Chính vì vậy, quan tâm xây dựng, củng cố và không ngừng tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng Cộng sản với nhân dân là một nguyên tắc cơ bản trong xây dựng Đảng mà Ch
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
- -
NGUYỄN THỊ ÁI
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân – Sự vận dụng tư tưởng của Người trong công tác dân vận hiện nay
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
SƯ PHẠM GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho Đảng và nhân dân ta hệ thống tư tưởng lý luận vô giá Tư tưởng của Người nói chung và tư tưởng về mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân nói riêng được xem như sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình cách mạng của Đảng và nhân dân ta, soi sáng con đường cách mạng của dân tộc ta hôm nay và mai sau
Trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng và ở tất cả các thời kỳ, Hồ Chí Minh luôn đặt vấn đề về xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, trong đó Người luôn khẳng định việc liên hệ, gắn bó mật thiết với nhân dân là nguồn gốc chủ yếu tạo nên sức mạnh và là một trong những điều kiện, nguyên nhân làm cho Đảng ta giữ vững được quyền lãnh đạo cũng như giành được thắng lợi trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam Vì vậy, liên hệ gắn bó mật thiết với dân là một yêu cầu khách quan, cũng là một biện pháp quan trọng nhằm tǎng cường vai trò lãnh đạo của Đảng Đảng chăm lo cuộc sống cho dân ấm no, hạnh phúc và dân cũng chăm lo xây dựng Đảng để Đảng ngày một vững mạnh hơn, tiên phong hơn trên con đường sự nghiệp lãnh đạo vẻ vang của mình “Dân như nước có thể đẩy thuyền, lật thuyền” nên việc nước phải “lấy nghĩa mà duy trì, lấy nhân để cố kết Có đặt dân lên chốn chiếu êm mới làm cho thế nước vững như núi Thái Sơn, bàn thạch” Đó là những triết lý được cha ông tổng kết từ xa xưa rất phù hợp với quan điểm “lấy dân làm gốc” của Đảng ta Chính vì vậy, quan tâm xây dựng, củng cố và không ngừng tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng Cộng sản với nhân dân là một nguyên tắc cơ bản trong xây dựng Đảng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng, và được xem là cội nguồn tạo nên sức mạnh của Đảng ta Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã quán triệt và thực hiện tư tưởng về xây dựng mối quan hệ giữa
Trang 3Đảng và nhân dân rất thành công, từ việc Đảng đề ra mục tiêu đấu tranh, cho đến việc huy động sức mạnh của nhân dân để thực hiện thắng lợi mục tiêu đó, mà xét đến cùng, cũng là do dân và vì dân
Bên cạnh đó, trong tổ chức Đảng, vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên sa sút phẩm chất đạo đức, lối sống, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng, sống xa dân, quan liêu, hách dịch, làm giảm sút niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, đó là một nguy cơ không thể xem thường Xa rời nhân dân, không gắn bó mật thiết với nhân dân là một vấn đề rất nghiêm trọng, như cảnh báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đó là nguy cơ của sự thất bại
Ngoài ra, để tiếp tục xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, chủ nghĩa
đế quốc và các thế lực phản động trong và ngoài nước, đã và đang tìm mọi cách hạ thấp uy tín và vai trò lãnh đạo của Đảng, chia rẽ Đảng với dân, chia rẽ các dân tộc anh em trong cộng đồng dân tộc Việt Nam…hòng làm cho chúng
ta suy yếu để xóa bỏ chủ nghĩa xã hội hiện thực mà nhân dân ta xây dựng Với tình hình trên, để làm thất bại mọi âm mưu của kẻ thù chỉ có thể dựa chắc vào nhân dân, khơi dậy tiềm năng cách mạng dồi dào, sáng tạo của nhân dân, mới có thể vượt qua những khó khăn thử thách để tiếp tục tiến lên Chính
vì vậy, nghiên cứu, học tập và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân là việc làm có ý nghĩa vô cùng
cấp thiết Đó cũng chính là lý do đã thôi thúc bản thân tôi chọn đề tài : “Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân – Sự vận dụng tư tưởng của Người trong công tác dân vận hiện nay” để nghiên
cứu làm khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Tư tưởng về xây dựng Đảng của Hồ Chí Minh nói riêng và toàn bộ di sản
tư tưởng của Người nói chung là kho tàng quý báu của dân tộc ta hiện nay cũng như mãi mãi về sau, nó là ngọn đuốc soi đường để đưa sự nghiệp cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Tư tưởng Hồ Chí Minh
Trang 4về xây dựng mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân đã được nhiều tác giả quan
tâm nghiên cứu như: “Mối quan hệ giữa Đảng và dân cội nguồn sức mạnh của Đảng ta” của Lê Kim Ngân, tạp chí Lịch sử Đảng tháng 02- 2002, tác giả
bài viết này đã nêu lên một số nội dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân như sự gắn bó máu thịt, liên hệ mật thiết với nhân dân lao động là quy luật tồn tại, phát triển và hoạt động của Đảng Cộng sản, là cội nguồn sức mạnh vô địch của Đảng, là nhân tố bảo đảm
cho sự thành công của toàn bộ sự nghiệp cách mạng; “Tư tưởng dân là chủ, Đảng là đày tớ của dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh” tác giả Th.s Chế Đình Quang, tạp chí Xây dựng Đảng tháng 09- 2007; “Thực chất công tác Dân vận là xây dựng mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và Dân” tác giả Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tạp chí Dân vận tháng 10- 2009; “Bàn thêm về chữ “đầy tớ” trong lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh” tác giả Nguyễn Thanh Sơn, tạp chí Dân vận tháng 11- 2008 “Phương pháp làm dân vận của Bác Hồ” tác giả Huỳnh Chí Thiện, tạp chí Dân vận tháng 10- 2008 “Công tác dân vận là một trong những công tác đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa chiến lược của Đảng, nhất định phải được tiến hành với chất lượng và hiệu quả cao nhất” tác giả
Trương Tấn Sang, tạp chí Dân vận tháng 03- 2009
Nhìn chung, những ý kiến của các tác giả trong các bài viết trên là rất phong phú và đa dạng vừa mang tính cụ thể vừa mang tính khái quát, các bài viết đã giải quyết được những vấn đề về lí luận và thực tiễn, định hướng cho việc giải quyết những vấn đề liên quan đến đề tài
Tuy nhiên cho đến nay, chưa có công trình nghiên cứu có tính hệ thống về tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân – Sự vận dụng tư tưởng của Người vào công tác dân vận hiện nay
Trang 53 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nhìn nhận một cách khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân để từ đó nhận thức sâu sắc hơn, hệ thống hơn
tư tưởng của Người
Bước đầu tìm hiểu sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân vào công tác dân vận hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Làm sáng rõ nguồn gốc hình thành và phát triển, nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân
- Làm sáng rõ được sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân vào công tác dân vận hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân
- Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân trong công tác dân vận hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu một số vấn đề về mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng tư tưởng của Người trong công tác dân vận hiện nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Khóa luận dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 65.2 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng nhiều phương pháp, trong đó phương pháp logic và lịch sử là chủ yếu Ngoài ra còn sử dụng một số phương pháp như: phân tích, tổng hợp, so sánh làm mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu khóa luận
6 Đóng góp của đề tài
Đề tài góp phần hệ thống hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân
Đề tài góp phần vận dụng tư tưởng trên của Người vào công tác dân vận hiện nay
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khóa luận gồm: 2 chương:
Chương 1: Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân
Chương 2: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân vào công tác dân vận hiện nay
Trang 7Chương 1: NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG VÀ NHÂN DÂN
