1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tìm hiểu tình hình phát triển các loại hình du lịch ở quảng bình từ năm 2003 đến năm 2010 định hướng đến năm 2020

79 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 902,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với sự phát triển sôi động của ngành du lịch cả nước trong những năm gần đây, hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Bình đã có những chuyển biến cả về số lượng du khách cũng như

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA ĐỊA LÝ

- -

NGUYỄN THỊ HỒNG

Tìm hiểu tình hình phát triển các loại hình du lịch

ở Quảng Bình từ năm 2003 đến năm 2010 Định

hướng đến năm 2020

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

SƯ PHẠM ĐỊA LÝ

Trang 2

PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế, văn hóa, khoa học kỉ thuật thì cuộc sống con nguời cũng dần được cải thiện, chất lượng cuộc sống ngày càng nâng cao Nhưng áp lực từ cuộc sống cũng tăng lên mạnh mẽ, nhu cầu nghỉ ngơi, thư giản chính vì vậy mà không ngừng gia tăng Vì vậy, hoạt động du lịch ngày càng có vị trí quan trọng, không thể thiếu trong đời sống xã hội và ngày càng chiếm vị trí cao trong nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới Bên cạnh những lợi ích về tinh thần thì du lịch cũng là một trong những ngành có đóng góp một khoản thu nhập lớn trong nền kinh tế của các nước trên thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng Chính vì vậy, du lịch đã trở thành mối quan tâm của hầu hết các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao thì vấn đề đặt ra là phải nâng cao hơn nữa chất lượng du lịch, một trong những công việc cần phải chú trọng là đa dạng hóa các loại hình du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi

và sở thích khám phá của con người

Cùng với sự phát triển sôi động của ngành du lịch cả nước trong những năm gần đây, hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Bình đã có những chuyển biến cả

về số lượng du khách cũng như chất lượng phục vụ, và đặc biệt là tỉnh đã biết tận dụng thế mạnh để hình thành nhiều loại hình du lịch có chất lượng và độc đáo để thu hút du khách đến nghỉ ngơi và tham quan, giải trí Xác định đa dạng các ngành dịch

vụ, từng bước đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn như Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV đưa ra, tỉnh Quảng Bình đã và đang biến những lợi thế, tiềm năng thành động lực để phát triển kinh tế

Tuy nhiên, việc đa dạng hóa các loại hình du lịch của Quảng Bình vẫn còn gặp rất nhiều vấn đề khó khăn Nhiều tài nguyên chưa được chú trọng đầu tư, quy hoạch Các loại hình du lịch còn đơn điệu, sản phẩm du lịch còn nghèo nàn và chưa thu hút được sự quan tâm của du khách Do vậy việc tìm hiểu tình hình khai thác và đưa ra các giải pháp phát triển các loại hình du lịch của Quảng Bình trong thời gian tới là vấn đề cấp thiết và đáng được quan tâm

Trang 3

Xuất phát từ những nguyên nhân lí luận và thực tiễn, và tính cấp thiết của vấn

đề em đã chọn đề tài “ Tìm hiểu tình hình phát triển các loại hình du lịch ở Quảng Bình từ năm 2003 đến năm 2010 Định hướng đến năm 2020”

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở lí luận các định nghĩa, khái niệm, vấn đề liên quan đến loại hình

du lịch và thực tiễn về hoạt động du lịch ở Việt Nam nói chung và Quảng Bình nói riêng, đề tài tìm hiểu, phân tích, đánh giá tiềm năng du lịch và tình hình phát triển các loại hình du lịch từ năm 2003 đến năm 2010 Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp phát triển các loại hình du lịch ở Quảng Bình đến năm 2020

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài tập trung vào giải quyết các vấn đề:

- Tổng quan về lí luận và thực tiễn về du lịch và các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động du lịch

- Tìm hiểu và đánh giá về hiện trạng phát triển các loại hình du lịch của tỉnh Quảng Bình

- Đề xuất một số giải pháp phát triển cho các loại hình du lịch của tỉnh Quảng Bình

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu về hiện trạng phát triển các loại hình du lịch Quảng Bình giai đoạn 2003 đến 2010 Từ đó đưa ra các nhận xét, đánh giá và đưa ra các giải pháp phát triển cho các loại hình du lịch của tỉnh

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài ngiên cứu trên phạm vi lãnh thổ tỉnh Quảng Bình với các loại hình du lịch trọng điểm sau:

- Loại hình du lịch biển

- Loại hình du lịch sinh thái

- Loại hình du lịch lịch sử, văn hóa

Trang 4

Thời gian từ năm 2003 đến năm 2010

4 Lịch sử nghiên cứu

4.1 Trên thế giới

Từ thời Cổ đại, hoạt động du lịch đã xuất hiện tuy nhiên với những biểu hiện khác nhau, tuy nhiên, việc nghiên cứu du lịch mới được đề cập và chú trọng đến từ những năm 30 của thế kỉ 20 Với sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch trên thế giới cũng đã có nhiều nhà nghiên cứu về hoạt động du lịch, đánh giá tiềm năng cũng như ảnh hưởng của nó tới hoạt động kinh tế cũng như tới đời sống của con người

Dựa trên những cơ sở lí luận và thực tiễn về du lịch mà các nhà nghiên cứu

đã đưa ra thì việc tiếp cận vấn đề này ở mỗi quốc gia lại có sự khác nhau Nhưng với xu thế phát triển hiện nay thì các nước đều thống nhất quan điểm rằng cần phải phát triển du lịch kết hợp với việc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững Nghĩa

là vừa khai thác các tài nguyên phục vụ cho hoạt động du lịch, bên cạnh đó phải có những hành động bảo vệ môi trường nhằm phát triển bền vững

4.2 Ở Việt Nam

Khác với lịch sử phát triển lâu đời trên thế giới, ở nước ta du lịch mới chỉ được quan tâm vào thập kỉ 90 của thế kỉ 20, khi mà nền kinh tế nước ta mở cửa và đạt được những thành tựu nhất định Tuy nhiên, đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều đề án quy hoạch phát triển du lịch được đưa ra như: “Cơ sở địa lí du lịch” của tác giả Nguyễn Minh Tuệ, “ Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam”, xây dựng “ Chỉ tiêu phân vùng du lịch Việt Nam”

Những năm gần đây cũng đã có nhiều tác giả quan tâm đến việc nhiên cứu ảnh hưởng của hoạt động du lịch tới môi trường cũng như đời sống con người như: Nguyến Thị Chiến, Phạm Trung Lương, Vũ Tuấn Cảnh… Đặc biệt cũng đã có nhiều

đề tài nghiên cứu về thực trạng phát triển của các loại hình du lịch có ưu thế và được

du khách ưa thích trong thời gian gần đây

Các nhà hoạch định du lịch của cả nước và từng địa phương cũng đã xây dựng các phương án quy hoạch phát triển du lịch nhằm khai thác tối đa những lợi thế của từng địa phương

Trang 5

4.3 Ở Quảng Bình

Cùng với xu hướng phát triển của ngành du lịch trên thế giới và ở nước ta, ngành du lịch Quảng Bình hiện nay cũng đang có những quy hoạch phát triển du lịch kết hợp với bảo vệ môi trường Gần đây sau khi Vườn Quốc Gia Phong Nha –

Kẻ Bàng được công nhận là di sản thiên nhiên thế giới vào năm 2003 thì hoạt động

du lịch của tỉnh cũng đã có những bước tiến đáng kể Tỉnh cũng đã xây dựng được trang web riêng để quảng bá sản phẩm và thu hút khách du lịch trong và ngoài nước Tỉnh cũng xuất bản cuốn sách “Địa lí Quảng Bình” năm 2007 của các tác giả Thái Hoàng, Lê Minh Xử, Phan Đình Ninh cũng đã khái quát được những đặc điểm cơ bản về tự nhiên và quá trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Điều đó cũng

đã thu hút được các tác giả nghiên cứu và đưa ra những đánh giá, định hướng phát triển cho hoạt động du lịch của tỉnh Các đề tài như: “Đánh giá tài nguyên du lịch phục vụ cho phát triển du lịch của Phong Nha – Kẻ Bàng” của tác giả Trần Ngọc Lâm khóa 2003-2007, đề tài “ Tìm hiểu hiện trạng và những giải pháp phát triển du lịch bền vững ở vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng” của tác giả Hoàng Hải Đăng khóa 2006-2010, và gần đây nhất là đề tài “ Tìm hiểu tình hình đầu tư phát triển dịch vụ du lịch tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2003-2008 Đề xuất các giải pháp thu hút vốn đầu tư đến năm 2020” của tác giả Nguyễn Thị Lệ Hằng khóa 2006-2010

5 Quan điểm nghiên cứu

5.1 Quan điểm tổng hợp

Du lịch là hoạt động tổng hợp chịu tác động của rất nhiều yếu tố Khi nghiên cứu cần phải nghiên cứu tất cả các hoạt động cũng như điều kiện tự nhiên, xã hội…tác động đến nó Tìm ra được hướng giải quyết, từ đó có những giải pháp phù hợp

5.2 Quan điểm hệ thống

Các thành phần cũng như các loại hình du lịch đều có mối quan hệ mật thiết với nhau Các điều kiện và nhân tố phát triển du lịch tồn tại và phát triển trong sự thống nhất giữa các thành phần: tự nhiên, kinh tế - xã hội và các quy luật cơ bản của

nó Quan điểm hệ thống được coi là cơ sở để hình thành hệ thống du lịch, bảo đảm

Trang 6

cho tính khách quan, khoa học trong nghiên cứu Do vậy nó là một quan điểm chủ đạo trong quá trình nghiên cứu

5.3 Quan điểm lịch sử viễn cảnh

Du lịch cũng giống như bất cứ một ngành kinh tế nào khác nó cũng có quá trình phát sinh, phát triển của nó Quan điểm này được vận dụng trong quá trình phân tích, tổng hợp các quá trình hình thành, phát triển trong hệ thống du lịch và xu hướng phát triển của hệ thống lãnh thổ Thông qua quan điểm này chúng ta biết được quá trình phát triển, cũng như giá trị lịch sử của các tài nguyên du lịch, cũng như dự báo được hướng phát triển của chúng trong tương lai

