1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tìm hiểu việc dạy học đo thời gian và vận dụng một số dạng toán điển hình vào giải bài toán về tính tuổi ở chương trình tiểu học

85 95 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong sự phát triển của tri giác, vai trò của giáo viên tiểu học rất lớn.. Giáo viên là người hàng ngày không chỉ dạy trẻ kĩ năng nhìn mà còn hướng dẫn các em xem xét, khôn

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC – MẦM NON

- -

NGUYỄN THỊ THANH TUYỀN

Tìm hiểu việc dạy học đo thời gian và vận dụng một số dạng toán điển hình vào giải bài toán về tính tuổi ở chương

trình tiểu học

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Ở tiểu học, cùng với môn Tiếng Việt, môn Toán có vị trí rất quan trọng Môn học này cung cấp cho học sinh tiểu học một hệ thống kiến thức toán học sơ đẳng cần thiết thông qua năm tuyến kiến thức trọng tâm về : Số học, đo đại lượng, các yếu tố đại số, các yếu tố hình học, giải toán; đồng thời bồi dưỡng và rèn luyện các thao tác tư duy, phát triển khả năng suy luận như : phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa,… Qua đó, góp phần giáo dục ý chí và những đức tính tốt như cần cù, nẫn nại, ý thức vượt khó khăn

Một trong năm tuyến kiến thức chính đó là: Đo đại lượng Các em đều bắt gặp trong cuộc sống hàng ngày các đại lượng cơ bản được đề cập trong chương trình, và một trong các đại lượng đó là : Thời gian Thời gian gắn bó chặt chẽ với đời sống con người nên những kiến thức về thời gian rất cần cho mọi người và được đưa vào khá sớm trong chương trình tiểu học (bắt đầu từ lớp 1) Với vai trò quan trọng như vậy, dạy học đo thời gian giúp học sinh : hình thành biểu tượng về thời gian, nắm được đơn vị đo và chuyển đổi đơn vị đo thời gian, thực hành phép tính cũng như giải toán với các số đo thời gian

Và trong dạy học đo thời gian, bài toán tính tuổi có ý nghĩa thực tiễn rất lớn Thông qua giải bài toán tính tuổi, học sinh nắm vững hơn kiến thức về thời gian đồng thời rèn luyện thêm kĩ năng giải toán Qua đó tạo cho các em có thêm hứng thú niềm say mê, yêu thích môn Toán

Tuy nhiên, việc dạy học đo thời gian ở tiểu học gặp nhiều khó khăn hơn việc dạy học phép đo các đại lượng khác Vì thời gian là đại lượng khó mô tả bằng những mô hình trực quan làm cho việc dạy và học thiếu chỗ dựa cần thiết đối với học sinh tiểu học Trong chương trình có sự xen kẽ giữa hai khái niệm : Thời gian và thời điểm gây cho học sinh khó khăn trong việc nhận biết và phân biệt hai khái niệm này Và khi học phép đo thời gian, học sinh gặp các số đo được viết không theo hệ ghi số thập phân mà theo hệ ghi số 60 – phân đối với một số đơn vị đo ( như

Trang 3

giờ, phút, giây) còn đối với một số đơn vị quen thuộc hơn ( ngày, tháng, năm…) lại có nhiều ngoại lệ Mặt khác, các đơn vị thời gian được trình bày theo nguyên tắc kiến thức nào dễ tiếp thu hơn thì học trước ( như giờ), các đơn vị đo cơ bản nhưng khó nhận thức ( như giây) thì học sau, gây cho các em khó khăn trong việc hệ thống kiến thức

Đối với bài toán tính tuổi, trong khi hướng dẫn học sinh giải dạng toán này, các em tỏ ra lúng túng vì dạng toán này rất đa dạng và không có một công thức cụ thể nào, dẫn đến việc phát hiện ra các dạng toán điển hình về tính tuổi cũng như phương pháp giải các dạng toán này gặp không ít khó khăn

Vì vậy, việc tìm hiểu nội dung và phương pháp dạy học đo thời gian nhằm giúp giáo viên tìm ra được phương pháp dạy học đo thời gian hiệu quả và học sinh nắm vững kiến thức về đo thời gian, cũng như việc hướng dẫn học sinh vận dụng một số dạng toán điển hình vào giải bài toán về tính tuổi để các em có thể tìm ra được phương pháp giải phù hợp và hiệu quả là việc làm rất cần thiết

Xuất phát từ lí do trên, chúng tôi đã quyết định chọn đề tài “Tìm hiểu việc dạy học đo thời gian và vận dụng một số dạng toán điển hình vào gi ải bài toán

về tính tuổi ở chương trình ti ểu học”

2 Mục đích

- Tìm hiểu nội dung và phương pháp dạy học đo thời gian ở tiểu học

- Hướng dẫn học sinh vận dụng một số dạng toán điển hình vào giải bài toán về tính tuổi ở tiểu học

3 Nhiệm vụ

Để đạt được mục đích trên, đề tài đặt ra một số nhiệm vụ cụ thể sau :

- Nghiên cứu lý thuyết : Những vấn đề liên quan đến đại lượng thời gian

- Tìm hiểu nội dung và phương pháp dạy học đo thời gian trong môn Toán lớp 1, 2,

Trang 4

- Xây dựng hệ thống bài tập bổ trợ cho học sinh tự luyện

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm tại trường tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ

4 Phạm vi nghiên cứu

- Chỉ giới hạn trong sách Toán 1, 2, 3, 4, 5

- Chỉ giới hạn ở đại lượng đo thời gian

5 Khách thể, đối tượng nghiên cứu

- Khách thể : Việc dạy – học môn Toán ở tiểu học

- Đối tượng : Dạy học đo thời gian và vận dụng một số dạng toán điển hình vào giải bài toán về tính tuổi ở tiểu học

6 Giả thuyết khoa học

Việc tìm hiểu nội dung và phương pháp dạy học đo thời gian ở tiểu học giúp cho giáo viên tìm ra được phương pháp dạy học đo thời gian có hiệu quả, từ đó giúp học sinh nắm chắc được kiến thức về đo thời gian từ đó vận dụng vào thực tiễn Và việc tìm hiểu một số dạng toán điển hình để vận dụng vào giải bài toán về tính tuổi giúp cho giáo viên có thêm cơ sở vững chắc trong việc hướng dẫn học sinh giải dạng toán này và học sinh sẽ nắm được phương pháp giải từ đó rèn luyện được kĩ năng giải bài toán về tính tuổi nói riêng và giải toán nói chung

7 Phương pháp

- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp điều tra

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

- Phương pháp phân tích rút kinh nghiệm

8 Cấu trúc đề tài

Đề tài gồm 3 phần

Phần mở đầu gồm các tiểu mục sau

- Lí do chọn đề tài

- Mục đích nghiên cứu

Trang 5

- Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu

- Khách thể, đối tượng nghiên cứu

- Giả thuyết khoa học

- Phương pháp nghiên cứu

Phần nội dung gồm 4 chương

Chương 1 : Cơ sở lí luận

Chương 2 : Tìm hiểu nội dung và phương pháp dạy học đo thời gian ở tiểu học Chương 3 : Vận dụng một số dạng toán điển hình vào giải bài toán về tính tuổi ở tiểu học

Chương 4 : Thực nghiệm sư phạm

Phần kết luận

Trang 6

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1 Cơ sở tâm lí học

1.1.1 Tri giác

Học sinh tiểu học thường tri giác trên tổng thể, ít đi sâu vào chi tiết và mang tính không chủ động, do đó các em phân biệt đối tượng còn chưa chính xác, dễ mắc sai lầm, có khi còn nhầm, lẫn lộn giữa những đối tượng có những nét tương đồng Chẳng hạn, thời điểm và khoảng thời gian Vì vậy, việc thiết kế hệ thống bài tập cần giúp các em nhận biết được bản chất của đối tượng để nhận biết chúng một cách chính xác từ đó phát triển tri giác cho các em

