Vì vậy, một trong những nhiệm vụ của người giáo viên là phải biết cách hình thành ở học sinh những biểu tượng và khái niệm địa lí, giúp học sinh xác lập các mối quan hệ địa lí trên cơ sở
Trang 2Lời cảm ơn
Sau một thời gian tìm hiểu, nghiên cứu và xử lí tài liệu, mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng đến nay đề tài khoá luận của em cũng đã hoàn thành Bên cạnh sự nỗ lực của bản thân em còn nhận được sự sự quan tâm, giúp đỡ từ nhiều nơi
Trước tiên em xin chân thành cảm ơn cô Đinh Thị Ngọc Bích, người đã hướng dẫn nhiệt tình, tỉ mỉ, cung cấp một số tài liệu quý báu
và tạo mọi điều kiện giúp đỡ em thoàn thành đề tài này
Nhân đây em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo bộ môn, Ban chủ nhiệm khoa Giáo dục Tiểu học - Mầm non trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng đã tận tình chỉ bảo, góp ý
để đề tài khoá luận của em có hướng đi đúng đắn và tránh được nhiều sai sót
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn các thầy cô giáo đang giảng dạy tại trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp một số kinh nghiêm quý báu của bản thân giúp cho đề tài được hoàn chỉnh hơn
Do còn nhiều hạn chế về thời gian, còn thiếu kinh nghiệm và một
số điều kiện khác nên chắc chắn khoá luận sẽ không tránh khỏi sai sót
Vì vậy, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến quý báu của các quý thầy, cô giáo trong khoa và các bạn để đề tài được hoàn chỉnh hơn
Xin chân thành cảm ơn !
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2012
Sinh viên Trần Thị Ngân Hà
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Cấu trúc khóa luận 4
NỘI DUNG 5
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 5
1.1 Cơ sở lí luận 5
1.1.1 Một số vấn đề chung về bản đồ, lược đồ 5
1.1.1.1 Khái niệm bản đồ 5
1.1.1.2 Khái niệm lược đồ 5
1.1.1.3 Một số yếu tố của bản đồ, lược đồ 5
1.1.1.4 Vai trò của bản đồ, lược đồ trong học tập và đời sống 9
1.1.2 Đặc điểm tâm lí của học sinh Tiểu học 10
1.1.2.1 Những thay đổi của trẻ bắt đầu đi học 10
1.1.2.2 Đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học 11
1.1.2.3 Đặc điểm nhân cách học sinh Tiểu học 16
1.2 Cơ sở thực tiễn 17
1.2.1 Đặc điểm về mục tiêu, nội dung chương trình môn Địa lí lớp 4, 5 17
1.2.2 Thực tiễn việc sử dụng bản đồ trong dạy học môn Địa lí lớp 4, 5 20
1.2.2.1 Đối tượng điều tra 20
1.2.2.2 Nội dung điều tra 21
1.2.2.3 Phương pháp điều tra 21
Trang 4DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÍ LỚP 4, 5 29
2.1 Sơ lược hệ thống bản đồ, lược đồ và chuẩn kiến thức kĩ năng qua việc sử dụng bản đồ, lược đồ trong môn Địa lí lớp 4,5 29
2.1.1 Sơ lược hệ thống bản đồ, lược đồ trong chương trình Địa lí lớp 4 29
2.1.2 Chuẩn kiến thức-kĩ năng qua việc sử dụng bản đồ, lược đồ trong chương trình Địa lí lớp 4 31
2.1.3 Sơ lược hệ thống bản đồ, lược đồ trong chương trình Địa lí lớp 5 33
2.1.2 Chuẩn kiến thức-kĩ năng qua việc sử dụng bản đồ, lược đồ trong chương trình Địa lí lớp 5 35
2.2 Mối liên hệ giữa sự hình thành kiến thức Địa lí với việc nắm kiến thức và sử dụng bản đồ, lược đồ 37
2.3 Phương pháp sử dụng bản đồ trong dạy học môn Địa lí lớp 4, 5 39
2.3.1 Phương pháp so sánh 41
2.3.2 Phương pháp phân tích 42
2.3.3 Phương pháp tổng hợp 43
2.3.4 Quy trình chung sử dụng một hoặc nhiều tờ bản đồ 43
2.3.4.1 Sử dụng tờ bản đồ 43
2.3.4.2 Sử dụng nhiều tờ bản đồ 44
2.4 Hướng dẫn học sinh sử dụng bản đồ, lược đồ trong dạy học môn Địa lí lớp 4,5 45
2.4.1 Một số điều kiện cần có để hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức từ bản đồ, lược đồ 45
2.4.2 Hướng dẫn học sinh hiểu bản đồ, lược đồ 45
2.4.3 Hướng dẫn học sinh xác định phương hướng trên bản đồ, lược đồ 46
2.4.4 Hướng dẫn học sinh đọc bản đồ, lược đồ 47
Trang 52.5 Những điều giáo viên cần lưu ý khi sử dụng bản đồ, lược đồ trong môn
Địa lí lớp 4, 5 54
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 56
3.1 Mục đích thực nghiệm 56
3.2 Chuẩn bị thực nghiệm 56
3.2.1 Đối tượng thực nghiệm 56
3.2.2 Nội dung thực nghiệm 56
3.2.3 Tiêu chí đánh giá 56
3.3 Tiến hành thực nghiệm 57
3.4 Kết quả thực nghiệm 57
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60
1 Kết luận chung 60
2 Một số ý kiến đề xuất 61
2.1 Đối với giáo viên: 61
2.2 Đối với các cấp lãnh đạo: 62
3 Hướng nghiên cứu tiếp của đề tài 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
“Địa lí bắt đầu từ bản đồ và kết thúc bằng bản đồ” Quả đúng như vậy Trong bộ môn Địa lý ở trường phổ thông nói chung và Địa lý lớp 4, 5 nói riêng, việc sử dụng bản đồ, lược đồ trong các tiết dạy là rất thường xuyên và thiết thực Bản đồ, lược đồ không những là phương tiện minh hoạ cho nội dung bài học mà còn chứa đựng kiến thức cho học sinh khai thác, giúp các em hiểu sâu hơn, cụ thể hơn thế giới xung quanh chúng ta và những vấn đề Địa lý liên quan Thực tế, trong chương trình học tập ở nhà trường phổ thông, không
có thời gian dành cho bản đồ học, bản đồ, lược đồ chỉ được coi như một công
cụ, một phương tiện dạy học Địa lý Do vậy, chỉ có thể thông qua việc giảng dạy Địa lý để trang bị kiến thức bản đồ cho học sinh Hơn nữa, trong chương trình kiến thức phổ thông, lượng kiến thức địa lý được xác định cụ thể cho từng cấp học, lớp học vì vậy cũng cần phải xác định kiến thức bản đồ cho từng cấp, lớp học Trong quá trình giảng dạy, người giáo viên giúp học sinh làm quen với ngôn ngữ bản đồ từ đơn giản đến phức tạp nhằm mục đích trang
bị cho học sinh khả năng đọc và sử dụng bản đồ như là đọc hay sử dụng một quyển sách Nghĩa là không dừng lại ở mức nhận biết các hiện tượng địa lý trên bản đồ mà phải nắm được nội dung của các hiện tượng đó, tiến dần từ sự
mô tả định tính một khu vực sang mô tả định lượng
Ở tiểu học, các em học sinh được học môn địa lý ở lớp 4 và lớp 5 Việc dạy môn học này không hề đơn giản, bởi nó là môn học mới mẻ và các kiến thức đều hết sức lạ lẫm với học sinh Vì thế, giáo viên lớp 4 và lớp 5 cần hết sức chú ý đến các kiến thức cơ bản của môn học này Nói đến địa lý là nói đến bản đồ, lược đồ Tiếc rằng, cả chương trình học ở lớp 4 và lớp 5 không có tiết học nào dạy học sinh cách dùng bản đồ, lược đồ Khi dạy địa lý, giáo viên thường cung cấp kiến thức theo mục tiêu bài dạy, chỉ cho học sinh quan sát
Trang 7bản đồ theo yêu cầu bài để kịp thời gian giảng dạy mà thôi Chính vì thế đã dẫn đến rất nhiều học sinh khi lên trung học vẫn không xác định được hướng Đông, Tây, Nam, Bắc… trên bản đồ, lược đồ Điều đó dẫn đến các em không biết cách khai thác kiến thức từ bản đồ, lược đồ Do vậy kiến thức các em tiếp thu được sau mỗi tiết học là không chắc chắn hay nói đơn giản là “học vẹt” nên rất nhanh quên Đến các bài thực hành phải làm việc nhiều với bản đồ, thì các em thấy rất khó khăn và lúng túng, nhiều em chỉ nói và làm theo bạn bè
mà không hiểu gì cả
Trong yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, việc phát huy tính tích cực học tập của học sinh hết sức quan trọng và được thực hiện ở nhiều môn học khác nhau, trong đó có môn Địa lí Mặt khác, trong dạy học Địa lí việc rèn luyện kĩ năng cho các em luôn được chú trọng, đặc biệt là kĩ năng sử dụng bản đồ, lược đồ Nhiều nhà nghiên cứu, nhiều giáo viên đã cố gắng tìm những phương pháp tối ưu để rèn luyện kĩ năng cho học sinh trong dạy học Địa lí và đã có nhiều để tài, sáng kiến kinh nghiệm thiết thực Vì vậy, một trong những nhiệm vụ của người giáo viên là phải biết cách hình thành ở học sinh những biểu tượng và khái niệm địa lí, giúp học sinh xác lập các mối quan hệ địa lí trên cơ sở đó nắm vững các kiến thức địa lí Vì vậy theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học, các phương tiện dạy học như bản đồ, biểu đồ, lược đồ, bảng số liệu được sử dụng như một nguồn cung cấp kiến thức cho học sinh tự tìm tòi, phát hiện những kiến thức và hình thành rèn luyện một số kĩ năng bộ môn chứ không chỉ để minh họa cho lời giảng của giáo viên Người giáo viên muốn dạy tốt môn Địa lí thì phải hiểu rõ về bản
đồ, lược đồ đồng thời biết cách sử dụng chúng như thế nào để mang lại hiệu quả
Chính vì những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Tìm hiểu việc sử dụng
bản đồ, lược đồ trong dạy học môn địa lí lớp 4, 5.”
