trẻ biết phát hiện những dấu hiệu, thuộc tính bản chất của sự vật hiện tượng Điều này cần được thực hiện không chỉ trong lớp học mà cả khi đi tham quan, dã ngoại.[10, tr.47]
1.2.1.3 Tưởng tượng
Tưởng tượng của HS tiểu học được hình thành và phát triển triển trong hoạt động học và các hoạt động khác của các em Tưởng tượng của HS tiểu học đã phát triển và phong phú hơn so với trẻ chưa đến trường Tuy vậy, tưởng tượng của các
em còn tản mạn, ít có tổ chức Càng về những năm cuối bậc học, tưởng tượng của các em càng gần hiện thực hơn
Tưởng tượng tái tạo từng bước được hoàn thiện gắn liền với những hình ảnh
đã tri giác trước, hoặc tạo ra những hình tượng phù hợp với những điều mô tả, hình
vẽ, sơ đồ,…Biểu tượng của sự tưởng tượng dần trở nên hiện thực hơn, phản ánh đúng đắn nội dung của các môn học, nội dung của các câu chuyện đã học, biểu tượng không còn đứt đoạn mà đồng nhất thành một hệ thống Như vậy, tưởng tượng của HS tiểu học dần thoát khỏi ảnh hưởng của những ấn tượng trực tiếp Trong dạy
Trang 17học ở tiểu học, GV cần chú ý hình thành tưởng tượng cho HS qua sự miêu tả bằng lời Ở đây, điệu bộ, ngôn ngữ giàu nhạc điệu, chính xác, biểu cảm của GV là phương tiện quan trọng Cũng cần phải sử dụng ĐDDH và tài liệu dạy học sinh động như phim ảnh Loại phương tiện này có thể mạnh hơn hẳn hình vẽ, biểu đồ trong việc diễn tả những quá trình động ở các môn học như Tự nhiên – Xã hội,
Khoa học.[10, tr.51]
1.2.1.4 Trí nhớ trực quan hình tượng
Ở HS tiểu học, trí nhớ trực quan hình tượng và trí nhớ máy móc phát triển hơn trí nhớ từ ngữ logic, hình tượng hình ảnh cụ thể đẽ nhớ hơn các câu chữ trừu tượng, khô khan Ở các lớp đầu cấp, các em còn chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa mà có khuynh hướng phát triển trí nhớ máy móc Ở các lớp cuối cấp, việc ghi nhớ có ý nghĩa mới được hình thành và phát triển Việc ghi nhớ gắn với mục đích
đã giúp trẻ nhớ nhanh hơn, lâu hơn và chính xác hơn.[10, tr.52]
1.2.2 Đặc điểm nhân cách của HS tiểu học
1.2.2.1 Tính cách của HS tiểu học
Nét tính cách của HS tiểu học mới được hình thành nên chưa ổn định Hành
vi của trẻ có tính bộc phát và ý chí còn thấp Tính cách điển hình của trẻ là hồn nhiên, ngây thơ, cả tin, trẻ thích bắt chước những hành vi của những người xung quanh, trên phim ảnh, HS tiểu học ở Việt Nam sớm có thái độ và thói quen tốt đối với lao động
1.2.2.2 Nhu cầu nhận thức của HS tiểu học
Nhu cầu nhận thức của HS tiểu học đã phát triển khá rõ nét: trẻ có nhu cầu tìm hiểu những sự vật, hiện tượng riêng lẻ (lớp 1,2) đến nhu cầu phát hiện những nguyên nhân, quy luật và các mối quan hệ , quan hệ (lớp 3, 4 và lớp 5) Nhu cầu đọc sách phát triển cùng với việc phát triển kĩ xảo đọc Cần phải hình thành nhu cầu nhận thức cho trẻ ngay từ đầu.[10, tr.55]
1.2.2.3 Đời sống tình cảm của HS tiểu học
Ở HS tiểu học, tình cảm có vị trí đặc biệt và nó là khâu trọng yếu gắn liền nhận thức với hành động của trẻ Tình cảm tích cực không chỉ kích thích học sinh nhận thức mà còn thúc đẩy trẻ hoạt động Đối tượng gây cảm xúc cho HS tiểu học
Trang 18thường là vật, hiện tượng cụ thể nên tình cảm của các em gắn liền với đặc điểm trực quan, hình thành cụ thể, các em rất dễ xúc cảm, xúc động và khó kìm hãm cảm xúc của mình Tình cảm của HS tiểu học còn mong manh, chưa bền vững, sâu sắc và có
sự thay đổi rất nhanh Việc hiểu tâm lí HS có rất nhiều thuận lợi trong quá trình dạy học Vì vậy, trong quá trình dạy học, người GV cần nắm được đặc điểm tâm lí của