5.4 Quan điểm kinh tế - sinh thái

Tiêu chuẩn đánh giá của ngành du lịch cũng như nhiều ngành kinh tế khác đó

là hiệu quả kinh tế Nhưng du lịch lại gắn với môi trường tự nhiên và khai thác những điều kiện đó để phát triển, do vậy du lịch đồng thời phải gắn với công tác bảo

vệ môi trường, bảo tồn và khai thác có hiệu quả đóng góp lợi ích cho kinh tế

Nhưng làm thế nào để ngành du lịch vừa phát triển thu được lợi nhuận kinh

tế cao vừa đảm bảo không làm ảnh hưởng tới môi trường sinh thái? Đó là câu hỏi lớn đang đặt ra cho ngành du lịch hiện nay, mà để giải quyết vấn đề này cần sự chung tay của tất cả các thành phần tham gia vào hoạt động du lịch, các quốc gia, các vùng và các công ty du lịch nói chung Do vậy quan điểm kinh tế - sinh thái là một trong những quan điểm quan trọng khi nghiên cứu một vấn đề về du lịch

5.5 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ

Các yếu tố cũng như các thành phần của du lịch không tách rời theo không gian lãnh thổ mà liên kết chặt chẽ tạo thành một hệ thống Hệ thống đó bao gồm các loại tài nguyên du lịch (tự nhiên, nhân văn), hệ thống cơ sở vật chất kỉ thuật phục vụ

du lịch và các loại hình du lịch trong lãnh thổ đó Quan điểm này được vận dụng thông qua việc phân tích, đánh giá tiềm năng cho việc phát triển du lịch ở Quảng Bình

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp thu thập, tổng hợp, phân tích tài liệu, số liệu thống kê

Trang 7

Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu đề tài phải tiếp xúc với nguồn tài liệu của nhiều cơ quan, ban ngành liên quan, do vậy cần phải thu thập, tông hợp, phân tích các nguồn tài liệu khác nhau Trên cơ sở đó lựa chọn những nguồn tài phù hợp

và phục vụ tốt cho công việc nghiên cứu của mình, phát hiện ra những mối liên hệ giữa các vấn đề có liên quan đến đề tài mình đang nghiên cứu

6.2 Phương pháp thực địa

Đây là một phương pháp không thể thiếu trong nghiên cứu địa lí nói chung

và nghiên cứu địa lí du lịch nói riêng Cùng với việc nắm vững được sự phân bố của các đối tượng nghiên cứu trên bản đồ, đặc điểm của các đối tượng thông qua các nguồn tài liệu thì việc nghiên cứu thực địa sẽ giúp chúng ta có cái nhìn và đánh giá chính xác hơn về đối tượng đang nghiên cứu Từ đó, đưa ra những biện pháp phát triển phù hợp hơn với thực tế Đây là một trong những phương pháp chủ đạo khi tiến hành nghiên cứu đề tài này

6.3 Phương pháp chuyên gia

So với các phương pháp khác thì phương pháp chuyên gia có lịch sử ra đời

và phát triển lâu đời nhất Chính vì vậy trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu đề tài phải biết lắng nghe những ý kiến đóng góp cũng như chỉ bảo của những người đi trước, cũng như thầy cô và những người hoạt động trong ngành du lịch của tỉnh Từ

đó tiếp thu có chọn lọc những ý kiến đó để giúp cho đề tài được hoàn thiện và thành

công hơn

6.4 Phương pháp thể hiện bằng biểu đồ, bản đồ

Do lãnh thổ nghiên cứu phân bố khá rộng và gồm nhiều địa điểm khác nhau nên việc nghiên cứu thực địa không thể bao quát hết toàn bộ lãnh thổ và quan sát tỉ

mỉ từng yếu tố Chính vì thế cần phải sử dụng bản đồ để hổ trợ cho việc nghiên cứu

và trình bày Việc sử dụng các biểu đồ cũng vậy, sau khi xử lí các số liệu thu thập được việc sử dụng các biểu đồ sẽ giúp trực quan hóa các số liệu, sự thay đổi trong các biểu đồ cho thấy rõ sự phát triển của ngành du lịch ở Quảng Bình theo không gian và thời gian

Trang 8

PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Tổng quan về loại hình du lịch

1.1.1 Khái niệm loại hình du lịch

Loại hình du lịch được hiểu là một tập hợp các sản phẩm du lịch có những đặc điểm giống nhau hoặc chúng đáp ứng nhu cầu, động cơ du lịch tương tự hoặc được bán cho một nhóm khách hàng hoặc chúng có cùng một cách phân phối một cách tổ chức như nhau hoặc được xếp chung theo một mức giá bán nào đó

Nhưng trong phạm vi nghiên cứu của đề tài tôi chỉ nghiên cứu các loại hình

du lịch: du lịch sinh thái, du lịch biển và du lịch văn hóa lịch sử

a Du lịch sinh thái

Theo Boo (1991) thì "Du lịch sinh thái là loại hình du lịch diễn ra trong các vùng có hệ sinh thái tự nhiên còn bảo tồn khá tốt nhằm mục tiêu nghiên cứu, chiêm ngưỡng, thưởng thức phong cảnh, động thực vật cũng như các giá trị văn hoá hiện hữu" Nhưng gần đây, người ta cho rằng nội dung căn bản của du lịch sinh thái là tập trung vào mức độ trách nhiệm của con người đối với môi trường Quan điểm thụ động cho rằng du lịch sinh thái là du lịch hạn chế tối đa các suy thoái môi trường do

du lịch tạo ra, là sự ngăn ngừa các tác động tiêu cực lên sinh thái, văn hoá và thẩm

mỹ Quan điểm chủ động cho rằng du lịch sinh thái còn phải đóng góp vào quản lý bền vững môi trường lãnh thổ du lịch và phải quan tâm đến quyền lợi của nhân dân địa phương Do đó, người ta đã đưa ra một khái niệm mới tương đối đầy đủ hơn:

Trang 9

"Du lịch sinh thái là du lịch có trách nhiệm với các khu thiên nhiên là nơi bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương"

b Du lịch biển

Du lịch biển là loại hình du lịch diễn ra trong các vùng biển, ven biển hay các đảo có cảnh quan tự nhiên đẹp nhằm mục tiêu nghỉ ngơi, chiêm ngưỡng, thưởng thức phong cảnh, kèm theo là các hoạt động vui chơi, giải trí nhằm thỏa mãn nhu cầu cua khách du lịch Loại hình du lịch này hiện nay khá phổ biến và chiếm ưu thế

so với các loại hình du lịch khác Có khoảng 60% du khách khi đi du lịch thường tìm đến các địa điểm du lịch gắn với nguồn nước, trong đó nhiều nhất là du lịch biển

Đối với phạm vi đề tài thì du lịch biển cũng là một trong những loại hình có thế mạnh của địa phương, hàng năm thu hút được rất nhiều du khách tới nghỉ ngơi, giải trí có gắn liền với biển Với bờ biển cát trắng nắng vàng vùng biển Quảng Bình

có một sức hút kì lạ đối với du khách

c Du lịch văn hóa lịch sử

Đây là loại hình du lịch khá đặc biệt vì nó gắn liền với các tài nguyên du lịch nhân văn, khai thác những tài nguyên đó nhằm phục vụ cho mục đích tìm hiểu, tham quan của du khách Khách du lịch của loại hình này thường có xu hướng tìm hiểu hơn là giải trí, họ thường có nhận thức và đòi hỏi khá cao Do vậy, muốn phát triển loại hình du lịch này đòi hỏi phải có các sản phẩm du lịch văn hóa có chất lượng và thu hút được sự quan tâm của du khách Đi đôi với việc khai thác các tài nguyên đó cấn có biện pháp tôn tạo và bảo vệ nghiêm ngặt để chúng không bị mai một hay xuống cấp theo thời gian

1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển các loại hình

du lịch

1.2.1 Vị trí địa lí

Bên cạnh các tài nguyên tự nhiên hay tài nguyên nhân văn thì vị trí địa lí cũng có một ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với hoạt động du lịch Vị trí địa lí thuận lợi, gần nơi tập trung đông dân cư hay địa điểm du lịch, giao thông đi lại thuận lợi

Trang 10

thì sẽ có sức thu hút lớn hơn đối với du khách Ngược lại,những địa điểm nằm ở những vùng giao thông đi lại khó khăn, xa các thành phố thì cũng ít có sự thu hút hơn là những địa điểm có vị trí thuận lợi Như vậy, trong những trường hợp như vậy thù vị trí địa lí có ảnh hưởng rất lớn tới việc lựa chọn địa điểm của du khách cũng như hoạt động du lịch

1.2.2 Tài nguyên du lịch

a Khái niệm

Tài nguyên du lịch là một dạng đặc sắc của tài nguyên nói chung Khái niệm tài nguyên du lịch luôn gắn liền với khái niệm du lịch Tại điều 10 của Pháp lệnh Du lịch Việt Nam (1999): "Tài nguyên du lịch được hiểu là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình sáng tạo của con người

có thể được sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch; là yếu tố cơ bản để hình thành

các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sức hấp dẫn du lịch"

Như vậy, tài nguyên du lịch được xem như tiền đề để phát triển du lịch Thực

tế cho thấy, tài nguyên du lịch càng phong phú, càng đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp

dẫn và hiệu quả hoạt động du lịch càng cao bấy nhiêu

b Tài nguyên tự nhiên

Là các đối tượng hiện tượng trong môi trường tự nhiên bao quanh chúng ta

có thể giúp phục hồi và phát triển thể lực, trí lực, sức khỏe và khả năng lao động của con người Những loại tài nguyên này được khai thác để phục vụ cho hoạt động du lịch Trong số các tài nguyên du lịch tự nhiên phải kể đến:

- Các dạng địa hình độc đáo như: địa hình Karst, địa hình vùng núi Granit, các dạng địa hình xâm thực bờ biển…

- Các vùng có điều kiện khí hậu có ảnh hưởng tới sức khỏe của con người như chưa bệnh hay tham quan Ngoài ra đặc tính mùa của khí hậu làm cho du lịch

có tính mùa vụ rất cao

- Tài nguyên nước có ảnh hưởng rất lớn đến loại hình du lịch ngắm cảnh trên sông, hồ,các nguồn nước khoáng có giá trị chữa bệnh

Trang 11

- Tài nguyên sinh vật, đặc biệt là sự độc đáo của các hệ sinh thái và sự đa dạng sinh học có sức lôi cuốn mạnh mẽ đối với du khách …Đây là một trong những điều kiện quan trọng để hình thành loại hình du lịch sinh thái

Tài nguyên du lịch tự nhiên có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với ngành du lịch Việc bảo vệ các tài nguyên du lịch tự nhiên là một trong những vấn đề quan trọng của địa lí du lịch Cần phải hiểu rằng bảo vệ tài nguyên du lịch tự nhiên nghĩa

là bảo vệ môi trường sống cho hoạt động du lịch chứ không hẳn là bảo vệ du lịch

d Tài nguyên nhân văn

Tài nguyên du lịch nhân văn là những giá trị do con người tạo ra, hay nói cách khác nó là đối tượng và hiện tượng được tạo ra một cách nhân tạo trong quá trình tồn tại của con người có thể phục vụ cho nhu cầu du lịch