Trang 82 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu về việc sử dụng bản đồ, lược đồ trong dạy học môn Địa lí lớp
4, 5 Từ đó đề xuất một số ý kiến góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Địa lí lớp 4, 5
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học môn Địa lí lớp 4, 5
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Tìm hiểu về việc sử dụng bản đồ, lược đồ trong môn Địa lí lớp 4, 5
4 Giả thuyết khoa học
Nếu giáo viên hiểu rõ về bản đồ, lược đồ và biết cách sử dụng chúng thì tiết dạy sẽ đạt hiệu quả cao Từ đó có thể nâng cao chất lượng dạy và học môn Địa lí
5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và tìm hiểu tình hình thực tế của việc sử dụng bản đồ, lược đồ trong môn địa lí, từ đó đề xuất một số ý kiến góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Địa lí lớp 4,5
- Thiết kế một số hoạt động dạy học và thực nghiệm sư phạm
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Do những hạn chế chủ quan và khách quan về mặt thời gian nên chúng tôi chỉ tiến hành nghiên cứu những bài học có sử dụng bản đồ, lược đồ trong môn Địa lí lớp 4,5 và tiến hành thực nghiệm tại trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Thu thập tài liệu, tiến hành đọc, phân tích tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các nguồn tài liệu lí luận và thực tiễn có liên quan đến việc sử dụng
Trang 9bản đồ, lược đồ trong môn Địa lí ở Tiểu học Các tài liệu trên được phân tích, nhận xét, tóm tắt và trích dẫn phục vụ trực tiếp cho việc giải quyết các nhiệm
vụ nghiên cứu đề tài
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát, đàm thoại
- Phương pháp điều tra bằng anket
PHẦN NỘI DUNG gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
- Chương 2: Tìm hiểu việc sử dụng bản đồ, lược đồ trong dạy học môn Địa lí lớp 4, 5
- Chương 3 : Thực nghiệm sư phạm
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 10NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Một số vấn đề chung về bản đồ, lược đồ
1.1.1.1 Khái niệm bản đồ
Bản đồ địa lí là hình vẽ thu nhỏ bề mặt Trái Đất hoặc một bộ phận của
bề mặt Trái Đất trên mặt phẳng dựa vào phương pháp toán học, phương pháp biểu hiện bằng kí hiệu để thể hiện các thông tin về địa lí Bản đồ, lược đồ có khả năng phản ánh sự phân bố và những mối quan hệ của các đối tượng địa lí trên bề mặt của Trái Đất một cách cụ thể mà không một phương tiện nào có thể thay thế được
1.1.1.2 Khái niệm lược đồ
Lược đồ là những bản đồ nhưng thiếu yếu tố toán học (tỉ lệ bản đồ, hệ thống kinh tuyến, vĩ tuyến…) nên không sử dụng để đo tính khoảng cách mà chỉ dùng để nhận biết vị trí tương đối của một số đối tượng địa lí với một vài đặc điểm của chúng
1.1.1.3 Một số yếu tố của bản đồ, lược đồ
Trang 11hướng Nam, đầu bên phải của vĩ tuyến chỉ hướng Đông, đầu bên trái là hướng Tây Với các bản đồ không vẽ kinh tuyến, vĩ tuyến thì chúng ta phải dựa vào mũi tên chỉ hướng Bắc trên bản đồ để xác định hướng Bắc, sau đó tìm các hướng còn lại
+ Đối với lược đồ không có đường kinh tuyến, vĩ tuyến thì người ta thường quy ước, phía trên bản đồ là hướng Bắc, phía dưới là hướng Nam, bên phải là hướng Đông, bên trái là hướng Tây
Trang 12- Tỉ lệ bản đồ
●Ý nghĩa của tỉ lệ bản đồ:
Bản đồ nào cũng có ghi tỉ lệ ở phía dưới hay ở góc bản đồ Dựa vào tỉ
lệ bản đồ, chúng ta có thể biết được các khoảng cách trên bản đồ đã thu nhỏ bao nhiêu lần so với kích thước thực của chúng trên thực địa
Tỉ lệ bản đồ được thể hiện ở hai dạng:
+ Tỉ lệ số: là một phân số luôn có tỉ số là 1 Mẫu số càng lớn thì tỉ lệ càng nhỏ và ngược lại
Ví dụ: tỉ lệ 1:100 000 có nghĩa là 1cm trên bản đồ bằng 100 000cm (hay 1km) trên thực địa
+ Tỉ lệ thước: tỉ lệ được vẽ cụ thể dưới dạng thước đo đã tính sẵn, mỗi đoạn đề ghi số đo độ dài tương ứng trên thực địa
Ví dụ: Mỗi đoạn 1cm bằng 1km hoặc 10km
Tỉ lệ bản đồ có liên quan đến mức độ thể hiện các đối tượng địa lí trên bản đồ Tỉ lệ càng lớn thì mức độ chi tiết của bản đồ càng cao
Những bản đồ có tỉ lệ trên 1:200 000 là bản đồ tỉ lệ lớn Những bản đồ
có tỉ lệ từ 1:200 000 đến 1:1000 000 là bản đồ tỉ lệ trung bình Những bản đồ
có tỉ lệ nhỏ hơn 1 : 1000 000 là những bản đồ tỉ lệ nhỏ
H3: Bản đồ một khu vực của thành phố Đà Nẵng (Tỉ lệ 1: 15 000)
Trang 13● Đo tính các khoảng cách thực địa dựa vào tỉ lệ bản đồ
+ Muốn tính các khoảng cách thực địa (theo đường chim bay) dựa vào
tỉ lệ thước, chúng ta làm như sau:
Đánh dấu khoảng cách giữa hai điểm vào cạnh một tờ giấy hoặc thước
+ Các loại kí hiệu bản đồ, lược đồ:
Bản đồ, lược đồ nào cũng có một hệ thống kí hiệu để biểu hiện các đối tượng về mặt đặc điểm, số lượng, cấu trúc… cũng như vị trí, sự phân bố của chúng trong không gian
Tất cả các kí hiệu đó đều giải thích trong bảng chú giải, thường đặt ở cuối bản đồ, lược đồ Kí hiệu bản đồ, lược đồ rất đa dạng Chúng có thể là những hình vẽ, màu sắc…được dùng một cách quy ước để thể hiện các sự vật, hiện tượng địa lí trên bản đồ, lược đồ Để thể hiện các đối tượng, người ta thường dùng ba loại kí hiệu: kí hiệu điểm, kí hiệu đường và kí hiệu diện tích
Trang 14
H4: Phân loại các kí hiệu và các dạng kí hiệu
+ Cách biểu hiện địa hình trên bản đồ, lược đồ:
Ngoài cách biểu hiện độ cao địa hình bằng thang màu, người ta còn dùng các đường đồng mức là những đường nối những điểm có cùng một độ cao
1.1.1.3 Vai trò của bản đồ, lược đồ trong học tập và đời sống
a Trong học tập
- Bản đồ, lược đồ là một phương tiện để học sinh học tập, rèn luyện các
kĩ năng địa lí tại lớp, ở nhà và trả lời phần lớn các câu hỏi kiểm tra về Địa lí
Ví dụ: Thông qua bản đồ, lược đồ có thể xây dựng được vị trí địa lí một điểm nào đó trên mặt đất (toạ độ địa lí), ở vào đới khí hậu nào, chịu ảnh hưởng của biển như thế nào, liên hệ với các trung tâm kinh tế - xã hội ra sao…
- Qua bản đồ, lược đồ biết được hình dạng và quy mô của châu lục này
so với châu lục khác; biết được sự phân bố của các dãy núi và độ cao của chúng, biết được chiều dài của một con sông và lưu vực sông… cũng như sự phân bố dân cư, phân bố các trung tâm công nghiệp…
Trang 15Ví dụ: Làm thuỷ lợi, nghiên cứu thời tiết và khí hậu, canh tác đúng thời