Ở các lớp đầu tiểu học tri giác thường gắn với hoạt động thực tiễn Tri giác

sự vật nghĩa là phải làm một cái gì đó với sự vật, trực tiếp tiếp xúc với sự vật, như : cầm, nắm, tháo, gỡ sự vật ấy Đối với các em, diện tích và thời gian là những khái niệm khó Trẻ không nhìn thấy thời gian, diện tích Vì vậy, khi thiết kế hệ thống bài tập cần thông qua những hoạt động diễn ra trong đời sống, thông qua hình ảnh,…

Tri giác không tự nó phát triển được Trong quá trình học tập, khi tri giác trở thành hoạt động có mục đích đặc biệt, trở nên phức tạp và sâu sắc, trở thành hoạt động có phân tích, có phân hóa hơn thì tri giác sẽ mang tính chất của sự quan sát có tổ chức Trong sự phát triển của tri giác, vai trò của giáo viên tiểu học rất lớn Giáo viên là người hàng ngày không chỉ dạy trẻ kĩ năng nhìn mà còn hướng dẫn các em xem xét, không chỉ dạy nghe mà còn dạy trẻ biết lắng nghe, dạy trẻ biết phát hiện những thuộc tính của sự vật hiện tượng

1.1.2 Tư duy

Tư duy của trẻ em mới đến trường là tư duy cụ thể, mang tính hình thức bằng cách dựa vào những đặc điểm trực quan của những đối tượng và hiện tượng cụ thể Nhà tâm lí học nổi tiếng G.Piagiê cho rằng tư duy của trẻ từ 7 đến 10 tuổi về cơ bản còn ở giai đoạn những thao tác cụ thể, trên cơ sở đó có thể diễn ra quá trình hệ thống hóa các thuộc tính, tài liệu trong kinh nghiệm trực quan Ví dụ : Trong các giờ Toán đầu tiên ở lớp, khi giải các bài toán học sinh phải dùng các que tính , dùng các ngón tay làm phương tiện Điều đó có nghĩa là việc tính toán của các em phải

Trang 7

gắn với những vật cụ thể Cũng như vậy, khi ở đầu lớp 1, khi yêu cầu các em làm phép tính 2 + 3 thì nhiều em không giải được Nhưng nếu hỏi các em có 3 quyển vở,

mẹ mua thêm 2 quyển vở nữa,, hỏi các em có tất cả mấy quyển vở thì các em trả lời

là có 5 quyển vở

Như vậy, đặc điểm tư duy của học sinh tiểu học không có ý nghĩa tuyệt đối, mà có ý nghĩa tương đối Trong quá trình học tập, tư duy của học sinh tiểu học thay đổi rất nhiều Sự phát triển của tư duy dẫn đến sự tổ chức lại một cách căn bản quá trình nhận thức, chúng được tiến hành một cách chủ định Khi trẻ bắt đầu đến trường thì chức năng trí tuệ còn tương đối yếu so với chức năng của tri giác lẫn trí nhớ Ở đây, vai trò của nội dung dạy học và phương pháp dạy học đặc biệt quan trọng Nhiều công trình nghiên cứu ở Liên Xô và Việt Nam đã xác nhận khi nội dung dạy học và phương pháp dạy học được thay đổi tương ứng với nhau thì trẻ em

có thể có được một số đặc điểm tư duy hoàn toàn khác

1.1.3 Tưởng tượng

Tưởng tượng là một trong những quá trình nhận thức quan trọng Tưởng tượng của học sinh phát triển không đầy đủ thì nhất định gặp khó khăn trong hành động

Tưởng tượng của học sinh tiểu học được hình thành và phát triển trong hoạt động học và các hoạt động khác của các em

Tưởng tượng của học sinh tiểu học phát triển và phong phú hơn so với trẻ chưa đến trường Đây là lứa tuổi thơ mộng giúp cho phát triển tưởng tượng Tuy vậy, tưởng tượng của các em còn tản mạn, ít có tổ chức Hình ảnh của tưởng tượng còn đơn giản, hay thay đổi, chưa bền vững Càng về những năm cuối bậc học, tưởng tượng của các em càng gần hiện thực hơn Sở dĩ có như vậy là vì các em đã có kinh nghiệm phong phú, đã lĩnh hội được những tri thức khoa học do nhà trường đem lại Về mặt cấu tạo hình tượng, tưởng tượng của các em chỉ lặp lại hoặc thay đổi chút ít về kích thước, về hình dạng những tưởng tượng đã tri giác được

Tưởng tượng đã tái tạo từng bước hoàn thiện gắn liền với những hình tượng đã tri giác trước hoặc tạo ra những hình tượng phù hợp với những điều mô tả, sơ đồ, hình vẽ,… Như vậy, tưởng tượng của học sinh tiểu học mất dần, thoát khỏi ảnh

Trang 8

hưởng của những ấn tượng trực tiếp, mặt khác, tính hiện thực trong tưởng tượng của học sinh gắn liền với sự phát triển của tư duy và ngôn ngữ

Trong dạy học ở Tiểu học, giáo viên cần nhình thành biểu tượng thông qua

sự mô tả bằng lời nói, cử chỉ, điệu bộ của giáo viên trong các giờ lên lớp được xem là phương tiện trực quan trong dạy học Ngôn ngữ chính xác, giàu nhạc điệu và tình cảm là yêu cầu bắt buộc đối với giáo viên

1.1.5 Trí nhớ

Do tư duy trực quan ở lứa tuổi này tương đối chiếm ưu thế nên trí nhớ trực quan – hình tượng được phát triển hơn trí nhớ từ ngữ - logic Các em nhớ và giữ gìn chính xác những sự vật, hiện tượng cụ thể nhanh hơn và tốt hơn những định nghĩa, những lời giải thích dài dòng Đặc điểm này là do 4 nguyên nhân sau:

- Ghi nhớ máy móc của các em thường chiếm ưu thế

- Học sinh chưa hiểu cần phải ghi nhớ cái gì, bao lâu ? Trong khi đó giáo viên lại ít quan tâm hướng dẫn các em ghi nhớ theo điểm tựa

- Ngôn ngữ của học sinh đầu cấp còn hạn chế, nên việc nhớ từng câu, từng chữ dễ dàng hơn dùng lời lẽ của mình để tả lại sự kiện, hiện tượng

- Nhiều học sinh còn chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết sử dụng sơ đồ logic và dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ

Nhiệm vụ của giáo viên là gây cho học sinh tâm thế để ghi nhớ, hướng dẫn các em thủ thuật ghi nhớ tài liệu học tập, chỉ cho cá em đâu là điểm chính, điểm quan trọng của bài học tránh để các em ghi nhớ máy móc

Trang 9

1.1.6 Sự phát triển của phân tích và tổng hợp, trừu tượng hóa và khái quát hóa

Hoạt động phân tích – tổng hợp còn sơ đẳng, học sinh các lớp đầu bậc tiểu học chủ yếu tiến hành hoạt động phân tích – trực quan – hành động khi tri giác trực tiếp đối tượng Học sinh cuối bậc học này có thể phân tích đối tượng mà không cần tới những hành động thực tiễn đối với đối tượng đó Học sinh ở các lớp này có khả năng phân biệt những dấu hiệu, những khía cạnh khác nhau của đối tượng dưới dạng ngôn ngữ Việc học tiếng Việt và số học giúp học sinh biết phân tích và tổng hợp

Nhiều công trình nghiên cứu tâm lí học sinh tiểu học cho thấy các em gặp khó khăn nhất định khi phải xác định mối quan hệ nhân quả

Nhờ ảnh hưởng của việc học tập, học sinh tiểu học dần dần chuyển từ nhận thức các mặt bên ngoài của các hiện tượng đến nhận thức được những thuộc tính và dấu hiệu bản chất của hiện tượng vào tư duy Điều đó tạo khả năng tiến hành những khái quát đầu tiên, so sánh đầu tiên, xây dưng suy luận sơ đẳng