1.1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân
1.1.1 Truyền thống gia đình, quê hương, đất nước
Có thể khẳng định một trong những truyền thống nổi bật trong lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc ta là chủ nghĩa yêu nước và ý chí bất khuất đấu tranh để dựng nước và giữ nước Từ văn hóa dân gian, từ nhân vật truyền thuyết đến các tên tuổi sáng ngời trong lịch sử như Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi,…đều đã phản ánh chân lý đó một cách hùng hồn Chủ nghĩa yêu nước là dòng chảy xuyên suốt trường kỳ lịch sử Việt Nam, là chuẩn mực cao nhất, đứng đầu bảng giá trị văn hóa – tinh thần Việt Nam
Bên cạnh đó, tinh thần nhân nghĩa, truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái, “lá lành đùm lá rách” trong hoạn nạn, khó khăn Truyền thống này cũng hình thành cùng một lúc với sự hình thành dân tộc Việt Nam Do hoàn cảnh đặc biệt phải chống giặc ngoại xâm và thiên tại khắc nghiệt trong suốt chiều dài lịch sử, người Việt Nam quen sống gắn bó với nhau trong tình làng nghĩa xóm, tắt lửa tối đèn có nhau Bước sang thế kỷ XX, mặc dù xã hội Việt Nam đã có sự phân hóa về giai cấp, truyền thống ấy vẫn còn rất bền vững Vì vậy Hồ Chí Minh đã chú ý kế thừa, phát huy sức mạnh của truyền thống nhân nghĩa, nhấn mạnh bốn chữ “đồng” (đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh) Hồ Chí Minh – con người đại diện cho dân tộc, đã tiếp thu những giá trị truyền thống đoàn kết, nhân nghĩa của dân tộc Việt Nam và nâng nó lên một tầm cao mới, bằng thế giới quan duy vật mácxít Hồ Chí Minh đã từng nói: “Nhân dân ta từ lâu đã sống với nhau có tình có nghĩa…Từ khi có Đảng lãnh đạo và giáo dục, tình nghĩa ấy càng cao đẹp hơn, trở thành tình nghĩa
Trang 8đồng bào, đồng chí, tình nghĩa năm châu bốn biển một nhà Hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin là phải sống với nhau có tình, có nghĩa Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống với nhau không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin được”[27,554]
Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, tinh thần yêu nước gắn liền với ý thức cộng đồng, ý thức cố kết dân tộc, đoàn kết dân tộc Việt Nam đã hình thành và củng cố, tạo thành một truyền thống bền vững, trở thành tiền đề tư tưởng và lý luận góp phần hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân
Đối với mảnh đất Nghệ Tĩnh - mảnh đất địa linh nhân kiệt, giàu truyền thống cách mạng Con người Nghệ Tĩnh hiếu học, cần cù sáng tạo trong lao động, thủy chung tình nghĩa trong cuộc sống, không cam chịu làm nô lệ, kiên cường bất khuất trong chiến đấu, suốt chiều dài lịch sử thời đại nào cũng có những anh hùng, hào kiệt đứng lên chống giặc ngoại xâm như: Mai Thúc Loan, Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu,… Và đến thời đại của chúng ta, mảnh đất này lại tiếp tục sinh ra cho dân tộc ta một con Người vĩ đại “Người
đã làm rạng rỡ nhân dân ta, dân tộc ta và non sông đất nước ta”[11,40]
Hồ Chí Minh được sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo giàu lòng yêu nước, sống gần gũi với nhân dân Thân phụ của Người là Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, Cụ là một nhà nho cấp tiến có lòng yêu nước, thương dân sâu sắc Với quan niệm học để làm người chứ không phải học để làm quan, vả lại trong hoàn cảnh đất nước bị thực dân Pháp thống trị, làm quan là làm tay sai cho giặc, là đắc tội với đồng bào, nên sau khi đỗ Phó bảng (1901), Cụ đã lần lữa việc ra làm quan nhiều năm Mãi đến năm 1906, Cụ được bổ nhiệm làm thừa biện Bộ Lễ, phụ trách “công việc trường ốc” Tiếp xúc với học trò, Cụ thường nói: Làm quan là nô lệ trong đám nô lệ, lại càng nô lệ hơn Sự tức chí đó khiến Cụ bị triều đình cho là “bất phùng thời”, phải đi khỏi Kinh đô để vào làm Tri huyện Bình Khê (Bình Định) Ngồi trên ghế tri huyện nhưng Cụ
Trang 9thường giao du với các nhà Nho yêu nước ở địa phương hơn là có mặt ở công đường, tạo điều kiện cho những nông dân thiếu tiền thuế, những người tham gia phong trào chống thuế…đang bị giam cầm, trốn thoát Cụ rất oán ghét bọn cường hào bức hiếp nông dân và thường đứng về phía nông dân chống lại chúng Sinh thời, Cụ không chỉ giáo dục cho các con của mình lòng yêu nước thương dân, mà còn luôn nhắc nhở cho con của mình phải biết đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết, nếu cần phải hy sinh lợi ích riêng để phục vụ nhân dân
Tư tưởng yêu nước, thương dân của người cha đã ảnh hưởng sâu sắc tới thời niên thiếu của Nguyễn Tất Thành Mặt khác, trong quá trình trưởng thành ở quê nhà, rồi đi học ở Huế, càng đi vào cuộc sống của nhân dân, Nguyễn Tất Thành càng thấm thía thân phận cùng khổ của người dân mất nước Người đã tận mắt chứng kiến cảnh đọa đày dân đi phu ở Cửa Rào (Nghệ An) và tự bản thân Người cũng đã tham gia những cuộc biểu tình đòi giảm sưu thuế của nông dân sáu huyện của tỉnh Thừa Thiên (tháng 4-1908) Ấn tượng theo suốt cuộc đời Người là hình ảnh những người dân mất nước cần được giải phóng khỏi đọa đày, đau khổ, cần được sống ấm no, tự do, hạnh phúc Chính vì vậy, Người đã quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân: Tôi muốn đi ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta
Có thể khẳng định truyền thống yêu nước của dân tộc, truyền thống quê hương và gia đình Hồ Chí Minh có ảnh hưởng rất sâu sắc đến sự hình thành nhân cách Hồ Chí Minh và là nhân tố quan trọng góp phần hình thành nên tư tưởng về xây dựng mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân ở Hồ Chí Minh sau này
Trang 101.1.2 Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân
Vào đầu thế kỷ XIX, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã phát triển mạnh mẽ ở Châu Âu và ở Mỹ Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản gắn liền với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự lớn mạnh của nền đại công nghiệp Với sự lớn mạnh của giai cấp tư sản trong nền đại công nghiệp thì giai cấp công nhân làm thuê cũng có sự gia tăng nhanh chóng, từ đó xuất hiện sự bóc lột giá trị thặng dư tuyệt đối và giá trị thặng dư tương đối đã làm trầm trọng thêm mâu thuẫn giai cấp trong xã hội tư bản C.Mác và Ph.Ăngghen là những người cách mạng sống trong phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, các ông đã nhận thức một cách đúng đắn, khoa học bản chất của chủ nghĩa tư bản cũng như sứ mệnh lịch sử vẻ vang của giai cấp công nhân
Có thể khẳng định rằng, cùng với hai phát kiến vĩ đại là chủ nghĩa duy vật lịch sử và học thuyết giá trị thặng dư, C.Mác đã phát minh ra phát kiến thứ
ba đó là khẳng định sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân Với phát kiến ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng mà chưa một nhà tư tưởng nào trước đó nhìn nhận được, nhưng giai cấp công nhân không thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình nếu không có lý luận khoa học, cách mạng đưa đường dẫn lối và không có Đảng lãnh đạo, vì vậy vấn đề Đảng cộng sản là một nội dung rất quan trọng trong học thuyết của C.Mác Sự ra đời của Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản năm 1848 đã chính thức đánh dấu sự ra đời của một học thuyết mới, học thuyết Mác đó là chủ nghĩa xã hội khoa học Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã trình bày một cách rất cơ bản những tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về Đảng cộng sản Trong khi nêu lên những tư tưởng của mình về Đảng cộng sản C.Mác và Ph.Ăngghen cũng đã đặt ra cơ sở cho việc xây dựng Đảng trên những nguyên tắc cơ bản như là phải xây dựng nền tảng lý luận tư tưởng của Đảng, xây dựng Đảng cộng sản thành một tổ chức thống nhất, đoàn kết chặt chẽ và chủ
Trang 11nghĩa quốc tế cộng sản cũng là một trong những nguyên tắc về tổ chức, xây dựng Đảng
C.Mác và Ph.Ăngghen cũng từng nhấn mạnh: Chỉ trông vào bàn tay của những người cộng sản để xây dựng xã hội cộng sản, đó là một tư tưởng hết sức ngây thơ Những người cộng sản là một giọt nước trong đại dương, một giọt nước trong đại dương nhân dân Như vậy, ngay từ khi đưa ra tư tưởng về Đảng cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chú trọng đến mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, tư tưởng này về sau đã được V.I.Lênin kế thừa và phát triển để xây dựng Đảng cộng sản trong điều kiện mới, điều kiện Đảng cộng sản đã giành được chính quyền và trở thành lực lượng lãnh đạo xã hội và lãnh đạo nhà nước