vụ, xây dựng các trung tâm công nghiệp, mở các tuyến đường giao thông… Tất cả những công việc đó muốn làm tốt đều phải sử dụng tới bản đồ, lược đồ
- Quân sự lại càng cần tới bản đồ, lược đồ Ví dụ: để xây dựng phương
án tác chiến, cần lợi dụng địa hình, địa vật trong phòng thủ và tấn công… tất
cả những công việc đó đều cần phải có bản đồ, lược đồ
1.1.2 Đặc điểm tâm lí của học sinh Tiểu học
1.1.2.1 Những thay đổi của trẻ bắt đầu đi học
Đặc điểm của chế độ học tập: phải thức dậy đúng giờ, không được bỏ học, phải ngồi yên lặng, phải thực hiện đúng hạn bài tập ở nhà Tính chất quan hệ qua lại giữa giáo viên với trẻ, giữa trẻ với gia đình cũng thay đổi, điều này gây cho trẻ những khó khăn trong việc thích ứng với môi trường mới trong giai đoạn đầu của giáo dục phổ thông Đại đa số trẻ em chuẩn bị sẵn sàng về mặt tâm lí để đến trường phổ thông Chúng muốn đến trường để xem nhà trường có gì khác so với ở nhà Do trẻ chỉ hứng thú với đặc điểm bề ngoài của quá trình học tập nên hứng thú đó dễ mất đi Cho nên cần làm cho trẻ hứng thú với chính quá trình học tập, với sự hấp dẫn của nội dung tri thức Chính vì thế, yêu cầu đặt ra đối với những nhà sư phạm đó là phải lựa chọn hệ thống các phương pháp dạy học, các hình thức tổ chức dạy học phù hợp và thu hút sự tham gia của các em học sinh
Trang 16Sự thay đổi hoạt động chủ đạo diễn ra khi trẻ bắt đầu đi học Hoạt động chủ đạo của lứa tuổi này là hoạt động học tập, nó làm thay đổi một cách cơ bản những động cơ, hành vi của trẻ, nó mở ra những nguồn phát triển mới của sức mạnh nhận thức và đạo đức của trẻ, hành động học phải được xem như là đối tượng để lĩnh hội, sau đó trở thành phương tiện để tiếp thu tri thức khái niệm khoa học Cách học vừa là tiền đề, công cụ, phương tiện, vừa là mục đích của dạy học Hoạt động học bắt đầu nảy sinh ở lớp 1 và lớp 2, hình thành
ở lớp 3 và lớp 4 và dần định hình ở lớp 5
1.1.2.2 Đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học
a Tri giác
Tri giác của học sinh Tiểu học mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết
và mang tính chủ định, do đó các em phân biệt các đối tượng còn chưa chính xác và dễ mắc sai lầm, có khi còn lẫn lộn Ví dụ các em khó phân biệt cây mía với cây sậy, hình có năm cạnh với hình có sáu cạnh Tuy vậy chưa nên nghĩ học sinh Tiểu học chưa có khả năng phân tích, tách các dấu hiệu, các chi tiết nhỏ của một đối tượng nào đó Vấn đề là ở chỗ khi tri giác, sự phân tích một cách có tổ chức và sâu sắc ở học sinh các lớp đầu Tiểu học còn yếu Học sinh thường “thâu tóm” sự vật toàn bộ, về đại thể để tri giác Ví dụ: nhìn thấy con sóc nhưng không nhìn thấy râu, mắt, màu lông, màu mắt Đến cuối Tiểu học, tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ thích quan sát các sự vật, hiện tượng
có màu sắc sặc sỡ, hấp dẫn, tri giác của trẻ đã mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng Tri giác có chủ định (trẻ biết lập kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết làm các bài tập từ dễ đến khó, )
Tính xúc cảm thể hiện rõ trong tri giác Những dấu hiệu, những đặc điểm nào của sự vật gây cho các em cảm xúc thì được các em tri giác trước hết Vì vậy, cái trực quan rực rỡ, sinh động được các em tri giác tốt hơn, dễ gây ấn tượng tốt hơn Chính vì lí do này, theo V.A.Cruchetxki, những bức tranh có màu sắc sặc sỡ trong sách có ảnh hưởng không tốt đến sự học tập kĩ
Trang 17xảo đọc, làm chậm tốc độ đọc Khi đã có kĩ xảo đọc sơ đẳng thì lúc ấy những bức tranh, hình ảnh minh họa bắt đầu ảnh hưởng đến sự phát triển ngôn ngữ
Tri giác và đánh giá không gian thời gian của học sinh Tiểu học còn hạn chế Về tri giác độ lớn, các em gặp khó khăn khi quan sát các vật quá lớn hay quá nhỏ Ví dụ, trái đất các em cho rằng to bằng mấy tỉnh Các em khó hình dung “ngày xưa”, “thế kỉ”, Điều này phải tính đến khi dạy các tri thức
về khoa học thường thức, địa lí, lịch sử Một số công trình nghiên cứu đã đi đến kết luận rằng: thường học sinh Tiểu học rất khó hình dung được thời gian của các sự kiện, những niên đại lịch sử đối với chúng thường rất trừu tượng
Tri giác không tự bản thân nó phát triển được Trong quá trình học tập, khi tri giác trở thành một hoạt động có mục đích đặc biệt, trở nên phức tạp và sâu sắc, trở thành hoạt động phân tích, có phân hóa hơn thì thì tri giác sẽ mang tính của sự quan sát có tổ chức Trong sự phát triển của tri giác, vai trò của giáo viên Tiểu học rất lớn Giáo viên hàng ngày không chỉ dạy kĩ năng nhìn mà còn hướng dẫn các em xem xét, không chỉ dạy nghe mà còn dạy trẻ biết lắng nghe, tổ chức một cách đặc biệt hoạt động của học sinh để tri giác một đối tượng nào đó, dạy trẻ biết phát hiện những dấu hiệu, những thuộc tính bản chất của sự vật hiện tượng Điều này cần được thực hiện không chỉ trong lớp mà cả khi đi dã ngoại, tham quan
b Tư duy
Tư duy trẻ em mới đên trường là tư duy cụ thể, mang tính hình thức bằng cách dựa vào đặc điểm trực quan của những đối tượng, hiện tượng cụ thể J.Piaget cho rằng tư duy củ trẻ từ 7 - 10 tuổi về cơ bản vẫn ở giai đoạn thao tác cụ thể, trên cơ sở đó có thể diễn ra quá trình hệ thống hóa các thuộc tính, tài liệu trong kinh nghiệm trực quan Ví dụ, trong các giờ học toán đầu tiên ở lớp, khi làm các phép tính học sinh phải dựa vào que tính, ngón tay, tức
là dựa vào những vật cụ thể
Trang 18Nhờ ảnh hưởng của học tập mà học sinh Tiểu học dần dần chuyển từ nhận thức các mặt bên ngoài của sự vật, hiện tượng đến nhận thức các thuộc tính bên trong và dấu hiệu bản chất của sự vật, hiện tượng Điều này tạo khả năng, tiến hành những so sánh, khái quát hóa đầu tiên, xây dựng những suy luận sơ đẳng Trên cơ sở đó, học sinh dần dần học tập được các khái niệm khoa học Để hình thành cho các em một khái niệm khoa học, cần dạy cách xem xét, phân biệt những dấu hiệu, những thuộc tính bản chất của đối tượng Những dấu hiệu này không phải bao giờ cũng dễ nhận ra và dễ phân biệt với dấu hiệu không bản chất, đôi khi dễ nhận thấy, dễ gây ấn tượng