Khi khái quát hóa, học sinh tiểu học ( lớp 1, 2)thường quan tâm đến dấu hiệu trực quan, bề ngoài có liên quan đến chức năng của đối tượng Nhờ quá trình học tập mà trình độ nhận thức phát triển, học sinh lớp 3, 4 đã biết xếp bậc các khái niệm, phân biệt khái niệm rộng hơn, hẹp hơn, nhìn ra các mối liên hệ giữa các khái niệm về giống loài Trên cơ sở này, học sinh biết phân loại và phân dạng trong nhận thức

Như vậy, khả năng phân tích – tổng hợp, trừu tượng hóa – khái quát hóa đối với học sinh tiểu học là rất cần thiết, tạo điều kiện thuận lợi để các em học tốt các môn đòi hỏi khả năng tư duy như toán Vì vậy giáo viên cần áp dụng các phương pháp dạy học nhằm phát huy khả năng này của các em

1.2 Cơ sở toán học

1.2.1 Đại lượng

* Khái niệm đại lượng

- Định nghĩa 1 : Ta gọi một quan hệ tương đương ~ trên X là đại lượng trên tập hợp

X, kí hiệu đại lượng là (X, ~)

Trang 10

Như vậy trên X có nhiều quan hệ tương đương nên có nhiều đại lượng, mỗi đại lượng xác định một thuộc tính đặc trưng nào đó của X

- Định nghĩa 2 : Ta gọi tập thương X/ ~ là tập hợp của đại lượng (X/~) Mỗi lớp tương đương (được đại diện bởi phần tử bất kì của lớp đó) được xác định bằng cái đặc trưng của nó mà trạng thái có thể có, gọi là giá trị (riêng) của nó

Như vậy, ứng với mỗi giá trị của đại lượng là một lớp các phần tử tương đương của tập hợp đối tượng

Chẳng hạn : đại lượng “độ dài” có tập giá trị là độ dài các đoạn thẳng (chính

là tập số thực R+) Ứng với mỗi giá trị độ dài (mỗi số đo) là lớp tương đương của đoạn thẳng có độ dài bằng nhau

* Các loại đại lượng

- Định nghĩa 3 : Đại lượng (X, ~) được gọi là đại lượng vô hướng, kí hiệu là ( X, ~, ) nếu trên X/ ~ có một quan hệ thứ tự toàn phần

- Định nghĩa 4 : Đại lượng (X/~) được gọi là đại lượng cộng được kí hiệu là (X, ~,

~, +) là vị nhóm giao hoán

- Định nghĩa 5 : Đại lượng X được gọi là đại lượng vô hướng cộng được, kí hiệu là (X/ ~, , +), nếu thỏa mãn 3 điều kiện sau :

+ (X, ~, ) là đại lượng vô hướng

+ (X, ~, +) là đại lượng cộng được

+ (X, ~, +, ) là vị nhóm sắp thứ tự Acsimet và mọi phần tử khác 0 (đơn vị của phép cộng) đều là phần tử dương

1.2.2 Phép đo đại lượng vô hướng cộng được

- Định nghĩa : Cho (X, ~, , +) là đại lượng vô hướng cộng được, e là phần tử khác

0, R+ là tập số thực không âm Ta gọi phép đo d, đơn vị đo e, là đơn cấu, đơn điệu :

d: X/ ~  R +

x  d(x) Với d(e) = 1

D(x) gọi là số đo của x, e gọi là đơn vị đo

1.2.3 Khái niệm thời gian

Trang 11

Thời gian là một khái niệm để diễn tả trình tự xảy ra của các sự kiện, biến cố

và khoảng kéo dài của chúng Thời gian được xác định bằng số lượng các chuyển

động của các đối tượng có tính lặp lại (sự lượng hoá các chuyển động lặp lại) và thường có một thời điểm mốc gắn với một sự kiện nào đó Định nghĩa về thời gian

là một định nghĩa khó nếu phải đi đến chính xác và do đó dứt khoát phải có một cách hiểu chung nhất

Thời gian là một thuộc tính của vận động và phải được gắn với vật chất, vật thể Các nhà triết học đúc kết rằng "thế giới" vận động không ngừng (luôn vận

động) Giả sử rằng nếu mọi vật trong vũ trụ đứng im, khái niệm thời gian trở nên vô nghĩa Các sự vật luôn vận động song hành cùng nhau Có những chuyển động có tính lặp lại, trong khi đó có những chuyển động khó xác định Vì thế để xác định thời gian người ta so sánh một quá trình vận động với một quá trình khác có tính lặp lại nhiều lần hơn, ổn định hơn và dễ tưởng tượng hơn Ví dụ chuyển động của con lắc (giây), sự tự quay của trái đất hay sự biến đổi của mặt trời trên bầu trời (ngày),

sự thay đổi hình dạng của mặt trăng (tháng âm lịch), hay đôi khi được xác định bằng quãng đường mà một vật nào đó đi được, sự biến đổi trạng thái lặp đi lặp lại của một "vật"

Thời gian chỉ có một chiều duy nhất (cho đến nay được biết đến) đó là từ quá khứ đến hiện tại và tương lai Do sự vận động không ngừng của thế giới vật chất từ

vi mô đến vĩ mô (và kể cả trong ý thức, nhận thức) mà trạng thái và vị trí (xét theo quan điểm động lực học) của các vật không ngừng thay đổi, biến đổi Chúng luôn

có những quan hệ tương hỗ với nhau và vì thế "vị trí và trật tự" của chúng luôn biến đổi, không thể trở về với trạng thái hay vị trí trước đó được Đó chính là trình tự của thời gian

* Phân biệt (khoảng) thời gian – thời điểm

Trong thời gian có hai khái niệm cần phân biệt đó là : (khoảng) thời gin và thời điểm

- (khoảng) Thời gian là đại lượng vô hướng đo được, cộng được, so sánh được

Ví dụ : 2 giờ + 3 giờ = 5 giờ

Trang 12

1 năm 2 tháng 12 tháng

- Thời điểm là khoảng thời gian cực ngắn, được hạn định một cách chính xác, coi như một điểm trên trục thời gian Thời điểm là đại lượng có hướng so sánh được, nhưng không cộng được

Ví dụ : Các mốc thời điểm trong một ngày : 6 giờ sáng, 11 giờ trưa, 5 giờ chiều, 8 giờ tối, 10 giờ đêm, … có thể so sánh 6 giờ sáng sớm hơn 11 giờ trưa nhưng không thể lấy 6 giờ sáng + 11 giờ trưa; đối với các thứ trong tuần : thứ hai, thứ ba, thứ tư, … ta thấy thứ hai tồn tại trước thứ ba nhưng không thể lấy thứ hai +

thứ ba

1.3 Phương pháp dạy học và một số định hướng đổi mới

1.3.1 Phương pháp dạy học truyền thống

- Phương pháp thuyết trình

Phương pháp thuyết trình trong việc dạy học Toán là phương pháp dùng lời nói để trình bày tài liệu toán học cho học sinh

Phương pháp thuyết trình được sử dụng chủ yếu để trình bày kiến thức mới,

sử dụng trong việc giải toán mẫu hoặc hệ thống hóa kiến thức trong ôn tập chương, phần

Ở bậc Tiểu học GV nên hạn chế sử dụng phương pháp này Khi cần thiết, cũng chỉ nên sử dụng với mức độ vừa phải : nhịp điệu chậm, phần tài liệu thuyết trình ngắn và chiếm khoảng thời gian ngắn nhất trong một tiết học

- Phương pháp giảng giải minh họa

Phương pháp giảng giải minh họa trong dạy học Toán là phương pháp dùng lời nói để giải thích nội dung toán kết hợp với việc dùng các tài liệu trực quan để hỗ trợ cho việc giải thích này

Phương pháp này kết hợp được giữa cái cụ thể và cái trừu tượng nên có ưu thế hơn phương pháp thuyết trình trong việc gây hứng thú học tập, trong việc giúp

HS hiểu, nhớ kiến thức Trong môn Toán ở Tiểu học, khi sử dụng phương pháp này

GV cần lưu ý rằng càng ở lớp dưới thì thành phần minh họa càng phải chiếm tỉ lệ lớn hơn