HS, những đối tượng để lựa chọn và xây dựng những phương pháp và lựa chọn những hình thức tổ chức dạy học phù hợp, trong đó sự có mặt của ĐDDH đẹp, đúng quy cách, những thí nghiệm hấp dẫn, những mô hình sinh động chẳng những giúp các em nắm vững tri thức mà còn tác động đến xúc cảm đạo đức, trí tuệ và thẩm mĩ của HS, góp phần nâng cao chất lượng học tập, mang lại những hiệu quả giáo dục như mong muốn.[10, tr.60]
1.3 CHƯƠNG TRÌNH MÔN KHOA HỌC LỚP 4
1.3.1 Một số quan điểm xây dựng chương trình
1.3.1.1 Chương trình lấy các sự vật, hiện tượng và các mối quan hệ trong tự nhiên làm yếu tố cốt lõi
Nội dung chương trình chủ yếu là nói về các sự vật, hiện tượng và các mối quan hệ trong tự nhiên Đây là đặc trưng cơ bản của bộ môn Khoa học Các kiến thức chủ yếu về sự trao đổi chất; nhu cầu dinh dưỡng và sự sinh sản, sự lớn lên của
cơ thể người; sự trao đổi chất, sự sinh sản của động – thực vật; đặc điểm và ứng dụng của một số chất liệu thường gặp trong đời sống Tất cả những kiến thức này
phân bố rõ ràng trong ba chủ đề con người và sức khỏe, vật chất và năng lượng và
thực vật và động vật Đó là những kiến thức sơ đẳng, cần thiết đối với các em nói
riêng và mỗi người nói chung
1.3.1.2 Chương trình được xây dựng theo quan điểm tích hợp
Sách giáo khoa Khoa học 4 được xây dựng theo quan điểm tích hợp - đó là
sự tổng hợp trong một đơn vị học, thậm chí một tiết học hay một bài tập có nhiều mảng kiến thức và kĩ năng liên quan với nhau nhằm tăng cường hiệu quả giáo dục
và tiết kiệm thời gian học tập cho người học Chẳng hạn, khi học môn Khoa học, học sinh được học cách quan sát, ghi chép, phân tích, so sánh; được học cách đặt câu hỏi, đưa ra giả thuyết và dự đoán; cách làm thí nghiệm Riêng đặc trưng của nội
Trang 19dung giáo dục sức khỏe, học sinh được học cách bảo vệ sức khỏe, các quy tắc vệ sinh, an toàn…Trong môn học tích hợp, học sinh sẽ biết cách suy nghĩ tìm ra được
cơ sở khoa học về vệ sinh dinh dưỡng, vệ sinh cơ thể và phòng ngừa bệnh tật, bảo
vệ môi trường sống; có thái độ đúng đắn đối với những vấn đề liên quan đến sức khỏe của bản thân và cộng đồng…Nhờ chương trình tích hợp, chương trình môn Khoa học sẽ trở nên thiết thực và hiệu quả hơn
1.3.1.3 Gắn liền những kiến thức khoa học với thực tiễn đời sống
Những kiến thức gần gũi, thiết thực trong cuộc sống được đưa vào chương trình giảng dạy là nội dung chủ yếu của chương trình Tiểu học nói chung và môn Khoa học lớp 4 nói riêng Đó là đặc thù của cấp học nhằm cung cấp cho các em những kiến thức cơ bản, hình thành cho các em những kĩ năng ban đầu để các em ứng xử với các tình huống xảy, tạo cho mình những kĩ năng sống vững chắc trong cuộc sống
Nội dung các bài học chủ yếu khai thác kinh nghiệm sống của học sinh, của
gia đình và cộng đồng Những kiến thức về chủ đề con người và sức khỏe, vật chất
và năng lượng hay thực vật và động vật, đều là những kiến thức đơn giản, gần gũi
với các em, cung cấp những kinh nghiệm trong vấn đề bảo vệ sức khỏe cho bản thân, gia đình, cộng đồng; những hiểu biết cơ bản về vật chất, năng lượng, động – thực vật xung quanh các em Những kiến thức đó đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nền tảng cho các em tiếp tục những bậc học tiếp theo
1.3.2 Một số đặc điểm về thiết kế; nội dung và cách trình bày sách giáo khoa
1.3.2.1 Về thiết kế sách giáo khoa
SGK Khoa học lớp 4 về hình thức có cách thiết kế như sau:
- Khổ sách: 17cm x 24cm
- Màu sắc: in 4 màu
- Trình bày thoáng; cỡ chữ phù hợp với học sinh Tiểu học; tranh ảnh minh học to,
rõ ràng, màu sắc đẹp, phù hợp với nội dung bài học, khai thác có hiệu quả
1.3.2.2 Về cấu trúc nội dung và cách trình bày
a Cấu trúc nội dung
Trang 20SGK Khoa học lớp 4 gồm các chủ đề với số lượng bài học được phân bố ở bảng sau đây:
Chủ đề
SGK
Con người
và sức khỏe