Tài nguyên du lịch nhân văn có những nét khác biệt rất lớn so với tài nguyên

du lịch tự nhiên, nó có tác dụng nhận thức hơn là giải trí, ít bị tác động của môi trường tự nhiên Số người tìm hiểu, quan tâm tới loại tài nguyên này thường có văn hóa cao hơn, và yêu cầu cũng cao hơn các loại hình du lịch khác

- Các lễ hội

Ở bất kì thời đại nào, dân tộc nào con người cũng có những lễ hội, nó tạo nên

“Bức tranh muôn màu” thể hiện những gam màu khác nhau của cuộc sống Trong di sản mà quá khứ để lại cho hôm nay thì các lễ hội dân tộc có lẽ là những giá trị quý giá nhất Và chính vì thế các lễ hội dân tộc không những không bị mất đi mà ngày nay mà ngày càng được nhân rộng, phát triển cả hình thức lẫn nội dung Các lễ hội này cũng có sức hấp dẫn du khách không kém gì các công trình văn hóa kiến trúc

- Phong tục tập quán

Trang 12

Như những nét truyền thống về cư trú, cách tổ chức xã hội, trang phục dân tộc, văn hóa ẩm thực hay các làng nghề truyền thống, các kiểu kiến trúc độc đáo…với những bản sắc riêng chúng cũng là những địa điểm mà khách du lịch thường tìm đến

- Các hoạt động văn hóa, thể thao, các viện bảo tàng, các thư viện lớn, các trung tâm văn hóa hay các khu vui chơi giải trí, các cuộc thi hoa hậu, festival, những cuộc thi đấu thể thao quốc tế… Những địa điểm hay lễ hội này là những địa điểm du lịch thu hút rất đông du khách đến tham quan cũng như tìm hiểu về chúng, vì vậy

mà các trung tâm du lịch trên thế giới thường có vị trí hết sức thuận lợi

1.2.3 Dân cư và điều kiện kinh tế - xã hội

Ngoài ra, dân số còn có một vai trò quan trọng khác đó là cung cấp nguồn lao động đảm bảo cho sự hoạt động cần thiết của ngành du lịch Vì vậy, dân số đông ngoài việc nhu cầu du lịch tăng thì nó cũng tạo ra nguồn lao động dồi dào cho ngành

du lịch, đặc biệt với xu thế phát triển của thế giới hiện nay là tăng tỉ trọng của nhóm ngành dịch vụ thì du lịch trở thành một lựa chọn cho người lao động

b Điều kiện kinh tế - xã hội

Như chúng ta đã biết thì sự phát triển của nền sản xuất xã hội có tầm quan trọng hàng đầu làm nảy sinh nhu cầu du lịch và biến nhu cầu đó thành hiện thực Con người không thể nảy sinh nhu cầu du lịch khi mà điều kiện kinh tế cũng như không đảm bảo được cuộc sống Nếu trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao nhu cầu

du lịch của người dân thường rất cao do thu nhập được đảm bảo và dư thừa, còn ngược lại kinh tế - xã hội kém phát triển thì nhu cầu du lịch nhỏ hơn khi mà mức

Trang 13

sống của người dân còn quá thấp Do vậy, điều kiện kinh tế - xã hội ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của ngành du lịch

1.2.4 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỉ thuật

a Cơ sở hạ tầng

Với đặc thù riêng nên hoạt động du lịch có mối quan hệ chặt chẽ với hệ thống

hạ tầng xã hội Sự phát triển và phân bố của các cơ sở hạ tầng như các công trình giao thông vận tải, thông tin liên lạc, các công trình điện nước khác…và hiệu quả hoạt động của những ngành này có ảnh hưởng sâu sắc tới hoạt động của ngành du lịch

Về mặt thúc đẩy hoạt động du lịch, mạng lưới và phương tiện giao thông là những yếu tố quan trọng hàng đầu Từ khi xuất hiện hoạt động du lịch tới nay chỉ có thông qua mạng lưới giao thông thuận lợi, nhanh chóng thì du lịch mới trở thành hoạt động phổ biến trong xã hội Bên cạnh đó khi phương tiện giao thông phát triển cũng sẽ kéo theo sự phong phú của các loại hình du lịch thông qua việc sử dụng các phương tiện giao thông như: du lịch xe đạp, du lịch ô tô, du lịch máy bay, du lịch tàu hỏa, du lịch tàu thủy Ngoài ra, thông tin liên lạc cũng là một phần quan trọng trong hệ thống hạ tầng phục vụ du lịch, nó là điều kiện cần thiết đảm bảo cho việc giao lưu, trao đổi thông tin của du khách và cơ sở du lịch Trong mạng lưới cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch không thể không nhắc đến hệ thống cung cấp điện nước vì nó phục vụ trực tiếp cho nhu cầu nghỉ ngơi, vui chơi của du khách Vì vậy, việc đảm bảo hoạt động cũng như chất lượng của các công trình này là một trong những tiêu chí đánh giá chất lượng phục vụ của hoạt động du lịch như vậy, cơ sở hạ tầng là tiền

đề, là đòn bẩy của hoạt động du lịch

b Cơ sở vật chất kỉ thuật

Cơ sở vật chất kỉ thuật cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc xây dựng sản phẩm và hình thành các địa điểm du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu của du khách Chính vì vậy mà sự phát triển của ngành du lịch bao giờ cũng gắn liền với việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở vật chất kỉ thuật của ngành

Cơ sở vật chất kỉ thuật của ngành du lịch bao gồm:

Trang 14

- Các cơ sở lưu trú

- Các cơ sở phục vụ ăn uống

- Hệ thống cửa hàng thương nghiệp và lưu niệm

- Các cơ sở dịch vụ thể thao

- Các cơ sở phục vụ nhu cầu du khách như: Spa, Casino…

- Các phương tiện chuyên chở du khách

Với bất kì một khu hay địa điểm du lịch nào thì cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỉ thuật cũng có ý nghĩa quyết định đối với hoạt động du lịch của nơi đó, nó là điều kiện thu hút và giữ khách ở lại Nếu một cơ sở du lịch có cơ sở hạ tầng, vật chất kỉ thuật yếu kém và không đủ tiêu chuẩn thì hoạt động du lịch không thể hoạt động, Nó cũng góp phần nâng cao chất lượng và giá trị của hoạt động du lịch

1.3 Một số bài học kinh nghiệm trong việc phát triển các loại hình du lịch ở Việt Nam và Quảng Bình

1.3.1 Ở Việt Nam

Về việc hình thành và tổ chức các loại hình du lịch ở nước ta ngoài các loại hình du lịch truyền thống như các lễ hội hay tìm hiểu các di tích lịch sử, văn hóa thì trong thời gian gần đây các loại hình du lịch mới xuất hiện và thu hút sự quan tâm của du khách như du lịch biển, đảo, du lịch sinh thái hay du lịch khám phá…Mỗi loại hình đều có những sức hút riêng và đã góp phần tạo nên thương hiệu riêng cho

du lịch Việt Nam trên thị trường du lịch quốc tế

Các loại hình du lịch đã và đang phát triển đầu tiên phải kể đến là:

- Du lịch biển đảo: vịnh Hạ Long, Cửa Lò, Lăng Cô, Đà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu, Phú Quốc…

- Du lịch văn hóa – lịch sử: Hội An, Hà Nội, phố Hiến, Cố Đố Huế…

- Du lịch sinh thái: Các VQG Cúc Phương, Tam Đảo, U Minh, Cát Tiên, Ba Bể,…

Tuy mỗi nơi lại phát triển một loại hình du lịch riêng nhưng điểm chung tạo tiền đề cho sự phát triển đó là mỗi địa phương, mỗi địa điểm đều dựa trên những lợi thế sẵn có của mình để phát triển một hay một số loại hình có lợi thế nhất Ở mỗi địa

Trang 15

điểm du lịch đều có những cách quảng bá riêng cho hình ảnh của mình Các địa điểm này còn hình thành nên các sản phẩm du lịch đặc trưng mang tính độc đáo, có thể tạo thành các tour hay tuyến du lịch Ngoài ra, còn có sự phối hợp giữa các địa điểm, các loại hình du lịch khác nhau trong việc quảng bá hình ảnh và xậy dựng thương hiệu để hình thành nên các tuor du lịch hấp dẫn như: “Con đường di sản miền Trung”… Điều đó kết hợp với việc thu hút được sự đầu tư và chương trình quảng bá hình ảnh đến với người dân đã thu hút được du khách

Đối với loại hình du lịch biển, đảo thành công nhất phải kể đến là vịnh Hạ Long Mới đây địa điểm du lịch này mới được công nhận là một trong 7 Kì quan Thiên nhiên mới của thế giới Để có được sự công nhận như vậy ngoài việc được thiên nhiên ưa đãi cho một cảnh quan đẹp thì việc quảng bá hình ảnh đó đến du khách không chỉ trong nước mà cả du khách quốc tế là một yếu tố quyết định Các sản phẩm du lịch ở đây cũng mang tính độc đáo và thu hút được du khách Các cơ

sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỉ thuật như: khách sạn, nhà hàng, khu mua sắm, casino, hay spa cũng rất phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách

Du lịch sinh thái lại phát triển ở những địa điểm có lợi thế về cảnh quan thiên nhiên như: VQG Cúc Phương, VQG Tam Đảo, VQG U Minh…Ở những địa điểm này ngoài lợi thế về cảnh quan thiên nhiên còn xây dựng được các sản phẩm du lịch độc đáo như: các tour khám phá trong rừng….Vì thế cũng đã để lại được những ấn tưỡng nhất định với khách du lịch

Thành công trong loại hình du lịch văn hóa lịch sử phải kể đến là du lịch Cố

đô Huế, đô thị cổ Hội An Đây là hai di sản văn hóa thế giới đã được UNESCO công nhận Dựa vào những giá trị của mình, việc tổ chức tham quan khám phá các giá trị văn hóa là nét đặc trưng của du lịch văn hóa lịch sử Bên cạnh đó, mỗi địa điểm lại xây dựng cho mình thêm những sản phẩm du lịch riêng kết hợp với thế mạnh của địa phương Ở Hội An thì việc tham quan phố cổ kết hợp với người dân địa phương, các làng nghề để hình thành các làng du lịch nhằm tạo điểm nhấn thu hút du khách, đồng thời góp phần nâng cao thu nhập của người dân địa phương Ngoài ra các địa điểm này còn kết hợp với các địa điểm khác như Phong Nha, Đà

Trang 16

Nẵng, Mỹ Sơn để tạo nên “Con Đường di sản” Nhằm mục đích là lôi kéo được du khách tham quan nghỉ dưỡng trong thời gian dài