Nhờ hoạt động học, nhận thức được phát triển học sinh lớp 4 đã biết xếp bậc các khái niệm, phân biệt các khái niệm rộng hơn, hẹp hơn, nhận ra các mối quan hệ, giữa các khái niệm giống, loài Trên cơ sở này, học sinh biết phân loại và phân hạng trong nhận thức Sự phân loại là căn cứ vào các dấu hiệu chung chia ra các cá thể vào các lớp vốn được coi là khái niệm Sự phân hạng là sự sắp xếp các cá thể dựa vào các dấu hiệu có thể biến thiên
Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát Khả năng khái quát hóa lớn dần theo lứa tuổi Lớp 4 đã bắt đầu biết khái quát hóa lí luận Tuy nhiên, hoạt động phân tích - tổng hợp còn
sơ đẳng Học sinh cuối bậc Tiểu học có thể phân tích đối tượng mà không cần hành động thực tiễn đối với đối tượng đó Học sinh các lớp này có khả năng phân biệt những dấu hiệu, những khía cạnh khác nhau của đối tượng dưới dạng khác nhau của ngôn ngữ Việc học toán và Tiếng Việt giúp cho học sinh biết phân tích và tổng hợp Khi học Tiếng Việt, học sinh sẽ học cách phân tích quan hệ âm và chữ cái, phân biệt từng chữ riêng biệt, tổng hợp các từ thành câu Học số học gắn với chức năng trừu tượng hóa con số khỏi ý nghĩa cụ thể của con số đó với kĩ năng phân tích các dữ kiện của bài toán
Trang 19c Tưởng tượng
Tưởng tượng là một trong những quá trình nhận thức quan trọng Tưởng tượng của học sinh phát triển không đầy đủ thì nhất định gặp khó khăn trong học tập Khi học sinh học Địa lí nhất thiết phải có các biểu tượng về cảnh quan, phong tục, khí hậu của các vùng, các nước Tưởng tượng của học sinh Tiểu học được hình thành và phát triển trong hoạt động học và các hoạt động khác của các em Tưởng tượng của học sinh Tiểu học đã phát triển phong phú hơn các em mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dày dạn Càng về những năm cuối bậc Tiểu học, tưởng tượng của các em càng gần hiện thực hơn Điều này có được là nhờ kinh nghiệm đã trở nên phong phú, nhờ tri thức khoa học các em lĩnh hội được ở nhà trường Học sinh lớp 4, 5 đã có khả năng gọt dũa, nhào nặn những biểu tượng cũ để sáng tạo ra những biểu tượng mới Điều này có được là nhờ các em đã biết dựa vào ngôn ngữ để xây dựng hình ảnh có tính khái quát và trừu tượng hơn
Ở cuối Tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ, trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ở giai đoạn cuối tuổi Tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh Đặc biệt tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em
Trong dạy học ở Tiểu học, giáo viên cần chú ý hình thành tưởng tượng cho học sinh qua sự mô tả bằng lời Ở đây, điệu bộ, ngôn ngữ giàu nhạc điệu, chính xác, biểu cảm của giáo viên là phương tiện quan trọng Cũng cần phải
sử dụng đồ dùng dạy học và tài liệu dạy học như phim ảnh Loại phương tiện này có thể mạnh hơn hẳn hình vẽ, biểu đồ trong việc diễn tả những quá trình động
c Trí nhớ
Trang 20Do hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất ở học sinh Tiểu học tương đối chiếm ưu thế nên trí nhớ trực quan - hình tương phát triển hơn trí nhớ từ ngữ lôgíc Các em ghi nhớ và giữ gìn chính xác những sự vật, hiện tượng cụ thể nhanh hơn và tốt hơn những định nghĩa, những lời giải thích đai dòng
Giai đoạn lớp 4, 5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường Ghi nhớ có chủ định đã phát triển Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tập trung tích cực trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tình cảm hay hứng thú của các em
Nắm được điều này, giáo viên phải giúp các em biết cách khái quát hóa
và đơn giản mọi vấn đề, giúp các em xác định đâu là nội dung cần ghi nhớ, các từ ngữ đúng để diễn đạt nội dung cần ghi nhớ phải đơn giản và dễ hiểu, dễ nắm bắt, dễ thuộc và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lí hứng thú và vui
vẻ, khi ghi nhớ kiến thức tránh các em ghi nhớ máy móc, học vẹt
d Chú ý
Chú ý có chủ định của học sinh còn yếu, khả năng điều chỉnh ý chí một cách có ý chí chưa mạnh Sự chú ý của học sinh đòi hỏi một động cơ gần thúc đẩy Nếu ở học sinh các lớp đầu Tiểu học thường bắt mình chú ý khi có động
cơ gần (được khen, được điểm cao) thì học sinh các lớp cuối Tiểu học chú ý
có chủ định được duy trì ngay cả khi có động cơ xa
Trong lứa tuổi học sinh Tiểu học chú ý không chủ định được phát triển Những gì mang tính mới mẻ, bất ngờ, rực rỡ, khác thường, dễ dàng lôi cuốn
sự chú ý của các em Sự chú ý không chủ định càng trở nên mạnh mẽ, khi giáo viên sử dụng đồ dùng dạy học đẹp, mới lạ, ít gặp, gợi cho các em cảm xúc tích cực Vì vậy việc sử dụng đồ dùng dạy học tranh ảnh, hình vẽ, biểu
đồ, bản đồ, lược đồ, mô hình, vật thật là điều quan trọng để tổ chức sự chú
ý Tuy vậy cần nhớ rằng những ấn tượng trực quan quá mạnh có thể tạo ra
Trang 21một trung khu hưng phấn mạnh ở võ não, kết quả là sẽ kìm hãm khả năng phân tích và khái quát tài liệu học tập
Ở cuối tuổi Tiểu học trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú
ý của mình Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự
nổ lực về ý chí trong hoạt động học tập như học thộc bài thơ, một công thức toán hay một bài hát dài Trong sự chú ý của trẻ em đã bắt đầu xuất hiện giới hạn của yếu tố thời gian, trẻ đã định hướng được khoảng thời gian cho phép
để làm một việc nào đó và cố gắng hoàn thành công việc trong khoảng thời gian quy định
Khả năng phát triển của chú ý có chủ định, phát triển tính bền vững, sự tập trung chú ý của học sinh Tiểu học là rất cao Bản thân quá trình học tập đòi hỏi các em phải rèn luyện thường xuyên chú ý có chủ định, ý chí Chú ý
có chủ định được phát triển cùng vơi sự phát triển động cơ học tập mang tính
xã hội cao, với sự trưởng thành về ý thức trách nhiệm đối với kết quả học tập Giáo viên nên giao cho trẻ những công việc hay bài tập đòi hỏi sự chú ý của trẻ và nên giới hạn về mặt thời gian Chú ý áp dụng linh động theo từng độ tuổi đầu hay cuối Tiểu học và chú ý đến tính cá thể của trẻ, điều này là vô cùng quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả giáo dục trẻ
1.1.2.3 Đặc điểm nhân cách học sinh Tiểu học
a Tính cách của học sinh Tiểu học
Nét tính cách của học sinh Tiểu học mới hình thành nên chưa ổn định Hành vi của trẻ mang tính xung đột cao (bộc phát) và ý chí còn thấp Tính cách điển hình của trẻ là hồn nhiên và cả tin, trẻ thích bắt chước hành vi của những người xung quanh hay trên phim ảnh, học sinh Tiểu học ở Việt Nam sớm có thái độ và thói quen tốt đối với lao động
