1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tìm hiểu thực trạng công tác chủ nhiệm lớp 4, 5 ở trường tiểu học hải vân – thành phố đà nẵng

80 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 763,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày nay khi các công việc làm bằng tay và thủ công được thay bằng máy móc hiện đại, cơ sở kĩ thuật phát triển vì vậy mà càng đòi hỏi một đội ngũ tri thức và công nhân lành nghề để thực

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC – MẦM NON

Trang 2

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước theo đường lối công nghiệp hóa – hiện đại hóa, Giáo dục và Đào tạo đóng một vị trí vô cùng quan trọng trong việc đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài và phát triển con người toàn diện của thiên niên kỉ mới Đó chính là con người được đào tạo và phát triển trí dục, đức dục, thể dục và mỹ dục, lực lượng này chính là nồng cốt bắt tay vào xây dựng đất nước, hàn gắn vết thương chiến tranh đã qua Trong xu thế hội nhập và mở cửa, nước ta đang thực hiện chính sách “ Làm bạn với tất cả các nước trên thế giới” nhằm “ thêm bạn bớt thù” vì vậy những tầng lớp tri thức trẻ là người giao tiếp và quan hệ nhằm tiếp thu những cái hay, cái đẹp từ đất nước bạn Ngày nay khi các công việc làm bằng tay và thủ công được thay bằng máy móc hiện đại, cơ sở kĩ thuật phát triển vì vậy mà càng đòi hỏi một đội ngũ tri thức và công nhân lành nghề để thực hiện lời dạy của Bác Hồ “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính nhờ một phần lớn ở công học tập của các em” thì giáo dục chính là động lực và nền tảng

để phát triển đất nước

Nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa của giáo dục và đào tạo, Đảng và Nhà nước ta đã có những chính sách để phát triển giáo dục: Xây dựng một nền giáo dục dân chủ, trong sạch, vững mạnh, quan tâm bồi dưỡng và đào tạo thế hệ trẻ - những người chủ của đất nước Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định “Giáo dục và Đào tạo đóng một vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước” và xác định trong Nghị quyết TW2 (khóa VIII) “Giáo dục Đào tạo là quốc sách hàng đầu và…cùng với khoa học công nghệ là nhân tố tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu tư cho giáo dục đào tạo là đầu tư phát triển”[7,16] Vậy để nền giáo dục Việt Nam phát triển toàn diện thì chúng ta cần phải quan tâm và phát triển

từ bậc giáo dục mầm non, tiểu học đến các bậc học cao hơn Để một tập thể lớp học

Trang 3

sinh phát triển và học tập tốt thì người quản lý, chủ nhiệm một tập thể đóng vai trò quan trọng hơn bao giờ hết

Như chúng ta đã biết trong nhà trường đơn vị tổ chức cơ bản để giảng dạy và học tập là lớp học Để quản lý trực tiếp một lớp học nhà trường cử ra những giáo viên giàu nhiệt tình để làm chủ nhiệm lớp Đối với bậc tiểu học thì người giáo viên chủ nhiệm càng đóng vai trò quan trọng trong giáo dục Người giáo viên như người

mẹ hiền thứ hai, giáo viên chủ nhiệm ở tất cả các trường học là người thay mặt hiệu trưởng quản lý toàn diện một lớp học Vì vậy, người giáo viên chủ nhiệm là nhân vật trung tâm, là linh hồn của lớp, tập hợp và đoàn kết học sinh trong tập thể Ngoài

ra, giáo viên chủ nhiệm lớp đóng vai trò to lớn trong việc tổ chức mọi hoạt động nhằm giáo dục học sinh

Trong các bậc học phổ thông thì bậc học nào cũng có một vai trò quan trọng trong việc giáo dục và phát triển nhân cách cho học sinh Đối với bậc học ở tiểu học được xem là nền móng để các em được tiếp tục học ở các bậc học cao hơn Người giáo viên chính là người đặt những viên gạch đầu tiên để xây dựng một cái móng vững chắc đó Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói “ Người giáo viên không chỉ dạy bằng chữ mà còn dạy bằng cả tâm hồn”

Đối với bậc tiểu học, học sinh chưa ý thức được các hành vi của mình và do

tư duy phê phán chưa phát triển nên các em dễ bắt chước, làm theo hướng dẫn của người lớn đặc biệt là giáo viên Chính vì vậy người giáo viên chủ nhiệm lớp là người quan trọng hơn cả, là người dìu dắt, hướng dẫn cho các em từng cử chỉ, lời nói và cách ứng xử, người giáo viên phải hoạt động tỉ mỉ, công phu và thường xuyên mới tạo ra nền nếp tốt Bậc tiểu học là bậc học nền tảng dựa trên những cơ sở ban đầu trong việc hình thành nhân cách của học sinh

Người giáo viên chủ nhiệm lớp ở tiểu học là người dạy của một lớp, đồng thời là người tổ chức lãnh đạo, kiểm tra, đánh giá mọi hoạt động và có mối quan hệ ứng xử trong phạm vi mình phụ trách, nhằm hình thành nhân cách cho học sinh; với vai trò và tầm quan trọng của người giáo viên thì giáo viên chủ nhiệm còn là cầu nối giữa nhà trường với đời sống xã hội, kết hợp với gia đình học sinh để cùng giáo dục học sinh Người giáo viên chủ nhiệm lớp ở bậc tiểu học không chỉ là người truyền

Trang 4

thụ những tri thức về các lĩnh vực, môn học cho các em mà còn là người quản lí, giáo dục nhân cách cho các em

Ngày nay với phương châm đổi mới một cách toàn diện hệ thống giáo dục,

để tiếp cận kịp thời nhịp phát triển của đất nước, trong đó Giáo dục và Đào tạo đóng vai trò chủ đạo Hiện nay, học sinh làm việc dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh tự học, tự quản nhưng nếu không có sự hướng dẫn tận tình của giáo viên chủ nhiệm thì tập thể đó khó học tập tốt Vì vậy, người giáo viên chủ nhiệm bằng những kinh nghiệm vốn có và óc sáng tạo của mình để góp phần làm cho tập thể ngày càng tự giác học tập

Với những lí do trên tôi đã chọn đề tài “ Tìm hiểu thực trạng công tác chủ nhiệm lớp 4, 5 ở Trường Tiểu học Hải Vân – Thành phố Đà Nẵng” với mong muốn rằng qua nghiên cứu khóa luận này, tôi sẽ rút ra được những kinh nghiệm về công tác chủ nhiệm và có thể đề xuất những ý kiến xây dựng, góp phần

để công tác chủ nhiệm tốt hơn cho đồng nghiệp và cho bản thân

2 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu vai trò của người GVCN và khảo sát những công việc GVCN đã làm để rút ra những kinh nghiệm về công tác chủ nhiệm lớp 4, 5 của GV ở Trường Tiểu học Hải Vân – Thành phố Đà Nẵng Trên cơ sở đó, bước đầu đề xuất một số ý kiến để làm tốt công tác chủ nhiệm của GVCN lớp

3 Khách thể, đối tượng, địa điểm nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

- Những công việc của GVCN ở trường Tiểu học

3.2 Đối tượng nghiên cứu

- Kinh nghiệm về công tác chủ nhiệm lớp của GVCN ở trường tiểu học

- Giáo viên chủ nhiệm lớp 4, 5 ở trường tiểu học

- Hội đồng chủ nhiệm các khối lớp 4,5

- Khối lớp 4: Cô giáo Lê Thị Cúc (tổ trưởng tổ chuyên môn 4,5; chủ nhiệm lớp 4.1, trường Tiểu học Hải Vân – Quận Liên Chiểu – Thành phố Đà Nẵng) Cô giáo Lê Thị Duyến (chủ nhiệm lớp 4.3, Trường Tiểu học Hải Vân – Quận Liên Chiểu – Thành phố Đà Nẵng)

Trang 5

- Khối lớp 5: Cô giáo Trương Thị Diệu Huyền (chủ nhiệm lớp 5.1, Trường Tiểu học Hải Vân – Quận Liên Chiểu – Thành phố Đà Nẵng) Cô giáo Đoàn Thị Thanh Tuyền (chủ nhiệm lớp 5.2, Trường Tiểu học Hải Vân – Quận Liên Chiểu – Thành phố Đà Nẵng)

3.3 Địa điểm nghiên cứu

- Trường Tiểu học Hải Vân – Quận Liên Chiểu - TP Đà Nẵng

4 Nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xác định cơ sở khoa học của đề tài

- Khảo sát về nhận thức của GV làm công tác chủ nhiệm và tìm hiểu những công việc GVCN phải làm

- Khảo sát kinh nghiệm công tác chủ nhiệm của GVCN để rút ra bài học về công tác chủ nhiệm

- Đề xuất những biện pháp giải quyết

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Do hạn chế về điều kiện khách quan và chủ quan, tôi chỉ nghiên cứu tìm hiểu những kinh nghiệm về công tác chủ nhiệm lớp của giáo viên chủ nhiệm ở Trường tiểu học Hải Vân – Quận Liên Chiểu – Thành phố Đà Nẵng khối lớp 4, 5

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp nghiên cứu và tổng hợp lí thuyết

Đọc và nghiên cứu tài liệu có liên quan đến đề tài Từ đó phân tích và tổng hợp các thông tin cần thiết phục vụ cho đề tài

5.2 Phương pháp quan sát sư phạm

Quan sát những công việc GVCN làm và quan sát những giờ chủ nhiệm lớp của GVCN

5.3 Phương pháp điều tra bằng ankét

Dùng hệ thống câu hỏi để thu thập thông tin

5.4 Phương pháp thống kê

5.5 Phương pháp đàm thoại

Trò chuyện, trao đổi với các GVCN về công tác chủ nhiệm lớp

Trang 6

5.6 Phương pháp đánh giá và xử lí kết quả

Đánh giá và xử lí kết quả thu được sau khi thực nghiệm

6 Cấu trúc khóa luận

Phần 1: Mở đầu

1 Lí do chọn đề tài

2 Mục đích nghiên cứu

3 Khách thể, đối tượng, địa điểm nghiên cứu

4 Nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

Phần 2: Nội dung

Chương 1: Cơ sở lí luận của vấn đề

Chương 2: Thực trạng công tác chủ nhiệm lớp 4, 5 ở Trường Tiểu học Hải

Vân – Thành phố Đà Nẵng

Chương 3: Nâng cao hiệu quả công tác chủ nhiệm lớp 4, 5 ở trường tiểu học

Trang 7

PHẦN 2: NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ 1.1.NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP

về quản lý giáo dục, có thể coi GVCN như một nhà quản lý với các vai trò: Người lãnh đạo lớp học; Người điều khiển lớp học; Người làm công tác phát triển lớp học; Người làm công tác tổ chức lớp học; Người giúp hiệu trưởng bao quát lớp học; Người giúp hiệu trưởng thực hiện việc kiểm tra sự tu dưỡng và rèn luyện của HS;