1.3.2 Ở Quảng Bình

Đối với Quảng Bình, một địa phương ven biển tuy không nỗi bật như các địa phương vừa kể trên nhưng địa phương cũng có những tiềm năng rất lớn về du lịch biển, sinh thái, văn hóa lịch sử Quảng Bình cũng đã tổ chức được một số loại hình

du lịch như: du lịch biển với các địa điểm: Đá Nhảy, Nhật Lệ, Bảo Ninh…du lịch sinh thái ở VQG Phong Nha – Kẻ Bàng, suối Bang… du lịch văn hóa với các di tích như: Lũy Thầy, Quảng Bình Quan, các lễ hội cầu ngư…Tuy nhiên các loại hình du lịch này phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, quy mô còn nhỏ bé, chất lượng dịch vụ chưa cao, công tác tuyên truyền quảng bá hình ảnh còn chưa được quan tâm nên số lượng du khách đến với những địa điểm này còn ít

Vấn đề đặt ra ở đây là dựa vào những tiềm năng sẵn có của địa phương làm sao có thể đầu tư phát triển các loại hình du lịch một cách hợp lí, quảng bá được hình ảnh của du lịch địa phương tới với du khách Có như vậy thì hoạt động du lịch của Quảng Bình mới có những bước phát triển khởi sắc được

Trang 17

CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC LOẠI HÌNH DU

LỊCH Ở QUẢNG BÌNH 2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Bình

2.1.1 Vị trí địa lí

Tỉnh Quảng Bình nằm từ 16055' B đến 18005' B và 105036' Đ đến 106059' Đ Phía Bắc giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía Nam giáp tỉnh Quảng Trị, phía Đông giáp biển với bờ biển dài 116,04 km và có diện tích 20.000 km2 thềm lục địa, phía Tây giáp nước CHDCND Lào với 201 km đường biên giới Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 8065,3 km2, dân số năm 2008 là 857,82 nghìn người, chiếm 2,45% về diện tích và 1,02% dân số cả nước

Là một tỉnh nằm ở khu vực Trung Bộ, là nơi giao thoa của các điều kiện tự nhiên Bắc – Nam, Đông – Tây đã tạo cho Quảng Bình những đặc điểm tự nhiên rất khác biệt và đa dạng Bên canh đó nơi đây còn là nơi giao thoa của những nền văn hóa khác nhau trong lịch sử đã để lại cho vùng đất này những di tích lịch sử - văn hóa, nếp sống và những phong tục văn hóa mới lạ và độc đáo

Là nơi hẹp nhất của cả nước chạy qua tỉnh có các trục dọc là đường sắt Thống Nhất, Quốc lộ 1A, và đường Hồ Chí Minh Các tuyến trục giao thông ngang, dọc này nối liền các cảng biển, các thị trấn, huyện lỵ ở phía Đông với các khu du lịch, khu kinh tế đặc biệt là khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Cha Lo ở phía Tây Trong

đó có Quốc lộ 12A nối các trọng điểm này của tỉnh với nước bạn Lào, vùng Đông Bắc Thái Lan, Mianma Sân bay Đồng Hới đã được đưa vào khai thác cũng là một trong những sân bay quan trọng của vùng và địa phương, phục vụ cho ngành du lịch

Yếu tố vị trí như trên với các điều kiện đã tạo sự giao thương và thuận tiện cho các nhà đầu tư, các doanh nghiệp đến với Quảng Bình Tạo cho Quảng Bình có điều kiện thuận lợi hơn để phát triển sản xuất hàng hoá, tiếp thu nhanh khoa học kỹ

Trang 18

thuật, phát triển nhanh những ngành kinh tế mũi nhọn trong đó đặc biệt là ngành du lịch, sớm hoà nhập xu thế chung của cả nước nói chung và ngành du lịch nói riêng

2.1.2 Điều kiện tự nhiên

a Địa hình

Quảng Bình nằm phía Đông Trường Sơn có địa hình phức tạp, bị chia cắt mạnh, hẹp bề ngang và dốc, ngiêng từ Tây sang Đông Sườn phía Đông có độ dốc ra biển lớn, càng về phía nam đất càng bị thu hẹp bởi dãy núi Trường Sơn hướng ra biển Đại bộ phận lãnh thổ là vùng đồi núi chiếm 85% diện tích, đồng bằng nhỏ hẹp, đất nông lâm xen kẽ và bị chia cắt bởi nhiều sông suối dốc và chảy xiết nên gây lũ bất ngờ Hầu như vùng phía Tây của tỉnh là vùng núi cao từ 1.000 – 1.500 m, tiếp theo là vùng đồi thấp Gần bờ biển là dải đồng bằng nhỏ, hẹp và dải cồn cát chạy dọc ven biển có dạng lưỡi liềm hay dẻ quạt

Sự phong phú và đa dạng địa hình của tỉnh Quảng Bình là điều kiện để phát triển nền kinh tế theo hướng kết hợp giữa biển và đất liền, tạo nên nhiều cảnh quan đẹp, như: Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng có động Phong Nha được coi là "đệ nhất động", Đá Nhảy điều kiện để phát triển nhiều loại hình du lịch Khu vực Vũng Chùa - Đảo Yến, Bang, Bảo Ninh, có tiềm năng lớn về phát triển du lịch biển

b Thủy văn

Do đặc điểm địa hình và lãnh thổ là dốc và hẹp ngang nhất cả nước nên sông ngòi của tỉnh cũng mang những đặc điểm như vậy Là một tỉnh có mạng lưới sông ngòi phân bố khá dày, tính từ Bắc vào Quảng Bình có 5 con sông chính là: sông Ròon, sông Gianh, sông Lý Hòa, sông Dinh, sông Nhật Lệ Diện tích lưu vực 5 con sông là 7.977 km2, chiều dài 343 km Lượng dòng chảy khá phong phú và thuộc vào lớn nhất ở Việt Nam Đối với mặt nước hồ đập: toàn tỉnh có 123 hồ chứa lớn nhỏ có dung tích thiết kế trên 343 triệu m3 nước Đây là một trong những tài nguyên để phát triển các tuyến du lịch sinh thái

c Khí hậu

Trang 19

Quảng Bình nằm trong khu vừ khí hậu nhiệt đới gió mùa Mùa đông chịu ảnh hường mạnh mẽ của gió mùa Đông Bắc, mùa hè là gió mùa Tây Nam khô nóng do bức chắn địa hình là dãy Trường Sơn gây ra Hàng năm, Quảng Bình còn phải gánh chịu những trận bão, những trận mưa lớn nên có thể khẳng định rằng Quảng Bình là nơi có điều kiện tự nhiên vào loại khắc nghiệt nhất cả nước

+ Mùa Đông: do ảnh hưởng của những đợt gió mùa Đông Bắc nên nhiệt độ giảm thấp có khi < 100C Những tháng có nhiệt độ thấp nhất là các tháng 12, 1 và 2

+ Mùa Hè: những đợt gió mùa Tây Nam khô nóng đã làm cho nhiệt độ tăng cao Các tháng 6, 7, 8 là những tháng nóng nhất, có khi nhiệt độ ngoài trời lên tới 40 – 420 C

Sự chênh lệch nhiệt độ hai mùa lớn cộng với sự khắc nghiệt của thời tiết khiến hoạt động du lịch của tỉnh gặp rất nhiều trở ngại

d Sinh vật

Theo số liệu thống kê năm 2009 thì toàn tỉnh có trên 486.688 ha đất rừng, chiếm 73,1% đất tự nhiên; trong đó rừng tự nhiên có 525.013 ha và rừng trồng có 63.777 ha Đất trống đồi núi trọc chưa sử dụng có diện tích 92.201 ha, chiếm 11,44% đất tự nhiên

Quảng Bình là nơi giao thoa của nhiều luồng động, thực vật từ phía Bắc xuống, phía Nam lên, và phía Tây sang nên tỉnh có hệ động, thực vật vô cùng phong phú và độc đáo Động vật có 493 loài, trong đó có 48 loài bò sát, 279 loài chim, 61 loài cá, nhiều loài có giá trị như Vọc Hà Tĩnh, Gà Lôi lam đuôi trắng, Gà Lôi lam mào đen Về thực vật có 138 họ, 401 chi và 640 loài khác nhau với nhiều loài quý hiếm như: lim, gụ, mun

Hiện nay, Quảng Bình còn giữ được một số vùng rừng nguyên sinh có hệ động, thực vật phong phú và đa dạng như vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng Đây

là nguồn tài nguyên phong phú rất có tiềm năng để phát triển du lịch Ngày nay khi

mà xu hướng du lịch nghỉ ngơi của con người là tìm về với thiên nhiên thì nguồn tài nguyên này có ý nghĩa rất quan trọng trong phát triển du lịch Nếu phát triển bền

Trang 20

vững, tương lai Quảng Bình có thể thiết lập được hình thức du lịch sinh thái ở nơi đây

2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội

a Dân cư và nguồn lao động

Theo kết quả điều tra ngày 01/04 /2009 dân số Quảng Bình là 846.924 người, mật độ dân số là 105 người/ km2 Dân cư tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng và ven biển (86.83%) Trên địa bàn tỉnh có 24 dân tộc anh em sinh sống, trong đó chủ yếu là người Kinh, tiếp đến là Vân Kiều và Chứt, các dân tộc còn lại mỗi dân tộc chỉ trên dưới 100 người

Hiện nay, Quảng Bình có 454.536 lao động chiếm hơn 50% dân số, đây là một trong những lợi thế vô cùng to lớn trong quá trình phát triển kinh tế của tỉnh nói chung và ngành du lịch nói riêng Chất lượng nguồn lao động trong những năm gần đây đã được nâng cao, số lao động qua đào tạo không ngừng tăng lên, đặc biệt là lao động có trình độ đại học và cao đẳng Truyền thống lao động cần cù, thông minh và mến khách cũng là một trong những thế mạnh của tỉnh Quảng Bình

b Tình hình phát triển kinh tế - xã hội

Năm 2010 tổng thu ngân sách trên địa bàn toàn tỉnh đạt 1.234, GDP đầu người đạt khoảng 800USD

Giai đoạn 2006 – 2010 tỉnh đạt tốc độ tăng trưởng GDP từ 11 – 12% mỗi năm, trong đó giá trị sản xuất công nghiệp tăng 20 – 21%/ năm, giá trị khu vực dịch

vụ tăng 11 -12%/ năm, giá tri sản xuất nông nghiệp tăng 4 – 4,5%/ năm Thu ngân sách trên địa bàn tăng bình quân 16 -17%/ năm

Cơ cầu kinh tế có sự chuyển dịch rõ nét

(Bảng 1: Phụ lục 1)