b Nhu cầu nhận thức
Nhu cầu nhận thức của học sinh Tiểu học đã phát triển khá rõ nét: trẻ có nhu cầu tìm hiểu những sự vật, hiện tượng riêng lẻ (lớp 1 và lớp 2) đến nhu
Trang 22cầu phát hiện những nguyên nhân, quy luật và các mối liên hệ, quan hệ (lớp 3, lớp 4 và lớp 5) Nhu cầu đọc sách phát triển cùng với việc phát triển kĩ xảo đọc Cần phải hình thành nhu cầu nhận thức cho trẻ ngay từ đầu
c Đời sống tình cảm
Đối tượng gây cảm xúc cho học sinh Tiểu học thường là vật, hiện tượng
cụ thể nên xúc cảm, tình cảm của các em gắn liền với đặc điểm trực quan, hình thành cụ thể học sinh Tiểu học rất dễ xúc cảm, xúc động và khó kìm nén cảm xúc của mình Tình cảm của học sinh Tiểu học còn mong manh chưa bền vững, chưa sâu sắc Sự chuyển hóa cảm xúc nhanh Việc hiểu tâm lí học sinh giữ vai trò quan trọng trong quá trình dạy học Nếu chúng ta tác động vào đối tượng dạy học mà không hiểu tâm lí của chúng thì cũng như người ta nói là đập búa lên một thanh sắt nguội Chính vì vậy trong quá trình dạy học cũng như giáo dục đạo đức cho học sinh giáo viên cần dựa vào những đặc điểm tâm
lí của đối tượng để lựa chọn và xây dựng những phương pháp và hình thức phù hợp
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Đặc điểm về mục tiêu, nội dung chương trình môn Địa lí lớp 4, 5
Nội dung chương trình môn Địa lí lớp 4, 5 cung cấp cho học sinh những hiểu biết cơ bản ban đầu về dân cư, điều kiện sống, các hoạt động kinh
tế, văn hóa của địa phương, đất nước Việt Nam và một vài đặc điểm của một
số quốc gia, châu lục trên thế giới đồng thời, bước đầu hình thành và rèn luyện cho học sinh các kĩ năng như: quan sát sự vật, hiện tượng, thu thập, tìm kiếm tư liệu Địa lí từ các nguồn khác nhau, học sinh có thể nêu thắc mắc, đặt câu hỏi trong quá trình học tập lựa chọn thông tin để giải đáp, nhận biết đúng các sự vật hiện tượng địa lí, biết vận dụng kiến thức đã học vào đời sống thực tiễn Bên cạnh đó, nó còn góp phần bồi dưỡng và phát triển ở học sinh thái độ
và thói quen như: ham học hỏi, tìm hiểu về môi trường xung quanh các em,
Trang 23yêu thiên nhiên, con người, quê hương, đất nước, biết tôn trọng và bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và văn hóa gần gũi với học sinh
Nội dung chủ yếu của môn Địa lí là các biểu tượng và một số khái niệm khi chuyển tải các thông tin về Địa lí, giáo viên chỉ cần chọn một số những đặc trưng tiêu biểu về các vùng miền cũng như hoạt động kinh tế, dân cư để giúp học sinh không chịu áp lực quá tải về kiến thức Riêng phần Địa lí lớp 5 chọn những yếu tố về tự nhiên, kinh tế mang tính chọn lọc nêu bật được một
số đặc điểm tiêu biểu của từng châu lục, đại dương, hiện tượng địa lí tự nhiên
Nội dung chủ yếu của chương trình Địa lí lớp 4:
- Thiên nhiên và con người Việt Nam
+ Bản đồ, lược đồ, cách sử dụng bản đồ, lược đồ
+ Thiên nhiên và hoạt động của con người ở miền núi và trung du phía Bắc nước ta: núi, đồ, rừng nhiệt đới, việc khai thác và chế biến lâm sản Thượng lưu sông Hồng, phụ lưu chính và việc khai thác sức nước Khoáng sản (than, quặng, sắt, apatit, phân bố và khai thác) Quần cư và hoạt động sản xuất, sinh hoạt của một số dân tộc ít người
+ Thiên nhiên và hoạt động của con người ở đồng bằng sông Hồng: hạ lưu sông Hồng và hệ thống đê, đồng bằng châu thổ và việc sàn xuất lương thực, thực phẩm.Quần cư và hoạt động sản xuất, sinh hoạt của người Việt Thu đô Hà Nội, cảng Hải Phòng và khu du lịch Đồ Sơn
+ Thiên nhiên và hoạt động của con người ở dãy Trường Sơn và duyên hải miền Trung.: Trường Sơn Bắc (rừng nhiệt đới, khai thác và bảo vệ rừng); Trường Sơn Nam - Tây Nguyên (cao nguyên đất đỏ bazan và việc trồng cây công nghiệp; rừng rụng lá mùa khô, quần cư, hoạt động sản xuất và sinh hoạt của một số dân tộc ở tây Nguyên) Vùng duyên hải ven biển, quần cư và các hoạt động sản xuất (trồng lúa, làm muối, nuôi và đánh bắt thủy sản) Cảng và
du lịch Đà Nẵng
Trang 24+ Thiên nhiên và hoạt động của con người ở miền Đông Nam bộ và đồng bằng sồn Cửu Long; đồi đất xám và việc trồng cây công nghiệp Sông Đồng Nai và việc khai thác sức nước Thành phố Hồ Chí Minh, Vũng tàu, sông Cửu Long, hạ lưu và hệ thống kênh rạch, việc cải tạo đất và sản xuất lương thực, thực phẩm rừng ngập mặn, sân chim, việc khai thác và bảo vệ chúng, quần cư, hoạt động sản xuất và sinh hoạt của người dân đồng bằng sông Cửu Long
+ Biển Đông và các đảo, quần đảo của Việt Nam
Nội dung chương trình chủ yếu của Địa lí lớp 5
- Việt Nam
+ Vị trí địa lí, diện tích, lãnh thổ, lãnh hải
+ Đặc điểm: Các dãy núi, đồng bằng lớn, khoáng sản chính, sự phân bố
và giá trị kinh tế của chúng
+ Đặc điểm địa hình: Đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, sự khác biệt giữa miền Bắc và Miền Nam, nguyên nhân
+ Đặc điểm sông ngòi, biển Việt Nam và ảnh hưởng của nó đến sản xuất, đời sống
+ Đặc điểm và sự phân bố các loại đất chính, giá trị kinh tế của chúng Thảm thực vật và động vật, sự phân bố của chúng Ôn tập về vị trí địa lí và các điều kiện tự nhiên của Việt Nam
+ Số dân: sự tăng dân số, hậu quả của sự tăng dân số Các dân tộc Việt Nam, sự phân bố dân cư và nghề nghiệp
+ Nông nghiệp: Đặc điểm chung của nông nghiệp; đặc điểm và sự phân
bố của ngành trồng trọt, chăn nuôi
+ Công nghiệp: Đặc điểm chung của công nghiệp Sự phân bố các ngành khai khoáng, điện lực, cơ khí, hóa chất, dệt, thực phẩm và thủ công nghiệp
Trang 25+ Giao thông vận tải và thương mại: Đặc điểm của giao thông vận tải, những tuyến đường chính (đường sắt, đường bộ…), các đầu mối giao thông Đặc điểm thương mại Việt Nam Ôn tập về đặc điểm dân cư và kinh tế của Việt Nam
+ Địa lí địa phương (tỉnh): Vị trí, đặc điểm tự nhiên, dân cư, kinh tế
- Châu lục, đại dương và một số nước trên thế giới
- Châu Á: Vị trí địa lí, đặc điểm tự nhiên, dân cư, kinh tế; Đông Nam Á
và các nước Đông Dương (vị trí địa lí, đặc điểm tự nhiên, kinh tế) Trung Quốc, Nhật Bản
- Châu Đại Dương: Vị trí địa lí, đặc điểm tự nhiên, dân cư, kinh tế; Ôtrâylia
- Châu Âu: Vị trí địa lí, đặc điểm tự nhiên, dân cư, kinh tế Đức, Pháp, Anh, Nga
- Châu Phi: Vị trí địa lí, đặc điểm tự nhiên, dân cư, kinh tế