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX tình hình thế giới đã có nhiều chuyển biến cực kỳ quan trọng đó là chủ nghĩa tư bản chuyển sang chủ nghĩa đế quốc Giai cấp tư sản đã trở thành một lực lượng phản động, cản trở sự phát triển của xã hội Mâu thuẫn giữa các nước đế quốc và các nước thuộc địa ngày càng trở nên gay gắt hơn Cuộc đấu tranh của các dân tộc thuộc địa chống các nước đế quốc chủ nghĩa đã thúc đẩy mạnh mẽ nhu cầu phải có sự phối hợp lực lượng cách mạng ở các nước thuộc địa với cách mạng ở các nước đế quốc Mâu thuẫn giữa các nước đế quốc trong cuộc đấu tranh nhằm tranh giành lợi ích ngày càng gay gắt đã tạo ra những mắt xích yếu trong hệ thống chủ nghĩa
đế quốc tạo ra thời cơ cho cách mạng vô sản Mặt khác, giai cấp công nhân đã lớn mạnh không ngừng cả về số lượng và chất lượng; trưởng thành nhanh chóng về chính trị, tư tưởng và tổ chức Phong trào đấu tranh mạnh mẽ của giai cấp công nhân ở nhiều nước châu Âu đã chứng minh rằng, giai cấp công nhân có khả năng đoàn kết với những người bị áp bức và bóc lột để lật đổ chủ nghĩa tư bản và xây dựng xã hội mới
Chính trong hoàn cảnh đó, V.I.Lênin đã bước lên vũ đài chính trị dẫn dắt phong trào công nhân thế giới Với tư chất của một nhà chính trị vĩ đại
Trang 12hòa lẫn những phẩm chất cao đẹp của một cá nhân lãnh tụ kiệt xuất có tầm nhìn chiến lược thiên tài, V.I.Lênin đã sớm nhận ra yêu cầu của cách mạng Nga nói riêng và phong trào cách mạng thế giới nói chung cần xây dựng một Đảng vô sản kiểu mới nhằm lãnh đạo giai cấp công nhân đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, bảo vệ, truyền bá và phát triển chủ nghĩa Mác
Trên cơ sở kế thừa và vận dụng sáng tạo những tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về Đảng cộng sản, căn cứ vào thực tiễn cách mạng Nga, V.I.Lênin đã đề ra những tư tưởng vừa xây dựng Đảng cộng sản, Đảng lãnh đạo sự nghiệp cách mạng ngay sau khi giành được chính quyền
V.I.Lênin là người sáng lập và lãnh đạo Đảng Bôn-sê-vích (chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân) thực hiện thành công Cách mạng Tháng Mười vĩ đại Cùng với quá trình hoạt động và lãnh đạo của mình, V.I.Lênin
đã có nhiều cống hiến, đóng góp cả về lý luận và thực tiễn cho công cuộc xây dựng Đảng cầm quyền, Đảng kiểu mới đồng thời V.I.Lênin cũng đưa ra hệ thống những nguyên tắc xây dựng, chỉnh đốn đảng kiểu mới của giai cấp công nhân Tư tưởng của V.I.Lênin về hệ thống các nguyên tắc xây dựng Đảng rất phong phú và toàn diện, trong quá trình nghiên cứu, đề tài này chỉ trình bày
nguyên tắc: Đảng phải gắn bó chặt chẽ với nhân dân, kiên quyết đấu tranh để ngăn ngừa và khắc phục bệnh quan liêu, xa rời dân
V.I.Lênin khẳng định rằng, Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, Đảng Cộng sản là đội tiên phong của giai cấp vô sản, nhưng nó chỉ làm tròn sứ mệnh lịch sử của mình khi biết gắn bó chặt chẽ với quần chúng nhân dân và dẫn dắt toàn thể quần chúng tiến lên Nếu không có sự đồng tình ủng hộ của quần chúng nhân dân thì mọi chủ trương, đường lối của Đảng không trở thành hiện thực Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội mới bắt đầu nếu không được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân thì sẽ khó mà thành công
“Trong tất cả những nghị quyết của chúng ta, chúng ta nói rõ như vậy, vì chúng ta luôn luôn nhấn mạnh rằng chúng ta có thể công nhận một đảng là
Trang 13đảng công nhân, khi nào và chỉ khi nào đảng đó thực sự liên hệ với quần
chúng”[8,315] Trong bài “Phát biểu về vai trò của Đảng Cộng sản ngày 23 tháng bảy”, Lênin nhấn mạnh rằng: “Chúng ta cần những đảng liên hệ thực tế
thường xuyên với quần chúng và biết lãnh đạo những quần chúng đó”,
“không biết lãnh đạo quần chúng, liên hệ chặt chẽ với quần chúng, thì nó không phải là một đảng”[8,286]
Thật vậy, nếu không có sự đồng tình ủng hộ, chung sức, chung lòng của quần chúng nhân dân thì Đảng cộng sản không thể có được sức mạnh, cách mạng vô sản không thể thành công và nếu không có sự lãnh đạo, tổ chức của Đảng cộng sản thì quần chúng nhân dân cũng không có được đường hướng chính trị đúng đắn để chỉ đạo, dẫn dắt cuộc đấu tranh cách mạng của mình Lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế cho thấy, một trong những nguyên nhân dẫn đến sự thành công của Đảng cộng sản và các cuộc cách mạng vô sản là nhờ đã thắt chặt được mối liên hệ giữa Đảng và quần chúng Nói tóm lại, sự gắn bó máu thịt, liên hệ mật thiết với quần chúng nhân dân lao động là quy luật tồn tại, phát triển và hoạt động của Đảng cộng sản, là cội nguồn sức mạnh vô địch của Đảng, là nhân tố bảo đảm cho sự thành công của toàn bộ sự nghiệp cách mạng
Vì vậy, không ngừng củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng cầm quyền và quần chúng nhân dân là một nguyên tắc bất di bất dịch của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng Đảng V.I.Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh tính tất yếu khách quan cũng như sự cần thiết phải tăng cường, mở rộng mối liên hệ giữa Đảng và quần chúng, “đi sâu hơn nữa vào trong quần chúng”, “liên hệ chặt chẽ hơn nữa với quần chúng”[8,235], đặc biệt là sự cần thiết phải lôi cuốn đông đảo quần chúng nhân dân vào công cuộc xây dựng xã hội mới, xã hội xã hội chủ nghĩa Ông cho rằng, đối với một Đảng cộng sản đang lãnh đạo đất nước thực hiện bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, một trong những nguy hiểm lớn nhất và đáng sợ nhất là tự cắt đứt liên hệ với quần chúng và đó là
Trang 14một tai họa thực sự Khi Đảng nắm quyền lãnh đạo, đảng viên có chức có quyền trong Đảng cũng dễ nảy sinh những bệnh quan liêu, một bộ phận đảng viên cũng dễ rơi vào tình trạng thoái hóa, biến chất, xa rời nhân dân V.I.Lênin cho rằng đó là một trong những nguy cơ mà Đảng cầm quyền cần chú ý đề phòng, khắc phục
Đáng tiếc là, vào những năm cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 của thế
kỷ XX, tai họa mà V.I.Lênin từng cảnh báo đã xảy ra với Đảng Cộng sản Liên
Xô - một Đảng lớn với 20 triệu đảng viên Như nhiều nhà nghiên cứu đã phân tích, lý giải, Đảng Cộng sản Liên Xô lúc đó, trên thực tế, đã dường như chia thành hai Đảng: Một Đảng thuộc “đẳng cấp thượng lưu” của tầng lớp quan liêu, tham nhũng, đặc quyền, đặc lợi, bị nhân dân oán ghét; một Đảng của những đảng viên thường đã trở thành một khối thờ ơ, thụ động, mất niềm tin vào chủ nghĩa xã hội, vào Đảng Cộng sản
Vì mất niềm tin nên đông đảo đảng viên thường và quần chúng nhân dân Liên Xô đã thờ ơ với Đảng, không đứng lên bảo vệ Đảng khi Đảng lâm nguy, khi Đảng bị giải tán, bị cấm hoạt động Bài học thất bại vì mất dân, mất chỗ dựa vững chắc của Đảng Cộng sản Liên Xô thật quá đắt giá, rất đáng để cho tất cả các Đảng cộng sản đã mất quyền lãnh đạo, chưa cầm quyền hoặc đang cầm quyền trên thế giới phải suy ngẫm để tự rút ra bài học cho chính mình
Tư tưởng của V.I.Lênin về các nguyên tắc xây dựng Đảng trong đó nguyên tắc Đảng phải gắn bó chặt chẽ với nhân dân, kiên quyết đấu tranh để ngăn ngừa và khắc phục bệnh quan liêu, xa rời dân đã được Hồ Chí Minh vận dụng một cách sáng tạo vào việc xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam trong sạch, vững mạnh Tư tưởng đó được thể hiện nhất quán trong toàn bộ quá trình lãnh đạo cách mạng của Người và của Đảng ta
Trang 151.1.3 Những bài học kinh nghiệm, thành công và thất bại của các phong trào đấu tranh của nhân dân Việt Nam và phong trào cách mạng thế giới
Tư tưởng về xây dựng mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân của Hồ Chí
Minh được hình thành trên cơ sở thực tiễn phong trào đấu của dân tộc ta và
phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân thế giới