Người có trách nhiệm phản hồi tình hình lớp…

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói “Người giáo viên không chỉ dạy bằng chữ mà dạy bằng cả tâm hồn” Thật vậy, người GV được xem là ông thầy tổng thể sư phạm Người GV ở đây không chỉ dạy chữ mà còn dạy người Mà muốn thành công thì công tác quản lí chủ nhiệm của người GV đóng một vị trí quan trọng

Nếu bạn muốn trở thành một GV thì bạn không chỉ là người được môi trường sư phạm đào tạo, chuẩn bị hành trang cho bạn là một kho tàng tri thức mà bạn còn được trang bị nhiều kinh nghiệm để quản lí một tập thể Nếu một tập thể chỉ có học tập mà không có quản lí, chủ nhiệm thì đó chưa thể gọi lớp học của một nhà trường Như vậy, người GVCN lớp ở tiểu học đóng một vị trí vô cùng quan trọng trong giáo dục tri thức và đạo đức cho HS Người GV như một người mẹ hiền thứ 2 của các em, tận tụy, chăm lo, xây dựng tập thể HS phát triển

Trong nhà trường mặc dù mỗi lớp học đều có tổ chức tự quản của HS nhưng GVCN mới là người thay mặt hiệu trưởng, hội đồng nhà trường và cha mẹ học sinh quản lí tập thể HS lớp mình phụ trách Người GV vừa là người truyền thụ tri thức, vừa là người chỉ đạo, hướng dẫn HS tham gia các hoạt động phong trào và quản lí

Trang 8

nền nếp cho HS Nhằm mục tiêu phấn đấu học tập và rèn luyện theo mục tiêu chung của nhà trường

GVCN ở tiểu học là người dạy văn hóa đồng thời cũng là người GVCN lớp, đối với những lớp bán trú thì GVCN là người bao quát lớp về tất cả các mặt từ bữa

ăn, giấc ngủ, hoạt động của HS Người GVCN thường là người dạy chủ yếu của một lớp, đồng thời là người tổ chức, lãnh đạo, điều hành, kiểm tra, đánh giá mọi hoạt động và các mối quan hệ ứng xử trong phạm vi lớp mình phụ trách nhằm giáo dục và hình thành nhân cách cho các em Người GVCN lớp còn là cầu nối giữa gia đình, nhà trường với đời sống xã hội Vì vậy, GVCN lớp có một vị trí rất quan trọng trong một tập thể HS

1.1.2 Vai trò của GVCN lớp

Trong nhà trường, GVCN lớp chiếm một vai trò to lớn đối với dạy và học Nếu trong một nhà trường chúng ta coi nhẹ công tác chủ nhiệm thì tập thể lớp sẽ không ổn định về nền nếp, mọi phong trào sẽ không phát huy vai trò và mục đích của nó Như chúng ta đã biết, lớp học là đơn vị tổ chức cơ bản giảng dạy và học tập trong nhà trường Để quản lí trực tiếp một lớp học, nhà trường cử ra những GV giàu nhiệt tình để làm chủ nhiệm lớp GVCN là người thay mặt hiệu trưởng quản lí toàn diện một lớp học Có thể nói người GVCN là nhân vật trung tâm, là linh hồn của lớp, tập hợp và đoàn kết HS trong tập thể GVCN lớp có vai trò to lớn trong tổ chức mọi hoạt động của lớp nhằm giáo dục HS

Người GVCN như người mẹ hiền thứ 2 chăm sóc đàn con của mình Vì thế, người GVCN luôn luôn phải bám lớp bám trường, phải đều đặn tham gia sinh hoạt lớp, sinh hoạt trường Mỗi việc làm, lời nói của người GVCN ảnh hưởng rất lớn trong việc hình thành nhân cách HS

Khoa học giáo dục đã chứng minh, các em HS trong quá trình hình thành nhân cách luôn luôn chịu tác động bởi 3 yếu tố: Gia đình –Nhà trường – Xã hội Mỗi yếu tố có chức năng riêng nhưng lại có quan hệ chặt chẽ, bổ sung hỗ trợ cho nhau GVCN nằm trong yếu tố nhà trường Ở gia đình, bố mẹ là người nuôi dưỡng con từ khi còn trong “trứng” nên bố mẹ là người rất hiểu tính nết, sở thích , sức khỏe của con mình Nhưng không phải bố mẹ nào cũng đủ thời gian, kinh nghiệm, tri thức,

Trang 9

phương pháp dạy con Chẳng thế mà có câu “Dao sắc không gọt được chuôi” Ở trường, GVCN là người được giao nhiệm vụ, theo dõi quản lý học sinh của lớp mình Do đó GVCN cũng là người thứ 2 sau cha mẹ HS hiểu HS mình nhất

Người GVCN lớp ở tiểu học không chỉ là người giảng dạy các môn học cho học sinh mà còn là người điều hành, quản lí, nắm mọi mục tiêu, kế hoạch của bộ - quận – trường GVCN lớp chủ động phối hợp với Đội TNTP Hồ Chí Minh để tiến hành các nghi thức sinh hoạt tập thể, cùng các lực lượng giáo dục khác để giáo dục

HS thiếu niên Có thể khẳng định: Trong nhà trường, GVCN như thế nào thì lớp học sẽ như thế Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói: “Càng yêu người bao nhiêu ta càng yêu nghề bấy nhiêu”, “nghề giáo viên là nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý”, “là nghề dùng nhân cách để giáo dục nhân cách” Đối tượng lao động của người GV là con người, công cụ lao động là nhân cách của người GV vì vậy mà mỗi nhà sư phạm cần có lòng yêu trẻ thì mới có thể yêu nghề Một người

GV yêu nghề, mến trẻ được thể hiện chính trong sản phẩm giáo dục của mình Bởi vậy “Người giáo viên họ còn sống chừng nào thì họ còn học chừng đó Việc học chỉ dừng lại khi con người của họ đã chết” Nhận thức được vị trí, vai trò của người GVCN lớp ở tiểu học đóng một vai trò rất quan trọng nên mỗi chúng ta cần không ngừng trao đổi năng lực sư phạm, rèn luyện nhân cách, đạo đức để trở thành những người GV giỏi, phục vụ cho sự nghiệp trồng người cao cả mà Bác hồ đã từng dạy

“Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”

1.1.3 Các chức năng của người GVCN

1.1.3.1 GVCN là người quản lí giáo dục toàn diện HS

Trước hết, người GVCN là người quản lí giáo dục toàn diện HS một lớp cần hiểu quản lí giáo dục không chỉ là nắm được các chỉ số của quản lí hành chính như tên, tuổi, số lượng, gia đình, trình độ HS về học lực và đạo đức,… mà còn phải dự đoán xu hướng phát triển nhân cách của HS trong lớp để có phương hướng tổ chức hoạt động giáo dục, dạy học phù hợp với điều kiện, khả năng của mỗi HS

Muốn thực hiện chức năng quản lí giáo dục toàn diện, GVCN phải có những kiến thức cơ bản về tâm lí, giáo dục học và phải có những kĩ năng sư phạm như: Kĩ năng tiếp cận đối tượng HS, kĩ năng nghiên cứu tâm lí lứa tuổi, kĩ năng đánh giá, kĩ

Trang 10

năng lập kế hoạch chủ nhiệm lớp và có sự nhạy cảm sư phạm để có thể dự đoán đúng sự phát triển nhân cách của HS từ đó định hướng và giúp các em lường trước những khó khăn, thuận lợi, vạch ra những dự định để các em tự hoàn thiện về mọi mặt

Trong chức năng này, người GV cần đặc biệt quan tâm tới việc quản lí học tập đồng thời quản lí sự hình thành và phát triển nhân cách HS Hai mặt trên có quan hệ hỗ trợ, tác động lẫn nhau, đôi khi việc giáo dục đạo đức có tác động mạnh

mẽ đến chất lượng học văn hóa nhất là trong điều kiện hiện nay, khi xã hội ngày càng phát triển kéo theo bao tiêu cực, cám dỗ của xã hội mang lại

1.1.3.2 GVCN là người tổ chức cho HS hoạt động tự quản nhằm phát huy tiềm năng tích cực của HS

Đây là chức năng rất đặc trưng của GVCN lớp mà các GV bộ môn khác không làm chủ nhiệm lớp không thể có Đối với HS tiểu học người GVCN đóng một vai trò quan trọng Người GVCN bồi dưỡng năng lực tự quản cho HS của lớp, bao gồm: Lớp trưởng, lớp phó, tổ trưởng, tổ phó, phân công các em phụ trách các mặt văn nghệ, thể thao, lao động Đối với HS tiểu học, các em mới bắt đầu làm quen với công việc học tập nên nhiệm vụ của người GV là vừa hướng dẫn, vừa dạy

dỗ các em, GVCN cần xây dựng đội ngũ cán bộ lớp dựa trên đặc điểm, năng lực HS trong lớp mình Người GVCN cũng nên lựa chọn những HS học giỏi, nhanh nhẹn, ngoan ngoãn để làm cán bộ lớp

Để phát huy vai trò cố vấn, GVCN cần có năng lực dự báo chính xác khả năng HS trong lớp GVCN cần phát hiện và bồi dưỡng năng lực của các em để các

em làm quen với môi trường mới Những em được phân công làm cán bộ lớp phải

là những HS gương mẫu như: Không nói chuyện riêng, phát biểu xây dựng bài hăng say…GVCN cần phối hợp với hội phụ huynh để giúp đỡ và động viên các em hoạt động tốt

1.1.3.3 GVCN là cầu nối giữa tập thể HS với các tổ chức xã hội trong và ngoài nhà trường

Nhà trường, GV, gia đình và các đoàn thể là các lực lượng giáo dục thông qua đầu mối liên kết là GVCN GVCN là người chủ động trực tiếp tổ chức sự phối

Trang 11

hợp giáo dục giữa nhà trường với gia đình và xã hội [7,81] Thực chất đây là sự phối hợp giáo dục với xã hội của nhà trường mà GVCN là người trực tiếp tổ chức thực hiện nhằm phát huy sức mạnh của mọi nguồn lực, thực hiện xã hội hóa giáo dục HS lớp chủ nhiệm

GVCN trở thành người trung gian trao đổi thông tin giữa nhà trường và các

tổ chức xã hội, thực hiện nhiệm vụ lĩnh hội và truyền đạt những chủ trương, kế hoạch của nhà trường Qua đó gắn kết được trách nhiệm giữa nhà trường và các lực lượng chức năng trong việc giáo dục HS

Muốn liên kết có hiệu quả cần tìm hiểu nắm vững chức năng, nhiệm vụ và tiềm năng của từng cơ quan Trên cơ sở đó khai thác mặt mạnh của từng cơ quan trong việc phối hợp giáo dục GVCN có thể phối hợp với các lực lượng xã hội khác dưới nhiều hình thức như kết nghĩa, đỡ đầu, bảo trợ,…[7,84]

1.1.3.4 GVCN đánh giá khách quan kết quả rèn luyện của HS và phong trào chung của lớp

Đây là một chức năng có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình học tập, rèn luyện phát triển nhân cách của mỗi HS và sự đánh giá khách quan, chính xác, đúng mức là một điều kiện để thầy trò điều chỉnh mục tiêu, kế hoạch hoạt động cho cả lớp và mỗi thành viên