Vật chất và năng lượng
Thực vật và động vật
Số bài học mới
Số bài ôn tập, kiểm tra
Bảng 1.1- Bảng phân bố các bài học ở các chủ đề
b Cách trình bày chung của SGK
Do những đặc điểm riêng của môn học nên cách trình bày của kênh hình và kênh chữ trong SGK môn Khoa học lớp 4 có một số đặc điểm khác với SGK Tự nhiên – Xã hội 1, 2, 3 hay Lịch sử - Địa lí, cụ thể:
Số lượng kênh hình trong mỗi bài học giảm đi, kênh chữ được gia tăng hơn Phần cung cấp thông tin cho học sinh ở mục “Bạn cần biết” sẽ bổ sung nguồn thông tin quan trọng, thay thế cho số lượng kênh hình bị giảm đi
Các lệnh trong bài đòi hỏi học sinh phải làm việc từ những kiến thức thực tế, được thí nghiệm và thực hành nhiều hơn
Các hoạt động để tìm tòi, phát hiện tri thức mới được đinh hướng rõ ràng hơn và thường theo thứ tự: Khám phá Nhận biết Vận dụng
Mỗi chủ đề được phân biệt bằng:
- Một dải màu khác nhau, theo thứ tụ từ chủ đề 1 đến chủ đề 3: hồng, cam, xanh lá
- Mỗi một chủ đề có một hình ảnh khác nhau minh họa cho nội dung của chủ
đề đó
Trang 21* Cách trình bày một bài học
Mỗi bài học được trình bày gọn trong hai trang mở liền nhau đề học sinh tiện theo dõi
* Cấu trúc một bài linh hoạt
- Có thể bắt đầu bằng việc yêu cầu học sinh làm thực hành hoặc liên hệ thực
tế rồi mới quan sát các hình ảnh trong SGK để phát hiện ra kiến thức mới
- Có thể bắt đầu bằng việc HS quan sát tranh trong SGK hay quan sát ngoài hiện trường để tìm ra kiến thức mới rồi mới tới những câu hỏi nhằm áp dụng những điều đã học vào thực tế đời sống
- Kết thúc bài học thường là mục “Liên hệ thực tế và trả lời” hay “Bạn cần biết”
Ngôn ngữ giao tiếp trong SGK đổi mới Cuốn sách được coi là người bạn của học sinh Vì vậy cách xưng hô với người học là “Bạn”
1.3.3 Mục tiêu của môn Khoa học lớp 4
Sau khi học xong môn Khoa học ở Tiểu học, học sinh cần đạt được:
1.3.3.1 Mục tiêu về kiến thức
Cung cấp cho học sinh một số kiến thức cơ bản, ban đầu và thiết thực về:
- Sự trao đổi chất, sự sinh sản, sự lớn lên của cơ thể người; cách phòng tránh một số bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm
- Sự trao đổi chất, sự sinh sản của thực vật, động vật
- Đặc điểm và ứng dụng của một số chất, nguồn năng lượng thường gặp trong đời sống và sản xuất.[9, tr.86]
1.3.3.2 Mục tiêu về kĩ năng
Bước đầu hình thành và phát triển ở học sinh những kĩ năng ban đầu:
- Ứng xử thích hợp với các vấn đề vế sức khỏe của bản thân, gia đình và cộng đồng
- Quan sát và làm một số thí nghiệm, thực hành khoa học đơn giản gần gũi với đời sống sản xuất
- Nêu thắc mắc, đặt câu hỏi trong quá trình học tập, biết tìm thông tin để giải đáp
- Diễn đạt những hiểu biết bằng lời nói, bài viết, hình vẽ, sơ đồ…
Trang 22- Phân tích, so sánh, rút ra những dấu hiệu chung và riêng của một số sự vật, hiện tượng đơn giản trong tự nhiên.[9, tr.87]
1.3.3.3 Mục tiêu về thái độ - hành vi
Hình thành và phát triển ở học sinh một số thái độ và thói quen:
- Tự giác thực hiện các quy tắc vệ sinh, an toàn cho bản thân, gia đình và cộng đồng
- Ham hiểu biết khoa học, có ý thức vận dụng những kiến thức đã học vào đời sống
- Yêu con người, thiên nhiên, đất nước, yêu cái đẹp; có ý thức và hành vi bảo vệ môi trường xung quanh.[9, tr.87]
1.3.4 Nội dung chương trình môn Khoa học lớp 4
Nội dung chư ơng trình môn khoa học lớp 4 bao gồm 3 chủ đề lớn
1.3.4.1 Chủ đề “Con người và sức khỏe”
Chủ đề này ở lớp 4 có 17 tiết, gồm các kiến thức về:
a Trao đổi chất của cơ thể người với môi trường
- Một số biểu hiện về sự trao đổi chất giữa cơ thể người với môi trường
- Vai trò của một số cơ quan tham gia trực tiếp vào quá trình trao đổi chất
b Dinh dưỡng