Truyền thống tốt đẹp của mỗi dân tộc bao giờ cũng được phát huy cùng sự trường tồn của dân tộc ấy Qua mỗi giai đoạn lịch sử, dân tộc Việt Nam đã làm rạng rỡ những bài học quý giá của quá khứ, biến chúng thành những nhân tố góp phần chiến thắng cho cuộc đấu tranh hiện tại và góp phần mở ra triển vọng tươi sáng cho tương lai Các anh hùng dân tộc sở dĩ làm nên nghiệp lớn,
vì không bao giờ họ tách mình khỏi truyền thống tốt đẹp của dân tộc mình mà ngược lại, bao giờ họ cũng tiêu biểu cho những nguyện vọng cao cả nhất, bức thiết nhất của mỗi thời đại Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế tục xứng đáng nhất sự nghiệp và công đức của những anh hùng đi trước, đã thu góp tinh hoa tư tưởng mà dân tộc ta đã xây dựng nên từ máu lửa của cuộc chiến đấu để sinh tồn và phát triển
Nghiên cứu lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, Hồ Chí Minh đã nhận thức sâu sắc vai trò của nhân dân và mối liên hệ giữa nhà cầm quyền với nhân dân với tư tưởng “Vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận,
cả nước góp sức”, tư tưởng của Trần Quốc Tuấn “Khoan thư sức dân để làm
kế sâu rễ bền gốc là thượng sách giữ nước” với niềm tin “chúng chí thành thành” (ý chí nhân dân là bức thành vững chắc) Và đến thời của Nguyễn Trãi (thế kỷ XV) thì vai trò cứu nước của nhân dân chính thức được tuyên dương xứng đáng Theo Nguyễn Trãi “phúc chu thủy, tín dân do thủy” tức là sức của dân như nước, nước chở thuyền và cũng có thể lật thuyền Sau chiến thắng
chống quân Minh, Nguyễn Trãi đã viết Đại cáo Bình Ngô không chỉ ghi công
cho trời thần, danh tướng, mà còn cẩn trọng ghi công lao của nhân dân lao
Trang 16khổ - sức mạnh đầu tiên xung phong đánh thắng giặc Minh: “dựng gậy làm cờ, bốn phương dân cày tụ họp”
Chính chủ nghĩa yêu nước, truyền thống đoàn kết của dân tộc trong chiều sâu và bề dày của lịch sử này đã tác động mạnh mẽ đến Hồ Chí Minh và được Người ghi nhận như những bài học lớn cho sự hình thành tư tưởng của mình Lịch sử nước ta có ghi: Vua nhà Hồ rất thông minh, tài giỏi, có nhiều tư tưởng cải cách nhưng không thuận lòng dân nên cuối cùng chịu mất nước Và
có thể nói bài học đoàn kết ở thời Trần, cũng như bài học thất bại của triều Hồ
đã được Hồ Chí Minh khái quát nhằm giáo dục cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, đó là ở những giai đoạn lịch sử nào mà lực lượng lãnh đạo cuộc kháng chiến, đoàn kết, thống nhất, hội tụ được lòng người, sức dân thì dân tộc ta sẽ
có sức mạnh giữ vững độc lập, chủ quyền cho dân tộc
Nếu lực lượng lãnh đạo cuộc kháng chiến không tập hợp được đông đảo nhân dân, chia đàn xẻ nghé, không có sự đoàn kết thì dân tộc rơi vào suy yếu, mất nước Hoặc trong những phong trào kháng chiến chống Pháp của các nhà cách mạng tiền bối ở cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, các phong trào hầu như đều thất bại vì không có đường lối cứu nước đúng đắn, không có sự đoàn kết, thống nhất trong quần chúng nhân dân Như Phan Bội Châu thì tin tưởng vào người “anh cả da vàng” đế quốc Nhật, chẳng khác gì “đuổi hổ cửa trước, rước beo cửa sau” Phan Châu Trinh thì tin tưởng vào lời lẽ mị dân của thực dân Pháp với phương châm “Ỷ Pháp cầu tiến”, chẳng khác gì xin giặc rủ lòng thương Qua những bài học thành công và thất bại đó, đặc biệt khi bắt gặp chủ nghĩa Mác- Lênin, Hồ Chí Minh càng nhận thức rõ hơn về mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, là cội nguồn tạo nên sức mạnh của Đảng ta
Trải qua bao nhiêu năm bôn ba tìm đường cứu nước và tìm hiểu về các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới: Cách mạng Mỹ năm 1776, cách mạng Pháp năm 1789 và cách mạng Nga năm 1917 Từ sự phân tích nội dung, tính chất các cuộc cách mạng ở Mỹ, ở Pháp, Người đi đến kết luận: Đó là những
Trang 17cuộc cách mạng không đến nơi - có nghĩa là cách mạng rồi mà dân vẫn bị áp bức, bóc lột Người chỉ rõ: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”[17,270] Người cũng rút ra kết luận vô cùng quan trọng đó là các dân tộc muốn giải phóng chỉ có thể trông cậy vào mình, dựa vào lực lượng của bản thân mình là chính Đồng thời, Người cũng chỉ rõ nguyên nhân thất bại của phong trào giải phóng giải phóng dân tộc thuộc địa lúc bấy giờ là do các dân tộc thiếu sự hiểu biết lẫn nhau, không có sự đoàn kết giữa các dân tộc với nhau…
Cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi, đối với Hồ Chí Minh đây là một bài học kinh nghiệm quý báu trong việc huy động, tập hợp, đoàn kết lực lượng quần chúng nhân dân, lực lượng công nông để giành và giữ chính quyền và xây dựng xã hội mới xã hội chủ nghĩa Người khẳng định: Chỉ có cách mạng tháng Mười Nga là đã thành công và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng hạnh phúc tự do, bình đẳng thực sự Bài học mà Hồ Chí Minh rút ra qua nghiên cứu cách mạng tháng Mười Nga là: Cách mạng Nga dạy chúng ta muốn cách mạng thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có Đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất Đây được coi là bài học kinh nghiệm thực tiễn rất cần thiết để Hồ Chí Minh hình thành tư tưởng về xây dựng mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân là sản phẩm của sự kết hợp từ các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, với tinh hoa văn hóa của nhân loại, mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác - Lênin, với những bài học kinh nghiệm quý báu của dân tộc Việt Nam và cách mạng thế giới đã góp phần quan trọng vào việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân và đây là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong toàn bộ hoạt động cách mạng của Người
Trang 181.2 Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân
Chúng ta có thể khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân và sự vận dụng trong công tác dân vận hiện nay thành những luận điểm sau:
1.2.1 Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
1.2.1.1 Dân là gốc rễ, là nền tảng của nước, là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng
Theo Hồ Chí Minh, mọi “quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”[20,698] Trong quan niệm của Người, nhân dân là người chủ của sự nghiệp dựng nước và giữ nước, là mục tiêu và động lực của sự phát triển, là nguồn sức mạnh vô tận của Đảng, là đối tượng của nhà nước công nông Hồ Chí Minh luôn coi “dân là gốc của nước, nước lấy dân làm gốc” và nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn nguyên tắc “lấy dân làm gốc” và khẳng định “Gốc có vững cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”[20,410]
Dân là gốc rễ, là nền tảng của nước được hiểu nước mạnh hay yếu là từ dân, do dân theo tinh thần “dân là dân nước, nước là nước dân” Gốc trong dân là tài dân (trí tuệ, sáng tạo), sức dân (lực lượng), của dân (vật chất, tiền thuế), quyền hành nơi dân, dân ủy quyền cho cán bộ Hồ Chí Minh nói: “Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được Dân chúng không ủng hộ, việc gì cũng không nên”[20,295] Điều Người dặn, suy cho cùng, quan trọng nhất trong cái gốc của dân là lòng tin của dân vào Đảng và Chính phủ và quyền hành ở dân Khi dân đã tin Đảng và Chính phủ thì họ sẳn sàng ủng hộ mọi thứ
từ vật chất, tiền bạc, lực lượng, trí tuệ đến cả việc không ngại hy sinh tính mạng của mình Ngược lại, một khi dân không còn niềm tin nữa thì dân oán
“Dân oán, dù tạm thời may có chút thành công, nhưng về mặt chính trị là thất bại”[20,293]
Trang 19Với Hồ Chí Minh, đại đoàn kết trước hết là tập hợp, tổ chức lãnh đạo thống nhất được sức mạnh của toàn dân, phải làm cho dân mến, dân tin để dân theo Đảng, Đảng có sức mạnh Để dân là gốc rể, là nền tảng của đại đoàn kết thì phải tin dân, chăm lo lợi ích của nhân dân, biết ơn dân và đền bù xứng đáng cho dân Người dặn “Cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu chúng