Trang 13

Tuy nhiên phương pháp này cũng vẫn chỉ nhằm thông báo những kiến thức

có sẵn cho HS Vì vậy, HS vẫn bị đặt trong tình trạng thu động, chưa phát huy tính tích cực nhận thức của các em

- Phương pháp gợi mở vấn đáp

Phương pháp gợi mở vấn đáp là PPDH không trực tiếp đưa ra những kiến thức đã hoàn chỉnh mà hướng dẫn HS tư duy từng bước một để các em tự tìm ra kiến thức mới phải học

Phương pháp vấn đáp là phương pháp đưa ra những câu hỏi thích hợp cho

HS trả lời để dần đi đến kết luận cần thiết

Phương pháp gợi mở vấn đáp tương đối thích hợp trong dạy học Toán tiểu học Nó làm không khí lớp học sôi nổi, sinh động; kích thích hứng thú học tập và lòng tự tin của HS; luyện cho các em năng lực diễn đạt sự hiểu biết của mình bằng ngôn ngữ; làm cho các em nhận kiến thức được nhanh chóng, chắc chắn

- Phương pháp trực quan

Phương pháp trực quan trong dạy học toán ở tiểu học là phương pháp đặc biệt quan trọng, phương pháp này đòi hỏi giáo viên tổ chức, hướng dẫn học sinh hoạt động trực quan trên các sự vật cụ thể, thông qua đó nắm được những kiến thức và kĩ năng tương ứng

- Phương pháp trò chơi học tập

Ở tiểu học, nhất là ở các lớp dưới, trò chơi giữ một vai trò quan trọng và cần được coi là một phần trong nội dung dạy - học Trò chơi tang tính chất vui trong học tập, kích thích hứng thú, nâng cao tính tích cực của tư duy

Trò chơi được sử dụng phổ biến trong dạy – học toán ở tiểu học là trò chơi đố khi học số học, hình học, những bài toán vui (tìm một số được ngụy trang bằng một quan hệ toán học, xếp hình, đếm hình …); các trò chơi như đua ngựa, đánh bài bằng số được dung để luyện tập các phép tính số học; các bài toán biến đổi hình, tạo

ra các hình khác nhau bằng cách lắp ghép các mảnh dời, v.v… có nhiều tác dụng phát triển óc tưởng tượng không gian và óc sáng tạo của học sinh

- Phương pháp luyện tập – thực hành

Trang 14

Phương pháp thực hành, luyện tập là phương pháp giáo viên tổ chức cho học sinh luyện tập các kiến thức kĩ năng của học sinh thông qua các hoạt động thực hành luyện tập Hoạt động thực hành luyện tập chiếm hơn 50% tổng thời lượng dạy học ở tiểu học, vì thế phương pháp này được sử dụng thường xuyên trong dạy học toán ở tiểu học

Ta thấy phương pháp dạy học truyền thống đã chú ý phần nào đến vai trò của

HS, đến sự lĩnh hội tri thức và áp dụng các kiến thức vào thực tiễn của HS Tuy nhiên, trong PPDH truyền thống GV vẫn giữ vai trò trung tâm trong quá trình dạy học Vì thế chúng ta cần phải đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học sinh

1.3.2 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học môn Toán

Định hướng đổi mới PPDH đã được xác định trong các Nghị quyết Trung ương 4 (khóa V) và Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VII), được thể chế trong Luật Giáo dục và được thể chế hóa trong Chỉ thị 15 của Bộ Giáo dục và Đào tạo

Trong Luật Giáo dục, Khoản 2, Điều 24 đã ghi : “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS”

Như vậy, có thể nói tư tưởng và cũng là mục tiêu của quá trình đổi mới PPDH là tích cực hóa hoạt động học tập của HS Tính tích cực trong hoạt động học tập của HS thực chất là tính tích cực nhận thức được đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức

1.3.3 Phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học

- Phương pháp dạy học theo nhóm

Hoạt động dạy học theo nhóm là hoạt động trong đó GV tổ chức cho HS hoạt động hợp tác với nhau trong các nhóm nhằm đạt được mục tiêu học tập

Những ưu điểm của phương pháp dạy học theo nhóm

Trang 15

+ Hoạt động lao động hợp tác theo nhóm, hoạt động giao tiếp và có tính tích hợp là đặc điểm nổi bật của công việc lao động trong tương lai Giúp phát triển những năng lực của người lao động hiện đại

+ Tăng cơ hội thảo luận, trao đổi, hợp tác để từ đó hiểu sâu sắc kiến thức hơn, nâng can chất lượng học tập của học sinh

+ Tin tưởng và có ý thức tương trợ bạn, có điều kiện học hỏi lẫn nhau

+ Tự khẳng định bản thân

+ Tạo môi trường để HS giúp đỡ nhau trong học tập HS kém có điều kiện học tập các bạn trong nhóm, có điều kiện tiến bộ trong quá trình liên tục hoàn thành nhiệm vụ được giao

+ Tăng cường tính tích cực trong học tập, phát triển sự sáng tạo của HS Tạo cơ hội cho mọi HS được tham gia phát biểu, phân tích, phê phán, trình bày, tranh cãi, hoạt động,…

- Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

Trong dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, thầy tổ chức tính huống sư phạm, HS hoạt động, phát hiện ra vấn đề

Vấn đề được chứa trong tình huống mà chủ thể HS cần giải quyết nhưng không thể giải quyết ngay được Để giải quyết được vấn đề, HS phải vượt khó khăn hàm chứa trong vấn đề bằng sự cố gắng trí lực

Khi giải quyết vấn đề, HS đạt được những tri thức và kĩ năng mới Tính “có vấn đề” được phản ánh trong mối quan hệ biện chứng giữa chủ thể cá nhân HS với tình huống phải giải quyết Với HS này tình huống đặt ra có thể chứa đựng vấn đề, nhưng với HS khác thì nó quá dễ, “không có vấn đề gì”; với HS này thì vấn đề là

“lớn”, nhưng với HS khác thì vấn đề đó là “nhỏ”

Về lâu dài, hoạt động học tập sẽ hình thành và phát triển ở HS những năng lực khác nhau, trong đó có năng lực giải quyết vấn đề

Tóm lại, có thể nói xét về bản thân phương pháp dạy học thì không có phương pháp nào là tích cực hay thụ động, một phương pháp dạy học trở nên thụ động khi không được khai thác hết lợi thế của nó hoặc được sử dụng không đúng lúc, đúng chỗ, đúng đối tượng và cũng không có phương pháp nào là vạn năng Đổi

Trang 16

mới phương pháp dạy học là triển khai các phương pháp dạy học trên cơ sở khai thác triệt để các ưu điểm của chúng, kết hợp một cách hài hòa và sáng tạo các phương pháp khác nhau sao cho vừa đạt được mục tiêu dạy học vừa đảm bảo phù hợp với đối tượng và kiều kiện thực tiễn ở cơ sở Điều này đòi hỏi người dạy học phải cân nhắc, suy tính kĩ thời điểm và mức độ vận dụng tùy theo mục tiêu dạy học từng hoạt động

Trang 17

Chương 2 : TÌM HIỂU NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC ĐO

THỜI GIAN Ở TIỂU HỌC

2.1 Mục tiêu dạy học đo thời gian ở tiểu học

- Hình thành cho học sinh những biểu tượng về đại lượng thời gian, phân biệt được thời điểm và (khoảng) thời gian