- Một số chất dinh dưỡng có trong thức ăn và nhu cầu các chất dinh dưỡng của cơ thể
- Vai trò của các chất dinh dưỡng đối với cơ thể
- Ăn uống khi ốm đau
c Phòng bệnh
- Phòng một số bệnh do ăn thiếu hoặc ăn thừa chất dinh dưỡng
- Phòng một số bệnh lây nhiễm qua đường tiêu hóa
d An toàn trong cuộc sống
- Phòng tai nạn đuối nước
- Phòng một số bệnh qua muỗi truyền: sốt rét, xuất huyết, viêm não, viêm gan
- Sử dụng thuốc an toàn
Trang 231.3.4.2 Chủ đề “Vật chất và năng lượng”
Bao gồm các bài học nói về tính chất và ứng dụng của một số chất, một số vật liệu và dạng năng lượng thường gặp trong đời sống và sản xuất Chương trình dành 10 tiết dạy để dạy các bài có nội dung về:
a Nước
- Tính chất, vòng tuần hoàn, vai trò của nước
- Sự ô nhiễm nước; cách làm sạch nước
- Sử dụng nước hợp lí, bảo vệ nguồn nước
b Không khí
- Thành phần, tính chất, vai trò của nước
- Sự chuyển động của không khí, gió bão, phòng chống bão
- Sự ô nhiễm không khí; bảo vệ bầu không khí trong sạch
c Âm thanh
- Các nguồn âm, sự truyền âm
- Âm thanh trong cuộc sống, chống tiếng ồn
- Vai trò của nhiệt
f Tính chất và ứng dụng của một số vật liệu thường dùng
- Kim loại( sắt, đồng, nhôm) và hợp kim (gang, thép, duy-ra); đá vôi, gốm (gạch, ngói), xi măng, thủy tinh, cao su, chất dẻo, tơ sợi
- Tầm quan trọng và cách sử dụng của một số dạng năng lượng thường gặp: than đá, dầu mỏ, khí đốt, mặt trời, gió, nước, năng lượng điện
1.3.4.3 Chủ đề “ Thực vật và động vật”
- Về chủ đề Thực vật, các bài học được thực hiện trong 5 tiết, gồm các kiến
thức về trao đổi chất của thực vật thông qua tìm hiểu ảnh hưởng của các nhân tố vô
Trang 24sinh: nước và độ ẩm; các chất khoáng; ánh sáng; không khí và nhiệt độ đến đời sống của thực vật
- Về chủ để Động vật, các bài học được thực hiện trong 6 tiết, nội dung các
bài học chủ yếu giới thiệu cho các em về đặc điểm dinh dưỡng và nhận biết những hiện tượng về trao đổi chất ở động vật Đồng thời, các em được tìm hiểu mối quan
hệ giữa một số loài động vật với nhau và với thực vật trong tự nhiên
Trang 25CHƯƠNG 2 TÌM HIỂU THỰC TẾ SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG DẠY HỌC TRONG
DẠY HỌC CHỦ ĐỀ VẬT CHẤT VÀ NĂNG LƯỢNG
CỦA MÔN KHOA HỌC LỚP 4
2.1 THỰC TẾ VIỆC DẠY CÓ SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG DẠY HỌC
2.1.1 Đối tượng điều tra
Giáo viên Tiểu học khối lớp 4 đang công tác tại trường Tiểu học Hải Vân
2.1.2 Nội dung điều tra
- Mức độ sử dụng ĐDDH trong dạy học chủ đề “Vật chất và năng lượng” ở môn
Khoa học lớp 4
- Nhận thức của giáo viên về vai trò của ĐDDH trong dạy học học chủ đề “Vật chất
và năng lượng” của môn Khoa học lớp 4 ở Tiểu học; những thuận lợi và khó khăn
khi tiến hành các bài dạy có sử dụng ĐDDH
2.1.3 Phương pháp đi ều tra
Phương pháp điều tra bằng Anket, phương pháp quan sát, phương pháp phỏng vấn
2.1.4 Kết quả điều tra
Điều tra trên đối tượng giáo viên
Câu 1: Trong dạy học môn Khoa học lớp 4 ở Tiểu học, mức độ sử dụng ĐDDH của
thầy (cô) là như thế nào?
Nhận xét: Qua việc thăm dò ý kiến của 5 giáo viên đang công tác giảng dạy tại
trường Tiểu học Hải Vân, chúng tôi được biết: Hầu hết các giáo viên thường xuyên
sử dụng đồ dùng dạy học trong dạy học môn Khoa học lớp 4, không chỉ ở môn học này mà còn ở tất cả các môn học khác, bởi nó đóng vai trò rất quan trọng trong việc giảng dạy của giáo viên cũng như quá trình tiếp thu tri thức mới của học sinh Nếu
Trang 26không thường xuyên sử dụng phương tiện dạy học này thì giáo viên cũng như học sinh sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình dạy và học
Câu 2: Theo thầy (cô), ĐDDH đóng vai trò như thế nào trong trong việc dạy học
môn Khoa học ở Tiểu học?