- Châu Mĩ: Vị trí địa lí, đặc điểm tự nhiên, dân cư, kinh tế, Hoa Kì
- Châu Nam Cực: Vị trí địa lí, đặc điểm tự nhiên
- Các đại dương: Thái Bình Dương, Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương, Bắc Băng Dương (vị trí, độ lớn, độ sâu)
1.2.2 Thực tiễn việc sử dụng bản đồ trong dạy học môn Địa lí lớp 4, 5
1.2.2.1 Đối tượng điều tra
- Chúng tôi tiến hành thực hiện điều tra ở các giáo viên đang trực tiếp giảng dạy lớp 4, 5 và học sinh khối lớp 4, 5 tại trường Tiểu học Do điều kiện khách quan nên chúng tôi chỉ tiến hành điều tra tại trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ
- Trong số các giáo viên chúng tôi thực hiện điều tra, đa số các giáo viên đều có kinh nghiệm lâu năm trong công tác giảng dạy (tuổi nghề từ 6 năm trở lên) Đối tượng học sinh mà chúng tôi phát phiếu điều tra là những học sinh có trình độ học lực khác nhau: giỏi, khá, trung bình
Trang 261.2.2.2 Nội dung điều tra
- Mức độ sử dụng các loại bản đồ, lược đồ trong dạy học môn địa lí lớp 4,5
- Mức độ nắm các nguyên tắc khi sử dụng bản đồ, lược đồ trong dạy học môn địa lí lớp 4,5
- Thái độ, nguyện vọng mong muốn và khả năng hiểu bài của học sinh trong các giờ học Địa lí có sử dụng bản đồ, lược đồ
- Nhận thức của giáo viên về việc sử dụng bản đồ, lược đồ, vai trò của bản đồ, lược đồ trong dạy học môn Địa lí, những thuận lợi và khó khăn khi dạy các bài Địa lí có sử dụng các loại bản đồ, lược đồ
1.2.2.3 Phương pháp điều tra
- Phương pháp điều tra bằng Ankét: chúng tôi đã soạn ra hệ thống câu hỏi điều tra để làm rõ nội dung trên
- Phương pháp đàm thoại: thông qua trao đổi, trò chuyện với giáo viên
để biết rõ hơn về những hiểu biết cũng như những thuận lợi và khó khăn của giáo viên khi dạy các bài có sử dụng bản đồ, lược đồ, và những vấn đề học sinh gặp phải khi học các bài Địa lí có sử dụng bản đồ, lược đồ
- Phương pháp xử lí, thống kê: Việc tiến hành xử lí thống kê những phiếu thăm dò ý kiến của giáo viên và học sinh thu lại được là cơ sở để chúng tôi nhận xét được vấn đề cần điều tra
1.2.2.4 Kết quả điều tra
a Điều tra trên đối tượng học sinh
Câu 1: Bản thân em có thích học môn Địa lí không?
Trang 27Nhận xét: Qua kết quả điều tra như trên, chúng tôi nhận thấy đa số học
sinh Tiểu học đều thích học môn Địa lí Vì các em đều cho rằng môn Địa lí đã cung cấp cho các em những hiểu biết cơ bản ban đầu về dân cư, điều kiện sống, các hoạt động kinh tế, văn hóa của địa phương, của đất nước Việt Nam
và một vài đặc điểm tiêu biểu của một số quốc gia và châu lục trên thế giới Tỉ
lệ 6% học sinh không thích học Địa lí (10 học sinh trong số 160 học sinh được điều tra) là một con số không đáng lo ngại Có khoảng 16,9% (tương đương với 27 học sinh trong số 160 học sinh được điều tra) có thái độ bình thường đối với môn học Địa lí (không cảm thấy hứng thú cũng không có thái
độ thờ ơ) Những học sinh chọn câu trả lời “không” hay “bình thường” giải thích nguyên nhân của thái độ đó với đa số lí do là: Theo em, môn Địa lí chỉ toàn là học thuộc, phải sử dụng bản đồ, lược đồ khá rắc rối và khó hiểu
Câu 2: Trong số những đồ dùng trực quan sau đây, loại nào mà em thường thấy giáo viên sử dụng trong giờ học Địa lí: biểu đồ, bản đồ, lược đồ, tranh ảnh, video, các đồ dùng trực quan khác?
Nhận xét: Trong số 160 học sinh được điều tra thì có rất nhiều ý kiến
khác nhau về việc nhận thấy các loại đồ dùng trực quan mà giáo viên thường hay sử dụng trong các giờ học Địa lí Đại đa số học sinh cho rằng giáo viên thường dùng tranh ảnh trong dạy học môn Địa lí chiếm tỉ lệ 77,5% Bên cạnh
đó, hầu hết học sinh cũng cho rằng giáo viên sử dụng bản đồ, lược đồ trong
TT Trả lời Số lượng học sinh Tỉ lệ phần trăm
Trang 28các giờ học môn Địa lí chiếm tỉ lệ 87,5% Các loại biểu đồ như hình tròn, hình cột, đường biểu diễn… được vận dụng trong các giờ học Địa lí khi thể hiện sự tăng dân số, sự phát triển công nghiệp… chiếm tỉ lệ 18,8% Việc sử dụng video, phim chiếm tỉ lệ 3,1% Các loại đồ dùng trực quan khác chếm tỉ
lệ 4,4% Như vậy, trong số các đồ dùng trực quan mà giáo viên sử dụng trong các giờ học Địa lí thì bản đồ, lược đồ chiếm một tỉ lệ rất lớn Điều đó chứng
tỏ rằng bản đồ, lược đồ là đồ dùng trực quan hết sức cần thiết và không thể thiếu trong môn Địa lí lớp 4, 5
Câu 3: Bản thân em có thích học những tiết học Địa lí có sử dụng bản
Nhận xét: Qua điều tra chúng tôi nhận thấy rằng đa số học sinh đều
thích học và tỏ thái độ rất hứng thú khi học các giờ học Địa lí có sử dụng bản
đồ, lược đồ chiếm tỉ lệ 75% Có 5 học sinh không thích việc học các giờ học
có sử dụng bản đồ, lược đồ và chiếm tỉ lệ 3,1% Có 35 học sinh tỏ thái độ bình thường với việc học các giờ học Địa lí có sử dụng bản đồ, lược đồ, đây cũng là con số đáng quan tâm, chúng ta phải làm thế nào để các em có thái độ hứng thú với môn học này Những học sinh tỏ thái độ “không thích” hay
“bình thường” nêu lí do như sau: các em không biết cách sử dụng bản đồ, lược đồ hoặc sử dụng bản đồ, lược đồ khó
Câu 4: Thông qua những tiết học Địa lí có sử dụng bản đồ, lược đồ em nhận thấy mức độ hiểu bài của em như thế nào?
Trang 29Nhiều học sinh cho rằng trong tiết học Địa lí có sử dụng bản đồ, lược
đồ thì sẽ dễ dàng hơn trong việc tiếp cận các kiến thức mới Tuy nhiên cũng nhiều hoc sinh cho rằng sử dụng bản đồ, lược đồ khó hiểu hay có thể hiểu nhưng nhanh quên Đây cũng là một vấn đề cần hết sức chú ý
Câu 5: Theo em, nếu giáo viên không sử dụng bản đồ, lược đồ trong các giờ học địa lí thì giờ học đó có đạt hiệu quả không?
Có 90% học sinh trong số 160 học sinh được điều tra đều cho rằng nếu trong giờ học Địa lí mà không sử dụng bản đồ, lược đồ thì sẽ không mang lại hiệu quả Như vậy, nếu giáo viên sử dụng bản đồ, lược đồ hợp lí thì tiết dạy sẽ mang lại hiệu quả, tuy nhiên để học sinh dễ dàng hiểu bài và nắm bài tốt hơn thì giáo viên cần sử dụng bản đồ, lược đồ hợp lí, hướng dẫn kĩ cho các em cách sử dụng bản đồ, lược đồ để các em có thể sử dụng bản đồ, lược đồ tốt và đạt hiệu quả cao trong các tiết học Địa lí có sử dụng bản đồ, lược đồ
b Điều tra trên đối tượng giáo viên
Câu 1: Trong các giờ dạy Địa lí thầy (cô) thường hay sử dụng phương pháp trực quan không?