ta dùng, đều do mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra Vì vậy, chúng ta phải đền bù xứng đáng cho nhân dân”[22,392] Sức mạnh của khối đại đoàn kết là sức mạnh vô địch, ở đó sức dân là gốc rể “Dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại được”[17,274] Nhưng đại đoàn kết lấy dân làm gốc cũng phải rất cần và điều căn bản là phải lấy liên minh công nông làm nồng cốt, do Đảng Cộng sản lãnh đạo Người chỉ rõ: “Dân không hiểu tình thế cách mạng trong thế giới, không biết so sánh, không có mưu chước, chưa nên làm đã làm, khi nên làm lại không làm…Dân thường thường chia rẽ phái này, bọn kia…nên mỗi sức yếu đi, như đũa mỗi chiếc mỗi nơi…Vậy nên sức cách mệnh phải tập trung, muốn tập trung phải có Đảng cách mệnh”[17,267] Trong lãnh đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Người khẳng định: “Chủ nghĩa xã hội chỉ có thể xây dựng được với sự giác ngộ đầy đủ và lao động và sáng tạo của hàng chục triệu người”[23,494-495]
Theo Hồ Chí Minh, sức mạnh của cách mệnh là ở đại đoàn kết toàn dân, gốc rễ nền tảng của đại đoàn kết là ở dân Sự đoàn kết của nhân dân chính là nguồn gốc sức mạnh vô tận, vô địch của cách mạng “Lòng yêu nước
và sự đoàn kết của nhân dân là một lực lượng vô cùng to lớn, không ai thắng nổi Nhờ lực lượng ấy mà tổ tiên đã đánh thắng quân Nguyên, quân Minh, đã giữ vững độc lập, tự do, dân chủ Nhờ lực lượng ấy mà sức kháng chiến của ta ngày càng mạnh Nhờ lực lượng ấy mà quân và dân ta quyết định chịu đựng muôn nỗi khó khăn thiếu thốn, đói khổ, tang tóc, quyết một lòng đánh tan quân giặc cướp nước”.[21,281-282] Người hỏi: “Cách mạng thành công là do
Trang 20ai?” và trả lời “do quần chúng” Người khẳng định một cách chắc chắn rằng
“nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng”[19,56] Do đó mà
“Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân Trong thế giới không gì mạnh bằng đoàn kết của nhân dân”[23,276] Người đã dùng những lời lẽ tôn vinh nhân dân lên hàng tối thượng trong tất cả các lực lượng và chỉ rõ vai trò to lớn nhất của nhân dân mà không có lực lượng nào có thể sánh được
1.2.1.2 Dân là chỗ dựa vững chắc của hệ thống chính trị cách mạng
Năm 1930, trong Sách lược vắn tắt, và Chương trình vắn tắt của Đảng,
Hồ Chí Minh cũng đã chỉ rõ: Dân là chỗ dựa vững chắc của Đảng và của hệ thống chính trị cách mạng Đồng thời Người cũng khẳng định: “Muốn lật đổ được giai cấp phong kiến, hoàn thành cách mạng thổ địa thì Đảng phải dựa vào dân, phải tập hợp được dân” Nhân dân đã cung cấp cho Đảng những người con ưu tú nhất Lực lượng của Đảng có lớn mạnh được hay không là do dân Nhân dân là người xây dựng, đồng thời cũng là người bảo vệ Đảng, bảo vệ cán bộ của Đảng Dân như nước, cán bộ như cá Cá không thể sinh tồn và phát triển được nếu như không có nước Nhân dân là lực lượng biến chủ trương, đường lối của Đảng thành hiện thực Do vậy, nếu không có dân, sự tồn tại của Đảng cũng chẳng có ý nghĩa gì Đối với Chính phủ và các tổ chức quần chúng cũng vậy
Chính vì vậy, nhân dân là lực lượng dựng xây đất nước, là lực lượng hợp thành, nuôi dưỡng, bảo vệ các tổ chức chính trị Vì dân là chỗ dựa của Đảng nên không bao giờ Đảng lại hy sinh quyền lợi của giai cấp công nhân và nông dân cho một giai cấp nào khác Không những thế mà Đảng còn phải
“liên kết với những dân tộc bị áp bức và quần chúng vô sản trên thế giới, nhất
là quần chúng vô sản Pháp”[18,3-4]
Ở Hồ Chí Minh, việc xác định dân là chỗ dựa vững chắc của Đảng của hệ thống chính trị với việc để dân thực hiện vai trò lãnh đạo của mình, cũng như việc rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên
Trang 21để dân mến, dân tin, dân đoàn kết theo Đảng là mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau không tách rời nhau Người dạy: “Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân”[20,698] Từ đó khẳng định: “Lực lượng của dân rất to lớn Việc dân vận rất quan trọng Dân vận kém thì việc gì cũng kém Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công.”[20,700] Dân vận khéo không có nghĩa là dùng mánh khóe, thủ đoạn để lôi kéo dân, mà người cán bộ phải tu dưỡng đạo đức, phải rèn luyện và hành động vì dân để có dân
Trong điều kiện lịch sử cụ thể Việt Nam, một nước nông nghiệp chậm phát triển, hơn 90% dân số là nông dân là trung nông, bần nông và cố nông, Hồ Chí Minh đã căn dặn các cán bộ dân vận rằng: “Mọi công việc chống giặc
và xây dựng được đất nước và phần lớn là do nông dân làm Nông dân là đồng minh trung thành của công nhân Muốn kháng chiến kiến quốc thành công, muốn độc lập thống nhất thật sự phải dựa vào nông dân”[20,710] Nông dân nói riêng, nhân dân nói chung tự thân họ không có sự đoàn kết bền vững, chỉ có những mối quan hệ gần gũi tự nhiên, đoàn kết theo thời vụ Sự đoàn kết như thế không phải là chỗ dựa của Đảng, của hệ thống chính trị Chỉ những người dân được giác ngộ, được tổ chức và do Đảng lãnh đạo mới là sức mạnh, mới là chỗ dựa vững chắc của Đảng của hệ thống chính trị cách mạng Người dạy, lực lượng giai cấp công nhân và nhân dân lao động rất to lớn và vô cùng vô tận Nhưng lực lượng ấy cần có Đảng lãnh đạo mới chắc chắn thắng lợi Trong nhiều bài viết và bài nói của Người, Người luôn chỉ rõ: Thành công của Đảng ta là ở chỗ đã tổ chức và phát huy được lực lượng cách mạng vô tận của nhân dân, lãnh đạo nhân dân dưới lá cờ tất thắng của chủ nghĩa Mác – Lênin
Như vậy, Hồ Chí Minh luôn đứng vững trên quan điểm lập trường của chủ nghĩa Mác – Lênin, nắm vững tinh thần ý nghĩa của mối quan hệ biện chứng giữa Đảng và nhân dân, luôn giữ vững nguyên tắc tất cả vì độc lập dân
Trang 22tôc, vì hạnh phúc của nhân dân, vì sự phát triển toàn diện và hoàn thiện của con người mà khẳng định: Dân là gốc rễ, dân là nền tảng, dân là chủ thể, dân
là nguồn sức mạnh vô tận, vô địch của đại đoàn kết Dân là chỗ dựa vững chắc của Đảng và của hệ thống chính trị cách mạng
1.2.2 Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo, đồng thời là người đầy tớ trung thành của nhân dân
1.2.2.1 Công tác lãnh đạo của Đảng phải xuất phát từ thực tế khách quan, đồng thời phải xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân
Theo Hồ Chí Minh, Đảng phải vì dân, Nhà nước cũng phải vì dân, tất cả vì quyền lợi chính đáng của nhân dân
Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh, chỉ có chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa thì quyền lợi cá nhân và quyền lợi Nhà nước cùng quyền lợi tập thể mới nhất
trí Trong “Báo cáo về dự thảo Hiến pháp sửa đổi tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội thứ I nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa”, Hồ Chí Minh đã nêu rõ, công dân
Việt Nam Dân chủ cộng hòa có quyền làm việc, có quyền nghỉ ngơi, có quyền học tập, có quyền tự do thân thể Nhân dân là người giữ vai trò quyết định trên tất cả các lĩnh vực: từ kinh tế, chính trị đến văn hóa, xã hội, từ những chuyện nhỏ có liên quan đến lợi ích của mỗi cá nhân đến những chuyện lớn như lựa chọn thể chế, lựa chọn người đứng đầu Nhà nước
Người dân có quyền làm chủ bản thân, nghĩa là có quyền được bảo vệ về thân thể, được tự do đi lại, tự do hành nghề, tự do ngôn luận, tự do học tập… trong khuôn khổ luật pháp cho phép Đúng như Hồ Chí Minh nói: “Mọi quyền hạn đều của dân” Cán bộ từ Trung ương đến cán bộ ở các cấp các ngành đều là “đầy tớ” của dân, do dân cử ra và do dân bãi miễn.…
Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, một Đảng ra đời từ phong trào cách mạng của nhân dân, có thiên chức lãnh đạo cách mạng vì mục đích phục vụ nhân dân, lấy lợi ích của nhân dân làm lợi ích cao nhất của mình, thì Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng, hoàn toàn không có một bức tường ngăn cách nào giữa
Trang 23nhiệm vụ lãnh đạo và nhiệm vụ phục vụ: “Tất cả đường lối, phương châm, chính sách của Đảng đều chỉ nhằm một mục đích là nâng cao đời sống của nhân dân nói chung”[25,380]
Người khẳng định: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, mọi thành quả cách mạng thuộc về nhân dân Dân chủ là nhân dân là người làm chủ đất nước, chủ xã hội, chủ cuộc sống Các cấp chính quyền Nhà nước, các đoàn thể nhân dân, bao giờ, ở đâu, xuất phát của hành động cũng vì lợi ích của nhân dân mà làm và chịu trách nhiệm trước dân Người nói: “Những chính sách và nghị quyết của Đảng đều vì lợi ích của nhân dân Đảng ta đại biểu cho lợi ích chung của giai cấp công nhân, của toàn thể nhân dân lao động chứ không phải mưu cầu lợi ích riêng của một nhóm người nào, của một cá nhân nào”[24,288] Hồ Chí Minh cũng yêu cầu mọi cán bộ, Đảng viên phải luôn xác định và thực hiện đúng bổn phận là công bộc của dân “cần phải quyết tâm suốt đời phục vụ Đảng phục vụ nhân dân”[24,293]