Nhận xét: Thông qua việc điều tra 5 GV đang giảng dạy khối lớp 4 trường Tiểu học
Hải Vân, chúng tôi thấy rằng, tất cả các thầy cô đều nhận thức được tầm quan trọng của ĐDDH dạy và học Khi được hỏi đến vấn đề này, cả 5 GV trên tổng số 5 GV
mà chúng tôi điều tra đều cho rằng trong dạy học, việc sử dụng ĐDDH là việc làm rất quan trọng, nó ảnh hưởng đến hiệu quả của cả tiết học Và đồng thời các thầy (cô) cũng bày tỏ quan điểm của mình về việc nâng cao kĩ năng khai thác và sử dụng ĐDDH sao cho phát huy đúng vai trò của nó trong dạy học
Câu 3: Ngoài cáo loại ĐDDH có sẵn của môn học do Bộ GD& ĐT cung cấp, thầy
(cô) có sưu tầm hoặc tự làm các loại ĐDDH đơn giản để phục vụ bài học không?
Bảng 2.4 – Bảng điều tra trên đối tượng GV về thực tế việc sử dụng ĐDDH trong dạy học môn Khoa học lớp 4
Nhận xét: Trong tổng số 5 GV khối lớp 4 mà chúng tôi thăm dò ý kiến thì có 3 GV
cũng chung một quan điểm, một ý kiến, đó là thường xuyên sưu tầm và tự làm ĐDDH phục vụ cho công việc giảng dạy, chiếm 60%; có 2 ý kiến ( chiếm 40%) về việc chỉ thỉnh thoảng làm công việc này do điều kiện về thời gian, tiền bạc, công
Trang 27sức nên đôi lúc hạn chế việc sưu tầm hay tự làm đồ dùng để dạy học Tuy nhiên, đây đều là những con số đáng mừng, nếu GV cố gắng đầu tư vào bài giảng, vào tiết dạy, khắc phục những lí do chủ quan của cá nhân thì việc sưu tầm tranh, ảnh hoặc
tự làm các dụng cụ thí nghiệm đơn giản liên quan phục nội dung bài học không có
gì khó khăn, chắc chắn hiệu quả mang lại cho việc dạy và học môn Khoa học sẽ như mong muốn
Câu 4: Qua việc sử dụng ĐDDH trong giờ họcKhoa học lớp 4, thầy (cô) thấy hiệu
quả mang lại là :
1 Lớp sôi nổi, tất cả các em đều hiểu bài 2 40 %
Bảng 2.5 – Bảng điều tra trên đối tượng GV về thực tế việc sử dụng ĐDDH trong dạy học môn Khoa học lớp 4
Nhận xét: Khi được hỏi về hiệu quả mang lại trong giờ học Khoa học qua việc sử
dụng ĐDDH, thì có 3 trong tổng số 5 GV ( chiếm 60%) nhận thấy hiệu quả mang lại cao, hầu hết học sinh đều hiểu bài Trong khi đó, có 2 GV (chiếm 40%) cảm thấy việc sử dụng đồ dùng vào dạy học mang lại hiệu quả rất cao, lớp học sôi nổi, tất cả các em đều hiểu bài Như vậy, qua thực tế tìm hiểu, chúng tôi thấy rõ, trong dạy học kết hợp việc sử dụng ĐDDH thì mang lại hiệu quả tích cực đối với cả việc dạy và việc học Nhiệm vụ của GV là cần phải ngày một nâng cao hơn kĩ năng sử dụng ĐDDH, sử dụng hợp lí, đúng lúc, đúng chỗ, có như vậy mới phát huy đúng tác dụng của các loại ĐDDH, giúp học sinh thêm hứng thú, tiết học thêm sôi nổi, khơi dậy lòng ham thích tìm tòi khám phá kiến thức khoa học ở các em Có như vậy HS mới
có cái nhìn đúng đắn về tầm quan trọng của môn học cũng như sự có mặt không thể thiếu của ĐDDH trong dạy học các môn học nói chung và môn Khoa học lớp 4 nói riêng
Câu 5: Theo thầy (cô), các giờ học Khoa học có nội dung như thế nào thì nên sử
dụng đồ dùng dạy học?