Khi đánh giá phong trào hoạt động của lớp cần căn cứ vào yêu cầu, kế hoạch hoạt động toàn diện đã đặt ra, đồng thời cũng nên so sánh với phong trào chung của toàn trường GVCN cần tránh cách nhìn thiên vị và chỉ chú ý đến một số nội dung hoạt động Khi đánh giá từng cá nhân HS nên căn cứ vào năng lực, điều kiện cụ thể của từng em, cần tránh quan điểm khắt khe, định kiến, thiếu quan điểm động và phát triển nhất là đối với những HS gặp hoàn cảnh khó khăn, có đặc điểm tâm sinh

lí đặc biệt

Điều quan trọng là sau khi đánh giá, nhận định cần vạch ra xu hướng, nêu những yêu cầu với thái độ nghiêm túc, tôn trọng nhân cách của HS Với tấm lòng yêu thương HS như con em mình GV không nên đặt yêu cầu quá cao hay quá thấp

so với năng lực của HS vì nếu quá cao HS sẽ nản chí, thiếu tự tin, kém phấn khởi còn quá thấp sẽ kìm hãm sự nỗ lực ý chí, thiếu sáng tạo, làm cho HS chủ quan, tự

Trang 12

mãn Cả hai trường hợp trên đều ít tác dụng giáo dục Hoạt động thực tế của nhiều nhà sư phạm cho thấy yêu cầu của người GVCN đặt ra phải được HS tự giác chấp nhận, phải có nỗ lực vượt khó, quyết tâm thực hiện thì mục tiêu đạt được mới cao Khi thực hiện chức năng đánh giá và đề xuất yêu cầu giáo dục cần phải tham khảo ý kiến của GV dạy ở lớp, đội ngũ cán bộ tự quản của lớp và các lực lượng giáo dục khác đặc biệt là cha mẹ của HS Đối với HS có hoàn cảnh và đặc điểm tâm lí đặc biệt, HS có những thiếu sót cần tham khảo ý kiến của đội tự quản lớp và những người đáng tin cậy để có nhận định, đánh giá sát với thực tế GVCN cần đánh giá chuẩn thang đánh giá và thông qua nhiều kênh đánh giá

Trên đây là một số chức năng chủ nhiệm ở trường tiểu học Để thực hiện tốt các chức năng trên, GVCN cần có những nhiệm vụ cụ thể, có những yêu cầu nhất định và những điều kiện để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình

1.1.4 Nhiệm vụ của người GVCN lớp

GVCN lớp ở trường tiểu học cơ sở cũng như trường trung học phổ thông đều

có một số nhiệm vụ đối với công tác chủ nhiệm lớp và việc hoàn thành trình độ nhân cách của bản thân để trở thành một nhà sư phạm tốt

1.1.4.1 Nắm vững mục tiêu giáo dục của cấp học, lớp học và chương trình dạy học, giáo dục của nhà trường

Đây là nhiệm vụ trước mắt, cần thiết vì chỉ trên cơ sở nắm vững mục tiêu cấp học, nhiệm vụ năm học của Bộ và chương trình hoạt động dạy học của trường thì mới xây dựng được kế hoạch hoạt động của lớp chủ nhiệm, có khả năng thực thi và đảm bảo hiệu quả giáo dục

Ở mỗi trường đều có các văn bản cần thiết sau đây:

+ Mục tiêu cấp học

+ Chỉ thị từng năm học – thực chất đó là nhiệm vụ trọng tâm hàng năm

+ Chương trình giảng dạy các môn học

+ Kế hoạch năm học của nhà trường

+ Một số văn bản hướng dẫn các công tác liên quan đến vấn đề giáo dục dạy học như vấn đề thu học phí (những HS học 2 buổi/ngày, tùy từng khu vực mà mức thu khác nhau), miễn giảm đóng góp, chế độ chính sách đối với con em thương binh

Trang 13

liệt sĩ, quy chế khen thưởng HS, kỉ luật, nội quy đối với HS, chức năng nhiệm vụ của Đoàn Thanh niên, Đội TNTP trong giáo dục

GVCN phải nắm vững các văn bản trên để tổ chức tốt việc giáo dục lớp chủ nhiệm Những GV không làm công tác chủ nhiệm lớp không bắt buộc phải nắm vững tất cả, vì họ không phải thường xuyên vận dụng những hiểu biết đó vào dạy học một môn học tuy nhiên càng nắm chắc các văn bản, nhiệm vụ, mục tiêu thì càng thuận lợi cho công tác giảng dạy, giáo dục HS

Những văn bản này ở các trường đều có, vì vậy vào đầu năm học hoặc bắt đầu làm nhiệm vụ chủ nhiệm lớp, người GVCN nghiên cứu để tìm hiểu thật chắc

1.1.4.2 Tìm hiểu để nắm vững cơ cấu tổ chức của nhà trường

Nhiệm vụ này được cụ thể hóa bằng các công việc sau:

+ Nắm được sự tổ chức và phân công của Ban giám hiệu

+ Nắm được cơ cấu tổ chức Chi bộ, Đoàn, Đội, công đoàn nhà trường sau các đại hội toàn năm

+ Hiểu biết về đội ngũ GV, các tổ chuyên môn và số GV các môn học dạy ở lớp chủ nhiệm Việc quan trọng là hiểu từng GV sẽ dạy ở lớp chủ nhiệm về hoàn cảnh, trình độ, năng lực, tính cách để thiết lập mối quan hệ phối hợp giáo dục Nhiều GVCN có kinh nghiệm thường mời tất cả GV bộ môn tham gia Đại hội lớp học sinh chủ nhiệm Sau đó thống nhất với đội ngũ này một số nguyên tắc, yêu cầu chung trong giáo dục

+ Nắm vững đội ngũ GV phụ trách từng mặt hoạt động giáo dục của nhà trường: Văn nghệ, thể dục thể thao, lao động, phòng thí nghiệm, y tế, bảo vệ,…để liên hệ phối hợp hoạt động vì công tác giáo dục của lớp chủ nhiệm

1.1.4.3 Tiếp nhận HS lớp chủ nhiệm, GV phải nghiên cứu và phân tích mọi đặc điểm của đối tượng trong lớp và các yếu tố tác động đến các em bao gồm đặc điểm tâm sinh lí, nhân cách, năng lực của mỗi em, hoàn cảnh gia đình và sự quan tâm của gia đình đối với con em mình

Nghiên cứu đặc điểm gia đình HS và đặc điểm tâm sinh lý của HS lớp học có

ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với công tác của người chủ nhiệm lớp Nghiên cứu

để hiểu gia đình là tìm hiểu về đặc điểm trình độ, tâm lý của cha mẹ HS, sự quan

Trang 14

tâm của cha mẹ đối với con cái, phương pháp giáo dục của cha mẹ đối với con của

họ trong gia đình Tạo ra những điều kiện cần thiết cho trẻ bộc lộ năng lực, năng khiếu tài năng của mình để bồi dưỡng cho trẻ những phẩm chất cần thiết về thể chất

và tinh thần của con người mới [ 11, 146]

Để thực hiện những nhiệm vụ này, GVCN phải kết hợp nhiều phương pháp, phối hợp với nhiều lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường Việc nhanh chóng hiểu những em trong lớp là một nội dung và nhiệm vụ rất quan trọng của GVCN để trên cơ sở đó, GVCN xây dựng một chương trình giáo dục, tổ chức hoạt động toàn diện các mặt nhằm phát triển trí tuệ, nhân cách, năng lực của HS lớp chủ nhiệm trên nguyên tắc phát triển năng lực tự quản của các em

Đây là nhiệm vụ quan trọng của công tác GVCN nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện HS và triển khai chương trình, kế hoạch năm học của nhà trường

1.1.4.4 Để làm tốt công tác chủ nhiệm lớp, GVCN phải tự hoàn thiện phẩm chất, nhân cách của người thầy giáo

Phẩm chất đạo đức là rất cần thiết cho GV KĐ Usinki gắn liền các phẩm chất đạo đức với uy tín của người GV, ông cho rằng “Con đường chủ yếu nhất để giáo dục con người là niềm tin và chỉ có bằng niềm tin mới có thể tác động đến niềm tin” Còn A.X Makarenko thì nhấn mạnh “Uy tín của người giáo viên không phải là nhờ các thủ thuật giả tạo nào đó mà là toàn bộ cuộc sống của người thầy, là hành vi hàng ngày của họ” Theo ông uy tín xuất phát từ tinh thần trách nhiệm Muốn có uy tín với HS thì phải hiểu rõ HS, biết tổ chức tập thể HS hoạt động một cách tích cực và sáng tạo nhất Người GVCN nào càng quan tâm đến việc xây dựng một tập thể HS đoàn kết, có kỉ luật, chủ động, đồng thời nâng cao uy tín của tập thể

đó thì bản thân họ lại càng được các em kính trọng nhiều hơn [7,19]

+ Trau dồi lòng yêu nghề, yêu thương HS, thực hiện theo khẩu hiệu “Tất cả

vì học sinh thân yêu” Quan tâm tới mọi mặt của từng HS lớp chủ nhiệm và quan trọng nhất là giúp đỡ các em rèn luyện ý thức, thái độ, hình thành những phẩm chất, tình cảm trong sáng, đúng đắn, xây dựng cho các em hoài bão, lí tưởng sống cao

Trang 15

đẹp, có bản lĩnh đề kháng với những cám dỗ, những ảnh hưởng tiêu cực đang diễn

ra xung quanh

Chỉ có thể phát huy ảnh hưởng tốt đến HS khi bản thân GVCN là một nhân cách tốt Mọi thầy giáo đều có ảnh hưởng không nhỏ trong một trường nhưng GVCN là người có ảnh hưởng sâu sắc nhất tới HS lớp chủ nhiệm vì giữa GVCN với

HS một lớp thiết lập được mối quan hệ thường xuyên, quan hệ tình cảm đặc biệt thân thiết trong hoạt động Nhiều GVCN được HS vừa coi như thầy – người hướng đạo cho các em vào đời, đồng thời vừa coi là người thân như cha (mẹ), anh (chị), đan xen trong đó cả tình bạn gần gũi, tâm tình

+ Chỉ có thể trở thành một GVCN tốt khi GVCN thực sự là một tấm gương mẫu mực trong cuộc sống, giải quyết tốt các mối quan hệ không chỉ đối với HS lớp chủ nhiệm mà còn đối với gia đình, đồng nghiệp, với mọi người ở cộng đồng nơi ở

và toàn xã hội GVCN phải là một hình ảnh mẫu mực của một công dân đối với nhiệm vụ được xã hội, nhà trường giao phó, tôn trọng các quy định của pháp luật

Có thể thấy mọi cử chỉ, điệu bộ, cách ăn mặc, nói năng, đi đứng, thái độ biểu hiện của người GVCN đối với mỗi hiện tượng xã hội lúc có mặt hay không có mặt