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nhắc nhở: Vì lợi ích của nhân dân thì việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì có hại đến dân ta phải hết sức tránh Tháng 1-1960, tại buổi lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng ta, Người lại nói:“Đảng ta vĩ đại và ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác”[27,4] Bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh khi trả lời các nhà báo, đã nói rõ: “cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân” và “bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích là làm cho ích quốc lợi dân”[19,240]
Người xác định: Dân vừa là động lực, vừa là mục tiêu của cách mạng Đảng không có mục đích riêng cho mình mà phải hòa chung vào mục đích của nhân dân Kết quả mọi lợi ích mang lại cho dân chính là thước đo hiệu
quả hoạt động của Đảng Đây là cơ sở quan trọng để khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên
Trang 24phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”[3,88]
Mối quan hệ giữa Đảng cầm quyền với dân là mối quan hệ mật thiết, gần gũi, gắn bó chặt chẽ với nhau
Người nhiều lần nhắc nhở cán bộ, đảng viên, tổ chức Đảng phải gần gũi, cán bộ không được xa dân Ngay những ngày đầu khi Đảng mới cầm quyền,
trong thư gửi : “Ủy ban nhân dân các bộ, tỉnh, huyện và làng”, Hồ Chí Minh
phê bình những bệnh cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo
Người phân tích, cậy thế là cậy mình ở trong ban này, ban nọ rồi ngang
tàng phóng túng, muốn sao làm vậy, coi khinh dư luận, không nghĩ đến dân,
cậy thế với dân Hủ hóa là ăn tiêu xa xỉ, lấy của chung làm việc tư, quên cả thanh liêm, đạo đức Tư túng, Người phê phán thói kéo bè, kéo cánh bà con,
bạn hữu, không có tài năng gì cũng kéo vào chức này chức nọ; người có tài có đức nhưng không thuộc cánh hữu của mình, không vừa lòng thì bị đẩy ra
ngoài Chia rẽ là bênh vực lớp này chống lại lớp khác, không biết làm cho các tầng lớp nhân nhượng với nhau, hòa thuận với nhau…Kiêu ngạo là tưởng
mình ở trong cơ quan của Chính phủ là thần thánh rồi, coi khinh nhân dân, không biết thái độ kiêu ngạo đó sẽ làm mất tin cậy của dân…Vì vậy, Hồ Chí Minh luôn căn dặn cán bộ, đảng viên tu dưỡng mình, bảo vệ mối quan hệ Đảng - dân Mối quan hệ này tỷ lệ thuận với sự bền vững của chế độ mới mà Đảng và nhân dân ta chủ trương xây dựng
Theo Người, trong mối quan hệ giữa Đảng cầm quyền với nhân dân thì Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là đầy tớ trung thành của nhân dân
Vai trò lãnh đạo của Đảng là do dân ủy thác Đảng lãnh đạo, dân làm chủ
Và trong Di chúc, tác phẩm cuối cùng của đời mình, khi nói về Đảng, một lần
nữa Bác viết: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công
vô tư Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo,
Trang 25là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã nhắc đến vị trí của người cán bộ cách mạng trong quan hệ với dân Họ là công bộc của dân Dựa trên quan điểm đó, Hồ Chí Minh đã gắn trách nhiệm “lãnh đạo” và “đầy tớ” trong tiêu chí hoạt động của Đảng
Trong mối quan hệ Đảng – nhân dân, nếu Đảng là người lãnh đạo thì nhân dân là đối tượng lãnh đạo, chịu sự lãnh đạo và trong mọi thời kỳ cách mạng đều cần có sự lãnh đạo vững vàng của Đảng Đảng lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo nhân dân là vì nhân dân Vì nhân dân chính là điểm xuất phát, nội dung, mục tiêu phấn đấu của Đảng ta Khi Đảng ta đã trở thành Đảng cầm quyền, Hồ Chí Minh nhiều lần nhắc nhở cán bộ, đảng viên và các tổ chức đảng phải luôn luôn nhớ rằng mình là đầy tớ của nhân dân chứ không phải là “quan” nhân dân Là người lãnh đạo, Đảng xác định phương hướng mục tiêu, nhiệm vụ, đề ra đường lối, chủ trương, phương pháp tổ chức thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đó Không chỉ là người lãnh đạo Đảng còn là “đầy tớ” của nhân dân, Hồ Chí Minh đã nói các cơ quan của Đảng và Nhà nước là “đầy tớ” của nhân dân, nhưng cũng có lần Người gọi các cơ quan đó là “công bộc” của nhân dân Công bộc cũng là đầy tớ, đầy tớ chung của mọi người, phục vụ chung cho nhân dân Trong mối quan hệ Đảng – nhân dân, nhân dân là chủ cũng có nghĩa Đảng là đầy tớ của nhân dân
Nhân dân là chủ, Đảng là đầy tớ nghĩa là Đảng phải trung thành và tận tụy phục vụ nhân dân Trong vai trò của Đảng đối với dân, cái chung của người lãnh đạo và của người đầy tớ là vì nhân dân, phục vụ nhân dân Chính vì vậy mà Hồ Chí Minh đã đồng nhất vai trò Đảng là người lãnh đạo với Đảng là người đầy tớ của nhân dân: “Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, từ trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ ở cấp nào và ngành nào - đều phải là người đầy tớ trung thành của nhân dân Tất cả cán bộ đều phải một lòng một dạ phục vụ nhân dân; đều phải hết sức quan
Trang 26tâm đến đời sống của nhân dân; đều phải theo đúng chính sách của Đảng và đi đúng đường lối quần chúng”[25,323]
Đảng là người lãnh đạo, Đảng “không sợ kẻ địch nào dù cho chúng hung tợn đến mấy, không sợ nhiệm vụ nào dù nặng nề, nguy hiểm đến mấy, nhưng Đảng Lao động Việt Nam sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành của nhân dân”[14,55] Ngày 20/2/1947, nói chuyện với các đại biểu nhân sĩ trí thức, phú hào tỉnh Thanh Hóa, Hồ Chí Minh tiếp tục nhấn mạnh: “Chính phủ cộng hòa dân chủ là gì? Là đầy tớ chung của dân, từ Chủ tịch toàn quốc đến làng Dân là chủ thì Chính phủ phải là đầy tớ…Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”[20,60] Năm 1953, trong thư gửi Lớp chỉnh Đảng Liên khu 5, Hồ Chí Minh viết: “Mục đích chỉnh Đảng là để dùi mài cán bộ và đảng viên thành những chiến sĩ xứng đáng là người đầy tớ của nhân dân”
Mối quan hệ này thể hiện trách nhiệm của Đảng bởi lẽ trong sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ và cả quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội thì nhân dân là lực lượng đóng góp sức người, sức của nhiều nhất, do vậy Đảng cách mạng phải mang lại quyền lợi cho nhân dân, đó là trách nhiệm của Đảng
và Chính phủ
1.2.2.2 Những yêu cầu cụ thể về tăng cường mối quan hệ giữa với nhân dân theo quan điểm của Hồ Chí Minh
Đảng phải thường xuyên lắng nghe ý kiến của nhân dân, nắm vững tâm
tư, nguyện vọng của nhân dân nhưng không theo đuôi quần chúng
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, người lãnh đạo không nên kiêu ngạo, mà nên hiểu thấu Sự hiểu biết và kinh nghiệm của mình cũng chưa đủ cho sự lãnh đạo đúng đắn Vì vậy, ngoài kinh nghiệm của mình, người lãnh đạo còn phải dùng kinh nghiệm của đảng viên, của dân chúng để thêm cho kinh nghiệm của mình “Nghĩa là phải lắng tai nghe ý kiến của đảng viên, của nhân dân, của những người “không quan trọng”[20,285] Nhưng một
Trang 27trong những điều chủ chốt nhất là “vì dân chúng chính là những người chịu đựng cái kết quả của sự lãnh đạo của ta”[20,285]
Để lãnh đạo được dân, rõ ràng là phải biết đặt mình vào địa vị của người dân Bác dạy: “Không học hỏi dân thì không lãnh đạo được dân Có biết làm học trò dân, mới làm thầy học dân”[21,88] Một số cán bộ không nhận thức rõ “dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”[20,295] Hồ Chí Minh còn chỉ ra nhiều điều sâu xa, cội rễ mà nếu không hiểu đầy đủ và toàn diện, khó lòng gắn bó mật thiết với dân Theo Người, “đặc điểm rõ nhất trong tư tưởng của dân chúng là họ hay so sánh…Dân chúng so sánh đúng, giải quyết đúng, là vì tai mắt họ nhiều, việc gì họ cũng nghe, cũng thấy Vì sự so sánh kỹ càng đó, mà cách giải quyết của dân chúng bao giờ cũng gọn gàng, hợp lý, công bình”[20,296]
Hồ Chí Minh khẳng định: Dân chúng rất khôn khéo, rất hăng hái, rất anh hùng Cho nên, Người luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng phải luôn gần gũi, gắn bó với dân, không được xa dân Gần dân không chỉ về không gian, tình cảm, về tinh thần thái độ mà ngay cả về đời sống sinh hoạt hàng ngày Bởi vì, trước hết Đảng ra đời từ trong lòng quần chúng nhân dân, hơn nữa Đảng phải gắn bó với dân thì dân mới tin theo Đảng và Đảng mới lãnh đạo được nhân dân