Trang 28Nhận xét: Qua việc thăm dò ý kiến của 5 GV giảng dạy lớp 4 tại trường Tiểu học
Hải Vân, tùy theo nội dung từng bài và đặc điểm của môn học, các thầy cô đều cho rằng:
Các bài học có tính chất cụ thể để giúp cho học sinh hình dung cũng như nắm được quá trình của các hiện tượng trong tự nhiên như nước - ba thể của nước, mây được hình thành thư thế nào, mưa từ đâu ra; vòng tuần hoàn của nước trong tự nhiên Sự trao đổi chất ở người, động - thực vật; quan hệ và chuỗi thức ăn trong tự nhiên,…Những bài học này, GV nên sử dụng sơ đồ để giúp học sinh dễ dàng nắm bắt kiến thức cũng như trình tự của nó qua sơ đồ
Đối với những đơn vị bài học thuộc chủ đề vật chất và năng lượng như nước, không khí, ánh sáng, nhiệt, âm thanh,… Ngoài sử dụng tranh ảnh, sơ đồ để minh họa cho kiến thức đó thì việc sử dụng dụng cụ để thí nghiệm là vô cùng quan trọng Qua việc thí nghiệm, học sinh có thể dễ dàng hình dung ra cái gọi là “Tại sao?”,
“Như thế nào?”, “Do đâu mà có?”,…và có thể tự tìm kiếm, khám phá ra kiến thức Vậy nên, hầu hết các bài trong môn Khoa học lớp 4 cần thiết phải sử dụng ĐDDH,
có như vậy mới tạo được hứng thú cho các em trong môn học, đồng thời nâng cao lòng tin của các em vào khoa học
Câu 6: Khi tiến hành dạy một tiết Khoa học có sử dụng đồ dùng dạy học, thầy (cô)
thường hay gặp phải những thuận lợi, khó khăn nào?
* Thuận lợi:
Trước đây, trong quy trình dạy học, quan niệm đồ dùng dạy học sẽ thay thế cho lời giảng của giáo viên Nhưng ngày nay, quy trình đổi mới phương pháp dạy học, ĐDDH chẳng những là phương tiện minh họa cho lời giảng của GV mà phương tiện giúp giáo viên tổ chức và điều khiển hoạt động học tập, phương tiện phát triển tư duy của HS , có tác dụng tích cực hóa hoạt động học tập, chủ động nhận thức, có cơ hội tự mình phát hiện ra kiến thức mới
* Khó khăn:
- Hệ thống ĐDDH dành riêng cho môn Khoa học như tranh ảnh, sơ đồ, dụng cụ thí nghiệm,… còn thiếu nhiều
Trang 29- Khó có đủ các điều kiện khách quan và chủ quan để tổ chức một cách thường xuyên các giờ dạy tại lớp có sử dụng dụng cụ thí nghiệm
- Kĩ năng làm việc với ĐDDH của HS còn kém
- Tốn nhiều thời gian và tiền của cho việc chuẩn bị một tiết dạy có sử dụng ĐDDH trong giờ học Khoa học, chủ yếu là ở những bài cần làm thí nghiệm, thực hành
Câu 7: Theo thầy (cô), trong quá trình dạy học nói chung, và dạy học môn Khoa
học 4 nói riêng, việc sử dụng đồ dùng dạy học đã giúp cho thầy (cô) như thế nào?
Qua việc thăm dò ý kiến, cô giáo Trần Thị Cúc, giáo viên chủ nhiệm lớp 4/1
cho biết: “ Việc sử dụng đồ dùng dạy học trong dạy học môn Khoa học ở Tiểu học
mang lại hiệu quả rất cao trong quá trình giảng dạy của giáo viên cũng như quá trình tiếp thu bài của học sinh Học sinh trở nên chủ động, sáng tạo hơn ở việc tiếp cận với kiến thức mới Thay vì sử dụng lối dạy học theo phương pháp truyền thống : thầy đọc – trò chép, thì giáo viên chỉ cần hướng dẫn, gợi mở cho học sinh có thể tự mình khám phá tìm ra tri thức mới cần lĩnh hội Bằng cách đó học sinh sẽ khắc sâu kiến thức tốt hơn và có thể vận dụng linh hoạt vào đời sống thực tiễn Theo tôi, Vi ệc
sử dụng đồ dùng dạy học trong quá trình dạy học nói chung, và dạy học môn Khoa học 4 nói riêng, tuy có gặp một số khó khăn nhất định nhưng nếu giáo viên biết cách sử dụng một cách hợp lí thì sẽ mang lại hiệu quả rất cao trong giờ dạy”
2.2.2 Đối tượng, phạm vi và thời gian khảo sát
2.2.2.1 Đối tượng và phạm vi khảo sát
Học sinh khối lớp 4 trường Tiểu học Hải Vân
Số lượng: 81 học sinh
2.2.2.2 Thời gian khảo sát
Trang 30Chúng tôi tiến hành khảo sát từ ngày 24/03/2012 đến ngày 26/03/2012
2.2.3 Nội dung khảo sát
Khảo sát tình hình về thái độ, nguyện vọng, mong muốn của học sinh khối lớp 4, trường Tiểu học Hải Vân đối với việc sử dụng ĐDDH trong dạy học môn Khoa học
- Tổng số phiếu phát ra: 81
- Tổng số phiếu thu lại : 78
2.2.4 Kết quả khảo sát
Khảo sát trên đối tượng học sinh
Câu 1: Em có thích học môn Khoa học không?