- Học sinh nắm được các đơn vị đo thời gian : tuần lễ , ngày, tháng, năm, thế kỉ, giờ, phút, giây; nắm được mối quan hệ giữa các đơn vị đo thời gian; biết đọc và viết các số đo; biết chuyển đổi các số đo theo các đơn vị thường dùng, biết so sánh các số đo

và biết thực hiện các phép tính với các số đo thời gian

- Học sinh biết ứng dụng những hiểu biết về thời gian vào cuộc sống, vào giải toán

và hiểu được phần nào về phép đo đại lượng nói chung qua phép đo thời gian

2.2 Nội dung và phương pháp dạy học đo thời gian trong môn Toán ở tiểu học

Ở tiểu học, phép đo thời gian được dạy từ lớp 1 Việc dạy – học phép đo thời gian là một biện pháp quan trọng làm cho học gắn với hành, nhà trường gắn với đời sống thực tiễn Phép đo thời gian không được xếp thành một chương riêng mà được đưa ra dần dần, gắn với việc học các vòng số và được phát triển cùng với việc mở rộng các vòng số Các kiến thức cũng được đưa ra dần dần, phù hợp với sự phát triển nhận thức của học sinh

2.2.1 Hình thành khái niệm về thời gian

Dạy học đo thời gian trước hết phải làm cho học sinh có được khái niệm về khoảng thời gian và phân biệt được với thời điểm, kết hợp khai thác vốn sống của học sinh trên cơ sở từng bước nâng cao và chính xác hóa hình thành khái niệm thời gian cho học sinh

Ví dụ : Để hình thành cho học sinh khái niệm khoảng thời gian một tuần lễ, giáo viên cần kết hợp với các đồ dùng dạy học như quả địa cầu, mô hình mặt đồng hồ Giáo viên cần phân biệt cho học sinh thấy các ngày trong một tuần lễ, thứ hai, thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ sáu, thứ bảy, chủ nhật không phải là nói đến khoảng thời gian mà chỉ thứ tự sắp xếp tên gọi các ngày trong một tuần lễ, các ngày đó giống nhau về khoảng thời gian nhưng khác nhau về thứ tự trong tuần

Trang 18

- Việc chính xác hóa khái niệm về tuần lễ, ngày được thực hiện thông qua việc dạy các đơn vị đo như : giờ, phút, giây, tháng ở các lớp sau

- Để học sinh thấy được những tính chất quan trọng nhất của thời gian là đại lượng đo được, cộng được, so sánh được Giáo viên tổ chức nhiều hình thức hoạt động học tập cho học sinh như cho học sinh quan sát chuyển động nào đó của vật chất, đưa ra các sơ đồ, các biểu tượng biểu diễn thời gian, các bài toán gắn với thời gian

- Để học sinh hiểu thời điểm là đại lượng vô hướng so sánh được, nhưng không cộng được, giáo viên cho học sinh kể các mốc thời điểm trong một ngày, buổi sáng dậy lúc nào, đi học lúc nào, ăn cơm lúc nào, đi ngủ lúc nào, … hoặc cho học sinh xem lịch và đánh dấu những ngày lễ, ngày kỉ niệm trong một năm

2.2.2 Các đơn vị đo thời gian

 Nội dung

Chương trình quy định dạy tất cả các đơn vị đo thời gian từ giây đến thế kỉ theo nguyên tắc kiến thức nào dễ tiếp thu hơn (vì sử dụng quen, dễ nhận thức) thì học trước, các đơn vị đo tuy cơ bản (như giây) nhưng khó nhận thức hơn thì học sau Cụ thể :

* Lớp 1 :

Qua bài “Các ngày trong tuần”, học sinh làm quen với các đơn vị đo thời

gian : Ngày và tuần lễ Nhận biết 1 tuần có 7 ngày Biết gọi tên các ngày trong tuần : Chủ nhật, thứ hai, thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ sáu, thứ bảy

Bài tập vận dụng trong sách giáo khoa

Bài 1 (Trang 161) : Trong một tuần lễ :

a) Em đi học vào các ngày : thứ hai, ………

b) Em được nghỉ các ngày : ………

Bài 3 (Trang 161) : Đọc thời khóa biểu lớp em

* Lớp 2 :

Qua bài “Ngày, giờ”, học sinh nhận biết được các đơn vị thời gian : ngày,

giờ; nhận biết một ngày có 24 giờ; bước đầu có hiểu biết về sử dụng thời gian trong cuộc sống thực tiễn

Trang 19

Bài “Ngày, tháng”, giúp học sinh làm quen với đơn vị đo thời gian là tháng

thông qua ngày, nhận biết tháng có 30 ngày, tháng có 31 ngày; củng cố nhận biết về các đơn vị đo thời gian : ngày, tuần lễ; biết đọc biết viết số đo thời gian

Bài tập vận dụng trong sách giáo khoa :

Bài 1(Tr.79) Đọc, viết (theo mẫu):

Ngày bảy tháng mười một Ngày 7 tháng 11 Ngày mười lăm tháng mười một

Ngày 20 tháng 11 Ngày 30 tháng 11

Bài “Giờ, phút”, giúp học sinh biết đơn vị phút thông qua giờ; biết 1 giờ =

60 phút

* Lớp 3 :

Bài “Tháng, năm”, giúp học sinh biết được đơn vị năm thông qua tháng từ

đó vận dụng vào để xem lịch

* Lớp 4 :

Qua bài “Giây, thế kỉ”, học sinh biết được đơn vị giây, thế kỉ; biết mối quan

hệ giữa phút và giây, thế kỉ và năm; biết một năm cho trước thuộc thế kỉ nào

Một số bài tập vận dụng trong sách giáo khoa :

Bài 2(Tr.25)

a) Bác Hồ sinh năm 1890 Bác Hồ sinh vào thế kỉ nào ?

Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước vào năm 1911 Năm đó thuộc thế kỉ nào ? b) Cách mạng Tháng Tám thành công vào năm 1945 Năm đó thuộc thế kỉ nào

Trang 20

b) Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938 Năm đó thuộc thế kỉ nào ? Tính đến nay đã được bao nhiêu năm ?

* Lớp 5 :

Qua bài “Bảng đơn vị đo thời gian”, học sinh biết tên gọi, kí hiệu của các

đơn vị đo thời gian đã học và mối quan hệ giữa một số đơn vị đo thời gian thông dụng; biết một năm nào đó thuộc thế kỉ nào

1 thế kỉ = 100 năm Một tháng có 30, 31, 28 hay 29 ngày

1 năm = 12 tháng 1 tuần lễ = 7 ngày

1 năm thường có 365 ngày 1 ngày = 24 giờ

1 năm nhuận có 366 ngày 1 giờ = 60 phút

Cứ 4 năm lại có 1 năm nhuận 1 phút = 60 giây

Tháng một, tháng ba, tháng năm, tháng bảy, tháng tám, tháng mười, tháng mười hai có 31 ngày

Tháng tư, tháng sáu, tháng chín, tháng mười một có 30 ngày

Tháng hai có 28 ngày (vào năm nhuận có 29 ngày)

 Phương pháp

Dạy học các đơn vị đo thời gian trước hết phải làm cho học sinh nắm được các đơn vị đo thời gian thường gặp và cách sử dụng chúng, nắm được đặc điểm, mối quan hệ giữa các đơn vị đo thời gian không chuyển đổi lẫn nhau theo hệ đếm

cơ số 1, nắm được cách sử dụng đồng hồ và đồng thời tiếp tục củng cố khái niệm thời gian và thời điểm, khái niệm đại lượng và phép đo đại lượng

Dạy học các đơn vị đo thời gian ở Tiểu học được sắp xếp theo thứ tự : tuần lễ, ngày, giờ, phút, năm, tháng, giây, thế kỉ Phương pháp chủ yếu dạy các đơn vị thời gian là trực quan, kết hợp quan sát và kéo theo khai thác vốn sống của học sinh

Ví dụ : Khi dạy đơn vị phút, giáo viên cho học sinh quan sát sự chuyển động của kim giây trên mặt đồng hồ để bàn vừa quan sát vừa đếm nhịp nhàng đều đặn (theo hiệu lệnh của giáo viên hoặc theo sự chuyển dịch của kim giây) từ 1 đến 60 hoặc quan sát chuyển động của kim giây trọn 1 vòng Khoảng thời gian đó là 1 phút Giờ được đưa ra trong quan hệ với phút, ngày được chính xác hóa trong quan hệ với giờ