TT Trả lời Số lượng giáo
Trang 30Câu 2: Những loại đồ dùng trực quan nào mà thầy (cô) thường hay dùng trong giờ dạy Địa lí?
Qua quan sát, phỏng vấn thì các giáo viên đều cho rằng: tùy từng điều kiện cơ sở vật chất, tùy từng đối tượng học sinh, tùy từng nội dung và mục tiêu bài học đặt ra mà giáo viên có thể sử dụng các đồ dùng trực quan khác nhau để phục vụ cho bài học Thông thường các loại đồ dùng trực quan như bản đồ, lược đồ, bảng thống kê số liệu, tranh ảnh, quả địa cầu… thường hay được sử dụng Các phương tiện kĩ thuật hiện đại như máy chiếu, video… cũng
đã được áp dụng nhưng còn ít so với các loại phương tiện trực quan khác Điều này cho thấy bản đồ, lược đồ là loại đồ dùng trực quan không thể thiếu trong các giờ học môn Địa lí lớp 4, 5
Câu 3: Theo thầy (cô) thì trong giờ học Địa lí có nội dung như thế nào thì nên sử dụng bản đồ, lược đồ?
Trong các giờ dạy Địa lí, khi cho học sinh xác định các vị trí địa lí, địa hình, khí hậu của từng vùng, miền, sự phân bố dân cư, sự phát triển công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải và thương mại thì nên sử dụng bản
đồ học sinh có thể trả lời được một số câu hỏi mà giáo viên đưa ra, từ đó các
em có thể dễ hiểu bài và dễ nhớ bài hơn; các em thu thập và khai thác thông
Trang 31tin từ bản đồ, kích thích tính tư duy tích cực chủ động của học sinh, giúp học sinh tự khai thác, tìm kiếm tri thức, rèn luyện kĩ năng: quan sát, so sánh, tổng hợp, hình thành biểu tượng về các đối tượng địa lí, hiện tượng cụ thể hóa và
rõ nét hơn giúp cho học sinh dễ nắm vững kiến thức và có thể vận dụng vào đời sống tực tiễn
Câu 5: Khi tiến hành một tiết dạy Địa lí có sử dụng bản đồ, lược đồ thì thầy (cô) thường hay gặp phải những thuận lợi và khó khăn nào?
Thuận lợi: Trước đây trong quy trình dạy học thường quan niệm thiết
bị dạy học chỉ là phương tiện minh họa cho lời giảng của giáo viên nhưng ngày này, quy trình đổi mới phương pháp dạy học, thiết bị dạy học không những là phương tiện minh họa cho lời giảng của giáo viên mà còn là phương tiện giúp giáo viên tổ chức và điều khiễn hoạt động học tập, phương tiện phát triển tư duy của học sinh, có tác dụng tích cực hóa hoạt động học tập, chủ động nhận thức, có cơ hội tự mình phát hiện ra kiến thức mới Vì vậy, bản đồ, lược đồ cũng đã có trong thư viện trường học
Khó khăn: Bản đồ, lược đồ ở thư viện trường học vẫn đang còn thiếu
nhiều
Kĩ năng sử dụng bản đồ, lược đồ của học sinh còn kém, kĩ năng khai thác hệ thống kiến thức trên bản đồ, lược đồ chưa đạt đến mức triệt để Ví dụ: Học sinh gặp khó khăn khi diễn tả khí hậu trên bản đổ, lược đồ
Khi chuẩn bị bản đồ, lược đồ giáo viên cũng tốn nhiều tiền nên giáo viên còn hạn chế sử dụng
Câu 6: Theo thầy (cô) trong tiết dạy Địa lí có sử dụng bản đồ, lược đồ thì mức độ hiểu bài của học sinh như thế nào?
Qua việc thăm dò ý kiến của giáo viên thì đa số các thầy (cô) đều cho rằng: Trong tiết học Địa lí có sử dụng bản đồ, lược đồ thì mức độ hiểu bài của học sinh sẽ đạt trên 90%, điều này chứng tỏ bản đồ, lược đồ có vai trò vô cùng quan trọng trong dạy học môn Địa lí Như vậy, sử dụng bản đồ, lược đồ
Trang 32sẽ nâng cao chất lượng dạy và học giúp cho quá trình tiếp thu kiến thức của học sinh diễn ra nhanh hơn và thuận lợi hơn
Câu 7: Quan sát thái độ của các em trong giờ học Địa lí có sử dụng bản đồ, lược đồ, thầy (cô) thường thấy các em có hứng thú trong các giờ học
Qua điều tra cho thấy tất cả các thầy cô đều cho rằng trong các tiết học
có sử dụng bản đồ, lược đồ, hầu hết các em đều rất hứng thú trong giờ học Hăng hái tham gia phát biểu, xây dựng bài sôi nổi hơn, hiểu bài nhanh và vận dụng kiến thức tốt hơn là những tiết học không sử dụng bản đồ, lược đồ Trong số 10 giáo viên thì có 3 giáo viên cho rằng trong lớp cũng có nhiều học sinh cảm thấy hứng thú, tuy nhiên cũng có nhiều học sinh cảm thấy bình thường khi giáo viên sử dụng bản đồ, lược đồ trong dạy học môn Địa lí Các
em không tỏ ra hứng thú cũng không tỏ ra thờ ơ
Qua việc thăm dò ý kiến, cô giáo Thái Thị Ngọc Quỳnh dạy lớp 5/2,
trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ cho rằng: Việc sử dụng bản đồ, lược đồ đối
với học sinh tiểu học thì cũng tương đối phức tạp vì kĩ năng sử dụng bản đồ, lược đồ của các em còn kém Tuy nhiên, trong quá trình dạy học, nếu được giáo viên hướng dẫn kĩ thì các em rất thích thú và các em có thể dựa vào bản
đồ, lược đồ để trả lời các câu hỏi, và những câu hỏi mà các em dựa vào bản
đồ trả lời thì các em nhớ được rất lâu Vì vậy, việc sử dụng bản đồ, lược đồ nói riêng, phương tiện trực quan nói chung trong giờ học Địa lí ở Tiểu học mang lại hiệu quả rất cao trong quá trình giảng dạy của giáo viên cũng như
Trang 33quá trình tiếp thu bài của học sinh Học sinh trở nên năng động và sáng tạo hơn ở việc tiếp cận các kiến thức mới Hầu hết các em đều tỏ ra thích thú và hăng hái tham gia phát biểu xâu dựng bài trong những tiết Địa lí mà giáo viên sử dụng bản đồ, lược đồ Theo tôi, việc sử dụng bản đồ, lược đồ trong dạy học môn Địa lí tuy có gặp một số khó khăn nhất định nhưng giáo viên biết sử dụng một cách hợp lí thì sẽ mang lại hiệu quả rất cao trong giờ dạy
Trang 34Chương 2: TÌM HIỂU VIỆC SỬ DỤNG BẢN ĐỒ, LƯỢC ĐỒ TRONG
DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÍ LỚP 4, 5 2.1 Sơ lược hệ thống bản đồ, lược đồ và chuẩn kiến thức kĩ năng qua việc
sử dụng bản đồ, lược đồ trong môn Địa lí lớp 4,5
2.1.1 Sơ lược hệ thống bản đồ, lược đồ trong chương trình Địa lí lớp 4
TT Tên bản đồ
(lược đồ)
Phạm vi thể hiện (khu vực)
Thông tin chủ yếu
1 Bản đồ Địa lí tự
nhiên Việt nam
Nước Việt Nam Vị trí, giới hạn, hình
dáng, thủ đô, một số thành phố lớn
2 Bản đồ các sông