Nhận xét: Thông qua việc điều tra học sinh ở 3 lớp của khối lớp 4 trường Tiểu học
Hải Vân, chúng tôi đã thu được kết quả là nhận thấy rằng đại đa số các em đều có ham thích học môn Khoa học, chiếm 85,9% Vì các em đều cho rằng, môn Khoa học đã cung cấp cho các em những hiểu biết cơ bản, ban đầu về kiến thức khoa học trong lĩnh vực tự nhiên Đây là môn học khơi gợi sự hiểu biết của các em Trong khi đó, vẫn còn một số lượng nhỏ (9 học sinh, chiếm 11,5%), những em này có thái
độ bình thường với môn học, tức là các em không tỏ ra thái độ hứng thú cũng như thái độ không thích môn học Và một số lượng rất nhỏ không đáng kể (chỉ có 2 em, chiếm 2,7%) tỏ thái độ không thích với môn học này Qua việc tìm hiểu về 2 HS này, chúng tôi nhận thấy những em này đều rơi vào những HS có kết quả học tập chưa cao so với các bạn trong lớp Các em không chỉ không thích học môn Khoa học mà còn có thái độ thờ ơ với các môn học khác như Toán, Tiếng Việt Lịch sử và Địa lí,…
Câu 2: Trong các loại ĐDDH đây, loại nào mà em thường thấy giáo viên hay sử
dụng trong giờ học Khoa học:
Trang 31TT Trả lời Số lượng học sinh Tỉ lệ
Nhận xét: Trong số 78 học sinh được hỏi thì hầu hết các loại đồ dùng dạy học nêu
ra đều được giáo viên sử dụng trong giờ học Khoa học Đại đa số học sinh thường cho rằng giáo viên thường hay dùng tranh ảnh chiếm tỉ lệ 62,8% Một phần không nhỏ là giáo viên cũng dùng dụng cụ thí nghiệm để vận dụng trong các giờ thực hành, chiếm 30,8%, phần còn lại là việc sử dụng sơ đồ, chiếm tỉ lệ 6,4% Điều này chứng tỏ rằng, cả ba loại đồ dùng dạy học chủ yếu trong môn Khoa học: tranh ảnh, dụng cụ thí nghiệm, sơ đồ đều được giáo viên sử dụng theo cường đồ khác nhau tùy theo nội dung của từng bài yêu cầu
Câu 3: Bản thân em có thích học những tiết Khoa học có sử dụng ĐDDH không?
Nhận xét: Qua điều tra, chúng tôi nhận thấy rằng đại đa số học sinh đều thích học
và tỏ thái độ rất hứng thú trong các giờ học Khoa học có sử dụng các loại ĐDDH , chiếm tỉ lệ 85,9% Điều đó chứng tỏ rằng vai trò của ĐDDH học trong dạy học Khoa học là rất quan trọng Không có HS nào không thích việc sử dụng các loại đồ dùng trực quan trong dạy học Khoa học, chiếm tỉ lệ 0% Đây là con số đáng mừng,
vì vậy cần thường xuyên vân dụng phương pháp này để thu hút, tạo cảm hứng học tập cho học sinh Tỉ lệ 14,1% tương ứng với 11 học sinh tỏ thái độ bình thường đối với việc sử dụng ĐDDH trong dạy học môn Khoa học, điều này xuất phát từ việc
Trang 32thờ ơ với môn học nên đã không quan tâm nhiều đến việc giáo viên có sử dụng đồ dùng trong dạy học này
Câu 4: Khi học môn Khoa học, khó khăn thường gặp của em là gì?
Nhận xét: Qua việc thăm dò ý kiến, hầu hết các em đều cho biết rằng, khó khăn lớn
nhất của các em khi học môn học này là khó thuộc bài, chưa hình dung ra được bản chất kiến thức (nhất là kiến thức ở chủ đề “Vật chất và năng lượng”) vì nhiều lúc các em học qua hình ảnh từ SGK, chưa trực tiếp làm thí nghiệm do hạn chế về điều kiện khách quan, chủ quan của trường học, lớp học, giáo viên,…Điều này cho chúng tôi thấy rằng, kiến thức nôm Khoa học lớp 4 cần được truyền đạt đến HS một cách thực tế, tức là GV phải chủ động tái hiện kiến thức đó qua ĐDDH, giúp các em hình dung rõ hơn, dễ hiểu bài và nhớ bài lâu hơn, đặc biệt là các bài học có liên quan đến việc thí nghiệm thì GV cần cố gắng tổ chức để HS dẽ dàng tiếp thu kiến thức Do vậy mà ĐDDH trong dạy học môn Khoa học có vai trò rất quan trọng, GV cần tích cực sử dụng để nâng cao chát lượng dạy và học
Câu 5: Thông qua việc sử dụng ĐDDH khi học tiết Khoa học, em thấy mình có hiểu
bài tốt hơn không?