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tăng tỉ trọng khu vực dịch vụ và công nghiệp – xây dựng, giảm mạnh tỉ trọng ngành nông – lâm – ngư Như vậy cơ cấu kinh tế của tỉnh đang có sự chuyển dịch đúng hướng, phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế và thu nhập đầu người của tỉnh và của cả nước

Trang 21

Việc tốc độ tăng trưởng GDP và thu nhập bình quân đầu người trên địa bàn của tỉnh gia tăng hàng năm cũng tạo một tiền đề vững chắc hơn cho ngành du lịch của tỉnh nhà phát triển Khi mà thu nhập của người dân được nâng cao thì nhu cầu được nghỉ ngơi, du lịch cũng theo đó ngày càng tăng

2.1.4 Tài nguyên du lịch

a Tài nguyên du lịch tự nhiên

- Địa hình vùng ven biển

Vùng biển Quảng Bình là vùng biển có đường bờ là kiểu mài mòn và bồi tụ xen kẻ nhau Do vậy dọc bờ biển của tỉnh có nhiều bãi tắm đẹp được hình thành từ những kiểu riêng do vậy mỗi bãi biển lại có những nét độc đáo riêng thu hút du khách Trong đó có nhiều bãi tắm đẹp nổi tiếng như: Nhật Lệ, Đá Nhảy, Roon, Quảng Phú Đặc điểm của các bãi tắm này là nông, bãi cát trắng mịn, nước trong xanh, sóng vỗ mạnh, trên bờ có cây xanh che phủ, môi trường trong sạch không bị ô nhiễm Đây là một số trong rất nhiều ưu thế nổi trội của các bãi tắm Quảng Bình

so với nhiều nơi khác Với những đặc điểm và lợi thế như vậy nên rất thuận lợi cho việc phát triển các loại hình du lịch biển như: tắm biển, nghỉ dưỡng

Không chỉ có nhiều bãi tắm đẹp bờ biển Quảng Bình còn có một nét độc đáo

mà hiếm nơi nào có được đó là các cồn cát cao chạy dọc bờ biển của tỉnh dài 130

km và chiếm 1/20 diện tích của tỉnh Các cồn cát này được hình thành do các điều kiện đặc điểm đường bờ biển và hướng gió thổi Cát ở đây có đặc điểm rất mịn và sạch, vẻ quyến rủ của những cồn cát này không kém gì các dải cồn cát ở Ninh Thuận, Bình Thuận Những cồn cát mênh mông dưới cái nắng chói chang bên cạnh những bãi tắm trong xanh cũng là một trong những tiềm năng mà ngành du lịch của tỉnh cần quan tâm khai thác

Cũng giống nhiều địa phương khác ngoài khơi vùng biển Quảng Bình cũng

có nhiều hòn đảo nhỏ có tiểm năng rất lớn trong việc khai thác phục vụ cho du lịch Trong đó phải kể đến là các đảo: Hòn Gió (đảo Chim), Hòn Cỏ, Hòn Nồm Các đảo này nằm gần bờ, không quá xa so với vùng đất liền, lại là nơi có cảnh quan đẹp, địa

Trang 22

hình độc đáo và khí hậu biển khơi mát mẻ Nếu biết kết hợp và khai thác tốt các thế mạnh các địa điểm trên bờ và các đảo ngoài khơi giống như các địa phương khác đã làm được thì đây hứa hẹn sẽ là một hướng đi đầy triển vọng của loại hình du lịch biển ở Quảng Bình

- Địa hình vùng đất liền

Trên đất liền Quảng Bình là nơi kết thúc của dải đá vôi kéo dài từ vùng Tây Bắc xuống tận Bắc Trung Bộ Cùng với những hoạt động địa chất, địa mạo kéo dài suốt quá trình hình thành lãnh thổ đã tạo cho địa hình Quảng Bình nhiều nét độc đáo Đặc biệt, ở đây có một vùng núi đá vôi kì vĩ và hệ thống hang động Karst quyến rũ và huyền bí Trải qua các thời kỳ kiến tạo quan trọng và các pha chuyển động đứt gãy, phối tảng và uốn nếp đã liên tục tạo ra các dãy núi trùng điệp do chuyển động nâng cao và các bồn trầm tích do chuyển động sụt lún, đóng vai trò như nguyên nhân của mọi nguyên nhân để tạo ra tính đa dạng về địa chất, địa hình - địa mạo, mạng lưới thủy văn và tính đa dạng, kỳ thú về hang động du lịch đối với các thành hệ đá vôi Quảng Bình

Hệ thống hang động ở Quảng Bình đã được đoàn thám hiểm Hoàng gia Anh khảo sát và phát hiện, trong đó có nhiều hang động như: động Phong Nha (7.729m), động Tiên Sơn (980m), hang Tối (5.258 m), hang Rục Cà Roong (2.800 m), hang Sơn Đoong và hàng trăm hang động lớn nhỏ khác là cả một hệ thống hang động với cảnh quan vô cùng kì vĩ và tráng lệ

Trang 23

Đây là một trong những tiềm năng mà ngành du lịch Quảng Bình đã và đang khai thác phục vụ du khách và du lịch hang động đã và đang trở thành thương hiệu của ngành du lịch Quảng Bình

+ Sông – Hồ

Sông Ròon

Sông có chiều dài 30 km, chảy hoàn toàn trong địa phận huyện Quảng Trạch Sông Roòn đổ ra cửa Roòn nơi có làng biển Cảnh Dương với nhiều giá trị văn hóa lịch sử to lớn cộng với cảnh quan thiên nhiên đẹp cũng là một địa điểm du lịch lí thú Hàng năm lễ hội văn hóa nơi đây thu hút khá nhiều khách du lịch tới tham gia

Sông Gianh

Là con sông dài nhất ở Quảng Bình 158 km Sông Gianh là hợp lưu của 4 phụ lưu là: rào Nậy, rào Trổ, rào Nan và sông Son, chảy qua những miền địa hình khác nhau đặc biệt là vùng núi đá vôi phía Tây của tỉnh đã tạo nên cho dòng sông có cảnh quan hai bên bờ vô cùng kì vĩ và độc đáo Dọc hai bên bờ nơi cư dân tập trung đông có các làng nghề, làng văn hóa với những nét văn hóa và phong tục mới lạ Sông Gianh từng là ranh giới Trịnh – Nguyễn phân tranh và ngày nay con sông Gianh vẫn với đôi bờ xanh biếc là nơi rất thích hợp cho việc du ngoạn ngắm cảnh trên những chiếc thuyền nan nhỏ xinh, tạo cho con người cảm giác thư thái hơn

Nguồn suối nước nóng Bang cũng giúp cho con người chữa được một số loại bệnh về khớp, đây cũng là nguồn tài nguyên để phát triển du lịch Nhiều con sông ngầm chảy qua những miền địa hình đá vôi tạo nên những dạng địa hình karst độc đáo và đẹp mắt cũng là sự thu hút du khách chính

Hồ

Ngoài hệ thống sông ngòi, Quảng Bình là một trong những tỉnh có khá nhiều

hồ nằm rải rác ở khắp các huyện Toàn tỉnh có 123 hồ lớn, nhỏ với tổng diện tích mặt nước khoảng 5600 ha Những hồ này ngoài giá trị nông nghiệp to lớn thì cũng

có thể khai thác phục vụ cho du lịch vì cảnh quan xung quanh hồ đẹp và khí hậu mát

mẽ

- Sinh vật

Trang 24

Quảng Bình là một tỉnh có diện tích rừng còn khá lớn, nơi đây có sự đa dang sinh học cao Đặc trưng cho đa dạng sinh học của Quảng Bình là Vườn Quốc Gia Phong Nha – Kẻ Bàng Theo số liệu thống kê mới nhất, Vườn Quốc Gia Phong Nha-Kẻ Bàng là rừng nguyên sinh trên núi đá vôi điển hình với các loại thực vật đặc trưng như: nghiến, chò đãi, chò nước và sao Thực vật có 511 kiểu gen, 876 loài thực vật có mạch, trong dó có 38 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam và 25 loài nằm trong Sách đỏ thế giới, 13 loài đặc hữu Việt Nam, trong đó có sao và cây họ Dầu

Về động vật, Phong Nha-Kẻ Bàng là nơi sinh sống của 140 loài thú thuộc 31 họ và

10 bộ, nổi bật nhất là hổ và bò tót, loài bò rừng lớn nhất thế giới, 302 loài chim, trong đó có ít nhất 43 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam và 19 loài nằm trong Sách

đỏ thế giới

Với độ đa dạng sinh học cao và mang trong mình những giá trị to lớn Vườn Quốc Gia Phong Nha – Kẻ Bàng không chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu mà còn là một trong những địa điểm du lịch hấp dẫn Có sự kết hợp giữa việc tham quan, du lịch sinh thái trong rừng kết hợp với việc khám phá hang động trong lòng đất

Ngoài ra vùng biển Quảng Bình là một trong những ngư trường lớn, là nơi tập trung các loại hải sản quý như: Tôm hùm, tôm sú, mực, hàu là nguồn cung cấp nguyên liệu cho các nhà hàng, khách sạn phục vụ cho du lịch Đặc biệt, ngoài khơi của tỉnh còn có bãi san hô trắng với diện tích hàng chục ha tạo ra vùng sinh thái hệ san hô có thể khai thác phục vụ du lịch lặn biển

b Tài nguyên du lịch nhân văn

Quảng Bình là điểm giao thoa hội tụ của nhiều luồng văn hoá, là vùng đất được thiên nhiên ưu đãi với những phong cảnh kỳ thú, lưu giữ được nhiều di tích lịch sử, văn hoá của nhiều thời đại khác nhau khiến nơi đây ngày càng trở nên hấp dẫn các nhà đầu tư trong lĩnh vực du lịch

- Di tích lịch sử

Các di tích và công trình tiêu biểu nhất phải kể đến là:

+ Quảng Bình Quan

Trang 25

Đây là công trình kiến trúc gồm có hệ thống thành lũy và cổng được xây dựng năm 1630 để bảo vệ từ xa kinh đô của Chúa Nguyễn Trải qua những biến thiên của lịch sử và đặc biệt là hai cuộc chiến tranh, Quảng Bình Quan bị hư hại nặng Hiện nay, di tích này đã được phục chế lại giống như cách đây hơn ba thế kỉ Nằm bên Quốc lộ 1A, khi đi qua địa phận thành phố Đồng Hới du khách có thể tham quan di tích có giá trị to lớn về lịch sử và văn hóa này