HS đều có ảnh hưởng đến nhân cách HS lớp chủ nhiệm

+ GVCN có trách nhiệm theo dõi tình hình thời sự chính trị trong và ngoài nước nhằm hoàn thiện nhân cách góp phần thực hiện công tác GVCN

GVCN có nhiệm vụ chủ yếu là tự nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến

sự phát triển của khoa học, của môn học liên quan đến giáo dục HS Tuy nhiên sự

am hiểu rộng về chính trị, thời sự, văn hóa, khoa học kĩ thuật trong nước, trên thế giới và những vấn đề nhân loại đang quan tâm, đang phản đối là rất cần thiết

Nhiệm vụ nghiên cứu, theo dõi kịp thời để nắm bắt những diễn biến mọi mặt

ở địa phương, trong và ngoài nước nhất là những sự kiện chính trị giúp cho người GVCN kịp thời tổ chức những hoạt động của tập thể HS lớp chủ nhiệm Thông qua

đó để nâng cao nhận thức, hình thành thái độ đúng đắn đồng thời rèn luyện cho HS năng lực tư duy nhạy bén, hoạt động sáng tạo, thích ứng với cuộc sống đa dạng, phong phú đang diễn ra hằng ngày

Trang 16

Muốn tổ chức tốt hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp , GVCN không thể không đặt cho bản thân nhiệm vụ làm phong phú sự hiểu biết về chính trị xã hội Hiện nay không ít GVCN coi nhẹ nhiệm vụ này, hoặc thực hiện theo hứng thú, nhu cầu của bản thân chứ không xuất phát từ yêu cầu của công tác chủ nhiệm Vì vậy việc thu thập thông tin chưa thành hệ thống, chưa toàn diện và GVCN cũng chưa ý thức thật đầy đủ về việc cung cấp và định hướng cho HS xử lí các thông tin kịp thời, chính xác, có hiệu quả giáo dục

Trong sự nghiệp đổi mới, những phong trào xã hội có ý nghĩa giáo dục như phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn”,… đã làm nảy sinh biết bao tấm gương người tốt việc tốt trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa, tích cực tham gia vào xây dựng nhà nước pháp quyền, thực hiện xã hội công bằng văn minh, biết bao tấm gương vượt khó vươn lên trong cuộc sống của đoàn viên, thanh niên, học sinh, sinh viên và của những người lao động thầm lặng,…GVCN phải nắm bắt được các sự kiện đó để giáo dục HS lớp chủ nhiệm

Trong hoàn cảnh xã hội hiện nay, nếu bàng quang với các diễn biến phong phú, đa dạng trên mọi mặt của Tổ quốc, xã hội địa phương, ở trong nước và trên thế giới thì không thể làm công tác chủ nhiệm tốt được Thật dễ hiểu bởi mọi diễn biến

ấy tồn tại khách quan và hàng ngày, hàng giờ tác động vào tâm hồn, nhận thức của trẻ em Ngoài các bậc cha mẹ, không có ai giúp các em nhận xét lựa chọn thông tin

và điều chỉnh nhận thức, hành vi tốt hơn là GVCN lớp

Do đặc điểm tâm sinh lí và vốn sống của trẻ em còn hạn chế, do tính đa dạng, phong phú, phức tạp của giáo dục vì bùng nổ thông tin thời đại mở cửa và hội nhập mà nhiệm vụ nắm bắt thông tin, định hướng cho HS là một nhiệm vụ rất quan trọng đối với GVCN trong giai đoạn hiện nay và đây cũng là nhiệm vụ được nhấn mạnh khác với thời kì bao cấp Có ý kiến cho rằng đó là nhiệm vụ của tất cả các thầy cô giáo các cấp học, điều đó hoàn toàn đúng nhưng nó đặc biệt quan trọng đối với những GVCN lớp ở những trường phổ thông Như vậy người GV nói chung, GVCN nói riêng trước thềm thế kỉ XXI, bằng chính nhân cách của mình mà tác động tích cực đến sự hình thành nhân cách của HS Do đó họ phải là một công dân gương mẫu, có ý thức trách nhiệm xã hội, có lòng yêu trẻ và có khả năng hợp tác

Trang 17

với trẻ, phấn đấu cho một bầu không khí dân chủ trong nhà trường [7,19].Việc hoàn thiện nhân cách người GVCN trong thời kì hiện nay được thể hiện chính là sự làm phong phú nhận thức xã hội của bản thân để thực hiện công tác giáo dục HS lớp chủ nhiệm

1.1.4.5 GVCN phải không ngừng học tập chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm nhằm đổi mới công tác tổ chức giáo dục, dạy học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở nhà trường phổ thông

Nhà tâm lí học Ph.N.Gonobolin đã đề cập đến như sau “Muốn tổ chức được việc dạy dỗ học sinh xem như là một quá trình phát triển trí tuệ không ngừng của các em, thì bản thân người giáo viên phải là người có trình độ trí tuệ phát triển cao, phải thường xuyên rèn luyện để nâng cao trình độ văn hóa của mình” Trình độ chuyên môn càng vững vàng bao nhiêu thì người GVCN càng tự tin hơn để chủ động và sáng suốt tìm tòi các biện pháp tác động giáo dục HS của mình có hiệu quả nhất [7,17]

Chưa bao giờ việc học tập, bồi dưỡng về tri thức khoa học chuyên môn, về nghiệp vụ sư phạm đối với đội ngũ GV lại được đặt ra bức xúc như hiện nay Tốc

độ phát triển tri thức của xã hội loài người hơn 10 năm qua tăng lên theo cấp số nhân Mục tiêu đào tạo, phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang đặt ra những đòi hỏi cao về chất lượng giáo dục Thực tế đó đòi hỏi đội ngũ thầy cô giáo phải vượt lên để hoàn thiện mình, và chăm

lo, bồi dưỡng đội ngũ các thầy cô giáo về mọi mặt trước hết thuộc về các cấp quản

lí xã hội

Đội ngũ thầy cô giáo nói chung và GVCN lớp nói riêng cần được bồi dưỡng thường xuyên về một số nội dung sau:

+ Những tri thức khoa học công cụ: Tin học, ngoại ngữ

+ Những tri thức mới và khả năng vận dụng tri thức khoa học đang giảng dạy vào cuộc sống

+ Những hiểu biết về khoa học xã hội nhân văn, tri thức về lịch sử, văn hóa, pháp luật, tâm lí học

Trang 18

+ Ngoài những kiến thức xã hội nói chung, để làm tốt công tác chủ nhiệm thì GVCN phải không ngừng học tập và bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm

1.2 QUÁ TRÌNH GIÁO DỤC Ở TIỂU HỌC

1.2.1 Vị trí, tính chất của giáo dục tiểu học

1.2.1.1 Vị trí, vai trò của bậc tiểu học

Bậc tiểu học là bậc đầu tiên và được xác định là bậc nền tảng của hệ thống giáo dục Bậc học này được coi là bậc khó nhất

Bậc học nền tảng là một khái niệm khoa học, có thể hiểu qua một số ý sau:

- Là bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục, dành cho 100% trẻ em từ 6 – 14%, của 100% dân cư Đối với mỗi người, trường tiểu học là nơi con người được chính thức tổ chức học tập, rèn luyện một cách chính quy, nghiêm túc nhất

- Có bản sắc và sắc thái riêng, có tính độc lập tương đối

- Đặt nền tảng vững chắc cho giáo dục phổ thông và toàn bộ hệ thống giáo dục

- Tạo những cơ sở ban đầu cơ bản và bền vững cho trẻ tiếp tục học ở trung học, hình thành những cơ sở bạn đầu của nhân cách

- Dạy học ở tiểu học là một nghề có đặc thù riêng mà những người làm nghề dạy học ở những bậc khác không có hoặc không cần có [13, 70]

1.2.1.2 Tính chất của bậc tiểu học

a Tính chất phổ cập và phát triển

GDTH luôn gắn với cộng đồng nên luôn thể hiện tính phổ cập, đại chúng Một

nền GDTH phát triển sâu rộng, có chất lượng đảm bảo cho trẻ em 6 – 11 tuổi có cơ hội hoàn thành nghĩa vụ học tập tối thiểu để trở thành người công dân, người chiến

sĩ, người lao động, cán bộ tốt

GDTH được thực hiện có kết quả và đóng góp nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài

b Tính dân tộc và hiện đại

Nội dung GDTH được xây dựng dựa trên những thành tựu hiện đại của các khoa học và KHGD Nội dung GDTH phản ánh tinh hoa của nền văn hóa dân tộc,

kế thừa, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống kết hợp với tiếp thu có chọn lọc có

Trang 19

hệ thống giá trị, thành tựu khoa học, văn hóa, nghệ thuật trong kho tàng văn hóa, khoa học của nhân loại phù hợp với trình độ và mục tiêu của bậc học

Trong thời kì mới, GDTH luôn bám sát phương châm khoa học, dân tộc, đại chúng

c Tính nhân văn và dân chủ

Tính chất này được vận dụng và quán triệt trong mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục Thông qua giáo dục phải khơi dậy và phát huy mọi tiềm năng của

HS, đảm bảo quyền cơ bản của trẻ em: quyền được học tập

Tạo điều kiện để mọi người dân có điều kiện thuận lợi, cơ hội tiếp nhận trình

độ học vấn tiểu học phù hợp với lợi ích xã hội, hạnh phúc chính đáng của người dân [13, 72]

1.2.2 Mục tiêu giáo dục tiểu học

1.2.2.1 Mục tiêu chung của giáo dục

Hình thành, phát triển những phẩm chất, năng lực của con người Việt Nam:

tự chủ, năng động, sáng tạo, có tri thức văn hóa, khoa học, công nghệ; có kĩ năng nghề nghiệp, có sức khỏe, có niềm tự hào dân tộc và ý chí vươn lên, có khả năng tự học và thói quen học tập suốt đời; có năng lực đi vào thực tiễn kinh tế - xã hội, góp phần làm cho dân giàu nước mạnh,…[13,72]

1.2.2.2 Mục tiêu giáo dục tiểu học

Hình thành cho HS những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn, lâu dài

về trí tuệ, tình cảm, thể chất và các kĩ năng cơ bản để tiếp tục học ở trung học cơ sở

a Trong quá trình giáo dục cần chú ý các điểm sau:

- Giúp HS rèn luyện được một số thói quen quan trọng đối với chế độ học

tập, sinh hoạt mới ở nhà trường, gia đình

- Giúp HS xác lập được những mối quan hệ tin cậy với thầy cô, bạn bè

- Giúp HS dần dần hình thành được hoạt động học tập với các thành phần

cơ bản là những nhiệm vụ học tập, hành động học tập, sự tự kiểm tra và đánh giá

- Giáo dục cho HS những hành vi, thói quen đạo đức ở mức sơ đẳng, cụ thể trong các mối quan hệ với bản thân, gia đình, nhà trường, cộng đồng quốc gia, nhân loại