Trang 21

Việc dạy về đơn vị thời gian cần chú ý dạy cho học sinh các cách kí hiệu Trong khoa học, giờ và giây được kí hiệu là h và s Ở tiểu học nên giới thiệu cả kí hiệu thông dụng là giờ và giây, ph (phút)

Khó khăn trong việc dạy mối quan hệ giữa các đơn vị đo thời gian so với các đơn vị đo đại lượng khác thể hiện ở chỗ các đơn vị kế cận nhau không hơn kém nhau một số lần Để khắc phục khó khăn này, giáo viên cần lập bảng đơn vị đo thời gian và cho học sinh lập mối liên hệ giữa các đơn vị đo ngay trên bảng theo từng nhóm

Qua việc này, lưu ý học sinh về tính cộng được của thời gian và tính xếp thứ

tự của các thời điểm

2.2.3 Dạy đổi số đo thời gian

 Nội dung

Đổi số đo thời gian chủ yếu giúp học sinh củng cố kiến thức về quan hệ giữa hai đơn vị đo của đại lượng thời gian Nội dung này được đưa vào phần luyện tập thực hành Các bài tập ở dạng chuyển đổi số đo từ đơn vị lớn sang đơn vị bé, từ danh số đơn sang danh số phức, từ số tự nhiên sang số thập phân hay phân số và ngược lại Việc chuyển đổi đơn vị đo thời gian và việc diễn đạt các số đo hỗn hợp thành số thập phân nhằm giúp hỗ trợ nhận thức về số thập phân và củng cố khả năng biểu diễn các số thập phân, đồng thời giúp học sinh hiểu chắc hơn thực chất các số đo hỗn hợp

* Lớp 4 :

Trong bài “Giây, thế kỉ”, học sinh được củng cố mối quan hệ giữa các đơn

vị : phút với giây, thế kỉ với năm

Một số bài tập vận dụng trong sách giáo khoa:

Bài 1(Tr.25) Viết số thích hợp vào chỗ chấm :

a) 1 phút = … giây 2 phút = … giây phút = … giây

60 giây = … phút 7 phút = … giây 1 phút 8 giây = … giây b) 1 thế kỉ = … năm 5 thế kỉ = … năm thế kỉ = … năm

100 năm = … thế kỉ 9 thế kỉ = … năm thế kỉ = … năm

Trang 22

* Lớp 5 :

Qua bài “Bảng đơn vị đo thời gian”, học sinh củng cố mối quan hệ giữa các

đơn vị đo thời gian đã học, biết cách đổi số đo thời gian

Một số bài tập vận dụng trong sách giáo khoa :

Bài 2 (Tr 131) Viết số thích hợp vào chỗ chấm :

4 năm 2 tháng = … tháng 1,5 giờ = … phút

Bài 3 (Tr.131) Viết số thập phân thích hợp vào chỗ chấm :

Đồng thời, học sinh cũng tiến hành chuyển đổi các số đo thời gian trong quá trình thực hiện các phép tính

- 2 phút 45 giây - 2 phút 45 giây

0 phút 35 giây Vậy : 3 phút 20 giây – 2 phút 45 giây = 0 phút 35 giây

 Phương pháp

Hệ ghi số đo thời gian không phải là một hệ ghi số vị trí, nó có nhiều quy định riêng thể hiện trong bảng đơn vị đo thời gian Khi dạy về chuyển đổi các số đo, cần làm rõ hơn nữa nguyên tắc “lập nhóm chuyển đổi” trong hệ ghi số, trong sự so sánh với việc chuyển đổi các số đo độ dài và diện tích đã học Để thực hiện nhanh các yêu cầu chuyển đổi giữa các đơn vị đo, giáo viên cần hướng dẫn học sinh một số cách thường dùng khi chuyển đổi các đơn vị đo thời gian sau đây :

- Đổi danh số đơn ra danh số đơn

+ Từ đơn vị nhỏ ra đơn vị lớn :

đổi thành

Trang 23

Ta chia số phải đổi cho “tỉ số của hai đơn vị” (ở đây quy ước “tỉ số của hai đơn vị” là giá trị của đơn vị lớn chia cho đơn vị nhỏ)

Ví dụ : 360 giây = ? giây

(Tỉ số của hai đơn vị là : = 60

360 : 60 = 6 vậy 360 = 6 phút

+ Từ đơn vị lớn ra đơn vị nhỏ

Ví dụ : 3 năm = ? tháng

Ta nhân số phải đổi với “tỉ số của hai đơn vị” (1 năm = 12 tháng)

Ta có : 3 x 12 = 36

Vậy 3 năm = 36 tháng

+ Trường hợp số đo là một phân số :

Ví dụ : giờ = ? phút

1 giờ = 60 phút

giờ = 60 phút x = 45 phút

Ghi nhớ : Lấy “tỉ số của hai đơn vị” nhân với phân số

- Đổi danh số đơn ra danh số phức

Ví dụ : 185 giây = … phút … giây

1 phút = 60 giây

185 : 60 = 3 (dư 5)

Vậy 185 giây = 3 phút 5 giây

Ghi nhớ : Đem số phải đổi chia cho “tỉ số giữa hai đơn vị”

- Đổi danh số phức ra danh số đơn

Ví dụ : 2 năm 9 tháng = … tháng

2 năm = 12 tháng x 2 = 24 tháng

24 tháng + 9 tháng = 33 tháng

Ghi nhớ : Đem số đơn vị lớn đổi ra đơn vị nhỏ, rồi cộng với số đơn vị nhỏ còn lại

- Viết số đo thời gian dưới dạng số thập phân và phân số

Cần nhớ các trường hợp sau :

Trang 24

15 phút = 0,25 giờ = giờ 15 giây = 0,25 phút = phút

30 phút = 0,5 giờ = giờ 30 giây = 0,5 phút = phút

45 phút = 0,75 giờ = giờ 45 giây = 0,75 phút = phút

* Lớp 2 :

Trong bài “Giờ, phút”, học sinh biết cộng trừ với số đo thời gian là giờ

Bài tập vận dụng trong sách giáo khoa :

Bài 3 (Tr 126) Tính (theo mẫu) :

a) 1 giờ + 2 giờ = 3 giờ b) 5 giờ - 2 giờ = 3 giờ

5 giờ + 2 giờ = 9 giờ - 3 giờ =

* Lớp 5 :

Qua bài “Cộng số đo thời gian”, học sinh biết thực hiện phép cộng số đo

thời gian và vận dụng để giải các bài toán đơn giản có liên quan

Một số bài tập củng cố trong sách giáo khoa :

Bài 1 (Tr.132) Tính :

a) 7 năm 9 tháng + 5 năm 6 tháng b) 3 ngày 20 giờ + 4 ngày 15 giờ

3 giờ 5 phút + 6 giờ 32 phút 4 phút 13 giây + 5 phút 15 giây

12 giờ 18 phút + 8 giờ 12 phút 8 phút 45 giây + 6 phút 15 giây

4 giờ 35 phút + 8 giờ 42 phút 12 phút 43 giây + 5 phút 37 giây

Trang 25

Bài 2 (Tr.132) : Lâm đi từ nhà đến bến xe hết 35 phút, sau đó đi ô tô đến Viện Bảo

tang Lịch sử hết 2 giờ 20 phút Hỏi Lâm đi từ nhà đến Viện Bảo tang Lịch sử hết bao nhiêu thời gian ?

Qua bài “Trừ số đo thời gian”, học sinh biết trừ số đo thời gian và vận dụng để

giải các bài toán liên quan

Một số bài tập vận dụng trong sách giáo khoa :

a) 23 ngày 12 giờ - 3 ngày 8 giờ

b) 14 ngày 15 giờ - 3 ngày 17 giờ

c) 13 năm 2 tháng – 8 năm 6 tháng

Bài 3 (Tr.133) : Một người đi từ A lúc 6 giờ 45 phút và đến B lúc 8 giờ 30 phút

Giữa đường người đó nghỉ 15 phút Hỏi nếu không kể thời gian nghỉ, người đó đi quãng đường AB hết bao nhiêu thời gian ?