+ Lũy Đào Duy Từ

Hệ thống lũy Đào Duy từ được Chúa Nguyễn xây dựng năm 1630 đến năm

1662 nhằm ngăn chặn Chúa Trịnh ở phía Bắc Hệ thống này gồm có 4 lũy chính:

Lũy Trường Dục: dài 10km

Quảng Bình từng là chiến trường khốc liệt trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ nên trên mảnh đất Quảng Bình còn có nhiều dấu tích lịch sử Nhiều địa danh nổi tiếng trong thời kì chiến tranh như Cự Nẫm, Cảnh Dương, Cha

Lo, Cổng Trời, Xuân Sơn, Long Đại, đường Hồ Chí Minh v.v

- Văn hóa

Quảng Bình cũng là vùng đất văn vật, có di chỉ văn hoá Bàu Tró, trống đồng Phù Lưu cùng thời với nền văn hóa Đông Sơn Và nhiều danh nhân tiền bối học rộng, đỗ cao và nổi tiếng xưa và nay trên nhiều lĩnh vực quân sự, văn hoá - xã hội

Trang 26

như Dương Văn An, Nguyễn Hữu Cảnh, Nguyễn Hàm Ninh, Hoàng Kế Viêm, Võ Nguyên Giáp

Ngoài ra vùng đất này cũng có và vẫn còn lưu giữ được các lễ hội văn hóa truyền thống như các lễ hội cầu ngư của cư dân vùng biển, các lễ hội văn hóa của nhân dân trong vùng Trong đó lễ hội cầu ngư được xem là điểm nhấn, nơi còn lưu giữ được những nét văn hóa tiêu biểu cho cư dân vùng biển

Hướng về phía Tây dãy Trường Sơn hùng vĩ có các bản làng dân tộc thiểu số thuộc các dân tộc: Vân Kiều, Ma Coong, A Rem, Rục nơi lưu giữ các giá trị văn hóa cổ xưa, nơi bảo tồn nguyên vẹn các phong tục tập quán đậm chất nguyên sơ là kho tàng cho sự khám phá về văn hóa Phong tục tập quán cùng những nét văn hóa còn nguyên sơ của các dân tộc thiểu số ở vùng núi phía Tây Quảng Bình là một tiềm năng lớn cho du lịch phát triển khi mà hiện nay đang có xu hướng du lịch tìm về thiên nhiên cùng những nét văn hóa nguyên sơ Tại đây khách du lịch có thể thưởng thức những nét văn hóa làng bản, các sản phẩm vật chất và tinh thần như nhà sàn, các lễ hội cộng đồng hay các món ăn độc đáo

2.2 Tình hình hoạt động của ngành du lịch Quảng Bình từ 2003 đến năm

Trang 27

Bảng 2.1 Lượng khách du lịch đến Quảng Bình từ năm 2003 đến 2010

(Đơn vị: lượt người)

Năm Tổng số khách Khách trong nước Khách quốc tế

(Nguồn: Sở Văn hóa, thể thao và du lịch Quảng Bình, 2010)

Hình 1: Biểu đồ thể hiện lượng khách du lịch đến Quảng Bình từ 2003 – 2010

Khách trong nước Khách quốc tế

Trang 28

Theo số liệu điều tra của sở Du lịch Quảng Bình và nay là sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Bình thì trong khoảng 15 trở lại đây khách du lịch đến Quảng Bình tăng nhanh và đều Năm 1995 Quảng Bình mới chỉ đón được 48.909 lượt khách thì sau 5 năm vào năm 2000 đón được 240.099 lượt khách, tăng 4,9 lần

so với năm 1995 Năm 2001 đón được 281.600, năm 2002 đón được 319.437 lượt khách, tốc độ tăng trưởng bình quân cho giai đoạn 1995 - 2002 là 30,7% Sau khi VQG Phong Nha - Kẻ Bàng được công nhận là di sản thế giới, lượng du khách đến Quảng Bình ngày càng tăng đặc biệt là khách du lịch quốc tế, có ngày lượng khách đến tham quan lên tới vài nghìn người

Lượng khách du lịch đến với Quảng Bình từ năm 2003 đến năm 2010 tăng mạnh, trung bình mỗi năm tăng 30% Trong đó, lượng khách quốc tế tăng mạnh hơn trung bình tăng 60%/ năm và lượng khách nội địa tăng 29,5%/ năm Năm 2003, du lịch Quảng Bình được đánh dấu bằng sự kiện Phong Nha – Kẻ Bàng được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới, sự kiện này đã góp phần to lớn trong việc quảng bá du lịch Phong Nha – Kẻ Bàng đến với du khách Trong những năm sau đó

2004 -2007 lượng du khách quốc tế gia tăng mạnh Tuy nhiên, từ năm 2007 – 2009

do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu lượng khách quốc tế đến với Quảng Bình có giảm xuống Nhưng đến năm 2010 lượng khách quốc tế lại tăng trở lại, điều này thể hiện sức thu hút lớn của ngành du lịch Quảng Bình đối với khách

du lịch nói chung và du khách quốc tế nói riêng

Trong tổng số khách du lịch trong đến với Quảng Bình thì lượng khách nội địa chiếm ưu thế và cũng gia tăng mạnh mẽ, trung bình tăng 30%/ năm Trong đó, năm 2004 do sự kiện Phong Nha – Kẻ Bàng được công nhận là Di sản Thiên nhiên thế giới nên lượng khách có sự gia tăng mạnh nhất, tăng 154% so với năm 2003 Từ năm 2005 – 2007 lượng du khách trong nước có giảm xuống, nhưng từ năm 2008 lại tăng trở lại và đến năm 2010 đã gần đạt mức 1 triệu lượt khách, một con số rất ấn tượng Điều đó chứng tỏ rằng du lịch Quảng Bình không chỉ phát triển dựa vào một

sự kiện lớn mà phát triển bằng chính sức thu hút, chất lượng phục vụ và những sản phẩm ngày được nâng lên của tỉnh

Trang 29

Tuy nhiên, sự tăng trưởng đột biến này đã vượt khá nhiều lần so với công suất phục vụ vốn có của du lịch Quảng Bình Đây là một dấu hiệu đáng mừng của

du lịch Quảng Bình nhưng cũng đặt ra không ít những vấn đề cấp bách cần giải quyết

b Doanh thu

Số lượng khách du lịch ngày càng gia tăng cũng làm doanh thu từ ngành du lịch Quảng Bình cũng tăng lên qua các năm Điều này khẳng định những bước phát triển vượt bậc của ngành du lịch tỉnh nhà, đóng góp ngày càng lớn vào tổng thu ngân sách của tỉnh Bên cạnh đó, doanh thu ngành du lịch ngày càng tăng cũng góp phần tái đầu tư xã hội, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của Quảng Bình trong những năm qua

Bảng 2.2: Doanh thu từ hoạt động du lịch ở Quảng Bình từ 2003 - 2010

Trang 30

Hình 2: Biểu đồ thể hiện tổng doanh thu từ du lịch của Quảng Bình

từ 2003 - 2010

Qua biểu đồ chúng ta có thể thấy được tổng doanh thu của ngành du lịch cũng có sự gia tăng, đặc biệt trong năm 2004 sau sự kiện Phong Nha – Kẻ Bàng được UNESCO công nhận là di sản Thiên nhiên thế giới, lượng du khách tăng nhanh nên doanh thu cũng tăng mạnh Năm 2005 doanh thu có giảm xuống nhưng

từ năm 2006 đến 2010 thì tổng doanh thu của ngành du lịch liện tục tăng qua các năm Số khách qua những năm này không có sự gia tăng mạnh do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế nhưng tổng doanh thu của ngành du lịch vẫn tăng đều qua các năm thể hiện du khách chi tiêu cho các hoạt động du lịch, giải trí cũng ngày càng tăng

2.2.2 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỉ thuật

a Cơ sở hạ tầng

Cơ sở hạ tầng nói chung có vai trò đặc biệt quan trọng tới việc đẩy mạnh hoạt động du lịch Trong những năm gần đây cùng với xu hướng phát triển của ngành du lịch cả nước nói chung và ngành du lịch Quảng Bình nói riêng thì mạng lưới cơ sở

Trang 31

hạ tầng phục vụ du lịch của tỉnh Quảng Bình cũng được đầu tư phát triển, nâng cấp nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch Về phương diện này phải

kể đến sự phát triển của mạng lưới giao thông vận tải, thông tin liên lạc và hệ thống điện nước và cơ sở lưu trú

- Mạng lưới giao thông vận tải

Hiện nay, Quảng Bình là một trong những tỉnh có mạng lưới giao thông vận tải tương đối hoàn chỉnh Chạy dọc theo chiều Bắc – Nam là những tuyến đường huyết mạch: Quốc lộ 1A, tuyến đường sắt Thống Nhất đây là hai tuyến đường quan trọng mang ý nghĩa quốc gia, nơi vận chuyển phần lớn hàng hóa và hành khách của đất nước chạy dọc ven biển phía Đông của tỉnh Đây là một trong những điều kiện thuận lợi để khách du lịch có thể dừng chân tham quan du lịch trên địa bàn tỉnh một cách dể dàng Ngoài ra, tuyến đường Hồ Chí minh chạy dọc vùng núi phía Tây của tỉnh, nơi còn lưu giữ những di tích lịch sử thời chiến tranh Đi qua hầu hết các vùng dân tộc ít người, có những phong tục tập quán mới lạ hứa hẹn cũng sẽ là tuyến đường du lịch mang lại hiệu quả nhiều mặt

Ngoài những tuyến Quốc lộ, toàn tỉnh hiện nay có 320 km tỉnh lộ, 364 km đường sông, 910 km đường giao thông huyện, 1.178 km đường xã và liên thôn Tuyến quốc lộ 12A nối Quảng Bình với các tỉnh vùng Trung Lào và Đông Bắc Thái Lan qua cửa khẩu Quốc tế Cha Lo cũng sẽ là cầu nối giúp phát triển kinh tế và đưa khách du lịch từ Lào và Thái Lan đến với Quảng Bình

Ngoài ra du khách còn có thể đến với Quảng Bình bằng đường biển và đường hàng không Với 116 km đường bờ biển và 3 cảng biển quan trọng là: Hòn La, cảng Gianh, Nhật Lệ ngoài nhiệm vụ vận tải hàng hóa còn có thể đón các tàu du lịch đến Quảng Bình du lịch Năm 2003, sau khi Phong Nha – Kẻ Bàng được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới, theo đó lượng du khách đến Quảng Bình tăng nhanh Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch sân bay Đồng Hới được sửa chữa và cải tạo lại năm 2004, đến năm đưa vào sử dụng năm 2008 với công suất 300 khách/ giờ, năng lực phục vụ 500.000 khách mỗi năm sẽ giúp du khách đến với Quảng Bình dể dàng và nhanh chóng hơn