Gắn bó với dân còn giúp Đảng nắm bắt được tâm tư, nguyên vọng của dân, tiếp thu được tính sáng tạo vô tận của nhân dân để đề ra chủ trương, đường lối đúng đắn hợp với ý Đảng, lòng dân Người dạy: Đối với nhân dân: Phải nhớ Đoàn thể làm việc cho dân, Đoàn thể mình mạnh hay yếu là ở dân Dân nghe theo là mình mạnh Hiểu nguyện vọng của dân, sự cực khổ của dân Hiểu tâm lý của dân, học sáng kiến của dân Phải tôn kính dân, phải làm cho dân tin, phải làm gương cho dân Muốn cho dân phục phải được dân tin, muốn cho dân tin phải thanh khiết, “phải làm gương mẫu cho mọi người noi
Trang 28theo trong mọi mặt công tác”[25,161], “đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết Chúng ta có khuyết điểm, thì thật thà thừa nhận trước mặt dân chúng Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta”[20,297]
Chính vì vậy, Hồ Chí Minh đã tổng kết: Giữ chặt mối liên hệ với dân chúng và luôn luôn lắng nghe ý kiến của dân chúng, đó là nền tảng lực lượng của Đảng và nhờ đó mà Đảng thắng lợi Vì vậy, cách xa dân chúng, không liên hệ chặt chẽ với dân chúng, cũng như đứng lơ lửng giữa trời, nhất định thất bại Hồ Chí Minh dạy, trong mọi công tác thiết thực của Đảng, của Chính phủ, cách lãnh đạo, cách làm việc tốt nhất là phải từ trong quần chúng ra, trở
lại nơi quần chúng hay từ trong quần chúng ra, về sâu trong quần chúng
“Nghĩa là gom góp ý kiến rời rạc, lẽ tẻ của quần chúng, rồi phân tích nó, nghiên cứu nó, sắp đặt nó thành những ý kiến có hệ thống Rồi đem nó tuyên truyền, giải thích cho quần chúng và làm cho nó thành ý kiến của quần chúng, làm cho quần chúng giữ vững và thực hành ý kiến đó Đồng thời nhân lúc quần chúng thực hiện, ta xem xét lại, coi ý kiến đó đúng hay không Rồi lại tập trung ý kiến của quần chúng, phát triển những ưu điểm, sửa chữa những khuyết điểm, tuyên truyền, giải thích, làm cho quần chúng giữ vững và thực hành…Đó là cách lãnh đạo cực kỳ tốt”[20,290-291]
Hồ Chí Minh thẳng thắn phê phán những tư tưởng, việc làm chưa đúng, chỉ rõ những yếu kém, khuyết điểm của tổ chức Đảng, chính quyền và đội ngũ cán bộ, đảng viên, những thói hư, tật xấu cần khắc phục, sửa chữa như: thói
ba hoa, bệnh hẹp hòi, tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, địa phương, cá nhân chủ nghĩa, xa rời quần chúng…Người nêu ví dụ, biểu hiện của bệnh cá nhân là gặp dân chúng thì không điều tra, không hỏi han, không tuyên truyền, không giải thích Xem như dân chúng không có quan hệ gì với mình Thấy những việc có hại cho dân chúng cũng mặc kệ, không khuyên răn, không
Trang 29ngăn cản Biểu hiện của thói ba hoa là: Dài dòng, rỗng tuếch, cầu kỳ, khô khan, lúng túng, cẩu thả, sáo rỗng, khi tuyên truyền, vận động nhân dân thì phải: Học cách nói của quần chúng, chớ nói như sách, giảng như sách Mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết phải tỏ rõ cái tư tưởng và lòng ao ước của quần chúng Phải luôn dùng những lời lẽ, những thí dụ đơn giản, thiết thực và dễ hiểu Khi viết, khi nói phải luôn làm thế nào cho ai cũng hiểu được…Bao giờ cũng phải tự hỏi: Ta viết cho ai xem? Nói cho ai nghe? Chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói, chớ viết
Theo Hồ Chí Minh, trong lãnh đạo và làm việc, cán bộ, nhân viên chính quyền phải kiên quyết bỏ sạch lối quan liêu, lối chật hẹp, lối mệnh lệnh và phải thực hành theo 5 nguyên tắc sau đây: “1 Việc gì cũng phải học hỏi và bàn bạc với dân chúng, giải thích cho dân chúng; 2 Tin vào dân chúng; 3 Luôn luôn phải theo tình hình thiết thực của dân chúng nơi đó và lúc đó, theo trình độ giác ngộ của dân chúng, theo sự tình nguyện của dân chúng mà tổ chức họ, tùy vào hoàn cảnh thiết thực trong nơi đó và lúc đó…; 4 Tuyệt đối không nên theo đuôi quần chúng; 5 Phải đưa chính trị vào giữa dân gian”[20,297- 298]
Tuy nhiên, cần nhận thức đúng đắn rằng, dân chúng không nhất luật như nhau Trong dân chúng, có nhiều tầng lớp khác nhau Có lớp tiền tiến, có lớp chừng chừng (vừa vừa), có lớp lạc hậu Người lãnh đạo phải dùng hạng hăng hái làm trung kiên cho sự lãnh đạo, do trung kiên mà nâng cao hạng vừa và kéo hạng kém tiến lên Vì vậy, không phải dân chúng nói gì ta cũng cứ nhắm mắt làm theo Tức là học quần chúng nhưng không theo đuôi quần chúng Đặc biệt, “phải sáng suốt, mới khỏi bị bọn vu vơ bao vây, mà cách xa cán bộ tốt”[20,297]
Đảng phải nêu cao trách nhiệm đối với dân trên tinh thần việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại đến dân phải hết sức tránh
Trang 30Hồ Chí Minh là lãnh tụ từ nhân dân mà ra, của nhân nhân, vì nhân dân Người bước chân xuống tàu từ giã quê hương, đất nước năm 1911 là để tìm đường cứu nước cứu dân, đến tận cuối đời cũng chỉ nhằm mục đích giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người Hồ Chí Minh hết lòng và rất mực quan tâm từng cá nhân, gia đình và toàn nhân dân Việt Nam
cả hai mặt đời sống vật chất và tinh thần Theo Người, để chăm lo và nâng cao đời sống vật chất thì phải phát triển kinh tế, lấy kinh tế làm nền tảng, thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu Muốn chăm lo và nâng cao đời sống tinh thần thì phải phát triển văn hóa, đạo đức, lấy đó làm nền tảng Với sự ra đời của nước Việt Nam mới, tư tưởng và hành động xuyên suốt của Hồ Chí Minh là dù khó đến đâu, Chính phủ phải quan tâm đến đời sống của dân Hết thảy những việc có thể nâng cao đời sống vật chất và tinh thần
của dân phải được ta đặc biệt chú ý Trong Bài phát biểu tại cuộc họp đầu tiên của Ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến quốc ngày 10- 1-1946, Hồ Chí
Minh đã nhấn mạnh, chúng ta phải thực hiện ngay:
1 Làm cho dân có ăn
2 Làm cho dân có mặc
3 Làm cho dân có chỗ ở
4 Làm cho dân có học hành
Bốn điều đó là mục đích đi đến của Đảng, Chính phủ, vừa khẳng định trách nhiệm của Đảng, Chính phủ, của chế độ chủ nghĩa xã hội, đó là phải làm cho nhân dân được ăn no, mặc ấm, sung sướng, tự do, nhà ở tử tế, được học hành, chăm lo dân quyền, dân trí, dân chủ, dân vận Cán bộ không chỉ làm cho Chính phủ hoặc Đảng, phụ trách trước cấp trên mà phải làm cho dân, phụ trách trước dân Chính phủ và Đảng chỉ mưu giải phóng cho dân, vì dân mà làm việc, chịu trách nhiệm trước dân
Tự hào với Đảng ta vĩ đại bao nhiêu, Hồ Chí Minh càng trăn trở với sứ mệnh, trách nhiệm của Đảng trong việc chăm lo đời sống của nhân dân bấy
Trang 31nhiêu Bởi vì, xây dựng đời sống vui tươi, no ấm, mỹ tục thuần phong trong công cuộc kiến thiết chủ nghĩa xã hội là một việc lớn, đó cả là “một cuộc chiến khổng lồ” Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Thắng đế quốc và phong kiến là tương đối dễ; thắng bần cùng và lạc hậu còn khó hơn nhiều…Hễ còn có một người Việt Nam bị bóc lột, bị nghèo nàn, thì Đảng vẫn đau thương, cho đó là vì mình chưa làm tròn nhiệm vụ Cho nên Đảng vừa lo tính công việc lớn như đổi nền kinh tế và văn hóa lạc hậu của nước ta thành một nền kinh tế và văn hóa tiên tiến, đồng thời lại luôn quan tâm đến những việc nhỏ như tương cà mắm muối cần thiết cho đời sống hằng ngày của nhân dân”[25,4] Theo Người, Đảng bao trùm cả nước cho nên Đảng vĩ đại, nhưng Đảng vĩ đại còn vì “nó gần gũi tận trong lòng của đồng bào ta”[25,4] Theo Hồ Chí Minh
để chăm lo đời sống nhân dân, trước hết Đảng và Chính phủ phải có đường lối, chính sách đúng; phải lãnh đạo, phải tổ chức và giáo dục nhân dân Theo Người “Dân đủ ăn đủ mặc thì những chính sách của Đảng và Chính phủ đưa
ra sẽ dễ dàng thực hiện nếu dân dốt, rét, đói, bệnh thì chính sách của ta dù có hay đến mấy cũng không thực hiện được ”[22,572]
Dựa vào dân, vì hạnh phúc, tự do của nhân dân là quan điểm xuyên suốt, nhất quán của Hồ Chí Minh Bất kỳ lúc nào, Người cũng quan tâm và dặn dò cụ thể: “Dân không đủ muối, Đảng phải lo Dân không có gạo ăn đủ no, dân
có vải mặc đủ ấm, Đảng phải lo Các cháu bé không có trường học, Đảng phải lo…Tất cả mọi việc, Đảng phải lo Việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, đấu tranh giành thống nhất nước nhà, Đảng phải lo Ngay đến cả tương, cà, mắm, muối của dân, Đảng đều phải lo”[25,465-466] Theo Người, Đảng phải liên hệ chặt chẽ với nhân dân và hướng dẫn nhân dân, tổ chức thành lực lượng, thành phong trào hành động cách mạng trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh – quốc phòng, có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh
tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân
Trang 32Thường xuyên vận động nhân dân tham gia xây dựng và phát triển Đảng
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Dân là chủ và dân làm chủ Cả hai
vế dân là chủ và dân làm chủ đều quan trọng như nhau, làm thành một thể thống nhất Dân là chủ là nói về vị thế của dân, còn dân làm chủ là nói về trách nhiệm của dân Dân là người ủy quyền cho Đảng, vì thế dân có trách nhiệm xây dựng Đảng Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh rằng: “Nhân dân rất yêu mến Đảng ta Phải khuyến khích nhân dân góp phần xây dựng Đảng như: góp ý kiến với chi bộ trong việc tuyển chọn người vào Đảng, tuyển chọn cán bộ lãnh đạo Làm được như thế, mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân sẽ càng thêm mật thiết”[27,481] Từ đó Người cũng chỉ ra cách thức để nhân dân có thể tham gia xây dựng Đảng là “Nhân dân giúp xây dựng Đảng bằng cách: hiểu rõ Đảng, ủng hộ Đảng, hưởng ứng những lời kêu gọi của Đảng, ra sức cho Đảng rõ tình hình trong nhân dân, đối với công tác của Đảng thì thật thà phê phán và nêu lên ý kiến của mình”[22,235]
Để làm cho Đảng luôn luôn trong sạch và vững mạnh để lãnh đạo sự nghiệp cách mạng đến đích cuối cùng Theo Hồ Chí Minh để làm tốt công tác xây dựng Đảng thì đảng viên phải dựa vào nhân dân tức là “hết lòng ra sức phụng sự nhân dân, tin tưởng vào lực lượng của nhân dân, học hỏi nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân và không một phút nào xa rời nhân dân, cùng nhân dân kết thành một khối Chống bộp chộp, nóng nảy, quan liêu, mệnh lệnh”[22,235], nếu cán bộ, đảng viên làm được như vậy thì nhất định được nhân dân ủng hộ và việc gì to mấy, khó mấy cũng làm nên
Bên cạnh đó, cán bộ, đảng viên cần coi trọng và thực hành dân chủ cũng
là thể hiện sự coi trọng dân và vì dân của Đảng Vì nhờ có dân chủ nên đời sống chính trị trong Đảng lành mạnh, trí tuệ của Đảng không ngừng được phát huy, mối quan hệ giữa Đảng với dân ngày càng gắn bó và không ngừng được mở rộng Từ đó, uy tín của Đảng trong dân ngày càng to lớn, sâu rộng
Trang 33Dân càng tin yêu Đảng càng tích cực đóng góp những ý kiến tâm huyết để Đảng có những quyết sách đúng đắn Như vậy dân chủ trong xã hội cũng sẽ phát triển Phát huy dân chủ trong Đảng, phát triển dân chủ trong xã hội sẽ làm cho người dân càng gần gũi với Đảng bởi họ thấy quyền làm chủ và lợi ích thiết thân của mình được bảo đảm, từ đó mọi đường lối, chính sách của Đảng sẽ nhanh chóng đi vào cuộc sống
Để nhân dân phát huy được quyền làm chủ của mình, đóng góp cho Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên: 1 Phải giải thích cho mỗi một người dân hiểu rõ lợi ích và trách nhiệm của mình; 2 Sau đó, phải bàn bạc với dân để hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân; 3 Đặt ra kế hoạch thiết thực; 4 Tổ chức toàn dân thực hiện kế hoạch; 5 Trong quá trình thực hiện kế hoạch, phải theo dõi, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích nhân dân giải quyết những việc khó khăn; 6 Khi thực hiện xong, phải cùng với dân xem xét lại công việc đã làm, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng
Kiên quyết chống tham ô, lãng phí, quan liêu và các tiêu cực khác làm trong sạch bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà nước là giải pháp quan trọng và việc phải làm thường xuyên trong công tác xây dựng Đảng nhằm tăng cường mối liên hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân
Bàn về tham ô, Hồ Chí Minh cũng cho mọi người một cách hiểu ngắn gọn, sâu sắc: tham ô là trộm cướp; là hành động xấu xa nhất, tội lỗi, đê tiện nhất trong xã hội Tham ô có nhiều biểu hiện, với nhiều loại người khác nhau Đứng về phía cán bộ mà nói, tham ô là ăn cắp của công làm của tư; đục khoét của nhân dân, ăn bớt của bộ đội; tiêu ít mà khai nhiều, lợi dụng của Chính phủ
để làm quỹ riêng cho địa phương mình Còn có tham ô gián tiếp, đó là kém lòng trách nhiệm, đứng núi này trong núi nọ, làm việc chậm chạp, ăn cắp giờ của Chính phủ, của nhân dân…Vậy, tại sao cán bộ lại có thể tham ô? Vì,
“Cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp
Trang 34ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”[20,641] Đứng về phía nhân dân mà nói, tham ô là ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế…
Còn lãng phí là gì? Lãng phí có nhiều cách Lãng phí sức lao động là việc gì ít người cũng làm được mà vẫn dùng nhiều người Lãng phí thì giờ là việc gì có thể làm trong một ngày một buổi cũng kéo dài đến mấy ngày Lãng phí tiền của là xa xỉ, liên hoan, sắm sửa lu bù, sài tiền như nước Lãng phí trong lập kế hoạch không chu đáo như làm một cái nhà không hợp thức, làm xong rồi phải phá đi làm lại Lãng phí sức người: Tính toán không cẩn thận,
điều động hàng trăm người đến công trường, nhưng chưa có việc làm hay là người nhiều việc ít Phô trương hình thức, nào “báo chí”, nào kỉ niệm…
Cũng như tham ô, lãng phí làm hao tổn của công, của Chính phủ, của nhân dân Nhưng lãng phí có khi còn hại nhiều hơn tham ô, vì lãng phí rất phổ biến: lãng phí của cải, thì giờ, lực lượng của nhân dân, của Chính phủ
Bệnh quan liêu có rất nhiều biểu hiện Đối với người: Những người,
những cơ quan lãnh đạo từ cấp trên đến cấp dưới chỉ biết dùng mệnh lệnh, không biết giải thích, tuyên truyền, không sát công việc thực tế, không theo dõi và giáo dục cán bộ, không gần gũi quần chúng nhân dân Không biết làm
dân chúng tự giác, tự động Đối với công việc: Trọng hình thức mà không
xem xét khắp mọi mặt, không vào sâu vấn đề Chỉ biết khai hội, viết chỉ thị,
xem báo cáo trên giấy, chứ không biết điều tra, nghiên cứu, đôn đốc…Đối với mình: Việc gì cũng kềnh càng, chậm rãi, làm cho qua chuyện Nói một
đường, làm một nẻo Chỉ biết lo cho mình, không quan tâm đến nhân dân, đến đồng chí Tham ô, hủ hóa Trước mặt dân chúng thì lên mặt “quan cách mạng” Miệng thì nói dân chủ, nhưng làm việc theo lối “quan” chủ Miệng thì nói “phụng sự quần chúng”, nhưng họ làm trái ngược với lợi ích nhân dân, trái với phương châm, chính sách của Đảng và Chính phủ
Trang 35Hồ Chí Minh cho rằng: Bệnh quan liêu, tham ô, hối lộ, tham nhũng là những cǎn bệnh đặc biệt nguy hiểm, nó là kẻ thù của nhân dân, làm cho dân
xa Đảng, làm suy yếu vai trò, khả nǎng lãnh đạo của Đảng
Tham ô, lãng phí, quan liêu là tội ác, kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và
của Chính phủ Đây là kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm mang
súng, mà nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta Là bạn đồng minh của thực dân và phong kiến Tham ô, lãng phí, quan liêu làm chậm trễ công cuộc kháng chiến và kiến quốc của ta Nó phá hoại đạo đức cách mạng của ta Tội lỗi mà những kẻ tham ô, lãng phí và quan liêu gây ra cũng nặng như tội lỗi Việt gian, mật thám Tham ô, lãng phí, quan liêu là hại đến sự nghiệp xây dựng nước nhà; hại đến công việc cải thiện đời sống nhân dân; hại đến đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên Bệnh quan liêu ấp ủ, dung túng, che chở cho nạn tham ô, lãng phí; là chỗ gieo hạt vun trồng cho tham ô, lãng phí nảy nở Vì vậy, muốn trừ sạch nạn tham ô, lãng phí thì trước mắt phải tẩy sạch bệnh quan liêu Nguyên nhân của cǎn bệnh trên là do xa dân, không hiểu dân, khinh dân cho là “dân ngu khu đen”, lo sợ dân vì bản thân mình có khuyết điểm; không tin dân; không yêu thương nhân dân, chỉ biết đòi hỏi dân mà không biết nâng đỡ, giúp dân
Theo Hồ Chí Minh, bệnh quan liêu là nguyên nhân dẫn tới tham ô, lãng phí Vì vậy, muốn chữa được bệnh đó, mỗi cán bộ, đảng viên cần phải: Đặt lợi ích nhân dân lên trên hết; liên hệ chặt chẽ với nhân dân; việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ; có khuyết điểm thì thật thà phê bình trước nhân dân, và hoan nghênh nhân dân phê bình mình; sẵn sàng học hỏi nhân dân; tự mình phải làm gương mẫu cần, kiệm, liêm chính để nhân dân noi theo; giữ nghiêm kỷ luật Đảng Đó là thang thuốc chữa bệnh quan liêu và bệnh cá nhân chặt chẽ với Đảng hơn