Trang 20

- HS cần được giáo dục để trở thành người công dân tốt

- Nhà trường tiểu học phải giáo dục, chuẩn bị nhiều mặt hài hòa cho HS về đức, trí, thể chất, thẫm mĩ và lao động [13, 72]

b Học xong tiểu học, HS phải đạt các yêu cầu sau:

- Có lòng nhân ái theo truyền thống của dân tộc Việt Nam thể hiện ở sự hiếu

thảo với ông bà, cha mẹ; kính trên nhường dưới; giúp đỡ người gặp khó khăn hoạn nạn, yêu quê hương, đất nước,…

- Có kiến thức phổ thông cơ bản tối thiểu về Tiếng Việt, Toán, Tự nhiên –

xã hội, nghệ thuật, sức khỏe và kinh tế gia đình

- Có kĩ năng cơ bản về đọc, viết, nói, nghe, tính toán, ứng xử trong giao tiếp

- Bồi dưỡng cho HS có những hiểu biết về các chuẩn mực đạo đức sơ đẳng

trong các mối quan hệ với bản thân, gia đình, nhà trường, xã hội

- Bồi dưỡng cho các em những xúc cảm, tình cảm tích cực đối với những chuẩn mực hành vi đạo đức [13, 73]

b Giáo dục trí tuệ

- Trang bị cho HS những tri thức sơ đẳng ngày càng có tính hệ thống về tự

nhiên, xã hội, con người và những kĩ năng, kĩ xảo tương ứng

- Phát triển các năng lực trí tuệ, đặc biệt là năng lực sáng tạo

- Hình thành ở HS những cơ sở ban đầu của thế giới quan khoa học

- Rèn luyện cho HS thói quen thích ứng dần dần với hoạt động học tập

- Bồi dưỡng cho HS nhu cầu và hứng thú học tập [13, 74]

Trang 21

c Về giáo dục thể chất

- Giáo dục cho HS biết cách giữ gìn sức khỏe, tập luyện tích cực nhằm phát

triển thể chất và thể lực, nâng cao khả năng học tập, lao động

- Giúp HS hình thành những kĩ năng, kĩ xảo tập luyện, vận động có phương pháp, có kĩ thuật đạt chất lượng cao

- Xây dựng cho HS thói quen và hứng thú tập luyện thường xuyên, có hệ thống

- Biết giữ gìn vệ sinh, sức khỏe, có ý thức tham gia bảo vệ môi trường phù hợp với lứa tuổi

- Đảm bảo cho HS có điều kiện cơ sở tri thức để nắm tri thức quân sự phổ thông, có ý thức tham gia bảo vệ Tổ Quốc

- Giáo dục cho HS những phẩm chất tốt đẹp trong quá trình giáo dục thể chất

d Giáo dục thẩm mĩ

- Bồi dưỡng cho HS những quan niệm sơ đẳng, những chuẩn mực, niềm tin

thẩm mĩ; phát triển năng lực cảm nhận cái đẹp trong tự nhiên, nghệ thuật, đời sống, quan hệ người – người

- Bồi dưỡng cho HS cảm xúc, tình cảm thẩm mĩ

e Giáo dục lao động và kĩ thuật

- Bồi dưỡng cho HS những tri thức sơ đẳng về lao động, ý nghĩa cá nhân và

xã hội của lao động

- Giáo dục cho HS một số phẩm chất về lao động: yêu lao động, quý trọng sản phẩm lao động, tính kỉ luật, tính tiết kiệm

- Rèn luyện cho HS một số kĩ năng lao động đơn giản có liên quan đến: lao động tự phục vụ, lao động giúp đỡ gia đình, giúp đỡ nhà trường, giúp đỡ xã hội

1.3 ĐẶC ĐIỂM HỌC SINH TIỂU HỌC

1.3.1 Quá trình nhận thức

1.3.1.1 Tri giác

Tri giác của HSTH mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết và mang tính không chủ động Do đó, các em phân biệt các đối tượng còn chưa chính xác, dễ mắc

Trang 22

sai lầm, có khi còn lẫn lộn Ở các lớp đầu cấp, tri giác thường gắn liền với hành động, hoạt động thực tiễn Những gì phù hợp với nhu cầu của các em, những gì các

em thường gặp trong cuộc sống và gắn với hoạt động của các em, những gì giáo viên chỉ dẫn thì các em mới tri giác được Ở các lớp cuối cấp (lớp 4, lớp 5) tri giác của các em mang tính mục đích và có phương hướng rõ ràng hơn [12, 47]

Tính xúc cảm thể hiện rõ trong tri giác Những đặc điểm, dấu hiệu nào gây cho các em nhiều xúc cảm thì các em tri giác trước hết Vì vậy, những vật trực quan, màu sắc sặc sỡ, bắt mắt, sinh động thì các em tri giác tốt hơn, gây ấn tượng mạnh với các em Ở lứa tuổi này, các em tri giác về không gian và thời gian còn hạn chế

Tri giác không tự bản thân nó phát triển được Trong quá trình học tập, khi tri giác trở thành hoạt động có mục đích đặc biệt, trở nên phức tạp và sâu sắc, trở thành hoạt động có phân tích, có phân hóa hơn thì tri giác sẽ mang tính chất của sự quan sát có tổ chức Trong sự phát triển của tri giác, vai trò của giáo viên Tiểu học là rất lớn

1.3.1.2 Chú ý

Ở các lớp đầu cấp, chú ý không chủ định chiếm ưu thế, các em thường chú ý đến những gì mới lạ, thấy hấp dẫn, các trực quan nổi bật, rực rỡ Nắm được đặc điểm này, người giáo viên tiểu học thường sử dụng đồ dùng dạy học rất phong phú như tranh, ảnh, biểu đò, mô hình, vật thật… Đối với lứa tuổi nhỏ thì trực quan dạy học là rất quan trọng vì đặc điểm chú ý mới được hình thành ở mức độ thấp

Đối với những lớp lớn hơn trong bậc tiểu học thì mới xuất hiện chú ý có chủ định nhưng còn đang ở mức độ thấp và ngày càng hoàn thiện hơn để đáp ứng nhu cầu học tập đề ra Sự tập trung chú ý của các em còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố Vì vậy, người giáo viên cần phải hiểu, quan tâm và nhất là cần khéo léo đưa các em vào bài học một cách nhẹ nhàng và thoải mái Sự khen ngợi, khuyến khích, tuyên dương cũng là một động lực, một tác động khiến các em chú ý hơn vào bài học Đặc biệt, cường độ học tập quá chậm hoặc quá nhanh cũng sẽ ảnh hưởng xấu đến khả năng tập trung chú ý của các em

Trang 23

1.3.1.3 Trí nhớ

Do hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất ở tiểu học tương đối chiếm ưu thế nên trí nhớ trực quan – hình tượng phát triển hơn trí nhớ từ ngữ - lôgic Các em ghi nhớ và giữ gìn chính xác những sự vật, hiện tượng cụ thể nhanh hơn và tốt hơn những định nghĩa, những lời giải thích dài dòng Với những học sinh đầu cấp có khuynh hướng ghi nhớ máy móc bằng cách lặp đi lặp lại nhiều lần, có khi chưa hiểu những mối liên hệ, ý nghĩa của tài liệu học tập đó Vì vậy, các em thường học thuộc lòng tài liệu học tập theo đúng từng câu, từng chữ mà không sắp xếp, sửa đổi lại hay diễn đạt bằng lời của mình Với những học sinh cuối cấp, trí nhớ của các em dần dần thoát khỏi những biểu tượng cụ thể mà được thay thế bằng những khái niệm, cùng với sự phát triển của chức năng sinh lí của bộ não, chúng được khái quát hóa thành những khái niệm từ đó hình thành nên những kĩ năng, kĩ xảo vận động

1.3.1.4 Tư duy

Tư duy của trẻ em mới đến trường là tư duy cụ thể, mang tính hình thức bằng cách dựa vào đặc điểm trực quan của những đối tượng và hiện tượng cụ thể [ 12, 48]

Nhờ ảnh hưởng của việc học tập, HSTH dần dần chuyển từ mặt nhận thức các mặt bên ngoài của sự vật, hiện tượng đến nhận thức các thuộc tính bên trong và dấu hiệu bản chất của sự vật, hiện tượng Điều này tạo khả năng tiến hành những so sánh, khái quát hóa đầu tiên, xây dựng những suy luận sơ đẳng Trên cơ sở đó, học sinh dần dần học được những các khái niệm khoa học

Kĩ năng phân biệt các dấu hiệu và tách ra các thuộc tính bản chất không phải

dễ gì thực hiện được ngay Học sinh tiểu học trước hết tập trung vào tri giác những thuộc tính bên ngoài và những dấu hiệu này chưa chắc chắn là đã là bản chất

Khi khái quát hóa, học sinh tiểu học (lớp 1, 2) thường quan tâm đến dấu hiệu trực quan, bề ngoài có liên quan đến chức năng của đối tượng tức là công dụng và chức năng Nhờ hoạt động học, nhận thức đã phát triển, học sinh lớp 3, 4 đã biết xếp bậc các khái niệm, phân biệt khái niệm rộng hơn, hẹp hơn…

Hoạt động phân tích – tổng hợp còn sơ đẳng, học sinh các lớp đầu cấp chủ yếu tiến hành phân tích – trực quan – hành động khi tri giác trực tiếp đối tượng Học

Trang 24

sinh các lớp cuối cấp có thể phân tích đối tượng mà không cần hành động thực tiễn đối với đối tượng đó

Đặc điểm tư duy của HSTH không có ý nghĩa tuyệt đối mà chỉ có ý nghĩa tương đối Quá trình học tập sẽ giúp cho tư duy của các em thay đổi rất nhiều Sự phát triển của tư duy sẽ song song với sự phát triển trí tuệ Quá trình dạy học sẽ là nền móng để các em có một đặc điểm tư duy tốt

1.3.1.5 Tưởng tượng

Tưởng tượng là một trong những quá trình quan trọng Tưởng tượng của học sinh phát triển không đầy đủ thì nhất định gặp khó khăn trong học tập Tưởng tượng của HSTH được hình thành và phát triển trong hoạt động học và các hoạt động khác của các em

Tưởng tượng của HSTH đã phát triển và phong phú hơn so với trẻ chưa đến trường Đây là lứa tuổi thơ mộng giúp cho tưởng tượng phát triển Tuy vậy, tưởng tượng của các em còn tản mạn, ít có tổ chức Hình ảnh của tưởng tượng còn đơn giản hay thay đổi, chưa bền vững Càng về những năm cuối bậc học, tưởng tượng của các em càng gần hiện thực hơn và phản ánh thực tế một cách đầy đủ và chính xác hơn

Tưởng tượng tái tạo từng bước được hoàn thiện gắn liền với những hình tượng đã tri giác trước, hoặc tạo ra những hình tượng phù hợp với những điều mô tả, hình vẽ, sơ đồ…Một đặc điểm cần lưu ý về trí tưởng tượng của học sinh tiểu học mà đôi khi người lớn dễ hiểu nhầm rằng đó là biểu hiện của sự nói dối, Đôi khi trẻ say

mê một sự việc nào đó một cách không chủ định và hoàn toàn không chủ tâm thêm hay bớt vào câu chuyện của mình vì nó muốn người khác chú ý, thích thú câu chuyện của nó hơn [12, 51]