Nhận xét: Qua việc điều tra câu hỏi này, chúng tôi đã thu được kết quả như sau: Có
59 học sinh tỏ thái độ rất hứng thú (rất tốt) chiếm 75.6% trong tổng số 78 học sinh được lựa chọn phục vụ công tác điều tra Số còn lại cảm thấy mức độ hiểu bài tốt khi được giáo viên sử dụng đồ dùng đan xen trong quá trình hình thành kiến thức mới Và một con số không đáng kể (4 học sinh) tỏ thái độ bình thường, chiếm 2,6% Như vậy, từ những con số rất cụ thể, có thể cho chúng ta thấy hầu hết ở các em đều bày tỏ thái độ tích cực khi được giáo viên sử dụng các loại đồ dùng dạy học trong dạy học môn Khoa học
Trang 33CHƯƠNG 3
SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG DẠY HỌCTRONG DẠY HỌC
CHỦ ĐỀ VẬT CHẤT VÀ NĂNG LƯỢNG CỦA MÔN KHOA HỌC LỚP 4
3.1 HỆ THỐNG ĐỒ DÙNG DẠY HỌC ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC LỚP 4
3.1.1 Một số loại ĐDDH sưu tầm và tự làm trong dạy học môn Khoa học lớp 4
3.1.1.1 Một số loại ĐDDH sưu tầm
a Tranh ảnh, băng hình
Nguồn tranh ảnh, băng hình sưu tầm cho dạy học rất phong phú, có thể tự khai thác từ các phương tiện thông tin đại chúng: sách, báo, lịch treo tường, truyền hình, mạng internet…
b Các mô hình, mẫu vật, dụng cụ thí nghiệm đơn giản
Các loại đồ dùng này có thể khai thác trực tiếp từ thiên nhiên, xã hội: các mô hình tự chế tạo, các loại lá cây, hoa, đất, đá, sản phẩm của một số hoạt động kinh tế nông nghiệp, công nghiệp…
3.1.1.2 Một số loại ĐDDH tự làm
a Mẫu vật
- Các loại mẫu vật thường sử dụng trong dạy học chủ đề Con người và sức khỏe, Động vật và Thực vật là: các loại mẫu vật ngâm, mẫu vật ép, mẫu vật khô
- Các mẫu vật tự nhiên: các mẫu vật về đá, kim loại, sành, sứ…thường được
sử dụng trong dạy học phần Khoa học
b Sơ đồ, tranh, ảnh tự tạo
- Sơ đồ: Có các loại sơ đồ phản ánh không gian ở một khu vực cụ thể không lớn và sơ đồ về mối quan hệ nhằm khái quát hóa kiến thức GV có thể tự thiết kế các sơ đồ nhằm khái quát kiến thức, giúp HS phát triển tư duy trừu tượng
- Tranh , ảnh tự tạo: tự vẽ một số bức tranh đơn giản và chụp một số bức ảnh phục vụ cho các bài dạy Các bức tranh, ảnh có thể đưa vào mày tính và in các kích
cỡ khác nhau
Trang 34c Làm các thiết bị thí nghiệm đơn giản
Nhiều thí nghiệm đơn giản GV có thể tự làm: thí nghiệm chứng minh không khí có trọng lượng, không khí nóng bốc lên cao, cây hút hơi nước và thoát hơi nước,…
d Các phiếu học tập, bảng tổng kết, sơ đồ trống
Trong các Đ DDH này, các phiếu học tập, phiếu giao việc cho các bài học là cần thiết nhất Các loại phiếu này tạo điều kiện cho GV có thể áp dụng các PPDH tích cực, phù hợp với đối tượng HS
3.1.2 Đồ dùng dạy học được sử dụng trong chủ đề Vật chất và năng lượng
3.1.2.1 Tranh ảnh và tư liệu liên quan đến nội dung chủ đề
Với HS tiểu học, việc sử dụng tranh, ảnh, mô hình như là nguồn thông tin cho HS quan sát, phân tích để phát hiện ra kiến thức về chủ để Vật chất và năng lượng như: có thể sưu tầm tranh, ảnh, vẽ tranh cổ động, photo phóng to các hình vẽ trong SGK để HS cả lớp quan sát
3.1.2.2 Phiếu học tập
Phiếu học tập có vai trò rất quan trọng Tùy theo mục tiêu của từng bài học
và mục đích sử dụng Phiếu dùng cho hoạt động nhóm , cả lớp, cá nhân, dùng cho phát hiện kiến thức mới hay cho ôn tập củng cố kiến thức đã học Các phiếu học thường được thể hiện trên cả kênh chữ và kênh hình nhằm khai thác đầy đủ thông tin của bài học Phiếu học tập gồm có:
Hầu hết các bài học thuộc chủ đề Vật chất và năng lượng đều có thí nghiệm
để nghiên cứu các sự vật, hiện tượng, các quá trình diễn ra trong thế giới tự nhiên Bên cạnh các trang thiết bị thí nghiệm đo nhà trường trang bị, Gv phải nghiên cứu
để làm các dụng cụ thí nghiệm còn thiếu hoặc cải tiến các dụng cụ cho phù hợp với điều kiện cụ thể