chính Việt Nam
Nước Việt Nam Tên gọi các con sông
chính của nước ta
3 Lược đồ các dãy núi
chính ở Bắc Bộ
Vùng Bắc Bộ nước
ta
Các dãy núi chính, đặc điểm của dãy núi Hoàng Liên Sơn và đỉnh Phan-xi-păng
4 Lược đồ cao nguyên
ở Tây Nguyên
Vùng Tây Nguyên Vị trí, tên gọi, độ cao của
các cao nguyên ở Tây Nguyên
5 Lược đồ một số cây
trồng và vật nuôi
chunhs ở Tây Nguyên
Vùng Tây Nguyên Sự phân bố các loại cây
trồng và vật nuôi chính ở Tây Nguyên
6 Lược đồ các sông
chính ở Tây Nguyên
Vùng Tây Nguyên Tên và các đặc điểm của
các con sông chính ở tây Nguyên
7 Lược đồ khu trung
tâm thành phố Đà Lạt
Thành phố Đà Lạt Tên và vị trí một số điểm
du lịch ở Thành phố Đà Lạt
Trang 358 Lược đồ đồng bằng
Bắc Bộ
Đồng bằng Bắc Bộ Vị trí, hình dạng, địa
hình, hệ thống sông của Đồng bằng Bắc Bộ
9 Lược đồ thủ đô Hà
Nội
Thủ đô Hà Nội Vị trí, các loại đường
giao thông, tên các tỉnh giáp với thủ đô Hà Nội
10 Lược đồ thành phố
Hải Phòng
Thành phố Hải Phòng
Vị trí, các loại đường giao thông, tên các tỉnh giáp với thành phố Hỉa Phòng
12 Lược đồ thành phố
Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh
Vị trí, các loại đường giao thông, tên các tỉnh giáp với thành phố Hồ Chí Minh
13 Lược đồ thành phố
cần Thơ
Thành phố Cần Thơ
Vị trí, các loại đường giao thông, tên các tỉnh giáp thành phố Cần Thơ
14 Lược đồ giải đồng
bằng duyên hải Miền
Trung
Đồng bằng duyên hải Miền Trung
Tên các đồng bằng duyên hải Miền Trung
15 Lược đồ Đầm-Phá ở
Thừa Thiên - Huế
Thừa Thiên - Huế Tên các Đầm-Phá ở Thừa
Trang 3617 Lược đồ thành phố
Đà Nằng
Thành phố Đà Nằng
Vị trí, các phương tiện giao thông thông có trên thành phố Đà Nẵng
18 Biển Đông, các đảo
và quần đảo của nước
ta
Nước Việt Nam Vị trí, tên gọi các đảo,
quần đảo Nguồn khoáng sản ở vùng biển Việt Nam
2.1.2 Chuẩn kiến thức-kĩ năng qua việc sử dụng bản đồ, lược đồ trong chương trình Địa lí lớp 4
1/ Bản đồ, lược đồ *Kiến thức
- Nêu được định nghĩa đơn giản về bản đồ, lược đồ
- Biết một số yếu tố của bản đồ, lược đồ
- Nêu được trình tự sử dụng bản đồ, lược đồ ở mức độ đơn giản
*Kĩ năng sử dụng bản đồ, lược đồ
- Đọc bản đồ, lược đồ ở mức độ đơn giản
2/ Thiên nhiên và
hoạt động sản xuất
của con người ở
miền núi và trung du
*Kiến thức
- Nêu được một số đặc điểm tiêu biểu về địa hình, khí hậu của dãy Hoàng Liên Sơn, Trung du Bắc Bộ, Tây Nguyên
- Nêu được một số đặc điểm chủ yếu của thành phố Đà Lạt
Trang 37bắt nguồn từ Tây Nguyên
- Chỉ được thành phố Đà Lạt trên bản đồ, lược đồ
- Nêu được các đặc điểm chủ yếu của các thành phố:
Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Huế, Đà Nẵng
*Kĩ năng sử dụng bản đồ, lược đồ
- Nhận biết vị trí của đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng Nam Bộ, dải đồng bằng Duyên hải miền Trung trên bản đồ, lược đồ
- Chỉ một số sông chính trên bản đồ, lược đồ
- Chỉ được một số tuyến đường giao thông chính của vùng trên bản đồ, lược đồ treo tường
- Chỉ được thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Cần Thơ, Huế, Đà Nẵng trên bản đồ, lược đồ
Trang 382.1.3 Sơ lược hệ thống bản đồ, lược đồ trong chương trình Địa lí lớp 5
TT
Tên bản đồ
(lược đồ)
Phạm vi thể hiện (khu vực)
Thông tin chủ yếu
Việt Nam Vị trí nước Việt Nam, tên gọi thủ
đô nước Việt Nam và các thành phố lớn ở Việt Nam
3 Lược đồ Việt Nam
trong khu vực Đông
Nam Á
Đông Nam Á
Vị trí phần đất liền của nước ta
4 Lược đồ Việt Nam Việt Nam Biết được chiều dài phần đất liền
nước ta, nơi hẹp nhất là bao nhiêu ki-lô-mét
5 Lược đồ địa hình Việt
Nam
Việt Nam Vị trí vùng đồi núi và đồng bằng
nước ta
6 Lược đồ một số
khoáng sản Việt Nam
Việt Nam Vị trí, tên gọi những nơi có mỏ sắt,
mỏ than, a-pa-tit, bô-xit, dầu mỏ và
kể tên được các loại khoáng sản ở nước ta
7 Lược đồ khí hậu Việt
Nam
Việt Nam Nêu tên các miền khí hậu có mùa
đông lạnh và miền khí hậu nóng quanh năm
8 Lược đồ sông ngòi
Việt Nam
Việt Nam Vị trí và đặc điểm một số con sông:
Hồng, Thái Bình, Tiền, Hậu, Đồng Nai, Mã, Cả
9 Lược đồ khu vực Khu vực Vị trí một số điểm du lịch nghỉ mát
Trang 39Biển Đông Biển
Việt Nam Nhận biết nơi phân bố của đất phù
sa, đất phe-ra-lít; của rừng rậm nhiệt đới; rừng ngập mặn
11 Lược đồ mật độ dân
số Việt Nam
Việt Nam Vị trí những vùng có dân cư tập
trung đông đúc, những vùng dân cư thưa thớt
12 Lược đồ nông nghiệp
Việt Nam Tên gọi của một số trung tâm công
nghiệp lớn ở nước ta
14 Lược đồ giao thông
vận tải Việt Nam
Việt Nam Vị trí, tên gọi một số tuyến đường
chính trên bản đồ, lược đồ đường sắt Sử dụng bản đồ, lược đồ để bước đầu nhận xét về sự phân bố của giao thông vận tải
15 Lược đồ các châu lục
và đại dương
Thế giới Vị trí, tên gọi các châu lục và đại
dương trên bản đồ, lược đồ
16 Lược đồ các khu vực
châu Á
Châu Á Chỉ được vị trí châu Á trên bản đồ,
lược đồ Vị trí, tên gọi một số dãy núi, cao nguyên, đồng bằng, sông lớn của châu Á trên bản đồ, lược
đồ
17 Lược đồ kinh tế một
số nước châu Á
Châu Á Nhận biết một số đặc điểm của dân
cư và hoạt động sản xuất của người dân trên bản đồ, lược đồ
18 Lược đồ tự nhiên Châu Âu Vị trí, tên gọi một số dãy núi, cao
Trang 40châu Âu nguyên, đồng bằng, sông lớn của
châu Âu Nhận biết một số đặc điểm của dân cư và hoạt động sản xuất của người dân
19 Lược đồ tự nhiên
châu Phi
Châu Phi Vị trí, giới hạn lãnh thổ châu Phi
Vị trí của hoang mạc Xa-ha-ra
20 Lược đồ tự nhiên
châu Mĩ
Châu Mĩ Vị trí, giới hạn lãnh thổ châu Mĩ
trên Tên gọi và vị trí một số dãy núi, cao nguyên, đồng bằng, sông lớn của châu Mĩ
21 Lược đồ tự nhiên
châu Đại Dương
Châu Đại Dương
Dựa vào bản đồ, lược đồ tìm một
số đặc điểm nổi bật về diện tích, độ sâu của mỗi đại dương
2.1.2 Chuẩn kiến thức-kĩ năng qua việc sử dụng bản đồ, lược đồ trong chương trình Địa lí lớp 5