1.3.2 Nhân cách của học sinh Tiểu học

1.3.2.1 Tính cách

Tính cách của các em được hình thành từ rất sớm Ta có thể quan sát thấy có

em trầm lặng, mạnh dạn hay nhút nhát Song những nét tính cách này mới được hình thành, chưa ổn định, có thể thay đổi dưới tác động của giáo dục gia đình, nhà

trường [12, 56]

Trang 25

Các nét tính cách chưa hình thành rõ ràng Đôi khi ta có thể nhầm lẫn các trạng thái tâm lí nhất thời là những nét tính cách Hành vi của học sinh Tiểu học có tính xung động – các em có khuynh hướng hành động ngay lập tức dưới ảnh hưởng của kích thích bên trong và bên ngoài Do đó, hành vi của các em dễ có tính tự phát

Tính cách của HSTH thường có đặc điểm là bướng bỉnh và thất thường Đây

là hình thức độc đáo để phản ứng lại yêu cầu của người lớn mà các em cho là cứng nhắc, chống lại sự hy sinh cái nó “muốn” cho cái nó “phải”

Phần lớn HSTH có nhiều nét tính cách tốt như: lòng vị tha, tính hồn nhiên, tính chân thực, lòng thương người…Tính bắt chước cũng là một đặc điểm quan trọng của lứa tuổi này Các em thích bắt chước hành vi, cử chỉ… của các nhân vật trong phim, truyện… Tuy nhiên, tính bắt chước là con dao 2 lưỡi, bởi trẻ bắt chước

cả cái tốt lẫn cái xấu

HSTH ở nước ta sớm có thái độ và thói quen tốt đối với lao động Các em học sinh ở nông thôn đều muốn giúp cha mẹ trong lao động của gia đình, muốn lao động trong tập thể đông vui và có ý nghĩa xã hội Lao động đã rèn cho các em những phẩm chất tốt đẹp như tính kỉ luật, sự cần cù, óc tìm tòi, khả năng sáng tạo…

1.3.2.2 Tình cảm

Tình cảm là một mặt rất quan trọng trong đời sống tâm lí và nhân cách Đối với HSTH tình cảm có vị trí đặc biệt và nó là khâu trọng yếu gắn liền nhận thức với hành động của trẻ Tình cảm tích cực không chỉ kích thích học sinh nhận thức mà còn thúc đẩy trẻ em hoạt động Tình cảm, xúc cảm của HSTH có những đặc điểm sau:

- Đối tượng gây xúc cảm cho HSTH thường là những sự vật, hiện tượng cụ thể, sinh động Xúc cảm, tình cảm của các em gắn liền với hình ảnh trực quan, hình ảnh cụ thể

- HSTH dễ xúc cảm, xúc động và khó kìm hãm xúc cảm của mình Tính dễ xúc cảm, xúc động thể hiện trước hết ở các quá trình nhận thức: Tri giác, tưởng tượng, tư duy Hoạt động trí tuệ của các em đượm màu sắc xúc cảm Học sinh dễ xúc cảm đồng thời hay xúc động HSTH còn chưa biết kiềm chế những tình cảm của

Trang 26

mình, chưa biết kiểm tra sự thể hiện tình cảm ra bên ngoài Các em bộc lộ tình cảm của mình một cách hồn nhiên, chân thật.[8, 60]

- Tình cảm của HSTH còn mong manh, chưa bền vững, chưa sâu sắc Các em đang ưa thích đang ưa thích đối tượng này nhưng nếu có đối tượng khác hấp dẫn hơn, đặc biệt hơn thì các em dễ dàng bị lôi cuốn vào đối tượng mới, quên mất đối tượng cũ Do đặc điểm này mà tình bạn của các em mau chống được thiết lập Tình cảm của các em ở lứa tuổi này chưa sâu sắc, bền vững và ổn định như người lớn vì những ấn tượng do cảm xúc của các em đem lại còn phải được củng cố, liên kết với nhau, thể nghiệm trong các hoạt động thì mới hình thành nên được những tình cảm bền vững

Nhu cầu nhận thức là một trong những nhu cầu tinh thần và nó có vai trò quan trọng đối với sự phát triển trí tuệ của HSTH Nếu các em không có nhu cầu nhận thức thì cũng chẳng có tính tích cực trí tuệ Vào Tiểu học nếu không có nhu cầu nhận thức, học sinh sẽ ngĩ mình học vì cha mẹ, thầy cô giáo hay vì một lí do nào khác chứ không phải vì mình Khi học sinh có nhu cầu nhận thức nhưng nhu cầu đó

không được thỏa mãn thì các em sẽ thấy khó chịu [12, 55]

Nhu cầu nhận thức là nguồn năng lượng tinh thần để định hướng và tiến lên trong nhiều tình huống khó khăn, trên con đường khám phá kho tàng tri thức của nhân loại Nhu cầu nhận thức của HSTH được hình thành và phát triển nhờ các hoạt động đa dạng trong gia đình, nhà trường và xã hội Trong phạm vi nhà trường cần giúp trẻ đạt kết quả cao trong học tập ngay từ lớp 1, thành tích dù nhỏ nhưng sẽ tạo cho trẻ niềm vui và niềm tin vào sức lực cũng như trí tuệ của mình

Trang 27

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP 4, 5 Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC HẢI VÂN – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

2.1 ĐẶC ĐIỂM TRƯỜNG TIỂU HỌC HẢI VÂN

2.1.1 Địa điểm Trường Tiểu học Hải Vân

Trường Tiểu học Hải Vân có cơ sở chính đặt ở khối phố Kim Liên, phường Hoà Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu nằm dưới chân đèo Hải Vân, nằm trong khu dân

cư Trước đây, đại đa số nhân dân làm nghề biển và sản xuất pháo Sau khi có chủ trương của UBND thành phố Đà Nẵng về việc qui hoạch để xây dựng khu công nghiệp, bộ phận nhân dân do chưa kịp thời thích nghi với công ăn việc làm mới nên đời sống còn nhiều khó khăn Từ khi chia tách địa giới hành chính, phường Hoà Hiệp Bắc đã có những Nghị quyết cụ thể để xây dựng giáo dục ở địa phương trong

đó có việc xây dựng trường TH Hải Vân

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Trường Tiểu học Hải Vân

Hiệu trưởng: Thầy Nguyễn Thanh Tuấn

Hiệu phó: Cô Trần Thị Nhàn

Trường được chia làm 4 tổ chuyên môn Gồm:

* Tổ Văn phòng: gồm 6 GV ( 1 văn thư, 1 kế toán, 1 y tế, 1 thư viện, 2 bảo vệ)

* Tổ 1 & 2: gồm 6 GV Tổ trưởng là cô Lê Thị Ánh Tuyết

Trang 28

2.1.3 Các khối lớp

Trường có tổng số học sinh là 442 em ( có 13 học sinh khuyết tật chiếm 2,94% số học sinh toàn trường), trong đó tới 216 em là nữ chiếm 48,8% số học sinh toàn trường Hiện nay trường có tất cả 15 lớp được chia làm 5 khối

+ Khối 1: gồm 3 lớp với tổng số học sinh là 97 em ( có 3 em là học sinh khuyết tật: 2 em lớp 1/2 và 1 em lớp 1/3), số học sinh nữ là 44 em chiếm 45,3% học sinh toàn khối

+ Khối 2 : gồm 3 lớp với tổng số học sinh là 85 em( có 8 học sinh khuyết tật:

3 em ở lớp 2/1, 2 em ở lớp 2/2 và 3 em ở lớp 2/3), số học sinh nữ là 36 em chiếm

42,3% học sinh toàn khối

+ Khối 3 : gồm 3 lớp với tổng số học sinh là 80 em, số học sinh nữ là 40 em chiếm 50% học sinh toàn khối

+ Khối 4 : gồm 3 lớp với tổng số học sinh là 94 em, số học sinh nữ là 46 em chiếm 48,9% học sinh toàn khối

+ Khối 5 : gồm 5 lớp với tổng số học sinh là 87 em ( có 3 em học sinh khuyết tật: 1 em lớp 5/1, 1 em lớp 5/2 và 1 em lớp 5/3), số học sinh nữ là 50 em chiếm 58,1% học sinh toàn khối

2.2 TÌM HIỂU THỰC TẾ VỀ CÔNG TÁC GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM LỚP

4, 5 Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC HẢI VÂN – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

* Tổ 4 & 5 gồm: 6 người Tổ trưởng là cô Lê Thị Cúc

- 3 GV dạy khối lớp 4 Gồm có:

Cô Lê Thị Cúc chủ nhiệm lớp 4.1

Cô Dương Thị Mỹ Thanh chủ nhiệm lớp 4.2

Cô Lê Thị Duyến chủ nhiệm lớp 4.3

- 3 GV dạy khối lớp 5 Gồm có:

Cô Trương Thị Diệu Huyền chủ nhiệm lớp 5.1

Cô Đoàn Thị Thanh Tuyền chủ nhiệm lớp 5.2

Cô Đinh Thị Thu Ngà chủ nhiệm lớp 5.3

Trang 29

Bảng 2.1 - Trình độ chuyên môn của GVCN lớp 4, 5 Trường Tiểu học

Vào ngành

Trình độ chuyên môn

Trình độ chính trị

* Đối tượng điều tra

GV đang làm chủ nhiệm lớp 4 và 5 ở trường Tiểu học Do điều kiện khách quan nên tôi chỉ tiến hành điều tra tại Trường Tiểu học Hải Vân – Hòa Hiệp Bắc - quận Liên Chiểu – Thành phố Đà Nẵng

* Nội dung điều tra

+ Nhận thức của GVCN về công tác chủ nhiệm lớp

+ Nhận thức của GVCN về những thuận lợi và khó khăn trong công tác chủ nhiệm lớp

Trang 30

* Phương pháp điều tra

Nội dung mà tôi đưa ra trên đây được thể hiện dưới dạng câu hỏi trong phiếu điều tra ankét gửi tới tận tay GV Những số liệu thu được qua phiếu điều tra được tôi xử lí bằng phương pháp thống kê, trên cơ sở đó khái quát được thực trạng Bên cạnh đó, nhằm thu được kết quả điều tra khách quan và chính xác tôi còn sử dụng phương pháp khác, đó là phương pháp quan sát và phương pháp đàm thoại Quan sát thông qua dự giờ lớp, quan sát những công việc GVCN đã làm Đàm thoại: Để thu thập những thông tin cần thiết, tôi đã tiến hành đàm thoại trực tiếp với một số

GV như cô Đinh Thị Thu Ngà, cô Lê Thị Cúc, cô Trương Thị Diệu Huyền, cô Đoàn Thị Thanh Tuyền,…Các GV đã đưa ra những biện pháp giáo dục, nêu những thuận lợi và khó khăn trong quá trình chủ nhiệm của mình