Qua bài “Nhân số đo thời gian”, học sinh biết nhân số đo thời gian với một

số và vận dụng vào giải một số bài toán liên quan

Một số bài tập vận dụng trong sách giáo khoa :

Bài 1 (Tr.135) Tính :

a) 3 giờ 12 phút x 3 b) 4,1 giờ x 6

Bài 2 (Tr.135) : Một chiếc đu quay mỗi vòng hết 1 phút 25 giây Bé Lan ngồi trên

đu quay và quay 3 vòng Hỏi bé Lan ngồi trên đu quay bao nhiêu lâu ?

Qua bài “Chia số đo thời gian”, học sinh biết nhân số đo thời gian với một

số và vận dụng vào giải một số bài toán liên quan

Một số bài tập vận dụng trong sách giáo khoa :

Bài 1 (Tr.136) Tính :

Trang 26

a) 24 phút 12 giây : 4 b) 35 giờ 40 phút : 5

c) 10 giờ 48 phút : 9 d) 18,6 phút : 6

Bài 2 (Tr.136): Một người thợ làm việc từ lúc 7 giờ 30 phút đến 12 giờ và làm

được 3 dụng cụ Hỏi trung bình người đó làm 1 dụng cụ hết bao nhiêu thời gian?

 Phương pháp

Để dạy học các phép tính trên số đo thời gian, trước hết giáo viên cần luyện tập cho học sinh theo 4 phép tính : Cộng, trừ, nhân, chia trên tập hợp số tự nhiên và nắm chắc quy tắc chuyển đổi các đơn vị đo thời gian theo từng nhóm

Nếu các số đo thời gian là các danh số đơn thì việc làm tính tiến hành như đối với các số tự nhiên và số thập phân Sau đây chỉ xét những trường hợp phức tạp hơn, khi mà các số đo thời gian là những danh số phức hợp

- Phép cộng

Ghi nhớ : Ta cộng các đơn vị ở cùng hàng với nhau theo thứ tự từ hàng thấp đến

hàng cao Nếu tổng số trong hàng nào vượt qua một đơn vị của hàng cao hơn liền trước, thì ta đổi đơn vị để gộp vào hàng ấy

Ví dụ 1: 14 phút 25 giây

+ 4 phút 18 giây

18 phút 43 giây Ví dụ 2 : 3 giờ 47 phút

+ Ta trừ các đơn vị ở cùng hàng với nhau theo thứ tự hàng thấp đến hàng cao

+ Nếu ở hàng nào đó, số đơn vị ở trên không trừ được số đơn vị ở dưới; thì ta phải bớt một đơn vị ở hàng cao hơn đứng liền trước, mang sang để có thể trừ được Ví dụ 1 : 16 giờ 37 phút

- 13 giờ 12 phút

3 giờ 25 phút

Trang 27

Ví dụ 2 : 30 phút 25 giây 29 phút 85 giây

? 15 phút 37 giây

- Phép nhân

Ghi nhớ : Muốn nhân một số đo thời gian với một số, ta lần lượt nhân số đơn vị của

từng hàng với số đó, từ hàng thấp đến hàng cao Nếu tích số trong hàng nào vượt quá một đơn vị của hàng cao hơn liền trước thì ta đổi đơn vị để gộp vào hàng ấy Ví dụ : 3 giờ 55 phút 275 phút = (60 x 4 + 35 phút)

x 5 = 4 giờ 35 phút

15 giờ 275 phút

19 giờ 35 phút

- Phép chia số đo thời gian cho một số :

Ghi nhớ : Muốn chia một số đo thời gian cho một số, ta lấy số đơn vị ở hàng cao

nhất chia cho số đó Còn dư bao nhiêu thì đổi sang hàng đơn vị thấp hơn kế tiếp, để gộp vào số đơn vị của hàng ấy, rồi lại chia tiếp cho số đó Cứ làm như thế cho đến hết

Trang 28

+ Ta chia để lấy phần nguyên trước

+ Nếu còn dư, ta đổi số dư đó ra đơn vị liền dưới để chia tiếp

Ví dụ : Nếu một vòi nước chảy vào hồ mỗi giờ được 4 Dung tích của hồ là 23m3 Hỏi vòi nước chảy trong bao lâu thì đầy hồ ?

5 (giờ) = 5 giờ giờ = 5 giờ 45 phút

Ví dụ 2 : Một xe máy chạy với vận tốc 32 km / giờ, qua một quãng đường dài 73,6

km Tính thời gian xe chạy ?

2.2.5 Dạy học về lịch

 Nội dung

Mỗi loại đại lượng đều có dụng cụ đo khác nhau Đối với thời gian, dụng cụ

đo của nó là lịch và đồng hồ Nhằm mục đích bồi dưỡng khả năng thực tiễn trong việc nhận thức thời gian (các đơn vị ngày, tuần lễ, tháng, năm) của học sinh, chương trình nêu ra việc dạy học sinh xem lịch

Trang 29

* Lớp 1 :

Qua bài “Các ngày trong tuần lễ”, học sinh biết đọc thứ, ngày, tháng trên

một tờ lịch bóc hàng ngày

Bài tập vận dụng trong sách giáo khoa :

Bài 2 (Trang 161) : Đọc tờ lịch hôm nay rồi viết lần lượt tên ngày trong tuần, ngày trong tháng, tên tháng :

a) Hôm nay là………ngày………tháng………

b) Ngày mai là………ngày………tháng………

* Lớp 2

Qua bài “Ngày, tháng”, học sinh bước đầu biết xem lịch; biết đọc thứ, ngày,

tháng trên tờ lịch; biết mối quan hệ giữa các ngày trong tháng với các thứ trong tuần

Một số bài tập vận dụng trong sách giáo khoa :

Bài 2 ( Tr.79) :

a) Nêu tiếp các ngày còn thiếu trong tờ lịch tháng 12 :

Thứ hai Thứ ba Thứ tư Thứ năm Thứ sáu Thứ bảy Chủ nhật

b) Xem tờ lịch trên rồi cho biết :

- Ngày 22 tháng 12 là thứ mấy ? Ngày 25 tháng 12 là thứ mấy ?

- Trong tháng 12 có mấy ngày chủ nhật ? Đó là các ngày nào ?

- Tuần này, thứ sáu là ngày 19 tháng 12 Tuần sau, thứ sáu là ngày nào ?

Qua bài “Thực hành xem lịch”, học sinh rèn luyện kĩ năng xem lịch tháng

(nhận biết thứ, ngày, tháng trên lịch)

Một số bài tập vận dụng trong sách giáo khoa :

Trang 30

Bài 1 (Tr.80) Nêu ti ếp các ngày còn thi ếu trong tờ lịch tháng 1 :

Thứ hai Thứ ba Thứ tư Thứ năm Thứ sáu Thứ bảy Chủ nhật

Bài 2 (Tr.80) Đây là tờ lịch tháng 4 :

Thứ hai Thứ ba Thứ tư Thứ năm Thứ sáu Thứ bảy Chủ nhật

Xem tờ lịch trên rồi cho biết:

+ Các ngày thứ sáu trong tháng 4 là các ngày nào ?

+ Thứ ba tuần này là ngày 20 tháng 4 Thứ ba tuần trước là ngày nào ? Thứ ba tuần sau là ngày nào ?

+ Ngày 30 tháng 4 là ngày thứ mấy ?

* Lớp 3

Qua bài “Tháng, năm”, học sinh biết một năm có 12 tháng; biết tên gọi các

tháng trong năm; biết số ngày trong tháng

Một số bài tập vận dụng trong sách giáo khoa :

Bài 1(Tr.108) Trả lời các câu hỏi sau :

Tháng này là tháng mấy ? Tháng sau là tháng mấy ?

Tháng 1 có bao nhiêu ngày ?

Tháng 3 có bao nhiêu ngày ?

Tháng 6 có bao nhiêu ngày ?

Trang 31

Tháng 7 có bao nhiêu ngày ?

Tháng 10 có bao nhiêu ngày ?

Tháng 11 có bao nhiêu ngày ?