Trang 32

Như vậy, ngành giao thông vận tải không chỉ có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh mà nó còn giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát triển của ngành du lịch nói riêng, tạo điều kiện thuận lợi để du khách đến với Quảng Bình đi lại và tham quan dể dàng hơn

- Hệ thống thông tin liên lạc

Cùng với xu thế phát triển của ngành thông tin viễn thông trên toàn thế giới

và Việt Nam, hệ thồng thông tin liên lạc ở Quảng Bình cũng đang được chú trọng đầu tư và ngày càng phát triển Tính đến năm 2010, tỉ lệ số máy điện thoại trên 10 dân là 78 máy/ 100 dân Mạng lưới bưu điện và điểm bưu điện văn hóa xã được phát triển rộng rãi Tích cực phát triển các bưu cục các tổng đài viễn thông đến các cụm dân cư Hiện nay, 100% số xã trên địa bàn toàn tỉnh đã phủ sóng mạng điện thoại di động Đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng tăng của người dân và khách du lịch, tạo điều kiện thuận cho việc liên lạc của du khách và hoạt động kinh doanh du lịch

- Mạng lưới điện nước

Hiện nay, điện lực Quảng Bình vận hành quản lí mạng lưới điện quốc gia có điện áp 35kw,với hơn 3.300 km đường dây tải điện, cung cấp điện cho 144.733 khách hàng sử dụng điện trên địa bàn tỉnh Mạng lưới điện được phủ rộng đến các

xã trong địa bàn toàn tỉnh, hiện 100% số xã trên địa bàn tỉnh đã có điện lưới quốc gia về đến trung tâm xã Sự phát triển về mạng lưới điện trên địa bàn tỉnh không chỉ góp phần cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân mà còn góp phần to lớn vào hoạt động của ngành du lịch Mạng lưới điện được phát triển đến những vùng xa, nơi có những điều kiện thuận lợi cho hoạt động du lịch đã tạo điều kiện cho ngành du lịch phát triển theo, đáp ứng nhu cầu của du khách đến tham quan

- Hệ thống cung cấp nước và vệ sinh môi trường

Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn về vốn đầu tư nhưng hiện nay tỉnh đã hoàn thành hệ thống cung cấp nước sạch trên địa bàn thành phố Đồng Hới và các thị trấn trên địa bàn tỉnh Thực hiện chương trình nước sạch nông thôn và chương trình nông thôn mới, trong đó chú trọng đến việc cung cấp nước sạch cho dân cư những vùng khó khăn ở miến núi và vùng ven biển Bên cạnh đó hoạt động vệ sinh môi trường

Trang 33

cũng được quan tâm nhằm bảo vệ và cải tạo vệ sinh môi trường, nhất là tại các điểm du lịch Nhờ vậy, hình ảnh du lịch Quảng Bình cũng trở nên đẹp hơn trong mắt khách du lịch

b Cơ sở vật chất kỉ thuật

- Cơ sở lưu trú

Năm 2003, Phong Nha – Kẻ Bàng được công nhận là di sản thiên nhiên thế giới, cùng với đó là việc du lịch Quảng Bình được biết đến nhiều hơn không chỉ ở trong nươc mà cả trên thế giới Do đó lượng khách du lịch đến với Quảng Bình ngày càng tăng cao, để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của du khách ngành du lịch đã chú trọng đầu tư mạng lưới cơ sở lưu trú Số cơ sở lưu trú không ngừng tăng lên mỗi năm nhằm đáp ứng ngày càng nhiều du khách đến với Quảng Bình

(Bảng 2: Phụ lục 1)

Không chỉ tăng về số lượng các cơ sở lưu trú, số phòng, số giường mà chất

lượng của các cơ sở lưu trú cũng ngày càng được nâng cao

(Bảng 3: Phụ lục 1)

Nếu năm 2003, trên địa bàn tàn tỉnh có 6 khách sạn được xếp hạng, trong đó

có 1 khách sạn 3 sao và 5 khách sạn 7 sao thì đến năm 2010 số lượng khách sạn được xếp hạng tăng lên 17 khách sạn Đặc biệt, số khách sạn 4 sao có chất lượng phục vụ tốt đã có hai khách sạn, phục vụ cho những khách du lịch có yêu cầu nghỉ ngơi giải trí với chất lượng cao Trong đó khu nghỉ mát cao cấp Sun Spa Resort nằm

ở thành phố là một trong những địa điểm lí tưởng, được xem là thiên đường nghĩ dưỡng ở Quảng Bình Vị trí nằm ở xã Bảo Ninh phía Đông thành phố Đồng Hới, gồm 50 villa và 234 phòng tiêu chuẩn quốc tế có cảnh quan thiên nhiên đẹp và chất lượng phục vụ không kém gì các khu resort cao cấp khác trong cả nước

Chính vì số lượng du khách đến với Quảng Bình ngày càng đông, chất lượng phục vụ ngày càng tốt mà tỉ lệ sử dụng phòng nghỉ trong các khách sạn nhà hàng cũng có xu hướng tăng lên

(Bảng 4: Phụ lục 1)

Trang 34

Tỉ lệ sử dụng phòng nghỉ trong các khách sạn, nhà nghỉ tăng, tuy nhiên giai đoạn 2000 - 2007 vẫn còn thấp từ 40% - 60%, đây là tỉ lệ thấp so với nhiều nơi khác Từ năm 2007 – 2010 tỉ lệ sử dụng phòng nghỉ tăng mạnh từ 49,4% lên 84,5 % Trong đó tỉ lệ sử dụng phòng nghỉ trong các khách sạn cao hơn trong các nhà nghỉ, riêng năm 2004 tỉ lệ sử dụng phòng nghỉ trong các nhà nghỉ lại cao hơn

Mặc dù tỉ lệ sử dụng phòng nghỉ có sự tăng lên nhưng thời gian lưu trú của khách du lịch lại ngày càng ngắn lại Năm 2000, thời gian lưu trú trung bình của khách du lịch là 11,9 ngày nhưng đến năm 2010 con số này giảm xuống còn 1,1 ngày Điều này chứng tỏ rằng mặc dù lượng khách du lịch đến với Quảng Bình ngày càng tăng nhưng thời gian du khách lưu lại đây là rất ngắn Thời gian lưu trú của khách quốc tế khi đến với Quảng Bình là dài hơn thời gian lưu trú của du khách nội địa Nhưng thời gian lưu trú của cả hai luồng khách này đang có xu hướng giảm xuống

Nguyên nhân chủ yếu là do các sản phẩm du lịch của Quảng Bình còn khá nghèo nàn, chưa có nhiều sản phẩm nổi bật để lôi kéo du khách ở lại nơi đây trong thời gian dài Đây là một trong những vấn đề mà ngành du lịch Quảng Bình cần phải cải thiện trong thời gian tới nếu muốn ngành du lịch tỉnh nhà phát triển bền vững

- Cơ sở dịch vụ ăn uống

Quảng Bình là một trong những địa phương có những sản phẩm ẩm thực độc đáo và đa dạng Cùng với sự phát triển của ngành du lịch, để đáp ứng nhu cầu ăn uống của khách du lịch các có sở dịch vụ ăn uống ở Quảng Bình cũng ngày càng nhiều và chất lượng cũng ngày càng được nâng cao Theo thống kê chưa chính thức hiện nay trên địa bàn tỉnh có khoảng 500 nhà hàng được cấp phép kinh doanh phục

vụ du lịch Các cơ sở này tập trung chủ yếu ở các điểm du lịch nổi tiếng nơi thu hút đông du khách như: Phong Nha – Kẻ Bàng, Đá Nhảy và thành phố Đồng Hới Ngoài

ra, ở các khách sạn còn có dịch vụ ăn uống nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch

và hàng nghìn cơ sở ăn uống phân bố ở các thi trấn, các điểm du lịch nhỏ trên địa bàn tỉnh

- Dịch vụ quảng cáo

Trang 35

Quá trình quảng bá hình ảnh du lịch là một nhiệm vụ quan trọng góp phần không nhỏ vào sự thành công của ngành du lịch Có quảng bá thì hình ảnh về Quảng Bình mới được khách du lịch biết tới, quảng cáo hấp dẫn, lí thú sẽ có sức lôi kéo du khách rất lớn Hiểu rõ được tầm quan trọng đó ngành du lịch Quảng Bình đã đẩy mạnh hoạt động quảng bá hình ảnh du lịch đia phương thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, không chỉ ở trong nước mà cả trên thế giới

Quảng Bình đã xây dựng được trang web riêng, cung cấp đầy đủ về các địa điểm, các danh lam thắng cảnh, khách sạn, giá cả…trên địa bàn tỉnh, nhằm giúp du khách có hiểu biết rõ hơn và lựa chọn cho mình những địa điểm du lịch phù hợp Sự hợp tác với Tổng cục Du lịch Việt Nam giúp xây dựng các đoạn phim, xuất bản sách giới thiệu về du lịch Quảng Bình Doc các đường quốc lộ, xây dựng các panô,

áp phích giới thiệu về Quảng Bình Bên cạnh đó, ngành Du lịch tỉnh Quảng Bình còn chú trọng các hoạt động tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch như: Tham gia

“Ngày hội Du lịch” lần thứ 7 tại TP Hồ Chí Minh với chủ đề “Quảng Bình - Điểm đến hấp dẫn, độc đáo và mến khách” nhằm giới thiệu về sản phẩm du lịch Quảng Bình đến du khách trong và ngoài nước; phối hợp với các đoàn làm phim trong nước

và quốc tế (Trung Quốc, Nhật Bản) làm phim giới thiệu về tiềm năng du lịch Quảng Bình; triển khai xây dựng và xuất bản các ấn phẩm về du lịch; kết hợp các giải pháp kích cầu thông qua các tour du lịch khuyến mãi, dịch vụ khuyến mãi, chương trình giảm giá; tổ chức khảo sát các tuyến du lịch mới như Bản Đoòng – Rào Thương – Hang Én… Mặt khác, các hoạt động du lịch, văn hóa, văn nghệ, thể thao sôi nổi, đặc sắc có quy mô chất lượng của Tuần Văn hóa Du lịch Quảng Bình năm 2011 Những hoạt động này đã mang lại những hiệu quả nhất định, hình ảnh về một Quảng Bình nghèo khó, bị tàn phá bởi chiến tranh được thay thế bằng một Quảng Bình có cảnh quan đẹp, non nước hữu tình, con người hiền hòa phóng khoáng đã thu hút ngày càng nhiều khách du lịch đến tham quan, nghĩ dưỡng

- Các cơ sở dịch vụ khác

Đó là các cơ sở phục vụ nhu cầu vui chơi giải trí của khách du lịch như: các trung tâm thể thao, trung tâm thương mại, casino, sàn nhảy, trung tâm