Việc thăm dò mà tôi thực hiện ở đây bước đầu giúp tôi có thể biết được thực trạng nhận thức và thực tế của công tác chủ nhiệm ở trường Tiểu học

* Kết quả điều tra

Qua các phương pháp điều tra đã sử dụng, tôi đã thu được những kết quả như sau:

Tổng số phiếu phát ra: 6

Tổng số phiếu thu lại: 6

Câu 1: Nhận thức của GVCN về công tác chủ nhiệm

Qua kết quả thăm dò, tôi thấy rằng 6/6 GV đều chọn tất cả các ý trên bao gồm nghĩa vụ, quyền lợi, trách nhiệm

Câu 2: Nhận thức của GVCN về yếu tố quan trọng để công tác chủ nhiệm đạt hiệu quả cao

Qua kết quả điều tra, tôi thấy rằng có 5/6 GV đều cho rằng để công tác chủ nhiệm đạt hiệu quả cao thì yếu tố quan trọng nhất là lòng yêu nghề, mến trẻ Có 1

GV chọn yếu tố quan trọng là thời gian công tác

Câu 3: Những thuận lợi trong quá trình làm công tác chủ nhiệm

Qua điều tra cho thấy, đa số GVCN cho biết những thuận lợi trong quá trình làm công tác chủ nhiệm là: Được sự quan tâm, giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà trường, các tổ chức đoàn thể; HS trong lớp sống liên cư, biên địa; Việc thăm lớp dự

Trang 31

giờ, rút kinh nghiệm giờ dạy được quan tâm tổ chức thường xuyên, giúp GV thâm nhập chuyên môn và học hỏi lẫn nhau về phương pháp giảng dạy cũng như về công tác chủ nhiệm

Câu 4: Những khó khăn trong quá trình làm công tác chủ nhiệm

Bên cạnh thuận lợi thì quá trình chủ nhiệm của các GVCN cũng gặp không ít những khó khăn: 6/6 GV đều cho rằng việc học hành của HS ít được phụ huynh quan tâm đúng mức; Không có nhiều thời gian để quan tâm đúng mức đối với những HS có hoàn cảnh đặc biệt trong lớp Ngoài ra, một số GVCN cho biết thêm: Lớp học có HS khuyết tật nên việc việc chọn phương pháp giáo dục HS cũng gặp nhiều khó khăn

Từ những thuận lợi và khó khăn về công tác chủ nhiệm của GVCN đã được điều tra trên, nên việc cần có một GVCN có lòng nhiệt huyết, yêu nghề mến trẻ, luôn nhiệt tình với công tác chủ nhiệm giúp cho HS học tập tốt, rèn luyện đạo đức, hình thành nhân cách là rất quan trọng Người GVCN phải đưa ra những biện pháp giáo dục nhằm mang lại hiệu quả cao nhất về cả hai mặt: hạnh kiểm và học lực

Như vậy, lớp học nào cũng cần có một GVCN – là người thay mặt hiệu

trưởng quản lý lớp học GV là một chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tư tưởng văn

hoá, có nhiệm vụ bồi dưỡng và rèn luyện phẩm chất của một con người mới, bên cạnh truyền thụ những kiến thức trong sách giáo khoa, người GV còn có một nhiệm

vụ hết sức quan trọng, đó là thực hiện công tác chủ nhiệm lớp, biết dìu dắt, hướng dẫn HS rèn luyện về mặt học tập cũng như rèn luyện đạo đức Do vậy trình độ tổ chức và điều khiển quá trình dạy học và giáo dục phải phù hợp với lứa tuổi và đặc điểm tâm sinh lý đối tượng

Công tác chủ nhiệm muốn thành công, hoạt động của người thầy giáo phải mang tính nghệ thuật, phải có tính sáng tạo, khéo léo với từng HS, từng hoàn cảnh, phong cách GV khi trình bày một vấn đề phải có tính khoa học và sư phạm, tạo được sự thu hút và thuyết phục Muốn HS trở thành HS ngoan, và có tinh thần học tập thì trước hết người GV phải đưa tập thể lớp mình thành một lớp tiên tiến, một chi đội vững mạnh, một tập thể gồm những thành viên giàu lòng nhân ái, biết yêu thương giúp đỡ lẫn nhau, có tinh thần tự quản tốt

Trang 32

2.2.1 Tìm hiểu thực tế về công tác chủ nhiệm của GVCN khối lớp 4 Trường Tiểu học Hải Vân

2.2.1.1 Tìm hiểu công tác chủ nhiệm lớp 4.1 của cô Lê Thị Cúc

a Sơ lược về bản thân

Đây là một GV có tuổi đời công tác lâu năm, có rất nhiều kinh nghiệm, dày dặn trong công tác chủ nhiệm lớp tại trường Tiểu học Hải Vân – quận Liên chiểu – thành phố Đà Nẵng Cô là tổ trưởng tổ chuyên môn 4, 5

- Tuổi đời: 48 tuổi, qua 26 năm công tác chủ nhiệm

- Chủ nhiệm và giảng dạy lớp 4.1 trường Tiểu học Hải Vân – quận Liên Chiểu – thành phố Đà Nẵng

- Năm công tác: 1987

- Lớp chủ nhiệm: Lớp 4.1 Sĩ số 28 học sinh trong đó có 12 nữ, 16 nam

- Thành tích của lớp: 8 HS giỏi, 15 HS khá, 3 HS trung bình, 2 yếu

b Kết quả công tác chủ nhiệm trong quá khứ

Theo cô cho biết, trong suốt quá trình làm công tác chủ nhiệm thì hầu như năm nào cô cũng xây dựng được một tập thể lớp tiên tiến, chi đội mạnh cấp trường

và các lớp cô chủ nhiệm luôn luôn đạt thứ hàng cao trong trường, luôn luôn được sự khen ngợi của Ban giám hiệu nhà trường Bản thân cô luôn đạt danh hiệu GVCN giỏi

c Lập kế hoạch chủ nhiệm của cô

Theo cô, muốn xây dựng một tập thể lớp hoạt động có hiệu quả phải tuân theo các bước sau:

- Tìm hiểu, phân loại HS lớp chủ nhiệm để nắm được sơ bộ tình hình đặc điểm của lớp như: độ tuổi, tỷ lệ nam nữ, HS khuyết tật, hoàn cảnh gia đình như thế nào? đã qua lớp mẫu giáo hay chưa đối với HS lớp 1 hoặc học lực các năm trước ra sao đối với HS lớp khác? bố mẹ làm nghề gì? đã chuẩn bị vào năm học mới như thế nào? đồ dùng học tập đã đầy đủ chưa? Tìm hiểu về thể chất, sinh lý của từng HS

- Sau đó lại tiếp tục điều tra về năng lực, sở trường của từng HS để phân loại đối tượng và có kế hoạch rèn luyện ngay từ đầu Đặc biệt cần chú ý HS cá biệt, những HS yếu, hoang nghịch, những HS có hoàn cảnh khó khăn, những HS khuyết

Trang 33

tật Phân loại năng lực theo quy định và dành thời gian giáo dục các đối tượng nào sao cho có hiệu quả trong quy trình dạy học nhằm khuyến khích cho các em hòa nhập cộng đồng

- Trên cơ sở đã điều tra, GVCN định hướng cho các em bầu ra đội ngũ cán

bộ lớp gồm những HS ngoan, nhanh nhẹn, hoạt bát, chăm học để phân công làm các công việc như lớp trưởng, lớp phó phụ trách các mặt và tổ trưởng để giúp GV trong quá trình quản lý lớp học trong giờ học và tự quản

- Tiến hành phân chia tổ, GVCN phải để ý đến việc bố trí các thành viên trong tổ có HS giỏi, khá, trung bình, yếu, số HS nam nữ, bàn có HS khá, kém

- Sau khi hoàn thành công tác tổ chức lớp, GVCN đề ra phương pháp xây dựng tập thể như: GVCN phải phát huy hết chức năng của 15 phút đầu giờ để kiểm tra dụng cụ học tập, kiểm tra bài tập hoặc nhắc nhở, dặn dò HS những vấn đề cần thiết trong ngày học, tuần học Công việc này lúc đầu GVCN tự làm nhưng qua ngày thứ hai của năm học thì HS phải tự làm

- Trong quá trình thực hiện GVCN luôn luôn chỉ đạo sát sao, theo dõi, hướng dẫn cụ thể hơn cho đội ngũ cán bộ lớp vì đôi ngũ cán bộ lớp có vững chắc thì tập thể mới tiến bộ lên được

- GVCN cần có kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tự quản của lớp để các

em hiểu được nhiệm vụ và trách nhiệm của mình đối với tập thể

- Phải xây dựng cho các em tinh thần đoàn kết, thực sự thương yêu giúp đỡ lẫn nhau Tổ chức các trò chơi thi văn nghệ để tạo tính mạnh dạn và đoàn kết lẫn nhau

- GVCN cần chú ý về việc phân chia tổ nhóm GVCN cũng cần chú ý phân chia chỗ ngồi hợp lí Nam – nữ - học lực đồng đều, sức khỏe đồng đều để các em thi đua trong quá trình học tập, rèn luyện cũng như hưởng ứng các phong trào như: thi

vở sạch chữ đẹp, sinh hoạt đội sao trong nhà trường

- Phân chỗ ngồi hợp lí, luôn thay đổi chỗ ngồi trong một học kì hoặc nửa học

kì để HS dễ dàng tiếp thu bài nhanh Dựa trên kế hoạch đầu năm của trường để xây dựng kế hoạch chủ nhiệm cho toàn năm, từng tháng, từng tuần, phù hợp với tình hình của lớp, đăng kí chỉ tiêu thi đua các tháng, các kì

Trang 34

- GVCN là người chịu trách nhiệm chính trong mọi hoạt động của lớp nên điều chủ yếu là tìm mọi phương pháp dạy học phù hợp nhất, hiệu quả nhất nhằm kích thích tính tò mò, sáng tạo của HS

- Kết hợp nhuần nhuyễn giữa hoạt động chủ đạo của thầy và hoạt động tự chiếm lĩnh tri thức của HS nhằm nâng cao hiệu quả của tiết học

- Theo dõi sự tiến bộ hằng ngày của HS để có biện pháp động viên, khen ngợi những tiến bộ của HS Trách phạt nhẹ nhàng, tình cảm đối với biểu hiện sai trái, nhưng đồng thời cũng cần nghiêm khắc đối với những HS vi phạm khuyết điểm để các em sửa chữa

- Trong một tập thể lớp, GVCN cần biết xây dựng, lập kế hoạch rõ ràng, luôn tìm tòi sáng tạo những biện pháp hay để giáo dục HS

- Để làm tốt công tác chủ nhiệm lớp, GV phải thu xếp công việc nhà đến trường sớm hơn để tiện việc theo dõi HS và GVCN cũng nên gặp gỡ hội phụ huynh

để trao đổi, theo dõi Kết hợp giữa gia đình và nhà trường để nắm bắt được tình hình học tập của từng em và được sự ủng hộ của hội phụ huynh

- Ngay từ đầu năm học GV phải có kế hoạch vận động phụ huynh góp tiền để may đồng phục Về việc quy định vở của HS phải đồng loại Bên cạnh giảng dạy tốt những bộ môn của mình phụ trách, GVCN cần phải kiểm tra HS của mình khi học các môn khác bằng cách liên hệ với GV bộ môn để phối hợp với GV bộ môn nhắc nhở các em đưa đầy đủ dụng cụ học tập, ý thức để hoàn thành tốt chương trình một cách toàn diện

- GVCN cũng phải theo sát kế hoạch của đội, sao Chỉ đạo các sao nhi đồng kết hợp với đội thiếu niên hoàn thành tốt các phong trào thi đua như đóng góp vì bạn nghèo, ủng hộ thiên tai, bão lụt, mua tăm …

- GVCN cần đánh giá đúng năng lực thực sự của các em về đạo đức, học lực

để từ đó có biện pháp giáo dục thích hợp

2.2.1.2 Tìm hiểu công tác chủ nhiệm lớp 4.3 của cô Lê Thị Duyến

a Sơ lược về bản thân

Cũng giống như cô Lê Thị Cúc, cô Lê Thị Duyến cũng là một giáo viên chủ nhiệm lâu năm

Trang 35

- Tuổi đời: 39 tuổi

- Chủ nhiệm lớp 4.3 trường Tiểu học Hải Vân – quận Liên Chiểu – thành phố

Đà Nẵng

- Năm công tác: 1995

- Lớp chủ nhiệm: Lớp 4.3 Sĩ số 29 học sinh trong đó có 14 nữ và 15 nam

- Thành tích của lớp: 8 HS giỏi, 14 HS khá, 5 HS trung bình, 2 yếu

b Kết quả công tác chủ nhiệm trong quá khứ

Qua nhiều năm làm công tác chủ nhiệm, cô đã đạt được một số thành tích đó

là năm nào cô cũng xây dựng được một tập thể lớp đoàn kết, biết giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ Được hội đồng nhà trường khen là GVCN giỏi, tận tình có nhiều sáng kiến, biện pháp tốt trong việc xây dựng và quản lí lớp tốt, đặc biệt có nhiều kinh nghiệm trong việc cảm hóa HS cá biệt

c Lập kế hoạch chủ nhiệm của cô

- Trước hết phải tìm hiểu hoàn cảnh gia đình của các thành viên trong lớp, chỗ ở, khả năng học tập, đạo đức, độ tuổi

- Người GVCN lớp ở tiểu học vừa là một người cô, người mẹ luôn chăm sóc từng bữa ăn, giấc ngủ của các em Những em HS lớp một phải cầm bút uốn nắn cho các em từng nét chữ, cách đọc, cách viết

- GVCN cần hướng dẫn tận tình chu đáo cho từng em cán bộ lớp để các em hiểu công việc của mình cần làm để xây dựng tập thể lớp học tốt

- Về 15 phút đầu giờ là quan trọng nhất, GVCN cần phải có mặt để kiểm tra

sỉ số, đồng phục, đồ dùng học tập hoặc văn nghệ GVCN phân cho các tổ trưởng đi kiểm tra chéo lẫn nhau

- Hướng dẫn HS tự tổ chức các buổi ca múa hát tập thể, nghi thức đội Cần nhiệt tình quan tâm để các em tham gia tốt các hoạt động như : Đền ơn đáp nghĩa, giúp đỡ những bạn có hoàn cảnh khó khăn

- Đối với lứa tuổi HS lớp một, GVCN luôn cần có sự gần gũi, thân thiện, quan tâm những HS cá biệt, không được xa lánh các em Để từ đó các em thấy mình vẫn được tôn trọng và vẫn được chấp nhận, vẫn được khen thưởng như các bạn khi

có sự cố gắng

Trang 36

- Với những HS có hoàn cảnh khó khăn thì GVCN cũng cần quan tâm, vận động các HS trong lớp tham gia ủng hộ bạn

- Sau khi hoàn thành công tác tổ chức lớp thì GVCN đề ra các phương pháp xây dựng tập thể lớp như: GVCN phải phát huy hết chức năng của 15 phút đầu giờ bằng các kiểm tra dụng cụ học tập, bài tập, tập văn nghệ hoặc phổ biến các nhiệm

vụ trong tuần, tháng

- Trong quá trình thực hiện GVCN luôn luôn chỉ đạo sát sao, theo dõi, hướng dẫn để HS có sự thân thiện, gần gũi với GVCN

- GVCN phải xây dựng cho các em tinh thần đoàn kết, thương yêu và giúp

đỡ lẫn nhau Tổ chức các trò chơi, thi văn nghệ, tạo tính mạnh dạn, đoàn kết, thương yêu lẫn nhau

- Đối với những HS cá biệt thì cần phải tạo nên tình cảm gần gũi, thân thiện với các em để các em bớt mặc cảm và vươn lên học tốt hơn

- Cần quan tâm đến hoàn cảnh gia đình của các em Những gia đình có điều kiện khó khăn thì vận động các tổ chức, đoàn thể, tập thể giúp đỡ

- Trong quá trình giảng dạy cũng cần tìm tòi những phương pháp dạy học hay kích thích sự hứng thú học tập của các em

- Kết hợp chặt chẽ với các lực lượng giáo dục để giáo dục HS: tổ chức các buổi họp phụ huynh, kết hợp giữa nhà trường với phụ huynh để tạo mối quan hệ

- Liên lạc với hội khuyến học địa phương để kịp thời biểu dương, khen thưởng các em học tập khá giỏi Căn dặn, khuyên bảo, khuyến khích các HS yếu kém để các em cố gắng hơn

- Trong quá trình học tập, GV luôn biểu dương, khen ngợi những thành tích trong học tập và lao động của các em Đồng thời phải có hình thức trách phạt nhẹ nhàng những HS yếu kém để các em phấn đấu học tốt hơn

- GVCN cũng cần phải có cách nhận xét, đánh giá năng lực học tập của các

em để điều chỉnh cách dạy học phù hợp Đồng thời GVCN cần phát hiện để bồi dưỡng những HS giỏi, những HS có năng lực về Toán, Tiếng Việt để các em phát huy hết tư duy, sáng tạo của mình

Trang 37

2.2.2 Kết quả đã đạt được về công tác chủ nhiệm của GVCN khối lớp 4 Trường Tiểu học Hải Vân

Tỉ lệ Số học

sinh

học sinh

Trang 38

Biểu đồ 2.1 Biểu đồ biểu thị kết quả học lực đầu năm của lớp 4.1 và 4.3

Trường Tiểu học Hải Vân

Biểu đồ 2.2 Biểu đồ biểu thị kết quả học lực cuối kì I của lớp 4.1 và 4.3 Trường

Trang 39

Qua đó tôi thấy cách hướng dẫn và làm việc của cô Cúc cặn kẽ, sát với tình hình thực tế hơn, cô đã có những biện pháp cụ thể hơn trong việc phân công HS kèm nhau Còn cô Duyến đã đưa ra các phương pháp giáo dục thích hợp cho từng đối tượng HS Đặc biệt là HS cá biệt, HS có điều kiện khó khăn để sớm hòa đồng với lớp và có sự tiến bộ rõ rệt Vì vậy, kết quả đạt được của cô Lê Thị Cúc (chủ nhiệm lớp 4.1) cao hơn cô Lê Thị Duyến (chủ nhiệm lớp 4.3), cụ thể như sau:

Học lực lớp 4.1 cuối kì I so với đầu năm: Giỏi tăng 4%, khá tăng 14%, trung bình giảm 14%, yếu giảm 4% Trong khi đó, học lực lớp 4.3 cuối kì I so với đầu năm như sau: Giỏi tăng 4%, khá tăng 10%, trung bình giảm 11%, yếu giảm 3%

Qua việc tìm hiểu kinh nghiệm của hai cô giáo chủ nhiệm ta thấy khác nhau

là do tình hình đặc điểm mỗi lớp khác nhau: học lực, năng lực, điều kiện gia đình cụ thể của từng lớp Tôi thấy hai tập thể 4.1 và 4.3 có sự khác nhau Lớp 4.1 có nhiều

HS gia đình còn khó khăn, có nhiều HS cá biệt Còn HS ở lớp cô Duyến có điều kiện hơn nên hai tập thể mỗi GV đã có những phương pháp giáo dục khác nhau Có

Trang 40

thể cô này áp dụng biện pháp – hình thức này đạt kết quả tốt, nhưng có những phương pháp, cách thức lại không thể áp dụng được với lớp kia

Tóm lại, phương pháp giáo dục, chủ nhiệm của hai cô có sự khác nhau nhưng với tất cả tình cảm tha thiết với nghề, lòng yêu nghề mến trẻ Ở hai cô đã xây dựng một tập thể học tập tốt, có ý thức đoàn kết, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau Trên

cơ sở đó cả hai GVCN đã bước đầu đạt được những kết quả hết sức đáng tự hào Đó

là thành quả miệt mài lao động của những người làm công tác giáo dục vì ở họ đã xác định “Trách nhiệm của người thầy là chuyển giao cho trò những gì mà nhân loại

đã sáng tạo ra” (Jacquesdeloss) Đó là hai tấm gương sáng về lao động, giáo dục thế

hệ trẻ trong thời đại XHCN

2.2.3 Tìm hiểu thực tế về công tác chủ nhiệm của GVCN khối lớp 5 Trường Tiểu học Hải Vân

2.2.3.1 Tìm hiểu công tác chủ nhiệm lớp 5.1 của cô Trương Thị Diệu Huyền

a Sơ lược về bản thân

Cô Trương Thị Diệu Huyền là một giáo viên chủ nhiệm lâu năm

- Tuổi đời: 35 tuổi

- Chủ nhiệm lớp 5.1 trường Tiểu học Hải Vân – quận Liên Chiểu – thành phố

Đà Nẵng

- Năm công tác: 1997

- Lớp chủ nhiệm: Lớp 5.1 Sĩ số 30 học sinh trong đó có 14 nữ và 16 nam

- Thành tích của lớp: 8 HS giỏi, 9 HS khá, 7 HS trung bình, 6 yếu

b Kết quả công tác chủ nhiệm trong quá khứ

Qua nhiều năm làm công tác chủ nhiệm, cô đã đạt được một số thành tích đó

là năm nào cô cũng xây dựng được một tập thể lớp đoàn kết, biết giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ Được hội đồng nhà trường khen là GVCN giỏi, tận tình có nhiều sáng kiến, biện pháp trong việc giáo dục HS

c Lập kế hoạch chủ nhiệm của cô

Theo cô Trương Thị Diệu Huyền (chủ nhiệm lớp 5.1) thì người GV phải hiểu được ý nghĩa của việc đổi mới công tác quản lí không có nghĩa là ta dẹp

bỏ hoàn toàn các biện pháp quản lí cũ mà phải biết kế thừa và phát huy những biện

Ngày đăng: 08/05/2021, 21:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w