Bài 2(Tr.108) Đây là tờ lịch tháng 8 năm 2005 :

Xem tờ lịch trên và trả lời các câu hỏi sau :

Ngày 19 tháng 8 là thứ mấy ?

Ngày cuối cùng của tháng 8 là thứ mấy ?

Tháng 8 có mấy ngày chủ nhật ?

Chủ nhật cuối cùng của tháng 8 là ngày nào ?

 Phương pháp

Khi cho học sinh thực hành xem lịch, giáo viên giúp các em biết được những tháng nào có 30 ngày, những tháng nào có 31 ngày và tháng 2 năm thường thì 28 ngày còn năm nhuận là 29 ngày Bên cạnh đó, cần làm cho các em nắm được mối liên quan giữa các ngày trong tháng với các thứ trong tuần Ví dụ : Yêu cầu học sinh xem tờ lịch của tháng 12 và cho biết ngày 22 tháng 12 là thứ mấy ? – Trong tháng

12 có mấy ngày chủ nhật ? Đó là ngày nào ? – Tuần này, thứ sáu là ngày 19 tháng

12 Tuần sau, thứ sáu là ngày nào ? …

2.2.6 Dạy học về đồng hồ

 Nội dung

Bên cạnh lịch, đồng hồ cũng là dụng cụ đo thông dụng trong đo thời gian Nhằm giúp học sinh củng cố về khái niệm và mối quan hệ giữa các đơn vị thời gian (giờ, phút, giây) đồng thời vận dụng vào thực tiễn, nội dung thực hành xem đồng hồ

Trang 32

đã được đưa vào chương trình Nội dung này cũng chiếm tỉ lệ lớn trong dạy học đo thời gian (ở lớp 2, lớp 3) vì đảm bảo tính thực tế của nó

* Lớp 1

Qua bài “Đồng hồ Thời gian”, học sinh làm quen với mặt đồng hồ; biết đọc

giờ đúng trên đồng hồ

Bài tập vận dụng trong sách giáo khoa

Bài 1 (Trang 165) : Viết theo mẫu

* Lớp 2

Qua bài “Ngày, giờ”, học sinh biết xem giờ đúng trên đồng hồ; biết các buổi

và tên gọi các giờ tương ứng trong một ngày

Một số bài tập vận dụng trong sách giáo khoa :

Bài 1(Tr.76) Số ?

Trang 33

Bài 3(Tr.77) Viết tiếp vào chỗ chấm (theo mẫu) :

15 giờ hay 3 giờ chiều 20 giờ hay … giờ tối

Qua bài “Thực hành xem đồng hồ/Tr.78”, học sinh tập xem đồng hồ (ở

thời điểm buổi sáng, buổi trưa, buổi chiều, buổi tối); làm quen với số chỉ giờ lớn hơn 12 giờ (chẳng hạn 17 giờ, 23 giờ); làm quen với những hoạt động, sinh hoạt, học tập thường ngày liên quan đến thời gian (đúng giờ, muộn giờ, sáng, tối, …)

Một số bài tập vận dụng trong sách giáo khoa :

Bài 1(Tr.78) Đồng hồ nào chỉ thời gian thích hợp với giờ ghi trong tranh

Trang 34

Bài 2(Tr.78) Câu nào đúng ? Câu nào sai ?

a) Đi học đúng giờ c) Cửa hàng đã mở cửa e) Lan tập đàn lúc 20 giờ b) Đi học muộn giờ d) Cửa hàng đóng cửa g)Lan tập đàn lúc 8 giờ sáng

Bài 3(Tr.78) Quay kim trên mặt đồng hồ để đồng hồ chỉ :

8 giờ ; 11 giờ ; 14 giờ ; 18 giờ ; 23 giờ

Qua bài “Giờ, phút”, học sinh biết xem đồng hồ khi kim phút chỉ số 12, số

3, số 12

Một số bài tập vận dụng trong sách giáo khoa :

Bài 1(Tr.125) Đồng hồ chỉ mấy giờ ?

Trang 35

Bài 2(Tr.125) Mỗi tranh vẽ ứng với đồng hồ nào ?

Qua bài “Thực hành xem đồng hồ/Tr.126”, học sinh rèn kĩ năng xem đồng

hồ khi kim phút chỉ số 3, số 6

Một số bài tập vận dụng trong sách giáo khoa :

Bài 2(Tr.126) Mỗi câu sau đây ứng với đồng hồ nào ?

Bài 3(Tr.126) Quay kim trên mặt đồng hồ để đồng hồ chỉ :

2 giờ; 1 giờ 30 phút; 6 giờ 15 phút; 5 giờ rưỡi

Trang 36

* Lớp 3

Qua bài “Xem đồng hồ”, học sinh biết xem đồng hồ khi kim phút chỉ từ số

1 đến 12

Một số bài tập vận dụng trong sách giáo khoa :

Bài 1(Tr.13) Đồng hồ chỉ mấy giờ ?

Bài 2(Tr.13) Quay kim đồng hồ để đồng hồ chỉ :

a) 7 giờ 5 phút; b) 6 giờ rưỡi; 11 giờ 50 phút

Qua bài “Xem đồng hồ (tiếp theo)”, học sinh biết xem đồng hồ khi kim

phút chỉ vào các số từ 1 đến 12 và đọc được theo hai cách Chẳng hạn : 8 giờ 35 phút hoặc 9 giờ kếm 25 phút

Một số bài tập vận dụng trong sách giáo khoa :

Trang 37

Bài 1(Tr.15) Đồng hồ chỉ mấy giờ ? (Trả lời theo mẫu)

Bài 2(Tr.15) Quay kim đồng hồ để đồng hồ chỉ :

a) 3 giờ 15 phút; b) 9 giờ kém 10 phút; c) 4 giờ kém 10 phút

Bài 3(Tr.15) Mỗi đồng hồ ứng với cách đọc nào ?

Qua bài “Thực hành xem đồng hồ”, biết xem đồng hồ, chính xác đến từng

phút

Một số bài tập vận dụng trong sách giáo khoa :

Trang 38

Bài 2(Tr.123) Đặt thêm kim phút để đồng hồ chỉ :

a) 8 giờ 7 phút; b) 12 giờ 34 phút; c) 4 giờ kém 13 phút

Qua bài “Thực hành xem đồng hồ (tiếp theo)”, học sinh biết xem đồng hồ

chính xác đến từng phút (kể cả mặt đồng hồ ghi chữ số La Mã)

Một số bài tập vận dụng trong sách giáo khoa :

Trang 39

Bài 1(Tr.125) : Xem tranh rồi trả lời các câu hỏi sau :

a) An tập thể dục lúc mấy giờ? b) An đến trường lúc mấy giờ?

c) An đang học bài ở lớp lúc mấy giờ ? d) An ăn cơm chiều lúc mấy giờ ?

e) An đang xem truyền hình lúc mấy giờ? g) An đang ngủ lúc mấy giờ?

Trang 40

Bài 2(Tr.126) Vào buổi chiều hoặc buổi tối, hai đồng hồ nào chỉ cùng thời gian

2.2.7 Bài toán về tính tuổi

 Nội dung

Bài toán tính tuổi được dạy thông qua các bài : Tìm hai số khi biết tổng – hiệu của hai số đó; Tìm hai số khi biết tổng – tỉ của hai số đó; Tìm hai số khi biết hiệu – tỉ của hai số đó ở chương trình lớp 4, lớp 5 Qua đó, học sinh củng cố biểu tượng về (khoảng) thời gian và thời điểm, và có khả năng liên hệ thực tế cao Dạng toán này cũng thường được đưa vào nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi toán các lớp

4 – 5 nhưng đây là dạng toán đa dạng và không có một công thức cụ thể nên học sinh thường tỏ ra lúng túng

 Phương pháp

Giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát hiện ra các dạng toán điển hình về bài toán tính tuổi cũng như phương pháp giải các dạng toán này Chúng tôi sẽ phân tích kĩ nội dung này ở các phần sau

Ngày đăng: 08/05/2021, 21:05

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w