Trang 36

massage gần đây cũng đã được chú trọng đầu tư xây dựng Mặc dù đã được đầu tư xây dựng nhưng số cơ sở dịch vụ này vẫn còn thiếu thốn chưa đáp ứng được nhu cầu của du khách Thành phồ Đông Hới là nơi có nhiều cơ sở vui chơi giải trí nhất nhưng quy mô của những cơ sở này vẫn còn nhỏ bé, chất lượng phục vụ chưa tốt nên không thu hút được khách du lịch mà chủ yếu là phục vụ cho nhu cầu của người dân Còn ở các huyện khác thì hầu như không có các cơ sở vui chơi giải trí nào đạt chất lượng

Khách du lịch ngoài nhu cầu du lịch, tham quan, giải trí họ còn có nhiều nhu cầu khác và không thể thiếu đối với một địa điểm du lịch có chất lượng Chính vì vậy, vấn đề đặt ra ở đây là trong thời gian tới các cơ quan ban ngành cũng như ngành du lịch Quảng Bình cần phải có sự đầu tư thích đáng cho lĩnh vực còn đang bị

bỏ ngõ này Có như vậy thì sức thu hút của Quảng Bình trong mắt khách du lịch sẽ được nâng cao, họ sẽ lưu lại đây lâu hơn để tận hưởng những dịch vụ ở đây

c Lao động

Ngành du lịch ngày càng phát triển đòi hỏi số lao động phục vụ trong ngành

du lịch cũng tăng lên Từ năm 2003 đến năm 2010 số lao động phục vụ trong ngành

du lịch tăng gần gấp ba lần Số lao động qua đào tạo, có trình độ chuyên môn nghiệp

vụ cũng ngày càng tăng lên Nếu năm 2000 số lao động được đào tạo chỉ có 1.253 người thì đến năm 2010 số lao động được đào tạo tăng lên 6.532 người Chất lượng lao động ngày càng tăng sẽ nâng cao được tính chuyên nghiệp tại các cơ sở phục vụ

du lịch, đáp ứng nhu cầu của du khách (Bảng 5: Phụ lục 1)

2.2.3 Chính sách phát triển các loại hình du lịch ở Quảng Bình

Hiện nay, du lịch được xác định là ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, theo quy hoạch phát triển chung của ngành du lịch thì Quảng Bình là một trong những tỉnh được ưu tiên đầu tư phát triển Trong đó khu du lịch sinh thái Phong Nha – Kẻ Bàng là điểm nhấn quan trọng trên con đường Di sản miền Trung

Ở Quảng Bình, nơi có phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp, di tích văn hóa có ý nghĩa, con người và bản sắc văn hóa đặc sắc hứa hẹn là điểm đến thú vị của du khách Tại đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV đã xác định “Đa dạng các ngành dịch

Trang 37

vụ, từng bước đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, tăng cường đầu tư phát triển du lịch trước hết là các tuyến các điểm du lịch: Phong Nha – Kẻ Bàng, Thiên Đường, Đồng Hới, Đá Nhảy, suối khoáng nóng Bang, đường Hồ Chí Minh, nhà lưu niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp…hoàn thành các tour, tuyến du lịch đang xây dựng và mở thêm những điểm du lịch khác theo quy hoạch đã được phê duyệt Đa dạng hóa các loại hình và các sản phẩm du lịch và nâng nâng cao chất lượng phục

vụ du lịch, xây dựng nâng cấp các khu vui chơi giải trí, nhà hàng, khách sạn Coi trọng công tác đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ cho lao động phục vụ trong ngành du lịch, tăng cường giữ gìn trật tự, bảo vệ môi trường sinh thái Bên cạnh đó, phải tăng cường công tác quảng bá hình ảnh du lịch Quảng Bình ở trong nước và quốc tế, xúc tiến các dự án đầu tư vào du lịch đồng thời có các chính sách hỗ trợ nhằm kêu gọi các nhà đầu tư đầu tư vào ngành du lịch Quảng Bình”

Để thực hiện tốt những yêu cầu phát triển của ngành du lịch nói chung, của Đảng Bộ tỉnh và của ngành du lịch Quảng Bình, sở Văn hóa, thể thao và du lịch Quảng Bình đã xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Quảng Bình giai đoạn 2001 – 2010, quy hoạch phát triển du lịch Quảng Bình giai đoạn 2011 – 2020

để phát triển du lịch tỉnh nhà có định hướng đúng, hợp lí và hiệu quả Tỉnh Quảng Bình đã và đang biến những lợi thế, tiềm năng của mình thành động lực để phát triển kinh tế

2.3 Tình hình phát triển các loại hình du lịch ở Quảng Bình từ 2003 đến

2010

2.3.1 Du lịch biển

Là một địa phương giáp biển, có đường bờ biển dài (116,5 km) trong đó có nhiều bãi tắm đẹp đã tạo cơ hội cho Quảng Bình phát triển loại hình du lịch biển Các bãi tắm đẹp, được đầu tư xây dựng như: Đá Nhảy, Nhật Lệ, Cảnh Dương…là những điểm đến thú vị, thu hút được nhiều du khách

a Một số điểm du lịch biển ở Quảng Bình

- Bãi tắm Đá Nhảy

Trang 38

Nằm dưới chân đèo Lý Hoà thuộc địa phận xã Hải Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình Được công nhận và xếp hạng là danh thắng quốc gia với bãi tắm

phẳng, nước trong, có nhiều loại hải sản như tôm, cua, mực, ốc Nơi đây có phong

cảnh hữu tình vì một bên là con đèo Lý Hòa hùng vĩ và một bên là bãi biển xanh ngắt, nơi giáp giữa biển với núi có một bãi đá có rất nhiều đá to, nhỏ, thấp, cao Mỗi khi có sóng xô, trông đá như những con cóc lớn nhảy trên sóng, tạo nên hàng loạt

âm thanh rì rào khác nhau

Đá Nhảy không chỉ là khu du lịch nghỉ mát lý tưởng vì có bãi tắm đẹp nằm dưới chân núi, mây nước hữu tình nên thơ mà biển nơi đây có nhiều rạn ngầm, đó còn là nơi cư trú của nhiều loại hải sản quý như tôm, cá, cua, mực, ốc có thể chế biến những món đặc sản biển hấp dẫn du khách Cùng với Di sản Thiên nhiên thế giới Phong Nha - Kẻ Bàng và nhiều điểm tham quan du lịch khác của Quảng Bình, biển Đá Nhảy sẽ là nơi dừng chân lý tưởng đem đến cho du khách một cảm giác thật thoải mái và để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp

- Bãi tắm Nhật Lệ

Nằm ngay trung tâm TP Đồng Hới, bãi biển Nhật Lệ là bãi biển đẹp nhất trong số các bãi biển của tỉnh Quảng Bình, là một điểm du lịch ma du khách không thể bỏ qua khi đến với thành phố Đông Hới Đến với nơi đây, du khách sẽ được hoà mình vào làn nước trong vắt và xanh ngắt được thiên nhiên ban tặng cho vùng biển hiền hòa, xinh đẹp này

Thời điểm đẹp nhất để đến Nhật Lệ là từ tháng 5 đến tháng 8 Đến đây hãy tranh thủ dậy sớm để chiêm ngưỡng vẻ đẹp hoang dã của một cửa sông Nhật Lệ đổ

ra biển, tắm mình trong những con sóng lăn tăn hoặc phơi mình trên bãi cát Lúc ấy bạn sẽ cảm nhận được hương vị của biển, của gió, của thiên nhiên hoang dã Đến với Nhật Lệ ngoài việc đắm mình trong làn nước tronng xanh, mát lạnh bạn còn có thể thưởng thức những món ăn mang hương vị riêng là đặc sản của địa phương như: cháo hàu, đẻn biển, mực nướng…

- Làng du lịch Bảo Ninh

Trang 39

Bảo Ninh có bờ biển với bãi cát nguyên sơ mịn màng trải dài như vô tận, nơi tuyệt vời để trở thành bãi tắm với tiêu chuẩn quốc tế Bán đảo Bảo Ninh còn có di tích thành luỹ cổ và Đền thờ Cá Ông đậm nét văn hóa ngư dân Ngoài cơ hội thưởng thức biển xanh, cát trắng, hải sản tươi ngon và những đặc sản của Quảng Bình, ngay cạnh làng chài du khách còn có có hội thăm Tượng đài mẹ Suốt anh hùng

Hiện nay, tại Bảo Ninh, hàng trăm ha đất được quy hoạch cho phát triển du lịch Nhiều dự án đầu tư xây dựng khu khách sạn, khu nghỉ dưỡng, khu du lịch sinh thái, khu vui chơi giải trí, thể thao đang được tích cực triển khai Với phong cảnh hài hoà và quyến rũ với đồi cát, biển, sông hồ chen lẫn cây xanh, Bảo Ninh gần đây ngày càng thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước

- Đồi cát Mỹ Cảnh

Đồi cát Mỹ Cảnh là một trong những địa điểm du lịch mới nổi của Quảng Bình trong những năm gần đây Nằm ở phía Đông thành phố Đồng Hới và nằm ngay cạnh làng du lịch biển Bảo Ninh, khu nghĩ dưỡng cao cấp Sun Spa Resort và bãi tắm Quang Phú, đồi cát Mỹ Cảnh sở hữu một vị trí đẹp

Những đồi cát trắng, mịn nằm bên cạnh bãi biển trong xanh, vẻ đẹp của những đồi cát này không kém gì những cồn cát ở Bình Thuận Bờ biển cát trắng long lánh dưới ánh nắng vàng và những cơn gió lồng lộng là nơi lí tưởng để tổ chức các sản phẩm du lịch thể thao mạo hiểm như: tàu lượn, lướt ván…Đây cũng là một lựa chọn ưa thích của khách du lịch khi đến với vùng biển Quảng Bình trong những năm gần đây

- Đảo Chim

Đảo Chim là một hòn đảo nhỏ ven bờ, nằm cách thành phố Đồng Hới 70km

về phía Bắc, nơi đây hội tụ nhiều loại chim quý hiếm như chim hải âu, chim yến, chim én Từ đất liền đi đến đảo Chim có hai cách: từ cửa biển Nhật Lệ-Đồng Hới, hoặc đi thuyền từ cửa biển xã Cảnh Dương Nhìn từ xa, đảo Chim được bao phủ bởi một màu xanh do hòa quyện giữa cây xanh với nước biển Cảnh quan của hòn đảo Chim còn mang nét nguyên sơ, hoang vắng, chưa có sự tác động của bàn tay con

Ngày đăng: 08/05/2021, 21:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm